Cách tiếp cận giải quyết vấn đề bản thể luận trong Triết học Mác-Lênin Thế giới vật chất thể hiện hết sức phong phú đa dạng, song những dạng biểu hiện của thế giới vật chất đều phản ánh
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN
-
-BÀI THẢO LUẬN
MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Giảng viên: Hồ Công ĐứcNhóm thực hiện: 08Lớp học phần: 2222MLNP0221
HÀ NỘI-2022
Trang 26 Phan Thị Hồng Nhung Thuyết trình
7 Trần Thị Hồng Nhung Làm powerpoit
10 Bùi Thị Hà Phương Nhóm trưởng
Page | 2
Trang 3
MỤC LỤC MỞ ĐẦU……… 4
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN 5
I Những vấn đề cơ bản về bản thể luận trong Triết học Mác – Lênin 5
1 Cách tiếp cận giải quyết vấn đề bản thể luận trong Triết học Mác-Lênin 5
II Quan niệm của Triết học Mác-Lênin về vật chất 5
2.1 Định nghĩa 5
2.2 Ý nghĩa 7
III, Quan niệm của triết học Mác – Lênin về nguồn gốc và bản chất của ý thức 7
1 Nguồn gốc 7
2 Bản chất và kết cấu của ý thức 10
IV, Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 11
1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình 11
2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng 12
V Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm triết học Mác – Lênin 13
CHƯƠNG II: Vận dụng vấn đề bản thể trong việc phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay 14
1 Tham nhung và những vấn đề liên quan đến tham nhung 14
2 Vận dụng tư duy quá trình để nhận định tình hình - kiên định, quyết tâm chống tham nhũng 16
3 Con đường thúc đẩy công tác phòng chống tham nhũng 17
4 Mục tiêu hướng tới của đảng và nhà nước trong việc phòng chống tham nhũng 18
KẾT LUẬN……… ………19
Page | 3
Trang 4
MỞ ĐẦU
Triết học là một môn khoa học chung nhất, nghiên cứu về các sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội, nhằm tìm ra quy luật của các đối tượng nghiên cứu Mục đích của triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thể luận và nhận thức luận Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của triết học Đó là những lý luận về nguồn gốc, về sự tồn tại hay những quan niệm về nguồn gốc của thế giới hay bản thể luận
Vậy, bản thể luận ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ triết học có điểm gì khác nhau? Trong lịch sử triết học, triết học phương Đông, trong đó nổi bật có triết học
Ấn Độ và Triết học Trung Quốc thì các triết gia có đề cập đến vấn đề bản thể luận hay không Không? Trong triết học phương Tây thì các triết gia quan tâm nghiên cứu bản thể luận như thế nào? Từ đó có ảnh hưởng như thế nào đến việc hình thành thế giới quan đúng đắn của Triết học Mác - Lênin
Sau khi nghiên cứu môn triết học Mác - Lênin, nhóm chúngtôi tâm huyết với
đề tài bản thể luận trong Triết học Mác – Lênin vì vậy tôi lựa chọn nội dung: “Vấn
đề bản thể luận trong Triết học Mác – Lênin và sự vận dụng vấn đề này ở Việt Nam” để viết thu hoạch.
Page | 4
Trang 5
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
I Những vấn đề cơ bản về bản thể luận trong Triết học Mác – Lênin
1 Cách tiếp cận giải quyết vấn đề bản thể luận trong Triết học Mác-Lênin
Thế giới vật chất thể hiện hết sức phong phú đa dạng, song những dạng biểu hiện của thế giới vật chất đều phản ánh bản chất của thế giới và thống nhất với nhau Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất
ở tính vật chất Theo quan điểm đó:
Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế giới vật chất làcái có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và được ý thức con người phản ánh
Mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu hiện
ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất Trong thế giới vật chất không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau
Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, nó không do ai sinh ra, và cũng không tự mất đi Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau, vềthực chất, đều là những quá trình vật chất
II Quan niệm của Triết học Mác-Lênin về vật chất
2.1 Định nghĩa
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh vàtồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin:
Thứ nhất, vật chất là một phạm trù triết học: Đó là một phạm trù rộng và khái
quát nhất Vật chất có tính trừu tượng và tính cụ thể Vật chất ở đây không thể hiểu theo nghĩa hẹp như là vật chất trong lĩnh vực vật lý, hóa học, sinh học (nhôm, đồng, H2O, máu, nhiệt lượng, từ trường…) hay ngành khoa học thông thường khác… Cũng không thể hiểu như vật chất trong cuộc sống hàng ngày (tiền bạc, cơm ăn áo mặc, ô tô, xe
máy…)
Page | 5
Trang 6
“Vật chất” trong định nghĩa của Lênin là một phạm trù triết học, tức là phạm trù rộng nhất, khái quát nhất, rộng đến cùng cực, không thể có gì khác rộng hơn Đến nay, nhận thức luận (tức lý luận về nhận thức của con người) vẫn chưa hình dung được cái gì rộng hơn phạm trù vật chất Ta không thể “nhét” vật chất này trong một khoảng không gian nhất định, vì không có gì rộng hơn nó
Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là tồn tại
khách quan: Vật chất là tất cả những gì đã và đang hiện hữu thực sự bên ngoài ý thức của con người, nó mang tính khách quan, chứ không phải chủ quan Vật chất tồn tại khách quan trong hiện thực, nằm bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức của con người “Tồn tại khách quan” là thuộc tính cơ bản của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất
Dù con người đã nhận thức được hay chưa, dù con người có mong muốn hay không thì vật chất luôn tồn tại vĩnh viễn trong vũ trụ
Thứ ba, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan của con người thì sẽ
đem lại cho con người cảm giác, cảm giác của con người chép được, chụp được…:
Khi các dạng cụ thể của vật chất tác động lên các giác quan sẽ gây ra cho con người một cảm giác
Tuy nhiên, có những thứ cụ thể của vật chất phải thông qua dụng cụ khoa học mới nhận biết được
Cảm giác có thể chép được, chụp được… có nghĩa là con người có thể nhận biết được thế giới vật chất từ đó bác bỏ thuyết bất khả tri
Trước khi loài người xuất hiện trên trái đất, vật chất đã tồn tại nhưng chưa có ý thức vì chưa có con người Đây ví dụ cho thấy vật chất tồn tại khách quan, không lệ thuộcvào ý thức Có ý thức của con người trước hết là do có vật chất tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên giác quan (mắt, mũi, tai, lưỡi…) của con người Đây là ví dụ cho thấy ý thức
lệ thuộc vào vật chất Như thế, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ
óc con người một cách năng động, sáng tạo
Vật chất là một phạm trù triết học, tuy rộng đến cùng cực nhưng được biểu hiện qua các dạng cụ thể (sắt, nhôm, ánh sáng mặt trời, khí lạnh, cái bàn, quả táo…) mà các giác quan của con người (tai, mắt, mũi…) có thể cảm nhận được
Giác quan của con người, với những năng lực vốn có, có thể chép lại, chụp lại, phản ánh sự tồn tại của vật chất, tức là nhận thức được vật chất Sự chép lại, chụp lại, phản ánh của giác quan đối với vật chất càng rõ ràng, sắc nét thì nhận thức của con người
về vật chất càng sâu sắc, toàn diện
Page | 6
Trang 7
Nói rộng ra, tư duy, ý thức, tư tưởng, tình cảm… của con người chẳng qua chỉ là
sự phản ánh, là hình ảnh của vật chất trong bộ óc con người
2.2 Ý nghĩa
Giải quyết một cách triệt để vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng
Khắc phục được những hạn chế của các nhà duy vật trước Mác về vật chất
Là nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học để đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, Thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vật siêu hình…
Là cơ sở khoa học để nhận thức vật chất trong lĩnh vực xã hội, đó là các điều kiện sinh hoạt vật chất, …
Vì vật chất quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần xuất phát từ thực tế khách quan, quan trọng quy luật khách quan…
III, Quan niệm của triết học Mác – Lênin về nguồn gốc và bản chất của ý thức
1 Nguồn gốc
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm
Chủ nghĩa duy tâm khách quan với những đại biểu như Platon, Hêghen đã tuyệt đối hóa vai trò của lí tính khẳng định thế giới “ ý niệm”, hay “ ý niệm tuyệt đối” là bản thể, sinh ra toàn bộ thế giới hiện thực Ý thức của con người chỉ là “sự hồi tưởng” về “ ý niệm, hay “tự ý thức” lại “ ý niệm tuyệt đối”
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: ý thức của con người là do cảm giác sinh ra nhưng cảm giác theo quan niệm của họ không phải là sự phản ánh thế giới khách quan mà chỉ là cái vốn có của mỗi cá nhân tồn tại tách rời, cách biệt với thế giới bên ngoài ( Béccơli, Makhơ )
Quan niệm trên của chủ nghĩa duy tâm là phiến diện, sai lầm
1.2 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình
Các nhà duy vật siêu hình đã xuất phát từ thế giới hiện thực để lý giải nguồn gốc của ý thức Tuy nhiên, do trình độ phát triển khoa học của thời đại đó còn nhiều hạn chế
và bị phương pháp siêu hình chi phối nên những quan niệm về ý thức còn mắc nhiều sai lầm
Chủ nghĩa duy vật tầm thường cho rằng “óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật.” Họ coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản xuất ra
Như vậy cả chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm khi quan niệm về nguồn gốc của ý thức đều sai lầm
Page | 7
Trang 8
1.3 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
1.3.1 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Nguồn gốc tự nhiên:
C Mác đồng thời khẳng định quan điểm duy vật biện chứng về ý thức: “ ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”
Gồm bộ não người và tư duy khách quan dùng để phản ánh.Bộ não người là khí quan vật chất của ý thức Ý thức là chức năng của bộ não người Mối quan hệ giữa bộ óc người hoạt động bình thường và ý thức không thể tách rời bộ óc Ý thức là chức năng của
bộ óc người hoạt động bình thường Sinh lí và ý thức là hai mặt của một quá trình - quá trình sinh lý thần kinh trong bộ óc người mang nội dung ý thức cũng giống như tín hiệu vật chất mang nội dung thông tin
Bộ óc người có cấu trúc phát triển đặc biệt, rất tinh vi và phức tạp bao gồm khoảng14-15 tỷ tế bào thần kinh Sự phân khu của não bộ và hệ thống dây thần kinh liên hệ với các giác quan để thu nhận và xử lý thông tin từ thế giới khách quan vào não bộ, hình thành những phản xạ có điều kiện và không có điều kiện, điều khiển các hoạt động của cơthể trong quan hệ với thế giới bên ngoài.Ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng chỉ có ở con người và là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất Ý thức là sự phản ánh
thế giới hiện thực bởi bộ óc con người Như vậy, sự xuất hiện con người và hình thành bộ
não của con người có năng lực phản ánh hiện thực khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Nguồn gốc xã hội:
Hoạt động thực tiễn của con người mới là nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời của ý thức Sự hình thành phát triển của ý thức là một quá trình thống nhất không tách rời giữa nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.Để tồn tại, con người phải tạo ra những vật phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình Hoạt động lao động sáng tạo của loài người có nhiều ý nghĩa đặc biệt Ph.Ăngghen đã chỉ rõ những động lực xã hội trực tiếp thúc đẩy sự
ra đời của ý thức: “Trước hết là lao động sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ đó là 2 thức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn làm cho bộ óc
đó dần dần biến chuyển thành bộ óc con người”
Lao động: là phương thức tồn tại cơ bản của con người, lao động mang tính xã hội
đã làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên trong xã hội
Từ nhu cầu đó, bộ máy phát âm, trung tâm ngôn ngữ trong bộ óc con người được hình thành và hoàn thiện dần Con người sử dụng công cụ lao động tác động vào hiện thực để bộc lộ những thuộc tính , kết cấu,…qua đó nhận biết nó ngày càng sâu sắc
Page | 8
Trang 9
Ngôn ngữ: Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Ngôn
ngữ xuất hiện trở thành vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của ý thức, là
phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm của xã hội lịch sử cùng với lao động ngôn ngữ có vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của ý thức Ngôn ngữ vừa
là phương tiện giao tiếp vừa là công cụ của tư duy Ngôn ngữ con người có thể khái quát, trừu tượng hóa, suy nghĩ độc lập, tách khỏi sự vật cảm tính, có ngôn ngữ để có thể giao tiếp, trao đổi tư tưởng, lưu giữ, kế thừa những tri thức kinh nghiệm phong phú của xã hội
đã tích lũy được qua các thế hệ, thời kỳ lịch sử Ý thức là một hiện tượng có tính xã hội
do đó không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được
1.3.2 Các hình thức phản ánh của vật chất
Phản ánh của giới tự nhiên vô sinh: vật lí, hóa học: là hình thức phản ánh đơn giản nhất, mang tính thụ động, chưa có sự lựa chọn
Phản ánh của giới tự nhiên hữu sinh:
+ Phản ánh có ý thức: Chỉ có ở con người và là hình thức phản ánh cao nhất
+ Phản ánh tâm lý: Phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lí cơ thể+ Phản xạ có điều kiện: Những phản xạ có tính chất tạm thời, xuất hiện hệ thần kinh trung ương ở động vật bậc cao
+ Tính cảm ứng: ( năng lực có cảm giác) như chim xù lông mùa đông
+ Tính kích thích: Thực vật và động vật chưa có hệ thần kinh
1.3.3 Kết luận về nguồn gốc của ý thức
Như vậy, ý thức chỉ ra đời khi có đủ hai nguồn gốc, nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ Thiếu một trong hai nguồn gốc đó thì ý thức sẽ không hình thành Ý thức xuất hiện là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên,của lịch sử trái đất, đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội – lịch sử của con người
Trong các yếu tố ra đời của ý thức thì lao động là yếu tố quyết định và quan trọng nhất của sự ra đời ý thức
Ý thức mang tính xã hội
Page | 9
Trang 10Chủ nghĩa duy vật siêu hình tầm thường hóa vai trò của ý thức có ý thức cũng là một dạng vật chất tách rời thực tiễn xã hội Họ coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất, hoặc coi ý thức là một sự phản ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất, tách rời thực tiễn
xã hội rất phong phú, sinh động
Chủ nghĩa duy vật biện chứng: ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới là quá trình phản ánh tích cực sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ óc con người
+ Ý thức chỉ là hình ảnh về hiện thực khách quan trong óc người: Ý thức là cái vật chất ở bên ngoài “di chuyển” vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi ở trong
đó Kết quả phản ánh của ý thức tùy thuộc vào nhiều yếu tố: đối tượng phản ánh ,điều kiện lịch sử xã hội, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm sống của chủ thể phản ánh cùng một đối tượng phản ánh nhưng với các chủ thể phản ánh khác nhau, có đặc điểm tâm lý tri thức kinh nghiệm thể chất khác nhau, trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau,…thì kết quả phản ánh đối tượng trong ý thức cũng rất khác nhau
+ Nội dung ý thức phản ánh là khách quan còn hình thức phản ánh là chủ quan + Ý thức phản ánh tích cực chủ động có mục đích và sáng tạo: Bằng những thao tác của tư duy trừu tượng đem lại những tri thức mới để chỉ đạo hoạt động thực tiễn, chủ động cải tạo thế giới trong hiện thực, sáng tạo ra “thiên nhiên thứ hai” in đậm dấu ấn của con người Như vậy, sáng tạo là đặc trưng bản chất của ý thức
+ Ý thức mang bản chất lịch sử xã hội :Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng
có của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội - lịch sử
2.2.Kết cấu của ý thức
2.2.1.Xét theo các lớp cấu trúc của ý thức
Tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất Nếu không dựa vào tri thức thì ý thức không giúp gì trong hoạt động thực tiễn
Tình cảm phản ánh quan hệ giữa người với người và quan hệ giữa người với thế giới khách quan
Niềm tin sự hòa quyện giữa tri thức với tình cảm và trải nghiệm thực tiễn niềm tin thôi thúc con người hoạt động vươn lên trong mọi hoàn cảnh
Ý chí chính là những cố gắng nỗ lực khả năng huy động mọi tiềm năng trong mỗi con người và hoạt động thì có thể vượt qua mọi trở lại đạt mục tiêu đề ra
Page | 10