Bên cạnh đó, quá trình mở cửa nền kinh tế nhằm mục đích phát triển quá trình thông thương, mở rộng quan hệ đối tác giữa các quốc gia; gia tăng toàn cầu hóa, khu vực hóa; chuyển dịch dần
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ CLC
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KY
Học phần: KINH TẾ QUỐC TẾ
Giảng viên: PGS.TS Bùi Thành Nam
Đề tài:
Phân tích các đặc điểm mới của nền kinh tế thế giới hiện đại.
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Khiết Quỳnh
Mã số sinh viên: 19031800
Email sinh viên: 19031800@sv.ussh.edu.vn
Ngành học: Báo chí CLC
Hà Nội, tháng 5 năm 2021
MỤC LỤC
Trang 2CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Lí do chọn đề tài
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.5 Phạm vi nghiên cứu
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tổng quan về nền kinh tế thế giới
2.1.1 Khái niệm
2.1.2 Cơ cấu nền kinh tế thế giới
2.2 Đặc điểm mới của nền kinh tế thế giới hiện đại
2.2.1 Cách mạng khoa học công nghệ phát triển thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển
2.2.2 Xu thế quốc tế hóa, khu vực hóa, mở cửa nền kinh tế
2.2.3 Hình thành trật tự đa trung tâm
2.3 Sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới đến Việt Nam
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN
Danh mục tài liệu tham khảo
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Lí do chọn đề tài
Sau những biến cố lớn tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế thế giới trong lịch sử có thể kể
Trang 3đến như hai cuộc chiến tranh thế giới (1914-1918 và 1939-1945), khủng hoảng năng lượng 1973, khủng hoảng thừa 1929-1933, chiến tranh lạnh 1947-1991… thế giới đương đại tiếp tục trải qua những chuyển biến lớn lao với nhiều sự kiện diễn ra một cách nhanh chóng, phức tạp, khó lường Điều này vừa mang đến cho các quốc gia, dân tộc những cơ hội, thời cơ để phát triển, nâng cao vị thế trên trường quốc tế, vừa đặt ra những nguy cơ, thách thức cho các nền kinh tế, buộc phải thay đổi để thích nghi nếu không muốn bị bỏ lại phía sau Hiện nay, sự suy yếu của các nền kinh tế phát triển và sự nổi lên của các nền kinh tế đang phát triển đang dần xác lập nên một trật tự kinh tế thế giới mới Chính vì vậy, các nước lớn đang có sự điều chỉnh chính sách, đẩy mạnh cạnh tranh chiến lược, tạo nên những biến đổi nhất định trong quan hệ kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, quá trình mở cửa nền kinh tế nhằm mục đích phát triển quá trình thông thương, mở rộng quan hệ đối tác giữa các quốc gia; gia tăng toàn cầu hóa, khu vực hóa; chuyển dịch dần từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức cùng với sự phát triển vượt bậc về khoa học - công nghệ trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy sự hình thành, vận động phát triển của một trật tự kinh tế thế giới với nhiều xu hướng, đặc điểm mới Để góp phần làm rõ hơn nội dung bài học, cũng như có cách nhìn khách quan và sâu sắc hơn về những đặc điểm mới của nền kinh tế hiện đại, em đã quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
- Phân tích được các đặc điểm mới của nền kinh tế thế giới hiện đại
- Làm rõ những tác động của các đặc điểm này đến nền kinh tế quốc tế nói riêng và toàn thế giới nói chung
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Những đặc điểm mới của nền kinh tế thế giới hiện đại và tác động của những đặc điểm này đến quan hệ kinh tế quốc tế
- Các quốc gia đã có sự điều chỉnh chính sách như thế nào trước những xu hướng mới của nền kinh tế thế giới
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp phương pháp logic với so sánh, tổng hợp, phân tích, chứng minh…
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Những tài liệu kinh tế thế giới hiện nay
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 42.1 Tổng quan về nền kinh tế thế giới
2.1.1 Khái niệm
Nền kinh tế thế giới là một tổng thể các nền kinh tế của các quốc gia, dân tộc có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau thông qua các quan hệ kinh tế quốc tế trên cơ
sở phân công lao động quốc tế
Sự phát triển của kinh tế thế giới phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động quốc tế và sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế
2.1.2 Cơ cấu nền kinh tế thế giới
Nền kinh tế thế giới do nhiều bộ phận cấu thành Chúng có liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau với các mức độ và chiều hướng khác nhau cả về lượng và chất Theo cách tiếp cận hệ thống, nền kinh tế thế giới có hai bộ phận cấu thành cơ bản đó là các chủ thể kinh tế quốc tế và các quan hệ kinh tế quốc tế
Các công ty, đơn vị kinh doanh Các chủ thể kinh tế này có số lượng đông, tuy nhiên vì không có đầy đủ các đặc quyền về pháp lý hay chính trị như những chủ thể quốc gia độc lâp nên thường chỉ tham gia vào nền kinh tế thế giới ở mức độ thấp, phạm vi hẹp về khối lượng trao đổi hàng hóa, chủ yếu là dựa trên các hợp đồng buôn bán nội địa
Các nền kinh tế của các quốc gia độc lập trên thế giới Chủ thể này là các Nhà nước hay chính phủ có đầy đủ các đặc quyền về pháp lý, kinh tế, chính trị trong các quan hệ kinh tế quốc tế Việc hợp tác giữa các chủ thể này thông qua các hiệp định quốc tế và được ký kết thông qua điều khoản của công pháp quốc tế
Các tổ chức quốc tế hay các liên kết kinh tế quốc tế Chủ thể này hoạt động với tư cách
là các thực thể pháp lý độc lập, địa vị pháp lý rộng hơn chủ thể quốc gia, có thể kể đến như WTO, ASEAN, EU, WB…Hoạt động của các tổ chức này đòi hỏi phải có sự điều tiết
và phối hợp của nhiều quốc gia, thậm chí là mang tính toàn cầu tùy vào mức độ và quy
mô của chủ thể
Ngoài các chủ thể nổi bật kể trên, trong nền kinh tế thế giới hiện nay còn xuất hiện một chủ thể đặc biệt chiếm tỷ trọng khá lớn và có ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ đó là các công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia và công ty siêu quốc gia
Trang 5Các chủ thể kinh tế quốc tế tác động qua lại lẫn nhau tạo nên các mối quan hệ kinh tế quốc tế Còn các quan hệ kinh tế quốc tế lại là bộ phận cốt lõi tạo nên tính thống nhất của nền kinh tế thế giới
Các mối quan hệ này bao gồm:
Các quan hệ về di chuyển quốc tế hàng hóa và dịch vụ
Các quan hệ về di chuyển quốc tế tư bản
Các quan hệ về di chuyển quốc tế sức lao động
Các quan hệ về di chuyển quốc tế các phương tiện tiền tệ
* Tiểu kết: Hai bộ phận này có mối liên hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau và dựa trên quy luật
vận động khách quan trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, của quá trình phân công lao động quốc tế và các hoạt động thương mại, đầu tư, hợp tác khoa học công nghệ quốc
tế, từ đó tạo nên một nền kinh tế thế giới hoàn chỉnh Dựa trên những góc độ khác nhau,
ta có thể chia nền kinh tế thế giới thành các nhóm, hệ thống khác nhau, ví dự như hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa, hệ thống kinh tế các nước thuộc thế giới thứ ba; các nước công nghệ phát triển cao, các nước đang phát triển, các nước chậm phát triển…
2.2 Các đặc điểm mới của nền kinh tế thế giới hiện đại
Nền kinh tế thế giới là một chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi quốc gia, mỗi chủ thể quan hệ quốc tế là một bộ phận không thể tách rời, quá trình vận động và phát triển chịu
sự chi phối của nhiều nhân tố có thể kể đến như kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội, tự nhiên….Do tính chất thay đổi linh hoạt của những nhân tố này mà nền kinh tế cũng có nhiều đặc điểm phức tạp và chuyển dịch theo những xu hướng mới qua từng thời kỳ
Từ năm 1989, sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa chính thức tan rã, qua đó đánh dấu sự tồn tại duy nhất của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa Hiện nay, trên thế giới vẫn có nhiều quốc gia xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên…Tuy nhiên sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả trong cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng chung của toàn thế giới vẫn mang hơi thở đậm nét của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Trong thời kỳ khoa học công nghệ phát triển mạnh như vũ bão, nhiều vấn đề về
Trang 6kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội, tự nhiên nổi lên như một vấn đề toàn cầu thì nền kinh tế thế giới lại bắt đầu xuất hiện những đặc điểm mới
2.2.1 Cách mạng khoa học công nghệ phát triển thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển.
Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ hay cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã tạo ra những bước tiến vượt bậc của nền kinh tế thế giới Những thành tựu của cuộc cách mạng này đã len lỏi và làm thay đổi sâu sắc cơ cấu kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới Đồng thời, cuộc cách mạng công nghệ cũng đánh dấu bước chuyển của loài ngưởi sang một nền văn minh mới - văn minh trí tuệ
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại là sự hòa nhập, kết hợp thành một quá trình duy nhất các quá trình cách mạng trong khoa học, trong kĩ thuật, trong công nghệ và tác động mạnh mẽ đến công nghiệp, trong đó quá trình cách mạng trong khoa học đi trước, giữ vai trò dẫn đường và quyết định các quá trình kĩ thuật, công nghệ, công nghiệp và do đó cũng
có vai trò dẫn đường và quyết định định hướng, quy mô, tốc độ phát triển sản xuất Cách mạng khoa học - công nghệ cũng làm xuất hiện những ngành khoa học mới, tạo
ra cách mạng công nghiệp 3.0 và 4.0 với nhiều ngành công nghiệp mới đã ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền công nghiệp nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung Đặc biệt có thể
kể đến như công nghệ sinh học với mã gen, hệ thống tế bào, công nghệ vi sinh…; công
nghệ vật liệu mới với vật liệu siêu cứng, siêu bền, siêu nhỏ (nano)…;công nghệ về phát triển năng lượng nguyên tử an toàn và sạch như pin mặt trời, năng lượng gió, năng lượng Hydro…; công nghệ thông tin với điện thoại, internet, in 3D, trí tuệ nhân tạo…Đồng thời cũng làm biến mất nhiều ngành công nghiệp đã được tạo ra trước đây, đã từng thống trị, chi phối nền sản xuất
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ với đặc trưng là lấy tri thức làm nội dung chủ yếu của sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng, lấy công nghệ thông tin làm chủ đạo đã góp phần tạo nên một môi trường toàn cầu rộng lớn, gia tăng mối quan hệ giữa các quốc gia, từ đó giúp cho các hoạt động tự do trao đổi kinh tế trở nên thuận lợi hơn bao giờ hết Không chỉ vậy, sự phát triển của khoa học công nghệ còn giúp rút ngắn thời kỳ mờ nhạt chu kỳ kinh tế với thời gian tăng trưởng của chu kỳ kinh tế kéo dài, thời gian suy thoái rút ngắn lại, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát đều giảm Ngoài ra, do sự xuất hiện của những
Trang 7nguồn tài nguyên mới và giảm dần sự phụ thuộc vài tài nguyên vật chất nên nền kinh tế phát triển được đảm bảo phát triển bền vững, thân thiện với môi trường
Cách mạng khoa học - công nghệ đóng vai trò đặc biệt trong việc rút ngắn khoảng cách
về trình độ phát triển giữa các quốc gia trên thế giới, góp phần đưa các nước phát triển khởi xướng và dẫn dắt các xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới và giúp các nước đang phát triển có điều kiện để tiếp nhận công nghệ mới, thực hiện chiến lược phát triển rút ngắn Tuy nhiên, đồng thời nó lại trở thành một trong những thách thức khó vượt qua được đối với các nước đang phát triển bởi những nước phát triển có tiềm lực khoa học và công nghệ mạnh, có thể đi vào tương lai với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các nước có tiềm lực khoa học và công nghệ yếu kém hơn Vì vậy, các quốc gia đang phát triển cần ưu tiên phát triển các ngành kỹ thuật cao, nhất là công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống kinh tế mở cửa với bên ngoài, tăng cường đầu tư cho nguồn vốn con người
2.2.2 Xu thế quốc tế hóa, khu vực hóa, mở cửa nền kinh tế
Đây có thể được hiểu là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau, của các khu vực, các quốc gia các dân tộc trong nền kinh tế thế giới Đặc biệt là ngày càng có nhiều sân chơi chung để các nước mở rộng mối quan hệ và dễ dàng hợp tác trong nhiều lĩnh vực, góp phần tạo ra một chỉnh thể thị trường toàn cầu
Ngày nay, quá trình quốc tế hóa, khu vực hóa, mở cửa nền kinh tế diễn ra với quy mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng nhanh và phạm vi ngày càng rộng, lan tỏa vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế thế giới như sản xuất, thương mại, đầu tư tài chính, thậm chí
là cả giáo dục, y tế, văn hóa…Tất cả các hoạt động này kéo các quốc gia lại gần nhau hơn, dần dần tạo nên một chỉnh thể thống nhất khó có thể tách rời của nền kinh tế thế giới Qua đó, một vấn đề về kinh tế có thể ảnh hưởng tới nhiều quốc gia
Toàn cầu hóa, khu vực hóa phát triển giúp cho các quan hệ chu chuyển kinh tế thương mại, tài chính… trên phạm vi toàn cầu diễn ra một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn Việc quản lý những hoạt động này cũng đặt dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, gọi là quản lý vĩ mô có tính chất quyết định nền kinh tế
Trang 8Đặc biệt, việc hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng liên hệ chặt chẽ với quá trình mở cửa nền kinh tế của các quốc gia Hội nhập có nghĩa là mở cửa và chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế, tham gia vào một “sân chơi chung” để có được một khuôn khổ phù hợp cho sự phát triển Trong nền kinh tế toàn cầu, các quốc gia dân tộc có chủ quyền, các khối kinh tế khu vực (ASEAN, NAFTA, EU, …); các thể chế kinh tế quốc tế (IMF, WB, ADB…) và các công ty xuyên quốc gia cũng có vai trò định chế chính sách kinh tế cho các quốc gia, dân tộc Việc mở cửa nền kinh tế sẽ giúp cho hoạt động lưu chuyển hàng hóa - dịch vụ ngày càng tăng, từ đó liên kết thị trường thế giới thành một hệ thống hữu cơ thống qua mạng lưới các công ty xuyên quốc gia Không chỉ vậy, việc mở cửa nền kinh tế còn giúp thị trường của các quốc gia trải rộng trên bề mặt các lục địa, cả đại dương và không gian vũ trụ, mạng lưới tình báo về kinh tế và thương mại - điện tử… cũng được đầu tư phát triển mạnh phát triển mạnh Nền kinh tế đều cải cách và tích cực chuyển đổi sang kinh tế thị trường, các thị trường thương mại, tài chính -tiền tệ quốc gia, khu vực ngày càng tự do hóa Tuy vậy, các dân tộc cũng phải có tư duy mới để bắt kịp với tự do hóa, xác định đúng về vấn đề bảo hộ mậu dịch, tăng cường hội nhập các thể chế khu vực toàn cầu, cải cách thể chế bên trong để thực hiện sự kết hợp hiệu quả các nguồn lực bên trong và bên ngoài thì mới có thể mở cửa nền kinh tế một cách hiệu quả và đem lại lợi ích cho quốc gia mình
Bên cạnh đó, xu hướng liên kết kinh tế khu vực và quốc tế ngày càng trở nên phổ biến, nhất là sau khi chiến tranh lạnh kết thúc đã phát triển rất mạnh mẽ và trở thành mô hình chủ yếu của nền kinh tế thế giới Một số liên kết kinh tế nổi bật có thể kể đến như UN, WTO, EU, ASEAN, NAFTA, APEC…Việc tham gia các liên kết kinh tế này giúp các quốc gia dễ dàng trao đổi, mở rộng quan hệ hợp tác, từ đó giảm dần khoảng cách chênh lệch giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Từ đó, hòa bình hợp tác để cùng phát triển trở thành xu hướng nổi trội nhất của thế giới hiện nay
Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, mở cửa nền kinh tế là một xu thế khách quan, vừa là
cơ hội, vừa là thách thức với các quốc gia Qúa trình quốc tế hóa và hội nhập nền kinh tế quốc tế đã góp phần thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao, truyền bá và chuyển giao trên quy mô lớn những thành quả khoa học, công nghệ và kỹ năng tổ chức, quản lý, tạo khả năng phát triển rút ngắn và mang lại nguồn lực cho các nước đang phát triển và chuyển đổi, thúc đẩy các dân tộc, khu vực xích lại gần nhau Tuy
Trang 9vậy, các quốc gia tham gia, dân tộc cũng phải đối mặt với những thách thức như bất công
xã hội trở nên trầm trọng hơn, khoảng cách giàu nghèo trong từng nước, giữa các nước bị đào sâu hơn bao giờ hết, mọi mặt hoạt động và đời sống con người kém an toàn: đầu cơ quốc tế, các vấn đề toàn cầu nảy sinh…Chính vì vậy, các dân tộc phải vừa hợp tác để phát triển vừa đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình, lấy bản thân các quốc gia là quan trọng nhất và mọi thứ phải xoay xung quanh lợi ích quốc gia, dân tộc
2.2.3 Hình thành trật tự kinh tế đa trung tâm
Sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã, "chiến tranh Lạnh" và trật tự thế giới hai cực kết thúc Mỹ muốn thiết lập một trật tự thế giới đơn cực do Mỹ đứng đầu để lãnh đạo thế giới Tuy nhiên, từ
đó đến nay, nhất là trong 10 năm gần đây, tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, thế giới từng bước chuyển từ đơn cực sang đa cực, đa trung tâm do tương quan lực lượng, sức mạnh của các nước lớn có sự thay đổi nhanh chóng
Như đã đề cập ở trên, ngày nay, nhất là sau thời kỳ chiến tranh Lạnh, xu thế hòa bình cùng hợp tác phát triển trở thành một đặc điểm chung của toàn thế giới Trong thời kỳ toàn cầu hóa, khu vực hóa, tự do mở cửa nền kinh tế đón nhận các tri thức, công nghệ hiện đại phát triển đã tạo điều kiện cho nhiều quốc gia phát huy sức mạnh, tiềm lực của mình và nổi lên như một trung tâm kinh tế mới của hành tinh Các nước lớn nhỏ đều thực hiện sự điều chỉnh chiến lược theo hướng khai thác tối đa điều kiện mới của thế giới để phát triển
Mỹ hiện nay tuy vẫn là cường quốc số một thế giới, song đã suy giảm sức mạnh tương đối trong tương quan so sánh với các cường quốc khác Mỹ vẫn là nền kinh tế số một thế giới, tính chung cả về tổng GDP, lĩnh vực vốn và khoa học - công nghệ, tuy vậy dựa theo các phân tích của giới chuyên gia, những vị thế đó đang đứng trước những thách thức to lớn, ngày càng bị thu hẹp với các trung tâm quyền lực khác Mỹ từ chỗ chiếm 31% năm
2000 giảm xuống còn khoảng 20% GDP toàn cầu hiện nay Năm 2000, GDP của Mỹ gấp
12 lần của Trung Quốc, nhưng đến năm 2012 chỉ còn gấp khoảng 1,9 lần Trong khi đó thâm hụt ngân sách của Mỹ ngày càng tăng, lên đến gần 1.100 tỷ USD năm 2012 Mỹ ngày càng phụ thuộc vào nước ngoài về kinh tế, hàng tiêu dùng hầu như phụ thuộc vào nhập khẩu, trở thành con nợ lớn nhất thế giới với tổng số nợ nước ngoài lên đến 4.500 tỷ
Trang 10USD Về chính trị, vị thế và uy tín của Mỹ có chiều hướng ngày càng giảm sút Sức mạnh quân sự của Mỹ tuy còn vượt trội so với các quốc gia trên thế giới, nhưng khoảng cách so với các nước như Nga, Trung Quốc đang bị thu hẹp dần Từ những điều này, có thể nhận thấy rõ ràng rằng, thời kỳ nước Mỹ là trung tâm kinh tế duy nhất của thế giới đã chính thức kết thúc, thay vào đó là sự xuất hiện và lớn mạnh dần của nhiều “trung tâm” khác Liên minh châu Âu (EU) đã từng là những con át chủ bài của Mỹ trong quá trình thiết lập thế giới đơn cực thì nay đã vươn lên giữ vai trò là một trong 3 trung tâm phát triển chủ yếu của thế giới, ngày càng có ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu về kinh tế EU với 27 nước thành viên là một thực thể kinh tế lớn, có vai trò quan trọng hàng đầu thế giới Năm
2012, GDP của EU đạt khoảng hơn 16.210 tỷ USD, chiếm khoảng 25% tổng GDP toàn cầu EU còn là một trong những trung tâm khoa học - công nghệ của thế giới, nhiều lĩnh vực khoa học - công nghệ đứng đầu thế giới EU có vai trò quan trọng trong việc thiết lập phần lớn các luật lệ thương mại và tài chính quốc tế thông qua các thể chế tài chính quốc
tế như G8, IMF, WB, WTO,…
Nhật Bản tiếp tục duy trì địa vị cường quốc kinh tế, từng bước tăng cường sức mạnh về chính trị và quân sự, ngày càng có ảnh hưởng trên trường quốc tế Theo đó, Nhật Bản cũng quay về củng cố thế lực ở châu Á, hình thành trung tâm Đông Á ngang tầm với NAFTA, EU Năm 2012, GDP của Nhật Bản đạt khoảng 6.072 tỷ USD, đứng thứ ba thế giới sau Mỹ và Trung Quốc Nhật Bản có nền khoa học - công nghệ phát triển cao, nhiều ngành khoa học - công nghệ của Nhật Bản đứng hàng đầu thế giới
Không chỉ có những “thế lực” cũ ra sức củng cố và phát triển sức mạnh của mình, những trung tâm kinh tế mới nổi cũng góp phần tham gia vào chặng đua thiết lập thế giới
đa cực đa trung tâm, nổi bật có thể kể đến như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ Đây đều là những quốc gia đang có những bước tiến lớn trong sự phát triển Ví dụ như Trung Quốc
đã vươn lên mạnh mẽ, vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới sau Mỹ và sức mạnh quân sự không ngừng được nâng cao Sau hơn 30 năm cải cách, mở cửa, Trung Quốc đạt được những thành tựu thần kỳ, tất cả các lĩnh vực phát triển như vũ bão, dần rút ngắn khoảng cách với Mỹ Nước Nga cũng đã có bước phục hồi và phát triển mạnh mẽ, trở lại là một trong những nước lớn hàng đầu về kinh tế, quân sự dựa trên nền tảng của Xô Viết cũ Cùng với đó, Ấn Độ cũng đang phát triển để trở thành cường quốc kinh tế, quân