1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thảo luận nhóm TMU vấn đề nhận thức luận trong triết học mác – lênin liên hệ với quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên

32 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 97,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ᴥ Lý luận nhận thức là một bộ phận của triết học, nghiên cứu bản chất của nhận thức,những hình thức, các giai đoạn của nhận thức; con đường để đạt chân lý, tiêu chuẩn của chân lý…ᴥ Lý lu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

học của sinh viên

Giảng viên: Hồ Công Đức Lớp học phần: 2154MLNP0221 Nhóm: 9

Hà Nội, tháng 11 năm 2021

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 9

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU……… 3

1 Mục tiêu nghiên cứu……… … 3

2 Nhiệm vụ nghiên cứu.……… …3

3 Phạm vi nghiên cứu……… … 3

4 Phương pháp nghiên cứu……… 4

5 Kết cấu tiểu luận……… …4

6 Phương pháp nghiên cứu……… 4

7 Kết cấu tiểu luận………… ………4 II NỘI DUNG……… ……….4

1.Vấn đề nhận thức……….4

Quan niệm về nhận thức trong lịch sử triết học 1.1. Khái niệm lý luận nhận thức……… 4

1.2. Quan niệm của CNDT về nhận thức……… 5

1.3. Chủ nghĩa duy vật trước Mác………6

1.4. Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác được xây dựng trên nguyên tắc 7

2 Lý luận nhận thức duy vật biện chứng……….……… 8

Trang 3

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Trang 4

2.1 Nguồn gốc bản chất của nhận thức……… ……….8

2.2 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức……….……….9

2.3 Các giai đoạn của quá trình nhận thức……… 14

2.4 Quan điểm CNDVBC về chân lý………16

3.Liên hệ với quá trình học tập và nghiên cứu của sinh viên……….…….18

III Kết luận……… ………… 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu

Con người có thể nhận thức được thế giới hay không là một câu hỏi hóc búa không

chỉ riêng với các nhà triết học mà còn cả nhân loại Tuy nhiên, không chỉ giữa các

nhà triết học duy tâm với các nhà triết học duy vật, mà ngay cả giữa những nhà triết học duy tâm với nhau hay giữa các nhà triết học duy vật với nhau cũng có những mâu thuẫn nhất định trong việc trả lời câu hỏi này Mặc dù như vậy, thế giới vẫn luôn luôn là một đối tượng bí ẩn thu hút các nhà khoa học; vì vậy, câu hỏi con người có thể nhận thức được thế giới hay không vẫn còn nóng bỏng và thú vị như buổi ban đầu Và trong bài tiểu luận này nhóm 9 chúng em sẽ nghiên cứu, tìm hiểu

“Vấn đề nhận thức luận trong triết học Mác – Lênin đồng thời liên hệ nó với quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên.”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Chỉ ra chính xác các nhân tố, các vấn đề nhận thức trong triết học Mác – Lênin Từ

đó liên hệ với quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên để thấy

rõ hơn được tầm quan trọng của nhận thức

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hoá các quan điểm và những lý luận nhận thức duy vật biện

chứng

Trình bày phân tích vấn đề nhận thức trong triết học Mác - Lênin của sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Đánh giá thực trạng vấn đề nhận thức trong triết học Mác – Lênin của sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên

Trang 5

Bài thảo luận Triết Nhóm 9 GV: Hồ Công Đức

Đưa ra hệ thống các giải pháp toàn diện và khả thi dựa trên thực trạng vàđịnh hướng phát triển vấn đề nhận thức trong triết học Mác – Lênin của sinh viên trongquá trình học tập và nghiên cứu khoa học

4 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề nhận thức trong triết học Mác – Lênin Từ đó liên hệ với quá trình học tập

và nghiên cứu khoa học của sinh viên

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về mặt không gian: đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề nhận thứctrong triết học Mác – Lênin đồng thời liên hệ với quá trình học tập và nghiên cứu khoahọc của sinh viên

Phạm vi về mặt thời gian: từ lịch sử triết học

Phạm vi về mặt nội dung: gồm 3 nội dung chính quan điểm về nhận thứctrong lịch sử triết học: lý luận nhận thức duy vật biện chứng: liên hệ với quá trình học tập

và nghiên cứu khoa học của sinh viên hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng cách tiếp cận hệ thống để nghiên cứu và tiến hành thu thập tài liệu, thôngtin theo các yếu tố thời gian, không gian

Tổng hợp, phân tích các tài liệu trên mạng, sách báo, giáo trình có độ chính xáccao

7 Kết cấu của tiểu luận

Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận

NỘI DUNG

* Quan niệm về nhận thức trong lịch sử triết học

1.1 Khái niệm lý luận nhận thức

ᴥ Có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ, được ghép từ hai từ “Gnosis” (tri thức) và

“Logos” (lời nói, học thuyết)

Trang 6

ᴥ Lý luận nhận thức là một bộ phận của triết học, nghiên cứu bản chất của nhận thức,những hình thức, các giai đoạn của nhận thức; con đường để đạt chân lý, tiêu chuẩn của chân lý…

ᴥ Lý luận nhận thức là khía cạnh thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học; tức là, lýluận nhận thức phải giải quyết mối quan hệ của tri thức, của tư duy con người đối với hiện thựcxung quanh, trả lời câu hỏi con người có khả năng nhận biết được thế giới hay không?

1.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về nhận thức

» Trong lịch sử triết học, lý luận nhận thức đã được biểu hiện cụ thể thành những vấn

đề phong phú khác nhau Có thể thấy trong lịch sử triết học, xuất phát từ lập trường thế giới quankhác nhau, các trào lưu triết học khác nhau đã đưa ra các quan điểm khác nhau về lý luận nhậnthức

ᴥ Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về nhận thức

Không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại độc lập với ý thức, do đó không thừa nhận nhận thức là sự phản ánh thực tại khách quan.

° Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: với các đại biểu như Beccoli cho chân lý là sự phù

hợp giữa suy diễn về sự vật với chính bản thân sự vật trên thực tế Beccoli phủ nhận chân lý kháchquan, thừa nhận thượng đế là chủ thể nhận thức Cũng như Beccoli, E Makho coi sự vật chỉ là kếtquả của sự phức hợp các cảm giác , E Makho chủ yếu nhắc lại quan điểm của Beccoli “ vật hay vậtthể là những phức hợp cảm giác” Chính vì vậy, theo các nhà duy tâm chủ quan nhận thức khôngphải là sự phản ánh thế giới khách quan mà bởi con người mà chỉ là sự phản ánh trạng thái chủquan của con người Cũng với lẽ đó mà Phichto đã cho rằng nhận thức có nghĩa là nhận thức cáccảm giác của con người Qua đó, ta thấy theo chủ nghĩa duy tâm, tất cả mọi cái đang tồn tại đều làphức hợp những cảm giác của con người, theo họ, nhận thức, chẳng qua sự nhận thức cảm giác,biểu tượng của con người

° Chủ nghĩa duy tâm khách quan: với các đại biểu như Platon, Hegel không phủ

nhận khả năng nhận thức của con người, nhưng lại giải thích một cách duy tâm, thần bí khả năngnày của con người Platon cho rằng, khả năng đó là khả năng của linh hồn vũ trụ Hegel coi khảnăng đó chính là khả năng của tinh thần thế giới Đối với Platon, nhận

5

Trang 7

thức chỉ là quá trình hồi tưởng lại, nhớ lại những gì mà linh hồn trước khi nhập vào thểxác con người đã có sẵn (các tri thức) ở thế giới ý niệm Hegel cho rằng nhận thức là quátrình tự ý thức (tự nhận thức) của tinh thần thế giới Hegel đã vận dụng phép biện chứngcũng như

nội dung phong phú của nhiều cặp phạm trù logic vào nhận thức luận Hegel cũng là người

đã phê phán quan điểm siêu hình, không thể biết trong nhận thức luận Như vậy, ta thấymặc dù không phủ nhận khả năng nhận thức thế giới, song coi nhận thức cũng không phải

là sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ ;à sự tự nhận của ý niệm, tư tưởng tồn tại đâu

đó ngoài con người

Quan điểm của chủ nghĩa hoài nghi

Các đại biểu của thuyết hoài nghi đã nghi ngờ khả năng nhận thức của con người,tính xác nhận của tri thức, biến sự nghi ngờ thành một nguyên tắc nhận thức, thậm chíchuyển thành nghi ngờ sự tồn tại của bản thân thế giới bên ngoài như có người (nhưHium) đã nghi ngờ cả bản thân sự tồn tại khách quan của các sự vật, hiện tượng Tuynhiên cũng có những đại biểu có quan điểm hoài nghi, nhưng đó là hoài nghi lành mạnh,chứa đựng các yếu tố tích cực đối với nhận thức khoa học Chẳng hạn, tư tưởng nghi ngờcủa Đêcacto đã góp phần tích cực vào việc chống tôn giáo, triết học kinh viện, mặc dùnguyên tắc “nghi ngờ”, nguyên tắc xuất phát điểm trong nhận thức của ông còn hạn chế,tạo ra kẽ hở cho chủ nghĩa duy tâm nảy sinh Về thực chất, các nhà hoài nghi chủ nghĩa đãkhông hiểu được trên thực tế biện chứng của quá trình nhận thức

○ Quan điểm của thuyết không thể biết

▪ Phủ nhận khả năng nhận thức thế giới Đối với họ, thế giới không thể biết được, lýtrí của con người có tính chất hạn chế và ngoài giới hạn của cảm giác ra, con người không biếtđược gì nữa

▪ Những người theo thuyết không thể biết, điển hình là Canto cho rằng, về nguyên tắccon người, không thể nhận thức được bản chất thế giới Chúng ta có hình ảnh về sự vật, nhưng đóchỉ là biểu hiện bên ngoài của chúng chứ không phải là chính bản thân sự vật Con người không thểnhận thức được “vật tự nó – Ding an sich”, chỉ có thể nhận

Trang 8

thức được các hiện tượng bên ngoài của sự vật Quan điểm của thuyết hoài nghi và thuyết không thê biết đã bị bác bỏ bởi thực tiễn và sự phát triển của nhận thức loài người.

1.3 Quan niệm về nhận thức của chủ nghĩa duy vật trước Mác

Họ đều công nhận khả năng nhận thức thế giới của con người Họ đều coi thế giới khách quan là đối tượng nhận thức

Họ bảo vệ nguyên tắc nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óccon người

Tuy nhiên, họ hiểu phản ánh chỉ là sự sao chép giản đơn, chỉ là sự tiếp nhận thụ động một chiều tác động trực tiếp của sự vật lên giác quan của con người

Họ cũng chưa hiểu được vai trò của thực tiễn trong nhận thức,…

→ Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước triết học Mác- Lênin đều quan niệmsai lầm hoặc phiến diện về nhận thức Đồng thời do hạn chế bởi tính siêu hình, máy móc và trựcquan nên chủ nghĩa duy vật trước C Mác đã không giải quyết được một cách thực sự khoa họcnhững vấn đề của lý luận nhận thức Nhìn chung, chủ nghĩa duy vật trước C Mác chưa cho thấyđầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

1.4 Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác được xây dựng dựa trên nguyên tắc Quan niệm về bản chất nhận thức của triết học C Mác và Ph.Ăngghen

Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý của các học thuyết đã có, khái quát các thànhtựu khoa học, C Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết biện chứng duy vật vềnhận thức

Học thuyết này ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lý luận nhận thức vì đãxây dựng được những quan điểm khoa học đúng đắn về bản chất của nhận thức Họcthuyết này ra đời dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý thức của

con người Đây là nguyên tắc nền tảng của lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biệnchứng Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định thế giới tồn tại khách quan, độc lập với

ý thức, với cảm giác của con người và loài người nói chung, mặc dù người ta có thể chưa biếtđến chúng

Trang 9

Hai là, công nhận cảm giác, tri giác, ý thức nói chung là hình ảnh chủ quan của thế

giới khách quan Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, các cảm giác của chúng ta và mọi trithức đều là sự phản ánh, đều là hình ảnh chủ quan của hiện thực khách quan nhưng khôngphải sự phản ánh thụ động, cứng đờ của hiện thực khách quan giống như sự phản ánh vật

lí của cái gương trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác Đó chính là quan niệmtrực quan của chủ nghĩa duy vật siêu hình, không đánh giá đúng mức vai trò của chủ thê,của nhân cách và hoạt động thực tiễn của con người trong phản ánh

Ba là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực,

mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra hình ảnh đúng, hình ảnh sai của cảm giác, ý thức nói chung; là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Tất nhiên, thực tiễn mà chúng ta dùng làm tiêu chuẩn trong lý luận về nhận thức phải bao gồm cả thực tiễn của những sự quan sát, những phát hiện về thiên văn học,… Do vậy, quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải

là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức

Dựa trên nguyên tắc đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: nhậnthức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quanvào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn

2 Lý luận nhận thức duy vật biện chứng II.1 Nguồn gốc bản chất của nhận thức

Nguồn gốc: Triết học Mác - Lênin thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới và

cho rằng thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức Không phải ý thức củacon người sản sinh ra thế giới mà thế giới vật chất tồn tại độc lập với con người đó

là nguồn gốc “duy nhất và cuối cùng” của nhận thức Triết học Mác – Lênin khẳngđịnh khả năng nhận thức thế giới của con người V I Lênin đã chỉ rõ chỉ có nhữngcái mà con người chưa biết chứ không có cái gì không thể biết: “ Dứt khoát làkhông có và không thể có bất kỳ sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa hiện tại vàvật tự nó Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa được nhậnthức”

Ví dụ: Khi các loại vi-rut gây hại cho con người xuất hiện như vi-rut corona ảnh hưởng đến chúng ta thì chúng ta bắt đầu nghiên cứu về nó.

Khái niệm: Nhận thức là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những amhiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các quy trình như là

Trang 10

tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lý luận, sự tính toán, việcgiải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ.Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phảnánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người Điều này thểhiện quan niệm duy vật về nhận thức, chống lại quan niệm duy tâm về nhận thức,

có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn, nhờ đó con người tưduy

và không ngừng tiến đến gần khách thể

Bản chất của nhận thức là sự phản ánh tích cực sáng tạo thế giới vật chất vào bộ óc

con người trên cơ sở thực tiễn Đây là một quá trình phức tạp, quá trình này sinh vàgiải quyết mâu thuẫn chứ không phải quá trình máy móc giản đơn, thụ động và nhấtthời: “Nhận thức là sự tiến gần mãi mãi và vô tận của tư duy đến khách thể Phảnánh của giới tự nhiên trong tư tưởng con người phải được hiểu không phải một cáchchết cứng, trừu tượng, không phải vận động, không mưu thuẫn, mà là trong quátrình vĩnh viễn của vận động, của sự nãy sinh mâu thuẫn và sự giải quyết nhữngmưu thuẫn đó”

Các trình độ của nhận thức:

♦ Nhận thức là một quá trình biến chứng có vận động và phát triển, là quá trình đi từchưa biết đến biết, biết ít đến biết nhiều hơn, từ biết chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn Đây là một quátrình không phải nhận thức một lần là xong mà có phát triển bổ sung và hoàn thiện

■ Căn cứ vào mức độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng ta chia làm hai loại

“nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận”

Nhận thức kinh nghiệm: là nhận thức dựa trên sự quan sát trực tiếp các sự vật hiện tượng hay các thí nghiệm, thực nghiệm khoa học Kết quả của nhận thức kinh

nghiệm là những tri thức kinh nghiệm tăng trưởng hoặc tri thức thực nghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm giới hạn ở lĩnh vực các sự kiện, miêu tả, phân loại các dữkiện thu nhận được từ quan sát và thí nghiệm

Nhận thức lý luận: là nhận thức sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp dựa trên các hình thức tư duy trừu tượng như khái niệm, phán đoán, suy luận về khái quát tính bản chất quy luật tính tất yếu của các sự vật, hiện tượng Khác với kinh nghiệm, lýluận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan như các cách đểtìm hiểu sâu sắc về một hiện vật cụ thể nào đó

9

Trang 11

► Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác nhau, nhưng có quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện qua những điểm chính sau:

▪ Kinh nghiệm là cơ sở để kiểm tra lý luận, sử đổi, bổ sung lý luận đã có, tổng kết kháiquát thành lý luận mới

▪ Lý luận có tính độc lập tương đối so với kinh nghiệm và có thể đi trước những dữkiện kinh nghiệm

* Nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận Nó cung cấp cho nhận thức

lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể, nó là cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lýluận đã có và tổng kết, khái quát thành lý luận mới Tuy nhiên, tri thức

kinh nghiệm lại có hạn chế bởi nó chỉ mới đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng rẽ, về các mối liên hệ bên ngoài của sự vật và còn rời rạc Ở trình độ tri thức kinh nghiệm chưa thể

nắm được cái tất yếu sâu sắc nhất, mối quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tượng Do

đó, “sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy

có những biến đổi nhất định

Trong xã hội xưa kia, nhận thức thông thường còn xa lạ với những quan niệm khoa học,mang nặng tính chất huyền thoại hoặc tôn giáo Còn ngày nay, với sự phát triển của cácngành khoa học, trình độ nhận thức thông thường ngày càng được nâng cao, bao hàmnhững yếu tố khoa học

Trang 12

• Nhận thức khoa học là nhận thức được hình thành chủ động tự giác của chủ thểnhằm phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của đối tượng nghiêncứu Sự ra đời và phát triển của khoa học là thành quả vĩ đại của trí tuệ con người, đánh dấu mộtbước tiến mới trong việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Khoa học giữ vai trò đặc biệt tronghoạt động của con người và vai trò đó ngày càng tăng lên trong đời sống xã hội.

▪ Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng khái quát, lại vừa có tính hệ thống

và tính có căn cứ và tính chân thực Nó vận dụng một hệ thống các phương tiện và phương pháp nghiên cứu chuyên môn để diễn tả sâu sắc bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu Vì thế, nhận thức khoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học công nghệ hiện đại

▪ Ngày nay đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc phát triển khoa học và công nghệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng.Vì vậy, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định, phải “vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; phát triển và kết

hợp chặt chẽ các nghành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ… làm chỗ dựa khoa học cho vệc triển khai thực hiện Cương lĩnh, Hiến pháp, xác định

phương hướng, bước đi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng pháp luật, các chính sách, kế hoạch và chương trình kinh tế - xã hội”

► Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học có mối quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện ở những điểm sau:

▪ Nhận thức thông thường có trước và là chất liệu cho nhận thức khoa học

▪ Nhận thức khoa học có sức mạnh lớn trong việc tác động trở lại nhận thức thông

thường.

Ngày nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước trong bối cảnh toàncầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cách mạng 4.0) Để đạt được nhữngthành tựu đột phá, việc phát triển khoa học, công nghệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng,thậm Ngày nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc phát triển đất nước trong bối chímang tính cốt lõi trong triết lý phát triển đất nước

■ Chủ thể và khách thể nhận thức:

Nhận thức là quá trình xảy ra do sự tương tác giữa chủ thể và khách thể nhận thức

11

Trang 13

Chủ thể nhận thức: Theo nghĩa rộng đó là xã hội, là loài người nói chung Hay cụ thể hơn đó là những nhóm người như các giai cấp, dân tộc, tập thể, các nhà bác học.v.v Nhưng không phải con người bất kỳ nào cũng là chủ thể nhận thức, con người chỉ trở thành chủ thể nhận thức khi tham gia vào các hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể Do vậy, con người (cá nhân, nhóm người, giai cấp,dân tộc hoặc cả nhân loại) là chủ thể tích cực, sáng tạo của nhận thức.

Khi nhận thức, các yếu tố của chủ thể như lợi ích, lý tưởng, tài năng, ý chí, phẩm chất đạo đức… đều tham gia vào quá trình nhận thức với những mức độ khác nhau

và ảnh hưởng đến kết quả nhận thức

Còn khách thể nhận thức là một bộ phận nào đó của hiện thực mà nhận thức hướng tới nắm bắt, phản ánh, nó nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận thức Dovậy, khách thể nhận thức không đồng nhất hoàn toàn với hiện thực khách quan, phạm vi của khách thể nhận thức được mở rộng đến đâu là tuỳ theo sự phát triển của nhận thức, của khoa học

Trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, chủ thể nhận thức

và khách thể nhận thức quan hệ gắn bó với nhau, trong đó khách thể đóng vai tròquyết định chủ thể Chính sự tác động của khách thể lên chủ thể đã tạo nên hình ảnhnhận thức về khách thể Song chủ thể phản ánh khách thể như một quá trình sángtạo, trong đó chủ thể ngày càng nắm bắt được bản chất, quy luật của khách thể

Cả chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức đều mang tính lịch sử - xã hội

2.2 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:

a Thực tiễn:

Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học Mác –

Lênin, đây là một phạm trù được nghiên cứu từ rất lâu với nhiều quan điểm khác nhau:

▪ Theo chủ nghĩa duy tâm khách quan: Béccơli cho chân lý là sự phù hợp giữa suydiễn về sự vật với chính bản thân sự vật trên thực tế, ông phủ nhận chân lý khách quan cònE.Makhơ coi sự vật chỉ là kết quả của sự phức hợp các cảm giác

12

Trang 14

▪ Theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Platôn, Hêghen không phủ nhận khả năng nhậnthức của con người, nhưng họ lại giải thích một cách duy tâm, thần bí khả năng này của con người.

Các nhà duy vật trước C.Mác đã có công lớn trong việc phát triển thế giới quan duyvật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết Tuy nhiên, lýluận của họ còn nhiều hạn chế, thiếu sót, trong đó hạn chế lớn nhất là không thấy được vaitrò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, do đó chủ nghĩa duy vật của họ mang tínhchất trực quan Mác đã chỉ rõ rằng, khuyết điểm chủ yếu, từ trước đến nay, của mọi chủnghĩa duy vật (kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc) là không thấy được vai trò của thựctiễn Có một số nhà triết học duy tâm, tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạtđộng của con người, nhưng cũng chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tính thần, chứ khônghiểu nó như là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con người

▪ Khắc phục sai lầm, kế thừa và phát triển sáng tạo những quan niệm về thực tiễn củacác nhà triết học trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra một quan niệm đúng đắn về thực tiễnnhư sau: “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử – xã hội của conngười nhằm cải biến tự nhiên và xã hội”

▪ C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại một quan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn

và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loàingười Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, hai ông đã thực hiện một bước chuyểnbiến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng Lênin nhậnxét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lýluận về nhận thức

Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội,

là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới Thực tiễn

là cái xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa sự vật với những điểu cần thiết đối với conngười Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thực tiễn gồm những đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, thực tiễn không phải là toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ là

những hoạt động vật chất – cảm tính, như lời của C Mác đó là những hoạt động vật chất

13

Trang 15

của con người cảm giác được, nghĩa là con người có thể quan sát trực quan được các hoạtđộng vật chất này.

Thứ hai, hoạt động thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của con

người, nghĩa là, thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đôngđảo người trong xà hội Đồng thời thực tiễn có trải qua các giai đoạn lịch sử phat triển cụthể của nó

Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

phục vụ con người Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cáchthụ động với thế giới bên ngoài, thì con người, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mụcđích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thoả mãn nhu cầu của mình, thích nghimột cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới

Các hình thức hoạt động của thực tiễn:

+ Hoạt động sản xuất vật chất: Là hoạt động có sớm nhất, cơ bản nhất, quan trọngnhất Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới

tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển củamình

Ví dụ: Hoạt động lao động của công nhân để sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng; người nông dân gặt lúa, trồng cây lương thực,…

+ Hoạt động chính trị xã hội: : Là hoạt động thể hiện tính tự giác cao của con

người,

các tổ chức khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị-xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển

Ví dụ: Hoạt động bầu cử Quốc hội để tìm ra những người lãnh đạo đất nước; tiến hành Đại hội đoàn trong trường học;…

+ Hoạt động thực nghiệm khoa học: là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, được tiếnhành trong những điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của

tự nhiên và xã hội nhằm xác định những quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu.Dạng hoạt động này có vai trò trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạngkhoa học và công nghệ hiện đại

Ví dụ: Hoạt động làm nghiên cứu, thí nghiệm của các nhà khoa học để tìm ra nhữngphương thuốc mới phục vụ cho con người và tự nhiên;…

Trang 16

Ngoài ra, các hoạt động thực tiễn không cơ bản như giáo dục, pháp luật, đạo đức v.vđược mở rộng và có vai trò ngày càng tăng đối với sự phát triển của xã hội.Các hoạt độngthực tiễn có mối quan hệ lẫn nhau, trong đó hoạt động sản xuất vật chất là quan trọng nhất

vì nó là cơ sở cho các hoạt động khác của con người và cho sự tồn tại và phát triển của xãhội loài người

b Vai trò của thực tiễn với nhận thức:

Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức:

▪ Thực tiễn cung cấp những tài liệu, vật liệu cho nhận thức của con người Nếu không

có thực tiễn thì không có khoa học, lý luận, nhận thức

▪ Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển cho nhận thức thúcđẩy sự ra đời các ngành khoa học Chính nhu cầu giải thích, nhận thức và cải tạo thế giới buộc conngười tác động trực tiếp vào đối tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình Chính sự tác động đó đãlàm cho các đối tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và các quan hệ khác nhau giữachúng đem lại cho con người những tri thức, giúp cho con người nhận thức được các quy luật vậnđộng và phát triển của thế giới Trên cơ sở đó hình thành các lý thuyết khoa học

▪ Thực tiễn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc mới hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức

▪ Thực tiễn là động lực thúc đẩy nhận thức phát triển Vì thực tiễn luôn vận động,

phát triển nên trí tuệ con người phải đi sâu nghiên cứu, mở rộng những kiến thức hiện có

▪ Thông qua hoạt động thực tiễn, con người nhận biết được cấu trúc, tính chất và cácmối quan hệ giữa các đối tượng để hình thành tri thức về đối tượng Hoạt động thực tiễn bổ sung vàđiều chỉnh những tri thức đã được khái quát Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức vàkhuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức

Ví dụ: + Qua việc bị quả táo rơi vào đầu và nhiều thí nghiệm thực tế, Isaac Newton

đã khám phá ra lực hút của Trái đất và định luật hấp dẫn

+ Qua nhiều lần thử nghiệm, đo đạc thì người ta mới có thể khẳng định nhiệt độ sôi của nước là 100oC

Thực tiễn là mục đích của nhận thức:

15

Ngày đăng: 05/08/2022, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w