Luận văn Đánh giá hiện trạng khai thác và quản lý tài nguyên trên lưu vực sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa và đề xuấtcác biện pháp khắc phục... Việt Nam là quốc gia có lượn
Trang 1Luận văn Đánh giá hiện trạng khai thác và quản lý tài nguyên trên lưu vực sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa và đề xuất
các biện pháp khắc phục
Trang 21 MỤC LỤC
TRANG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 3 1.1 Tính cấp thiết của đề tài 3
1.2 Phương pháp thực hiện 3
1.3 Giới hạn, phạm vi đề tài 3
2 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC KHẢO SÁT 5 2.1 Vị trí địa lý 5
2.2 Đặc điểm địa hình 5
2.3 Đặc điểm khí hậu 5
2.3.1 Chế độ nhiệt 5
2.3.2 Chế độ ẩm 5
2.3.3 Chế độ mưa 5
2.3.4 Chế độ gió 6
2.4 Đặc điểm thủy văn 6
2.5 Đặc điểm địa chất- thổ nhưỡng 6
2.6 Đặc điểm tài nguyên sinh vật 8
2.6.1 Đặc điểm thảm phủ thực vật tự nhiên 8
2.6.2 Nguồn tài nguyên thủy sản 8
2.6.3 Đặc điểm thủy sinh vật 8
3 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN 9 3.1 Cung cấp nước cho hoạt động nông nghiệp 9
3.2 Khai thác cát 10
3.3 Nuôi trồng thủy sản 10
3.4 Du lịch sông Đồng Nai 10
3.5 Cấp nước cho sinh hoạt 12
4 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ 13 4.1 Cung cấp nước cho hoạt động nông nghiệp: 13
4.2 Khai thác cát: 13
4.3 Nuôi trồng thủy sản 14
Trang 34.4 Du lịch sông Đồng Nai 14 4.5 Cấp nước cho sinh hoạt 15
5.1 Trong khai thác 15 5.2 Trong quản lý 17
6.1 Trong khai thác 18 6.2 Trong quản lý 19
7.1 Kết luận: 20 7.2 Kiến nghị: 20
Trang 42. ĐẶT VẤN ĐỀ
2.1 Tính cấp thiết của đề tài
Tài nguyên nước và các loại tài nguyên trên ao hồ, sông, suối có một tầm quantrọng đặc biệt, là nhu cầu thiết yếu đối với đời sống con người và sinh vật cũng nhưđối với các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam là quốc gia có lượng tàinguyên này trung bình trên thế giới nhưng nếu không biết sử dụng, khai thác một cáchhợp lý thì Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt tài nguyên, gây ảnh hưởnglớn đến đời sống, xã hội,
Trong số những con sông lớn ở Việt Nam, thì sông Đồng Nai được đánh giá làcon sông có lượng tài nguyên phong phú phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội.Nhưng hiện nay, việc sử dụng và khai thác các loại tài nguyên này chưa được quản lýchặt chẽ, vẫn còn để tình trạng khai thác trái phép gây lãng phí tài nguyên diễn ra.Đây cũng chính là những vấn đề thách thức đối với những nhà quản lý, cũng như nhândân sống tại đây trong việc đưa ra các chính sách khai thác và quản lý phù hợp vừabảo đảm khai thác mang lợi nhuận vừa bảo đảm phát triển bền vững Nhằm có một cái
nhìn sâu hơn về những vấn đề đã đề cập, nhóm quyết định thực hiện báo cáo “ Đánh giá hiện trạng khai thác và quản lý tài nguyên trên lưu vực sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa và đề xuất các biện pháp khắc phục”.
2.2 Phương pháp thực hiện
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và tham khảo ý kiến chuyên gia các số liệu vềđiều kiện tự nhiên của vùng: vị trí địa lý,địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủyvăn,thảm thực vật… dựa trên các nguồn tài liệu phong phú trên mạng, trongsách vở và sự giới thiệu và góp ý của chuyên gia để biết được các kết quả nghiêncứu tượng tự, làm so sánh đối chứng và điều chỉnh
- Khảo sát thực địa, phỏng vấn người dân
2.3 Giới hạn, phạm vi đề tài
Do sông Đồng Nai tương đối rộng và nhiều các nhánh sông khác đổ vào nêntrong thời gian nghiên cứu có hạn, đề tải chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu sông ĐồngNai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa
Trang 5Hình 1: Bản đồ sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa
Trang 63 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC KHẢO SÁT
3.1 Vị trí địa lý
Sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa nằm trong khoảng từ
106°78′ kinh độ đông đến 106°86′ vĩ độ bắc từ 10°82′ đến 10°96′ chảy qua các
phường Tam hiệp, Quyết Thắng, Hiệp Hòa, Bửu Long, Hòa Bình, Quang Vinh, TânPhong, Long Bình Tân của thành phố Biên Hòa Là một con sông tương đối lớn khi đingang qua TP Biên Hòa sông Đồng Nai tách thành hai dòng tạo ra cù lao ở phườngHiệp Hòa Với vị trí quan trọng đó sông Đồng Nai có ý nghĩa rất quan trọng với ngườidân thành phố Biên Hòa
3.2 Đặc điểm địa hình
Đoạn sông Đồng Nai chảy qua thành phố Biên Hòa thuộc hạ lưu của sông có
chiều dài khoảng 19,6 km Diện tích của lưu vực là 23 500 km2 Hướng chính củasông là hướng Đông Bắc – Tây Nam Địa hình khá bằng phẳng, lòng sông khá rộng từ
1 km đến 4,5 km, có chỗ sâu tới 18 m, nước sông chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ bánnhật triều vùng cửa sông Tại Hiếu Liêm, Tân Uyên biên độ triều trong ngày còn tớitrên 1m
3.3 Đặc điểm khí hậu
Mặc dù nằm gần xích đạo, bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chế độ nhiệt vùng nhiệtđới, song với nền địa hình phức tạp, lưu vực sông Đồng Nai đoạn chảy qua tỉnh ĐồngNai cũng hình thành sự phân hóa nhiệt độ giữa các vùng một cách sâu sắc Trong mộtnăm mặt trời đi qua thiên đỉnh 2 lần cách nhau 4 tháng, với độ cao mặt trời ít thayđổi.Nhiệt độ trung bình năm khoảng 260C ở các vùng thấp.Chênh lệch nhiệt độ bìnhquân tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất khoảng 3-3,50C.Tháng giêng là tháng có nhiệt
độ thấp nhất với nhiệt độ trung bình 25-260C.Tháng tư là tháng nóng nhất có nhiệt độtrung bình 30-330C.Tuy nhiên thời gian duy trì nhiệt độ cao trong ngày thường ngắn,chỉ vài ba giờ vào lúc sau bữa trưa.Không khí mát khi về chiều và đêm ở những vùngthấp và ven sông.Sự dao động nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 100 C-1200 C, lớnnhất vào thời kỳ khô hạn tháng 4
Trang 73.3.4 Chế độ gió
Hướng gió thay đổi theo mùa, gió mùa Đông Nam xuất hiện từ tháng 5 đếntháng 11, áp suất cao , mang không khí ẩm từ vịnh Thái Lan thổi vào lưu vực sông,sinh ra mưa nhiều Gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, gió mangkhông khí khô và không sinh ra lượng mưa đáng kể trong lưu vực tạo ra mùa khô
3.4 Đặc điểm thủy văn
Chế độ dòng chảy ở đây rất phức tạp, bị ảnh hưởng và chịu tác động lẫn nhau
tùy thuộc vào sự thay đổi của các yếu tố sau
- Dòng chảy đầu nguồn
- Chế độ thủy triều
- Các hoạt động khai thác của con người trong lưu vực
3.5 Đặc điểm địa chất- thổ nhưỡng
Các loại đất trong lưu vực sông Đồng Nai chảy qua thành phố Biên Hoà
3
4
ĐẤT MẶN
Đất mặnĐất mặn sú vẹt đước,phèn tiềm tàng
5
6
ĐẤT PHÈN
Đất phèn tiềm tàngĐất phèn hoạt động
Trang 8Đất đỏ vàng do trồng lúa nướcĐất vàng nâu trên phù sa cổ
28
ĐẤT DỐC TỤ
Đất dốc tụ
29
ĐẤT XÓI MÒN TRÊN SỎI ĐÁ
Đất xói mòn trơ sỏi đá(Nguồn: Phân Viện Quy Hoạch Nông Nghiệp Miền Nam)
Trang 93.6 Đặc điểm tài nguyên sinh vật
3.6.1 Đặc điểm thảm phủ thực vật tự nhiên
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nguồn nước ở lưu vực sôngĐồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa là đặc điểm thảm thực vật trên lưu vực,bao gồm hệ thống rừng tự nhiên và thảm thực vật canh tác nhằm đảm bảo tích trữnước để điều hòa lưu lượng nước sông vào mùa khô và hạn chế khả năng xói mòn, rửatrôi đất vào mùa mưa
Lưu vực sông có 28 loại sử dụng đất chính liên quan đến mức độ che phủ vàđây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng môi trường cho toàn lưuvực Các loại sử dụng đất chính này được phân chia thành 5 lớp bao gồm: đất nôngnghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở, đất chuyên dụng và nhóm đất khác
Cơ cấu thành phần thuộc khu hệ cá sông với các loài cá có nguồn gốc nội địa vànước biển di cư vào theo mùa, các loài cá thuộc bộ cá chép (Cyprinidae với 14/33loàimới) như lòng tong sắt (Esomus metallicus), lòng tong bay (Esomus dảuica), cá đỏđuôi (Rasbora borapetenis), cá ngựa chấm (Hampala dispar), cá duồng(Cirrhinusmicrolepsis), cá da trơn (Siluriformes) và bộ cá vực (Perciformes), bộClupeiformes (cá cơm,cá trích), Belonoformes (cá nhái, cá kình) và bộTetrodotiformes (cá nóc)
Một số loài cá nước lợ như chạch rằn (Macrognathus teaniagaster), chạch lấuđỏ(Mastacembelus erythrotaenia), cá chiên (Bagarius), cá hường vện(Datnioidesquadrifasciatus), cá bống cát (Glossogobius giuris)
Nhìn chung các loài cá xuất hiện là các loài cá có đặc trưng hệ cá nộiđồng,thích sống nơi nước sạch, có dòng chảy chậm hay đứng và có nhiều thủy sinhvật
3.6.3 Đặc điểm thủy sinh vật
Tổng quan
Các sinh vật luôn phải chịu ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố môi trườngđồng thời chính sự có mặt của chúng cũng phản ánh điều kiện sống trong môi trườngđó.Như vậy, dựa vào thành phần loài, cấu trúc và chức năng của các quần xã sinh vậttrong thủy vực ta có thể xác định được đặc điểm môi trường sống của thủy vực.Đốivới các thủy vực nước ngọt các loài thuộc ngành tảo lục (Chlorophyta) chiếm ưu thế
về thành phần loài, đối với các thủy vực nước mặn các loài thuộc ngành tảo silic(Bacillariophyta) chiếm ưu thế
Thực vật phù du
Đã phát hiện được 98 loài thực vật phù du thuộc 5 ngành tảo trong đó ngành tảolục có số lượng chiếm ưu thế 48 loài (49%), tiếp đến là tảo silic 30 loài (30,6%), tảo
Trang 10mắt 10 loai (10,2%), tảo lam 9 loài (9,2%) và tảo giáp là một loài So sánh thành phầnloài giữa mùa mưa và mùa khô cho thấy có sự sai khác đáng kể về thành phần loàithực vật giữa mùa khô và mùa mưa.Vào mùa mưa có 59 loài, mùa khô có 69 loài.Tảolục vẫn là loài chiếm ưu thế trong cả mùa khô và mùa mưa, điều này phản ánh đúnghiện trạng môi trường nước ngọt.
Động vật phù du
Đã phát hiện được 54 loài động vật phù du thuộc 6 nhóm trong đó nhóm chânmái chèo (Copepoda) chiếm ưu thế về thành phần loài (22 loài, 40,7%) tiếp đến lànhóm râu nhánh (Cladocera) 17 loài bằng 31,4%; loài trùng bánh xe (Rotatoria) 8 loài;động vật nguyên sinh (Protozoa) 4 loài, phân lớp có vỏ (Ostracoda) 2 loài vàDecapoda 1 loài Tuy tổng số loài đã phát hiện là 54 loài nhưng vào mỗi thời kỳ sốloài vẫn thay đổi Vào mùa mưa chỉ phát hiện được 29 loài, mùa khô là 49 loài, chứng
tỏ có sự khác biệt rất lớn về thành phần loài giữa hai mùa trong năm
4 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN
4.1 Cung cấp nước cho hoạt động nông nghiệp
Sông Đồng Nai mang lại một lượng đất bùn sa màu mỡ đến vun đắp góp phầnphát triển nền nông nghiệp cho Thành phố Biên Hòa tiêu biểu là tại cù lao Phố Nước
từ sông Đồng Nai sẽ thông qua hệ thống kênh, mương để dài gần 1km để dẫn nướcvào cung cấp nước cho việc trồng lúa.Cơ cấu cây trồng được người dân áp dụng phụthuộc rất lớn vào lượng nước tưới sẵn có.Nếu nước được cung cấp đầy đủ vào đúngcác thời điểm yêu cầu trong năm thì cơ cấu cây trồng sẽ là 3 vụ lúa Bên cạnh trồnglúa nước, người dân Cù lao Phố còn sử dụng nguồn nước này để đào ao nuôi cá, vàtưới tiêu cho các vườn cây ăn trái như mận, xoài, dừa…
Hình 2: Trồng lúa tại cù lao phố
4.2 Khai thác cát
Dọc tuyến sông Đồng Nai chảy qua thành phố Biên hòa là khu vực sông có lưulượng và độ dốc khá lớn nên lượng cát và phù sa bồi lắng rất nhiều Hơn nữa cát là
Trang 11một trong những loại khoáng sản dễ khai thác, có nhu cầu sử dụng lớn và có giá trị khácao, chủ yếu là trong xây dựng…Cho nên mặc dù UBND tỉnh Đồng Nai đã có quyếtđịnh cấm khai thác cát trên sông Đồng Nai nhưng hoạt động khai thác cát diễn ra ngàycàng phức tạp và tinh vi
Việc khai thác cát bừa bãi đã gây ra tác hại không nhỏ cho môi trườngnước.Các tàu thuyền ngày đêm hút cát rồi xả bùn, bợn trả xuống lòng sông cùng dầunhớt động cơ thải làm ô nhiễm nguồn nước Hơn thế nữa hoạt động khai thác còn làmtăng khả năng khuếch tán của chất dinh dưỡng trong trầm tích vào nguồn nước và làmdậy phèn trên sông dẫn đến làm chua nguồn nước gây nguy hiểm cho sinh vật thủysinh sống trên sông
4.3 Nuôi trồng thủy sản
Theo báo cáo của Chi cục Thủy sản Đồng Nai, năm 2009 có 346 hộ nuôi 856 bè
cá chủ yếu tập trung ở các phường Tân Mai, An Bình, Thống Nhất, xã Hiệp Hòa vàLong Bình Tân với loại cá nuôi chủ yếu là cá chép, điêu hồng và một số cá kiểng, cálăng… Căn cứ vào các tiêu chí và điều kiện của UBND thành phố Biên Hòa, thì sauquy hoạch (đến giữa năm 2010), thành phố chỉ còn 251 bè được bố trí, giảm khoảng1/3 so với trước.Số lượng bè nuôi liên tục tăng theo từng năm Năm 2000, tổng số bè
là 276, đến năm 2004 là 920 bè và đến 2011 số lượng bè giảm xuống còn 879 bè Sảnlượng cá bè nuôi tại TP Biên Hòa đạt khoảng 6.000 tấn/năm
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, các loài cá trên sông Đồng Nai đoạnchảy qua thành phố Biên Hòa bị thu hẹp phạm vi phân bố, tình trạng khai thác thủysản quá mức làm giảm tính đa dạng các loài thủy sản Ngoài vấn đền khai thác quámức, đắp đập ngăn dòng di cư của cá, thì một vấn nạn khác là ô nhiễm môi trường doquá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp quá mức cũng là một trong những nguyênnhân khiến các loài thủy sản trên dòng sông Đồng Nai cạn kiệt
Trước đây hoạt động nuôi trồng thủy sản diễn ra mạnh mẽ.Nhưng đến thời điểmhiện nay thì còn rất ít
4.4 Du lịch sông Đồng Nai
Là một tài sản quý giá của ngành du lịch Đồng Nai, được ví như “nàng tiên nữ”đang say giấc đang cần được đầu tư và phát triển các tiềm năng vốn có của nó SôngĐồng Nai có khá nhiều lợi thế về cảnh quan lẫn văn hóa có thể ứng dụng để phát triểncác sản phẩm du lịch sông nước.Những nét sinh hoạt xưa, gắn liền với đặc tính thủytriều chắc chắn là những điểm nổi bật độc đáo trong xây dựng sản phẩm du lịch sôngnước
Tuyến du lịch Biên Hòa – sông Đồng Nai có vị trí thuận lợi là nằm ngay trungtâm thành phố Biên Hòa và có thể liên kết, nối tour với các tỉnh, thành khác (TP.HồChí Minh, Bình Dương…) để tạo sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng nhằm hấp dẫn
và thu hút du khách
Trang 12Với lợi thế về cảnh quan và văn hóa, các tuyến du lịch ở đây chủ yếu là du lịchsông nước và chùa như: KDL cù lao Ba Xê, cù lao Phố, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh,Thất phủ cổ miếu (chùa Ông), Đại giác cổ tự, công viên dọc bờ kè sông, các nhà hàng,quán ăn nằm rải ven sông…
Cù lao Ba Xê:
Dự án thuộc phường Long Bình Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cách
Tp HCM 25 km đường bộ ( theo xa lộ Hà Nội, và quốc lộ 1A), 40 km đường thủy(theo tuyến sông Đồng Nai đến bến Bạch Đằng), cách TP Vũng Tàu 90 Km (theoQuốc lộ 51)
Cù lao Ba xê từng bước được xây dựng thành Khu du lịch sinh thái, vui chơigiải trí cuối tuần Cù Lao Ba xê là một điểm dừng trên tuyến du lịch sông Đồng Nai,gắn kết với nhiều di tích văn hóa, lịch sử hấp dẫn của vùng đất Nam bộ, nhưng chưađược khai thác
Chùa Đại Giác:
Chùa Đại Giác nằm trên địa phận xã Hiệp Hòa (Cù lao phố), là một trong bangôi chùa cổ nhất ở Biên Hòa, được nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốcgia Hai ngôi chùa còn lại là chùa Long Thiền (Nhơn Trạch) và chùa Bửu Phong(Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu Long) Chùa có kiến trúc hình chữ đinh, diện tíchkhoảng 1000m2 gồm 3 phần chính: chánh điện, giảng đường và nhà trù
Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh:
Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh thuộc địa phận xã Hiệp Hòa (Cù lao Phố) Mặt đềnnhìn ra sông Đồng Nai theo hướng tây nam, sân đền rộng Mặt trước đền có gắn đôirồng chầu pháp làm bằng gốm men xanh, hai bên là cặp lân.Hàng cột mặt tiền đắprồng cuốn mây có đôi liễn chữ nho khắc chìm vào tuờng
Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh là một di tích lịch sử-văn hóa đã được nhà nước xếphạng
Di tích lịch sử Chùa Ông:
Chùa Ông thuộc địa phận xã Hiệp Hòa (Cù lao phố), thành phố Biên Hòa, cáchđền thờ Nguyễn Hữu Cảnh chỉ khoảng 100 mét Trước đây Chùa là Miếu Quan Đế,
Trang 13ngày nay có tên chữ là Thất Phủ Cổ Miếu.Đây là ngôi chùa Hoa sớm nhất ở Nam bộ(khoảng năm 1684).
Chùa Ông được xây dựng theo kiến trúc chữ khẩu Bên ngoài chùa là cả mộtcông trình độc đáo các tượng gốm men xanh của thợ gốm Cây Mai (Chợ Lớn) về các
đề tài như hát bội, hát tuồng, múa hát cung đình, tượng ông Nhật bà Nguyệt Thêmvào đó, các tạo tác bằng đá ở mặt tiền chùa do thợ đá Bửu Long tạo ra đã tạo nên kiểuthức đặc trưng cho kiến trúc Minh Hương trên vùng đất Biên Hòa Là một cơ sở tínngưỡng, với kiến trúc khá độc đáo, chùa Ông là điểm đến của nhiều du khách gần xatới tham quan, nghiên cứu, chiêm bái và cầu lộc
Tuy nhiên, cho đến nay, tuyến du lịch này vẫn chưa phát triển tương xứng vớitiềm năng của nó
Dọc 2 bờ kè sông Đồng Nai có các công viên với khu vui chơi giải trí, các nhàhang, quán ăn… phục vụ nhu cầu của khách du lịch
Ngoài ra, sở GTVT đưa ôtô điện vào vận chuyển hành khách tham quan dọc theokhu vực bờ song Đồng Nai, chợ Biên Hòa và một số tuyến đường trung tâm thành phốBiên Hòa Xe ôtô điện sẽ phục vụ vào các ngày từ thứ hai đến thứ sáu có 24chuyến/ngày, riêng thứ bảy, chủ nhật sẽ là 40 chuyến/ngày phục vụ hành khách Thời
gian hoạt động từ 16h đến 21h, thời gian giãn cách giữa các chuyến là 15 phút Dù mới
đưa vào hoạt động nhưng xe ô tô điện đã được khá nhiều người dân và khách du lịchthích thú hưởng ứng
4.5 Cấp nước cho sinh hoạt
Các kết quả quan trắc cho thấy một số chỉ tiêu đạt chuẩn cho phép như nhu cầuôxy sinh học, ôxy hóa học, độ mặn, kim loại nặng, nitơ, nhiều chỉ tiêu khác như độ
pH, độ đục, nồng độ chất rắn hòa tan trong nước, ôxy hòa tan, nồng độ dầu và vi sinhvật tại hầu hết các trạm quan trắc đều ở mức cho phép Điều này cho phép khai thác sửdụng nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt
Hình 3: Trạm bơm cấp nước
Một số nhà máy đã được đưa vào vận hành:
- Trạm bơm Hóa An, Bình An cung cấp nước cho TP.Hồ Chí Minh