1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỨC PHẬT, NÀNG SAVITRI và tôi của hồ ANH THÁI và ĐƯỜNG xưa mây TRẮNG của THÍCH NHẤT HẠNH dưới góc NHÌN SO SÁNHChương 3

32 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề ĐỨC PHẬT, NÀNG SAVITRI và tôi của Hồ Anh Thái và Đường xưa mây Trắng của Thích Nhất Hạnh dưới góc Nhìn So Sánh
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 54,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà văn sử dụng nhiều thuật ngữ phật học như: nhân, quả, chúng sinh, tự ngã, từ bi… Lớp ngôn ngữ quan phương, cổ kính tạo cho người đọc niềm tin vào sự cóthật của các chi tiết được kể, c

Trang 1

Chương 3 NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU VÀ HÌNH ẢNH BIỂU TƯỢNG

TRONG ĐỨC PHẬT, NÀNG SAVITRI VÀ TÔI VÀ ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG

Theo nhà nghiên cứu Y Lotman: “Văn học có tính nghệ thuật nói bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai” [17] Đó cũng là quan niệm của Bakhtin:

“Tiểu thuyết – đó là những tiếng nói xã hội khác nhau, đôi khi là những ngôn ngữ xã hội khác nhau và những tiếng nói cá nhân khác nhau được tổ chức lại một cách nghệ thuật” [1]

Nói cách khác, văn học là nghệ thuật của ngôn từ Ngôn từ ở đây khôngphải là phương tiện giao tiếp tự nhiên hàng ngày của đời sống mà là thứ ngônngữ được lựa chọn, sáng tạo theo chủ quan của người nghệ sĩ để phục tùng cácnhiệm vụ nghệ thuật của tác phẩm Ngôn ngữ trong tất cả tính chất thẩm mĩ của

nó là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học Không

có ngôn từ thì không thể có tác phẩm văn học

1 Ngôn ngữ quan phương, cổ kính kết hợp với ngôn ngữ đời sống

giản dị, nhiều màu sắc trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi

Ngôn ngữ văn học luôn mang dấu ấn thời đại lịch sử của nó Đồng thời,thông qua ngôn ngữ tác phẩm người đọc có thể đánh giá được khả năng sáng tạo

và phong cách sáng tác của người nghệ sĩ Ở đây, Đức Phật, nàng Savitri và tôi

viết về Đức Phật là một nhân vật lịch sử cách thời điểm hiện tại hơn 2500 năm,cho nên các tác giả đã chú ý sử dụng lớp từ vựng phù hợp với thời đại này Tuynhiên người viết đã kết hợp khéo léo tiếng nói của một thời đã qua và tâm lí củangười đọc thời hiện tại Đây là đặc điểm thường gặp và cũng là yếu tố thiết yếu ởnhững tiểu thuyết, truyện ngắn lịch sử

Trang 2

Những sự kiện trong tác phẩm hầu hết đều đã xảy ra trong quá khứ xa xưacho nên nhiệm vụ của nhà văn là phải phục dựng lại được không khí của thời đại

đó, phân biệt con người hôm qua với con người hôm nay Bởi vậy, lớp ngôn ngữquan phương, cổ kính là không thể thiếu Lớp ngôn ngữ này được sử dụng trong

cả lời của nhân vật và lời của người kể chuyện Điển hình là cách xưng hô mangtính quy phạm, tương xứng với địa vị của mỗi người: bề tôi tôn xưng vua là “bệhạ”, vua tự xưng là “trẫm”, chồng gọi vợ hoặc một người phụ nữ đáng trọng là

“nàng”, vợ gọi chồng là “chàng”, xưng “thiếp”,… Cách xưng hô này tạo nênkhông khí trang nghiêm, mực thước phù hợp với không gian và thời gian Trongbất kì hoàn cảnh nào nhân vật giao tiếp cũng giữ đúng vị trí của mình, cho dùmối quan hệ giữa họ có vô cùng thân thiết đi chăng nữa Do đó, tác giả liên tục

sử dụng một số cụm từ xưng hô cố định ở đầu câu như tâu bệ hạ, thưa hoàng tử,thưa sư phụ hay đơn giản hơn là gọi tên vai vế của đối phương ra như ẩn sĩ,Đấng Giác Ngộ, huynh, đệ, công tử… Đáng chú ý là chi tiết nàng Savitri cả ởtiền kiếp lẫn hiện kiếp đều xưng “ta”, điều này tỏ rõ sự ý thức về địa vị củamình

Ngôn ngữ quan phương, cổ kính còn được thể hiện trong hệ thống ngôn

ngữ mang màu sắc tôn giáo Trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi, tuy nội dung

kể chuyện Đức Phật không nhiều nhưng không khí tôn giáo vẫn bàng bạc khắptác phẩm Nhà văn sử dụng nhiều thuật ngữ phật học như: nhân, quả, chúng sinh,

tự ngã, từ bi…

Lớp ngôn ngữ quan phương, cổ kính tạo cho người đọc niềm tin vào sự cóthật của các chi tiết được kể, còn lớp ngôn ngữ hiện đại, trần trụi lại giúp ngườiđọc được sống trong không khí thật của câu chuyện, cảm nhận được sự gần gũi,thân quen trong từng lời kể, làm sống dậy “những xác chết biên niên sử” Điều

Trang 3

quan trọng hơn là, với lớp ngôn ngữ này, người viết có điều kiện đi sâu khámphá thế giới tâm hồn sâu kín, đầy ngõ ngách của con người Toàn bộ bản chấtcủa con người theo lời nói được bộc lộ ra Ví dụ như theo như lời Savitri thì

“Hoàng tử làm việc này mà đầu óc nghĩ sang việc khác Mơ mơ màng màng hâm hâm hấp hấp” Đây có lẽ là sự đánh giá có một không hai về một nhân vật

vĩ đại như Đức Phật Hay khi tế sư gọi Savitri là “đứa con gái kia” thật cũngkhông hợp lẽ chút nào vì ít nhất nàng cũng là một cô công chúa tôn quý Tuynhiên, cách miêu tả này đã lột tả được mối quan hệ giữa các nhân vật, làm cho

nó thật hơn, phụ họa thêm cho lí lẽ mà tế sư luôn rao giảng đó là “cha mẹ cũngkhông bằng thầy” và đẳng cấp tăng lữ là đẳng cấp cao nhất trong nấc thang xãhội bấy giờ Do đó, tế sư có khả năng làm bất cứ việc gì mà không phải lo về hậuquả

Như vậy, lớp ngôn ngữ quan phương, cổ kính có vai trò rất quan trọngmang lại hơi thở thời đại cho tác phẩm, thuyết phục người đọc bằng nhữngchứng cứ cụ thể, chi tiết Viết về Đức Phật và thời đại mà Ngài đang sống, việc

sử dụng lớp ngôn ngữ trên có ý nghĩa làm sống lại một thời kì lịch sử đã qua,giúp con người hiện đại có một cái nhìn gần hơn vào quá khứ

2 Ngôn ngữ đậm chất Phật giáo trong Đường xưa mây trắng

Với khối lượng giáo lí vô cùng lớn hàm chứa trong những bài học triết lícuộc sống phong phú, không có gì bất ngờ khi thầy Thích Nhất Hạnh đã sử dụnglớp thuật ngữ Phật giáo với mật độ dày đặc Các thuật ngữ được dùng trải đều cảtrong lời nói thường ngày lẫn trong những bài giảng của Bụt, từ ngôn ngữ người

kể chuyện cho đến đối thoại của các nhân vật Ở cấp độ cơ bản, tác giả triệt để sửdụng tên gọi của những sự vật, hành động, tính chất phổ biến trong giới tu hànhnhư tọa cụ, thiền hành, quán niệm hơi thở, hộ niệm, định lực, liêu xá, khất thực,

Trang 4

thọ trai, thảo am, xá, ngồi thiền, xuất gia… Cao hơn nữa là những thuật ngữ cónội hàm sâu, ví dụ như trong đoạn viết về khoảnh khắc Bụt thành đạo:

Sa-môn Gotama cũng vậy, ông không thể có mặt biệt lập với vũ trụ vạn hữu, ông không có một cái ngã thường tại bất biến Thấy được tính cách trùng trùng duyên khởi của vạn hữu cũng là đồng thời chứng nghiệm được sâu xa tính cách vô ngã của vạn hữu Và vì vậy chìa khóa mở cánh cửa giải thoát là nguyên lý vô ngã, nguyên lý duyên sinh [8; tr.137]

Hay cuộc đối đáp của Bụt với hiền triết Kassapa về nguyên do của khổđau:

Này tôn giả, nguyên do của khổ đau là vô minh, tức là nhận thức sai lầm về thực tại Đời vô thường mà ta tưởng là thường, đó là vô minh Thực tại không có tự ngã mà ta tưởng là có tự ngã, đó là vô minh Từ vô minh, phát sinh ra tham vọng, giận hờn, sợ hãi, ganh ghét, và bao nhiêu đau khổ khác Con đường giải thoát là con đường quán chiếu thực tại để thực chứng được tự tính vô thường, vô ngã và duyên sinh của vạn hữu Con đường ấy là con đường diệt trừ vô minh Vô minh diệt thì phiền não diệt và khổ đau diệt Đó là giải thoát Cần gì phải có tự ngã mới có giải thoát [8; tr.27]

Nhiều chương trong tác phẩm được đặt tên mang màu sắc Phật giáo như:Trái quýt của chánh niệm (chương 19), Chuyển Pháp Luân Kinh (chương 22),Vạn pháp đang bốc cháy (chương 27), Muôn vật từ duyên sinh lại từ duyên màdiệt (chương 29), Vòng sinh tử không có bắt đầu (chương 64), Sinh tử là đốm

hoa giữa hư không (chương 77)… Thầy Thích Nhất Hạnh còn cụ thể hóa ngôn

ngữ mang màu sắc tôn giáo vào các bài giảng của Bụt nhưng ở mức độ dễ hiểu,phù hợp với số đông đại chúng Tuy vậy, những bài giảng đó vẫn không hề mất

Trang 5

đi tính uyên thâm nhờ vào cách sử dụng các thuật ngữ nhà Phật thích hợp Ví dụnhư khi Bụt giảng về nghệ thuật chăn trâu mà cũng là phương thức tu tập dànhcho người tu hành Ngài đặt một hoạt động có vẻ thuần túy là lao động chân taybên cạnh hoạt động tinh thần của người xuất gia tương ứng với việc sử dụng hai

hệ thống từ vựng dân dã và bác học song song đã giúp độc giả không bị rơi vào

“ma trận chữ nghĩa” mà thẩm thấu rất nhanh nội dung triết lí trên

Mô típ này được tác giả vận dụng nhiều lần trong các bài giảng về tráiquýt của chánh niệm (chương 19), tám đặc tính của biển (chương 67), nghệ thuậtlên dây đàn (chương 71)… Ở mỗi bài giảng của Bụt, tác giả đều bắt đầu bằngnhững vấn đề rất gần gũi trong đời sống để nêu ra một bài học cụ thể rồi mớitổng kết thành lí thuyết cần thiết cho việc tu tập của người xuất gia

Đặc biệt, với mục đích đưa Phật pháp đến gần hơn với đại chúng, thầyThích Nhất Hạnh đã khéo léo lồng vào trong mạch truyện những khái niệm cơbản của nhà Phật như Bụt (Buddha), Pháp (Dharma), Tăng (Shangha), khất sĩ, samôn, ngũ uẩn, thế giới, vạn hữu, tự ngã, pháp ấn, sáu căn, sáu trần, bốn sự thật,

bốn lĩnh vực quán niệm… Ví dụ như “Khất sĩ là người từ bỏ đời sống gia đình, nương vào Bụt như người đưa đường chỉ lối cho mình trong cuộc đời, nương vào Pháp như con đường đưa tới sự thành tựu đạo nghiệp giải thoát, và nương vào Tăng như đoàn thể của những người cùng đi trên một con đường chí hướng…” [8; tr.18]

Pháp (Dharma) là con đường đưa tới sự tỉnh thức Con đường này

đã được Bụt tìm ra và đã và đang chỉ dạy cho chúng ta Con đường này đưa ta thoát khỏi ngục tù ảo vọng, giận hờn, sợ hãi và tham đắm, và dẫn

ta tới chân trời tự do an lạc, vô úy, làm cho sự hiểu biết và tình thương

Trang 6

phát hiện nơi ta Hiểu và thương là những hoa trái đẹp đẽ nhất của đạo lý tỉnh thức Pháp là viên ngọc quý thứ hai của chúng ta [8; tr.114].

Phép duyên khởi là một phép quán rất quan trọng trong công trình

tu tập Vạn vật nương vào nhau để phát hiện, tồn tại rồi ẩn diệt; chính vì nương vào nhau nên mọi vật mới có thể có mặt và vì vậy trong cái một, có cái tất cả, và cái tất cả cũng không thể có mặt nếu cái một không có mặt” [8; tr.87]

Đồng thời, tác giả còn trình bày các nguyên tắc tu tập như ngũ giới(chương 23), nghi thức xuất gia (chương 24), vạn pháp không (chương 65)…

Có thể nói, Đường xưa mây trắng đã trình bày một cách tương đối đầy đủ

những nội dung cốt yếu của giáo lí nhà Phật thông qua việc sử dụng hàng loạtthuật ngữ chuyên môn từ cơ bản đến nâng cao dần Tuy vậy, tác giả không hề sa

đà vào diễn giải Phật pháp mà luôn lồng ghép những nội dung thích hợp ở mức

độ đủ cho độc giả đại chúng có thể thẩm thấu

3 Ngôn ngữ người kể chuyện mang tính phức điệu trong Đức Phật,

nàng Savitri và tôi

Khi xây dựng tác phẩm, một trong những khó khăn đối với nhà văn là lựachọn cho mình một chỗ đứng thích hợp để kể chuyện Việc tìm chỗ đứng này xáclập cho người kể một điểm nhìn trần thuật để từ đó câu chuyện được kể ra bằngmột ngôn ngữ trần thuật cố định nào đó

Đức Phật, nàng Savitri và tôi là câu chuyện về ba nhân vật được dàn trải

trong các chương riêng rẽ được đặt tên theo từng nhân vật đan xen nhau Ngôi kểđược sử dụng trong tác phẩm là ngôi thứ nhất ở những chương về Savitri và tôi,ngôi thứ ba ở những chương về Đức Phật Do đó, ngôn ngữ trần thuật trong tácphẩm có sự đan xen giữa người kể chuyện hóa thân vào nhân vật đứng ở ngôithứ nhất (xưng tôi) và người kể đứng ngoài thuật lại chuyện của một chủ thể

Trang 7

khác Gắn với điều đó là sự hiện diện điểm nhìn cả bên trong lẫn bên ngoài.Cách kể này giúp tác giả có thể tái hiện những chiều kích khác nhau của tâmtrạng, những biến đổi tâm lí tinh vi của nhân vật Khiến người đọc tin vào câuchuyện, dễ bị cuốn vào diễn biến của câu chuyện, luôn có cảm giác đó là chuyệnthực chứ không phải thế giới nghệ thuật Đây cũng là kiểu trần thuật thườngđược Hồ Anh Thái sử dụng hơn hẳn kiểu khách quan.

Nhà văn Hồ Anh Thái liên tục di chuyển góc nhìn, Đức Phật được nhìn từnhân vật nàng Savitri, một cái nhìn dục lạc, trần thế, rồi chuyển sang góc nhìnthâm trầm của nhân vật Tôi, một cái nhìn như thể muốn cân bằng âm dương giữaĐức Phật và Savitri, nhằm tạo cho cuốn tiểu thuyết một từ trường thu hút độcgiả, với sự mở ngỏ cố ý của tiểu thuyết Trong đó, các chương Đức Phật được kểlại bằng giọng điệu khách quan của một nhân vật người kể chuyện “biết tất cả”

Nó khác với các chương Savitri, vốn là tự thuật của nàng Savitri về tiền kiếp củamình (người kể xưng Ta); khác với các chương Tôi, vốn là lời kể của nhà nghiêncứu Ấn Độ học về quá trình cùng Savitri hành hương trên đất Phật (người kểxưng Tôi)

Nàng Savitri cả trong tiền kiếp lẫn hiện kiếp đều được miêu tả với nhữngnét tính cách đặc sắc không thể lẫn đi đâu được Do đó, ngôn ngữ của nhân vậtnày cũng được cá thể hóa một cách sâu sắc Savitri là một nàng công chúa caoquý nhưng nổi loạn Trong lời ăn tiếng nói cũng như cách cư xử của nàng cũng

có sự hòa trộn tương tự Như khi vâng lời cha mẹ lấy chồng ngoài ý muốn, việcđối đáp với tế sư, nàng lúc nào cũng tỏ ra mực thước, lễ nghi Thế nhưng cũngngay lúc đó, ngôn ngữ độc thoại của nàng lại hoàn toàn khác Nàng không ngầnngại mà dùng những từ rất bình dân như: cha mẹ ơi, lão tế sư, thánh thần ơi…Công chúa Savitri trong tiền kiếp nhìn mọi sự bằng con mắt của mình, tự do nêuquan điểm cá nhân về những nhân vật lịch sử cùng thời với mình như hoàng tử

Trang 8

Devadatta hay chính Đức Phật Từ đó mà tính cách của nàng được bộc lộ mộtcách rõ ràng: chua chát và ngọt ngào, lạnh lùng và nồng ấm, đay nghiến chì chiết

và châm biến mỉa mai Có thể nói, giọng thành kính khi tác giả kể chuyện ĐứcPhật giờ đây đã chuyển sang giọng dân dã hơn, thậm chí là suồng sã Hãy xem

tác giả dùng lời Savitri để miêu tả đời sống dục lạc của mình như thế này: “Nào

là rắn Nào là ngựa Nào là voi là hươu, thậm chí là kiểu của ong đất Những là naga, hadavaka, hastika, harina, bhamara” [17; tr.118] Cách ngắt câu ngắn gọn

cho thấy một lối sống gấp gáp, muốn tận hưởng mọi lạc thú cuộc đời của Savatri

Nhưng cũng có lúc nàng trầm tĩnh: “Giữa đám tín đồ địa phương nhốn nháo đùn đẩy việc cho nhau, ta tình nguyện nhận ngay việc tắm rửa cho giáo chủ Giờ thì

ta đã được tận tay múc nước tắm cho chàng Lần duy nhất Ta đã đi đến tận cùng thoả nguyện” [17; tr.425] Sự thoả nguyện thấm đẫm một niềm ngậm ngùi

của người đàn bà suốt đời ôm ấp hình bóng người yêu trong mộng tưởng

Đến thời hiện đại, cựu Nữ Thần Đồng Trinh dù đã bị truất ngôi nhưng vẫngiữ nguyên cách xưng hô, nói năng đã “nhiễm” phải từ hồi còn ở địa vị chí tôn.Cách xưng hô Ta và Ngươi sau bao nhiêu thế kỉ vẫn không hề thay đổi làm nênnét đặc trưng ở nhân vật này Cô kể chuyện đời Đức Phật mà cũng là đời mìnhnhưng lại với giọng dửng dưng, vô âm sắc Cùng với những chi tiết về đời sống

cá nhân của mình, ngôn ngữ nhân vật đã giúp độc giả hiểu được vì sao Savitriđầu thai chuyển thế ở kiếp này Nàng là một chứng nghiệm cụ thể cho lí thuyết

về luân hồi nghiệp báo mà Đức Phật đã khám phá ra từ hơn 2500 trước

Nhân vật Tôi đóng vai trò là khách hành hương kể lại chuyến đi của mìnhnhưng cô cựu Kumari mới chính là người dẫn dắt câu chuyện qua các miền đấtPhật Tuy nhiên, từ cái nhìn của nhà nghiên cứu Ấn Độ học, độc giả được trảinghiệm cảm giác như chính là mình đang quờ quạng trong màn sương trắng đụcvùng biên giới, đi trên con đường ẩn sĩ Siddhattha đã chọn để đi vào thị trấn

Trang 9

Boddhgaya thuở còn là rừng rậm hay bước trên từng bậc đá vào chùa Đại Giác.Anh đứng ngoài quan sát cựu Nữ Thần Đồng Trinh, lắng nghe những câu chuyện

và cũng góp thêm vào phần của mình Tiêu biểu là ở hai chương đầu và cuối tácphẩm, nhà nghiên cứu Ấn Độ học kể lại haicâu chuyện lồng vào trong những lời

kể của mình: chuyện về nắm lá simsapa được Đức Phật dùng để giảng về những

gì thực sự có ích trong quá trình tu tập, và chuyện về ông vua mù Dhritarashtratrong sử thi Mahabharata Chúng ta có cảm tưởng đó là lời của người kể chuyệnthế nhưng, thay vì kể lại bằng lời của chính mình, người kể chuyện đã giữnguyên lời nhân vật nhằm nhấn mạnh tâm lí của nhân vật và hoàn cảnh giaotiếp.Người đọc từ đó càng cảm nhận rõ hơn câu chuyện chính mà người kểchuyện đề cập: hai chúng tôi cứ thế mà dắt nhau đi Đó là lồng ý thức và giọngđiệu của nhân vật vào lời trần thuật khách quan của mình hay còn gọi là ngônngữ người kể chuyện hóa thân vào nhân vật

Tính phức tạp của ngôn ngữ trần thuật ở đây không chỉ là chỗ nhiều giọng

mà còn là ở chỗ sự chuyển hóa qua lại một cách tự nhiên từ giọng này qua giọngkhác để tạo ra một sự giao thoa giữa các giọng nhưng vẫn trong khuôn khổchung

4 Ngôn ngữ giàu chất thơ và chất triết lí trong Đường xưa mây trắng

“Chất thơ” trước tiên hiểu theo nghĩa rộng phải gắn với cái đẹp Khinhững vật liệu tự thân chứa đựng “chất thơ” được sử dụng trong tác phẩm vănhọc thì tác phẩm đó không ít thì nhiều sẽ giàu “chất thơ” hơn những tác phẩmkhác Tuy nhiên, vật liệu giàu “chất thơ” sẽ mãi bị giới hạn ý nghĩa và thẩm mỹnếu như nhà văn không sử dụng các thủ pháp để sắp xếp vật liệu, tạo ra mộtchỉnh thể thẩm mỹ để nội dung và hình thức không thể tách rời Nói đến vai trò

chất thơ để tạo hồn văn, nhà văn Trung Quốc Quách Mạt Nhược nói: “Trong tiểu thuyết và trong kịch nếu như không có chất thơ thì giống như rượu bia và nước

Trang 10

hoa đã bay hết hơi hết mùi, giống như một xác ướp không có linh hồn” [24] Nhà

lý luận Chu Quang Tiềm thì ví von chất thơ và cốt truyện trong tiểu thuyết giốngnhư hoa và giàn hoa, cốt truyện chỉ như cái giàn ghép bằng những cành cây khô

để cho chất thơ là những dây hoa mềm mại, mơn mởn, rực rỡ, ngát hương vươnlên Trong văn xuôi, chất thơ trước hết gắn với ngôn từ

Đầu tiên, trong Đường xưa mây trắng, việc tác giả vận dụng ngôn ngữ tả

cảnh giàu hình ảnh là một cách phát huy tối đa giá trị thẩm mĩ của ngôn từ nghệthuật Từ đó, chất thơ càng trải đều ra, lan tỏa trước hết là trên bề mặt văn bản.Như trong đêm Bụt thành đạo, cảnh gió mưa vần vũ, sấm chớp chói lòa có lẽcũng chính là những gì đang diễn ra trong thế giới nội tâm của Bụt Ở đó đangdiễn ra một cuộc chuyển mình vĩ đại tương xứng với những chuyển động của vũtrụ Cũng như vậy, khi đã tìm ra được chân lí, buổi sáng hôm sau của Bụt cũngtrong trẻo như chính tâm hồn Ngài vậy Ở đây, tác giả thường sử dụng thủ pháp

tả cảnh ngụ tình của văn học cổ điển:

Trên bờ cỏ, các bông hoa đủ màu đã lấm tấm nở trong nắng mai Nắng như reo mừng trên không gian, trên cành lá và trên mặt sông Hình như bước tới đâu ông thấy hoa nở tới đó […] Nền trời xanh đối với ông cũng là mới lạ Đám mây trắng đối với ông cũng là mới lạ Vũ trụ mới tinh, và tự thân sa-môn Gotama cũng mới tinh [8; tr.145].

Điều đáng nói ở đây là tác giả không phải chỉ miêu tả cho có lệ theo côngthức của người xưa mà ông đã đặt sự kiện trong một bối cảnh cụ thể để lựa chọn

khung cảnh phù hợp Cảnh tình hòa hợp đã tạo nên một vẻ đẹp hòa quyện giữa

con người và vũ trụ

Ở cấp độ cao hơn, thầy Thích Nhất Hạnh chủ tâm không chỉ kể lại cuộcđời Bụt một cách cặn kẽ, chi tiết hay diễn giải giáo lí nhà Phật theo cách giản dịnhất mà còn muốn người đọc thấu triệt được thế giới nội tâm của nhân vật Bụt

Trang 11

hiện lên là một con người bình thường, cũng có những trăn trở, suy tư trướcnhững khó khăn gặp phải trong đời sống hàng ngày, ngoài xã hội cũng như tronggiới môn đệ của chính Ngài Như khi Ngài an ủi nàng Yasodhara, dù lời lẽ ngọtngào nhưng ẩn giấu trong đó vẫn có nỗi âu lo về tương lai:

Này Gopa, em đừng buồn Anh biết em là một người có chí khí […] Vậy nếu mai này mà anh phải đi và phải xa em, xa em trong một thời gian, anh mong rằng em sẽ có đủ can đảm để tiếp tục công việc của em Em sẽ chăm sóc con và nuôi con lớn lên, dù anh có đi, dù anh có ở xa em thì tình thương của anh đối với em bao giờ cũng thế Anh sẽ chẳng bao giờ không yêu em Nếu em biết như thế thì em có thể chịu đựng được sự xa cách Khi anh tìm được đạo, anh sẽ trở về với em, với con [8; tr.99].

Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng tổ hợp những câu văn có cùng cấu trúc

để tạo nên sức ám ảnh Đồng thời, hệ thống từ vựng phong phú cũng góp phầnlàm cho mạch văn trở nên uyển chuyển, có chiều sâu Như trong đoạn Bụt thànhđạo dưới gốc cây pippala, thầy Thích Nhất Hạnh đã miêu tả khoảnh khắc ấytrong một đoạn văn tưởng chừng bất tận để diễn tả cảm giác của Bụt lúc bấy giờ:

Hồi lâu, ông bắt đầu thấy, trong giây phút hiện tại, sự có mặt của muôn loại chúng sanh ngay trong chính tự thân ông […] Ông thấy sự có mặt của tất cả các loại chúng sanh ấy chính là sự có mặt của ông, không những trong hiện tại mà cũng là trong quá khứ và trong vị lai Ông trông thấy được tất cả những sinh diệt của mình trong các kiếp quá khứ [8; tr.141]

Cách viết sử dụng trùng trùng điệp điệp những hình ảnh ẩn dụ đã tạo nênmột vẻ đẹp bàng bạc chất thơ mà cũng đầy gợi cảm Sự kết hợp từ ngữ một cáchhài hòa, giản dị nhưng lại tạo nên những câu văn đa tầng ý nghĩa Đó không chỉ

là tâm tư của một nhà tu hành khát khao tìm ra chân lí mà còn là của một tâm

Trang 12

hồn nghệ sĩ thiết tha với cuộc sống Do đó, đôi lần tác giả cũng đan cài màu sắchuyền thoại vào trong những câu chuyện kể của Bụt như khi Ngài kể cho bọn trẻnghe về chuyện tiền thân về tình bạn giữa một con nai, một con rùa và một conchim sáo (chương 20); chuyện tiền thân cây bông sứ (chương 30); “những bônghoa sen duyên kiếp” (hay là tiền thân về Ngài và công nương Yasodhara)(chương 36) Ở mỗi câu chuyện, Bụt đều như hóa thân vào chính các nhân vật đểlàm cho người đọc người nghe tin vào sự kì diệu giữa cuộc đời.

Bằng bút pháp dòng kí ức, tác giả đưa người đọc đi qua từng lớp tâm hồnnhân vật Chất thơ ở đây gắn với thế giới tâm tưởng bên trong con người Ở đó,chúng ta được tự do bay lượn trong cảm giác chủ quan mà tạm thời quên đi thựctại Như trong lần Bụt dùng tiếng sáo để thu phục ba mươi chàng thanh niên,việc Ngài thổi sáo là thực mà cũng như trong cõi mộng

Việc nhà văn đào sâu vào tâm hồn nhân vật đến từng ngõ ngách thông quanhững biện pháp nghệ thuật đã tạo ra loại không gian tâm tưởng Nắm bắt đượcnhững chuyển động và sắc thái tâm trạng nhân vật, nhà văn tái hiện nó bằng ngòibút điêu luyện, với cái nhìn tinh tế Dòng suy tư của nhân vật tuôn chảy suốtchiều dài tác phẩm diễn ra trong tiềm thức tạo nên một mạch ngầm tâm trạng,một không gian tâm tưởng trải dài, rộng mở với hàng loạt những suy tưởng đancài, chồng chéo phức tạp Từ hiện tại, không gian thực lúc này đã trở thành quákhứ với sự xuất hiện thời gian hồi tưởng phi tuyến tính Thời gian hồi tưởng nói

chung và trong Đường xưa mây trắng nói riêng đã mở ra một lối nhìn vào quá

khứ từ mốc trần thuật trong một tác phẩm văn học Người đọc đứng ở điểm nhìncủa người kể chuyện và được người kể chuyện dẫn dắt đi qua từng lớp chi tiết đểkhám phá sự tồn tại của thế giới nghệ thuật bên trong tác phẩm Sự hồi tưởng cógiá trị khơi dậy quá khứ, đặt nó trong mối quan hệ không thể tách rời với hiện tại

và tương lai để người đọc đối chiếu, suy ngẫm

Trang 13

Vậy, chất thơ trong Đường xưa mây trắng không phải là một yếu tố biệt

lập chỉ riêng về mặt cảm xúc bởi nếu chỉ có cảm xúc không thôi thì tác phẩm dễ

sa vào ủy mị Chất thơ ở đây còn gắn với chất triết lí ẩn tàng trong từng câu chữ.Làm được điều này đó là nhờ vào công phu thiền tập, từ thực chứng, đặt căn bảntrên nguồn tình thương và trí tuệ của chư Phật của tác giả Phải là một người đãthể nhập giáo Pháp cộng với một bộ óc phong phú của một nghệ sĩ mới có thểsuy diễn nghệ thuật chăn trâu (chương 2) cùng hình ảnh một khúc gỗ đang vật vờtrôi trên sông (chương 63) thành những tiêu chuẩn tu học cho người xuất gia.Vậy cho nên, ta lập tức hiểu ra rằng triết lí nói chung không hẳn là thứ lúc nàocũng khô khan, khó hiểu Ngược lại, chỉ cần có tấm lòng rộng mở thì triết lí tự

nó sẽ thẩm thấu vào ta, trở thành một phần không thể thiếu trong ta Bởi Phậtpháp không phải là cao không với tới, thiền không chỉ là vì siêu độ bản thân, tuluyện kiếp sau mà chính là tự giải thoát được cả muôn kiếp Nó cho thấy cuộcsống và con đường thoát khổ là thật và có thể đạt được do chính năng lực củachúng ta mà không dựa vào một quyền lực tối cao thần thoại huyễn hoặc và linhthiêng nào cả

Sinh ra trên đất Ấn Độ, thấm đượm tư duy Ấn Độ, sống trong khung cảnhkinh tế – xã hội Ấn Độ thời đó, người ẩn sĩ của bộ lạc Sakya vẫn không sao thoát

ra khỏi ý nghĩ về số phận, về sự luân hồi và nhân duyên, cũng là hệ lụy của ĐạoPháp Nhưng nếu như Hindu giáo hầu như lờ đi khả năng giải thoát – moksa, thìSiddhatta là người đầu tiên nhấn mạnh sự giải thoát và khả năng giải thoát khỏiluân hồi bằng giải thoát bằng nhận thức về sự hư vô (shunyata) của cuộc sốngtrần ai Nói bằng ngôn ngữ trừu tượng là vậy, còn khi đi vào tác phẩm, thầyThích Nhất Hạnh đã trình bày bằng một ngôn ngữ rất cụ thể, tràn đầy cảm xúc

mà cũng không kém phần triết lí:

Trang 14

Một đám mây trắng bay qua, và chiếc lá pippala giờ đây đang in hình trên nền trắng ấy Đám mây kia chiều nay có thể sẽ gặp một luồng khí lạnh và sẽ biến thành mưa Đám mây là một biểu hiện Mưa là một biểu hiện [ ] Sa môn Gotama thấy được rằng trong thực tại, không có gì sinh ra, không có gì mất đi, không có gì từ không mà trở nên có, không có

gì mà từ có trở nên không, và ông vượt thoát được các ý niệm có không và sinh diệt [8; tr.137 – 139].

Và Bụt đã luôn vận dụng đúng nguyên tắc ấy để giải quyết bất kì vấn đềnào cho dù nan giải tới đâu, hay phải đối mặt với hiểm nguy Bụt luôn luôn giữthái độ bình thản nhất quán và rút ra được từng bài học thích hợp để răn dạychúng sinh Cuốn sách này bám sát những chi tiết đó, và bằng lối văn mang đặctính thiền, tác giả đã thể hiện tuyệt vời mục đích đưa Phật học đến gần độc giảđại chúng hơn

Hay cũng như cái cách tác giả đặt tên chương sách: Đi mà để đi (chương1), Hãy đi như những con người tự do (chương 24), Vạn pháp đang bốc cháy(chương 27), Muôn vật từ duyên mà sinh lại từ duyên mà diệt (chương 29), Ranhìn tia nắng sớm (chương 35), Vòng sinh tử không có bắt đầu (chương 64),Không có cũng không không (chương 65), Hãy tinh tiến lên để đạt giải thoát(chương 80)… Thầy Thích Nhất Hạnh rất có ý thức trong việc kết hợp thuật ngữPhật học và những từ ngữ chân phương nhằm tạo sắc thái trang nghiêm mà vẫnkhông quá xa lạ đối với độc giả Điều đó khiến ta có cảm giác vừa quen vừa lạ,vừa có chút hồi hộp khi bắt đầu một chương mới nhưng cũng lại dần hòa vàogiọng văn đều đặn như nhịp thiền hành Lời dạy của Bụt từ trong kinh Phật khi

đi vào Đường xưa mây trắng bỗng trở nên sống động và gợi cảm làm sao Bụt

dạy:

Trang 15

Chỉ có một cái đẹp không bao giờ tàn hoại và không gây khổ đau:

đó là lòng từ bi và tâm giải thoát Từ bi là thứ tình thương không có điều kiện và không cần sự đền trả Tâm giải thoát cũng là thứ tâm không thối chuyển, như con gà con một khi ra khỏi vỏ trứng rồi thì không còn chui trở lại nằm trong vỏ trứng nữa Đã không còn lệ thuộc vào điều kiện cho nên cái đẹp của lòng từ bi và tâm giải thoát là cái đẹp chân thực, và niềm

an lạc do cái đẹp ấy cống hiến cũng do đó mà là thứ an lạc chân thực [8;

tr.259]

Chất thơ thấm đẫm trong toàn bộ tác phẩm đã mang đến cho thế giới sựkiện một màu sắc sống động cuốn người đọc vào dòng chảy bất tận của mạchtruyện Đây là một trong những yếu tố quan trọng làm nên sự hấp dẫn của mộtcuốn tiểu thuyết mang dáng dấp biên niên kí về một nhân vật trong lịch sử Mặt

khác, cùng với chất thơ, chất triết lí đã đưa Đường xưa mây trắng đạt tới sự hoàn

thiện trong sự hài hòa giữa xúc cảm và trí tuệ Người kể chuyện đã sử dụng ngônngữ một cách tài hoa, tạo nên dòng chảy cốt truyện nhẹ nhàng mà độc đáo

2 Giọng điệu

Giọng điệu chính là một trong những “chìa khoá” quan trọng để giải mã bứcthông điệp thẩm mĩ của nhà văn Nó là một yếu tố nghệ thuật nhưng lại mangtính nội dung rất rõ Do đó, trong quá trình đọc hiểu tác phẩm không thể khôngnghiên cứu giọng điệu, không thể không chú ý khai thác hiệu quả thẩm mĩ màgiọng điệu đem lại cho độc giả

1 Sự thay đổi linh hoạt về giọng điệu trong Đức Phật nàng Savitri và

tôi

Ngôi kể và điểm nhìn trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi luân phiên di

chuyển giữa bộ ba nhân vật có địa vị và tính cách khác nhau thì lẽ dĩ nhiên,giọng văn trần thuật mà nhà văn sử dụng cho mỗi người cũng không giống nhau

Trang 16

Viết về Đức Phật, Hồ Anh Thái chọn giọng điệu thành kính trang nghiêmthấm đẫm trong triết lí nhà Phật để thể hiện sức mạnh giáo hóa chúng sinh củatriết thuyết này Tuy nhiên, không phải vì vậy mà ngôn ngữ tác phẩm rơi vàokinh viện, khô khan Trái lại, những triết lí ấy được lồng vào trong những cuộcđối thoại, lời trần thuật, những bài học thực tế khiến cho chân lí kì diệu trở nênthật gần gũi trong đời thường mà cũng đậm chất trữ tình Như sau khi đã giác

ngộ, Đức Phật vẫn không khỏi băn khoăn: “Mất bao công lao mới tìm thấy báu vật này, ta sẽ giữ lại cho riêng mình, sẽ sống cô độc trong các khu rừng, hưởng niềm vui chỉ có một Người Giác Ngộ mới có? Hay là ta sẽ mang cho mọi người cùng được thấy? Khi ấy báu vật trở thành tài sản chung của thiên hạ” [17;

tr.219] Thông qua đó ta thấy được chất “người” nơi Đấng Giác Ngộ Bởi Phậtkhông phải là hư vô, Phật cũng là hóa thân của con người, vì tham thấu mọiviệc trên đời mới đứng ngoài cuộc nhàn tản trên mây

Đức Phật không những là một bậc hiền triết, Ngài còn bộc lộ mình làmột người có tài ngoại giao Tài năng này được Ngài sử dụng khôn khéo vàthích hợp Chỉ bằng lời khuyên giải, Đức Phật đã ngăn chặn được cuộcxung đột vì tranh giành nguồn nước giữa hai quốc gia:

“Không có máu chảy qua tim, con người sẽ chết Không có nước, con người cũng chết Nếu chỉ giữ được nước mà người đã chết thì nước không làm nên nhân mạng Nếu còn có máu chảy trong người, con người còn sống thì còn làm ra nước, tìm ra nước Nước sông quý thì quý thật, nhưng nước chẳng quý bằng máu” [17; tr.293].

Rất nhiều lần Đức Phật đã giải quyết vấn đề trong hòa bình như vậy.Cho dù là đứng trước một người đang tức giận điên cuồng, một tướng cướpgiết người không gớm tay, một người mẹ ôm xác con đến chờ Ngài làm cho

Ngày đăng: 05/08/2022, 12:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w