1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thảo luận nhóm TMU môn tài CHÍNH QUỐC tế đề tài THỰC TRẠNG THU hút ODA của VIỆT NAM GIAI đoạn 2015 2020

42 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy chế quản lí và sử dụng vốn ODA, ban hành kèm theo nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Việt Nam: Hỗ trợ phát triển chính thức là hoạt động hợp tác phát tri

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

THẢO LUẬN MÔN: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG THU HÚT ODA CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015-2020

Nhóm thực hiện : 03 Lớp học phần : 2160BKSC0611

Giảng viên : Phùng Việt Hà

Hà Nội – 2021

Trang 2

1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 3

1 Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) 3

1.1 Khái niệm và mục tiêu 3

1.2 Đặc điểm và phân loại 3

1.3 Vai trò 4

2 Quản lý sử dụng ODA 5

2.1 Vận động, ký kết các điều ước ODA 5

2.2 Giải ngân nguồn vốn ODA 5

2.3 Quản lý sử dụng và trả nợ ODA 7

II THỰC TRẠNG VỐN ODA CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015-2020 8

1 Thực trạng thu hút ODA của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 8

1.1 Chính sách của Việt Nam về thu hút ODA 8

1.2 Tổng quan thực trạng thu hút ODA 10

1.3 Các nhà tài trợ ODA cho Việt Nam 13

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút ODA tại Việt Nam 20

1.5 Vấn đề giải ngân ODA 26

2 Thực trạng quản lý và sử dụng ODA của Việt Nam giai đoạn 2015-2020 27

2.1 Thực trạng quản lý ODA 27

2.2 Thực trạng sử dụng ODA 30

III ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 37

1 Thành tựu 37

2 Hạn chế 38

IV MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 39

1 Về thu hút vốn 39

2 Về quản lý và sử dụng vốn 39

KẾT LUẬN 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 3

đã nhận được tài trợ từ nhiều nước, song vẫn còn xảy ra một số bất cập trong vấn đề giải ngân hay sử dụng hiệu quả nguồn vốn này Như vậy, để làm rõ hơn vấn đề còn tồn đọng, nhóm 3 chúng em quyết định chọn đề tài “Thực trạng thu hút ODA của Việt Nam giai

đoạn 2015 – 2020” để nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu bài thảo luận không th, ể tránh khỏi những sai sót và hạn chế Nhóm mong nhận được sự đóng góp và nhận xét của quý thầy cô và các bạn để hoàn thiện tốt hơn bài thảo luận này

Trong bài thảo luận này, đầu tiên nhóm sẽ nhắc lại lý thuyết về Hỗ trợ phát triển chính thức – ODA Sau đó là thực trạng thu hút ODA của Việt Nam giai đoạn 2015-2020 Cuối cùng là đánh giá và đề xuất những kiến nghị làm cơ sở cho các giải pháp thu hút, quản lý

và sử dụng ODA hiệu quả hơn

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là đánh giá thực trạng thu hút ODA của Việt Nam

giai đoạn 2015 2020 Từ đó tìm ra hạn chế của Việt Nam trong việc thu hút ODA giai đoạn này và đề xuất một số kiến nghị cho việc thu hút, quản lý và sử dụng ODA một cách hiệu quả hơn

-Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình thu hút, sử dụng và quản lý ODA của Việt

Nam giai đoạn 2015-2020

Phạm vi nghiên cứu là sự dịch chuyển, thực trạng thu hút ODA của Việt Nam giai đoạn 2015-2020

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp, trong đó nổi bật

là thống kê, so sánh và phân tích đối tượng nghiên cứu

Trang 4

Theo quy chế quản lí và sử dụng vốn ODA, ban hành kèm theo nghị định số

131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Việt Nam: Hỗ trợ phát triển chính thức

là hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc chính phủ nước CHXHCNVN với nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ đa phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ Các phương thức cơ bản cung cấp ODA gồm có hỗ trợ dự án, hỗ trợ ngành, hỗ trợ chương trình, hỗ trợ ngân sách với yếu tố không hoàn lại là 100%, hoặc

ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với khoản vay không ràng buộc

Bản chất, ODA là một hình thức đầu tư, chuyển giao các luồng tài chính quốc tế

Mục tiêu:

- Trong giai đoạn đầu, hai mục tiêu chính mà nguồn vốn ODA hướng tới là: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và giảm nghèo ở các nước đang phát triển và tăng cường lợi ích chính trị của các nước tài trợ

- Mục tiêu phát triển thiên niên kỉ của nguồn vốn ODA bao gồm: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói; đạt phổ cập giáo dục tiểu học ăng cường bình đẳng và , tnâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ iảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em ăng cường sức khỏe bà ; g ; tmẹ; phòng chống HIV/AIDS sốt rét và các bệnh khác; đảm bảo bền vững về môi trường;

và thiết lập quan hệ toàn cầu vì mục tiêu phát triển

1.2 Đặc điểm và phân loại

 ODA có một số đặc điểm nh ư sau:

Trang 5

4

- ODA hướng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự thịnh vượng của các nước đang và chậm phát triển

- Nguồn vốn ODA là nguồn vốn viện trợ, hay tín dụng ưu đãi

- ODA chỉ bao gồm các giao dịch tài chính quốc tế ở tầm cỡ quốc gia (Chủ thể tiếp nhận ODA là Chính phủ các Quốc gia)

- Nguồn vốn ODA trong rất nhiều trường hợp gắn liền yếu tố chính trị với yếu tố hiệu quả kinh tế xã hội-

- Thủ tục ODA phức tạp, cần nhiều thời gian cho các giai đoạn của dự án

 Phân loại: ODA có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như

- Theo tính chất tài trợ: ODA không hoàn lại, ODA có hoàn lại và ODA hỗn hợp

- Theo nguồn cung cấp: ODA song phương ODA đa phương, và ODA của các tổ chức phi chính phủ (NGO)

- Theo điều kiện tài trợ: ODA ràng buộc, ODA không ràng buộc và ODA hỗn hợp

- Theo mục đích sử dụng: ODA hỗ trợ c b n; ODơ ả A hỗ trợ kỹ thuật

- Theo cơ chế qu n lý: ODA do bên ti p nhả ế ận điều hành; ODA do nhà tài tr qu n ợ ả

lý toàn b ; ODộ A các bên cùng qu n lý ả

1.3 Vai trò

 Đối với nước nhận viện trợ

- Tác động tích cực: Là nguồn vốn bổ sung cho đầu tư, phát triển; giúp phát triển nguồn nhân lực, giảm tình trạng xóa đói giảm nghèo và cải thiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội; viện trợ giúp cải thiện thể chế và chính sách kinh tế, góp phần thu hút FDI; đồng thời

bổ sung nguồn ngoại tệ trong nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế

- Tác động tiêu cực Phải chấp nhận những điều kiện ràng buộc từ nhà tài trợ: ; ngoài

ra các khoản vay ODA sẽ làm tăng gánh nợ nần cho quốc gia

 Đối với nước tài trợ:

- Tác động tích cực: Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư ở nước ngoài; được hưởng lợi từ những điều kiện đi kèm khi cho vay ODA; và tăng cường phụ thuộc kinh tế, chính trị của các nước nhận viện trợ

Trang 6

5

- Tác động tiêu cực: Bị áp lực của công chúng trong nước và có thể tạo ra nạn tham nhũng trong các quan chức

2 Quản lý sử dụng ODA

2.1 Vận động, ký kết các điều ước ODA

Giai đoạn thu hút, vận động ODA thường nó bao gồm những công việc chính sau: Đầu tiên là xác định nhu cầu ODA Chính phủ sẽ tổng hợp nhu cầu nguồn vốn ODA theo từng thời kỳ nhất định, để lập Danh mục các chương trình, dự án ưu tiên vận động ODA Theo đó, cơ quan quản lý của chính phủ về ODA sẽ xây dựng, dự kiến phân bổ nhu cầu theo các nhà tài trợ có khả năng cung cấp, đồng thời gửi lời đề nghị tài trợ đến họ

Tiếp đó là vận động ODA Các nhà tài trợ căn cứ vào khả năng tài trợ ODA và sự phù hợp của các chương trình, dự án để thông báo cho nước có nhu cầu được tài trợ thông qua các diễn đàn về hợp tác kinh tế quốc tế, hoặc bằng văn bản gửi cho các Chính phủ, Sau đó sẽ tiến tới đàm phán, ký kết Điều ước quốc tế khung về ODA Kết quả đàm phán thành công sẽ được thể hiện thông qua Điều ước quốc tế khung về ODA song phương, hoặc đa phương; có thể dưới dạng các Hiệp định, Nghị định thư, Bản ghi nhớ (MOU), hoặc bất kì văn bản nào khác được ký kết giữa bên tài trợ và bên nhận tài trợ

Cuối cùng là thể chế hóa các khoản tài trợ Đối với các khoản ODA đã được cam kết đầy

đủ các điều kiện của cả bên cung cấp và bên tiếp nhận, sẽ được thể chế hóa bằng các văn bản, hợp đồng cụ thể và tiến hành chuyển tiền vào tài khoản của một ngân hàng nào đó

do hai bên lựa chọn Lúc này, khoản ODA coi như đã được thể chế hóa

2.2 Giải ngân nguồn vốn ODA

Trang 7

6

định đã ký Quá trình này tính từ lúc bắt đầu tiếp nhận vốn tới khi đưa vào sử dụng, thực hiện các dự án

b Các hình thức giải ngân nguồn vốn ODA

Quy trình giải ngân nguồn vốn ODA của các dự án khác nhau thường không giống nhau

do tính đa dạng của các loại dự án Tùy theo các tiêu thức phân loại mà giải ngân bao gồm những hình thức nhất định

- Theo thời gian giải ngân: Giải ngân nhanh và giải ngân theo tiến trình thực hiện dự án

- Theo mức độ giải ngân và quy mô vốn tài trợ: giải ngân một lần và giải ngân nhiều lần

c Quy trình giải ngân nguồn vốn ODA

Quy trình giải ngân nguồn vốn ODA có thể khác nhau đối với mỗi dự án, nhưng về cơ bản có thể khái quát thành 6 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Tiếp cận vốn ODA

Giai đoạn 2: Lập kế hoạch vốn ODA

Giai đoạn 3: Mở tài khoản tại ngân hàng phục vụ

Giai đoạn 4: Lập hồ sơ rút vốn

Giai đoạn 5: Báo cáo quyết toán, kiểm tra, kiểm toán việc rút vốn và sử dụng vốn của các

dự án ODA

Giai đoạn 6: Nghiệm thu và bàn giao sản phẩm của dự án ODA

d Các chỉ tiêu đánh giá tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA

Để đánh giá tiến độ giải ngân người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu như: ỉ lệ giải Tngân so với kế hoạch ỉ lệ giải ngân so với cam kết, hoặc tỷ lệ giải ngân so với tỉ lệ thời , t

gian thực hiện chương trình dự án

Ngoài ra, còn có các phương pháp khác như: so sánh thời gian giải ngân thực tế với thời gian theo cam kết; so sánh tỉ lệ giải ngân ODA giữa các ngành, các lĩnh vực với nhau và với tỉ lệ giải ngân trung bình chung của một quốc gia hoặc với các quốc gia khác có cùng điều kiện

Trang 8

7

e Các nhân tố ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA

Về các nhân tố khách quan gồm: Quy định pháp lý, chính sách vĩ mô của nước nhận tài trợ; cơ chế quản lý tài chính và các điều kiện ràng buộc của nhà tài trợ; điều kiện về vốn đối ứng oại hình tài trợ và tính chất nguồn vốn; l và mức độ ổn định của đồng tiền viện trợ

Về các nhân tố chủ quan gồm: Chất lượng của dự án thiết kế khả thi; quy trình và thời gian thẩm định dự án hời gian chuyển tiền từ nhà tài trợ đến nước tiếp nhận hủ tục rút ; t ; tvốn và thanh toán trong nước ông tác đấu thầu ông tác giải phóng mặt bằng; c ; c ; các chính sách thuế; trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ dự án; và công tác quản lý, giám sát hoạt động của dự án

2.3 Quản lý sử dụng và trả nợ ODA

a Quản lý sử dụng ODA

Nhiệm vụ hàng đầu đầu của quốc gia tiếp nhận là phải sử dụng có hiệu quả vốn ODA, do

đó việc quản lý sử dụng ODA là một khâu vô cùng quan trọng Một số nội dung quản lý ODA thường được các quốc gia áp dụng phổ biến, đó là:

- Xây dựng và lựa chọn dự án thực sự cần thiết đối với nền kinh tế xã hội-

- Thực hiện đấu thầu rộng rãi Không chỉ bó hẹp với các đối tác trong nước mà còn

mở rộng cho đối tác nước ngoài

- Thiết lập cơ quan chuyên trách quản lý ODA

- Phân cấp quản lý sử dụng ODA

- Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng các khoản ODA

b Quản lý trả nợ ODA

ODA có thể để lại gánh nặng nợ nần cho nước tiếp nhận Vì vậy, quản lý trả nợ vay ODA

có ý nghĩa quan trọng Đối với các khoản vay tín dụng ODA, tùy theo từng hình thức vay

mà có biện pháp quản lý thu hồi vốn gốc và lãi thích hợp

- Đối với khoản vay bằng tiền đưa vào cân đối Ngân sách Nhà nước: khi kho bạc nhà nước nhận được khoản vay sẽ ghi thu NSNN Khi đến hạn trả nợ, kho bạc nhà

Trang 9

8

nước sẽ trích tiền từ tài khoản kho bạc để trả nợ trực tiếp cho người cung cấp ODA, hoặc chuyển tiền qua Quỹ trả nợ quốc gia Trong cả hai trường hợp trên đều ghi chi NSNN (chi trả nợ)

- Đối với các khoản vay cho các dự án cụ thể: Nếu là các dự án mang tính xã hội, không có khả năng thu hồi để trả nợ, khi đến hạn trả, trích từ tài khoản của kho bạc, ghi chi NSNN để trả nợ Còn nếu dự án có số thu đủ để trả nợ, hàng năm sẽ trích một phần doanh thu trả nợ vào quỹ trả nợ quốc gia

- Trả lãi vốn vay hàng năm: được lấy từ chi NSNN hàng năm

Trong quản lý nợ, để tránh rơi vào tình trạng nợ nần, thiếu hoặc mất khả năng thanh toán

nợ, Chính phủ cũng thường thiết lập và tổ chức thực hiện một số chính sách như: Thành lập Quỹ trả nợ quốc gia; bố trí đều đặn khoản trả nợ trong NSNN hàng năm; khống chế mức vay hàng năm

Trong trường hợp không trả được nợ đúng hạn, các Chính phủ thường áp dụng các biện pháp: hoãn nợ, khoanh nợ; vay nợ mới, trả nợ cũ; mua lại nợ; xóa nợ; chuyển nợ thành cổ phần; tuyên bố vỡ nợ

II THỰC TRẠNG VỐN ODA CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015-2020

1 Thực trạng thu hút ODA của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020

Nhận thức được rằng ODA là một nguồn lực có ý nghĩa quan trọng từ bên ngoài và xuất phát từ xu hướng vận động và những ưu tiên của nhà tài trợ, chính phủ Việt Nam luôn coi trọng và quan tâm đến việc huy động các nguồn ODA Trước hết, để duy trì lòng tin đối với các nhà tài trợ nhằm duy trì các nguồn cung cấp ODA đang khai thác, chính phủ Việt Nam đã ban hành và hoàn thiện nhiều chính sách và văn bản pháp lí điều tiết các hoạt động liên quan đến ODA Nhiều chính sách quan trọng được ban hành như:

Việc thực hiện thành công Đề án ODA 2011 2015 đã đóng góp tích cực và có hiệu quả - vào việc hoàn thành các mục tiêu đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm -

2016 - 2020 Ngày 17/2/2016, chính phủ đã ký Quyết định số 251/QĐ TTg phê duyệt Đề

-án “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các

Trang 10

9

nhà tài trợ nước ngoài thời kỳ 2016 2020” Để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế -

- xã hội 5 năm 2016-2020 do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra, Đảng và Nhà nước chủ trương dựa vào sức mình là chính, đồng thời tích cực và chủ động huy động các nguồn vốn ngoài nước, trong đó nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi tiếp tục có vai trò quan trọng Do vậy, một trong những nhiệm

vụ trọng tâm là phải tập trung cao độ để hoàn thành các chương trình, dự án này theo đúng tiến độ và thời hạn cam kết, đưa các công trình vào khai thác, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

Chính phủ đã xây dựng và hoàn thiện các nghị định hướng dẫn Luật quản lý nợ công (2017) Nhà nước quản lý thống nhất về nợ công, bảo đảm việc thực thi trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý nợ công; Kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ công, bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững

và ổn định kinh tế vĩ mô; Việc phân bổ và sử dụng vốn vay phải đúng mục đích, hiệu quả; Bảo đảm tính minh bạch trong quản lý nợ công

Ngày 6/11/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1489/QĐ-TTg phê duyệt Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018 2020, tầm nhìn 2021 2025 trên cơ sở Báo cáo - -cập nhật định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

và vốn vay ưu đãi giai đoạn 2018 2020 và tầm nhìn 2021 2025 của Bộ Kế hoạch và Đầu - -

tư để định hướng cho công tác thu hút và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi trong bối cảnh mới,… đảm bảo tính đồng bộ, tạo hành lang pháp lý quan trọng trong bối cảnh tình hình kinh tế có nhiều thay đổi, góp phần tăng tính hiệu lực và hiệu quả trong lĩnh vực này Quốc hội cũng ban hành Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 có hiệu lực từ 01/01/2020, trong đó có các quy định về vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi

Mới đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2020/NĐ CP ngày 25/5/2020 về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài thay thế cho Nghị định số 16/2016/NĐ CP và Nghị định số 132/2018/NĐ-

Trang 11

Ngoài ra, chính sách thu hút ODA của Chính Phủ là ưu tiên sử dụng vốn ODA cho các

dự án có hiệu quả kinh tế xã hội, trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng gắn với phát triển bền - vững, nhất là các dự án có khả năng tạo nguồn thu ngoại tệ trong trung và dài hạn để tăng cường năng lực trả nợ của quốc gia, ví dụ: các dự án giải quyết nút thắt cơ bản về hạ tầng (giao thông, đô thị thông minh, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo…), phát triển nông nghiệp thông minh (thủy lợi, ứng dụng khoa học công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, điện khí hóa nông nghiệp…), kích thích các ngành hoặc hoạt động xuất khẩu, các dự án đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ Ưu tiên các dự án có tính chất hàng hóa công cộng, thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, có hiệu ứng lan tỏa như thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng môi trường, giáo dục, y tế, công nghệ,

kỹ năng

1.2 Tổng quan thực trạng thu hút ODA

Nhiều năm qua, dòng vốn ODA chảy vào Việt Nam là một trong những nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện nguồn lực trong nước còn nhiều hạn chế Nguồn vốn ODA vào Việt Nam theo 3 hình thức là vốn viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 10 12 % tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi, vốn vay với ưu đãi -chiếm khoảng 80% và ODA hỗn hợp chiếm 8 0% Vốn vay ODA ưu đãi vào nước ta có -1

xu hướng ngày càng tăng và chiếm tỷ trong lớn so với tổng ODA viện trợ

Trang 12

11

Nguồn: databank-World bank

Trong giai đoạn 2015 2019, ODA vay chiếm 77,8% tổng ODA giải ngân Trong đó có 3 năm từ 2015 2017, vốn vay ODA luôn chiếm trên 80% tổng số vốn ODA Ở giai đoạn - này, nguồn vốn ODA thu hút vào Việt Nam sụt giảm khá mạnh từ 3,167 tỷ USD xuống còn 1,905 tỷ USD, tỷ lệ giảm tương đương 34,58%

Đồng thời, đóng góp của ODA trong tổng đầu tư phát triển cũng như đầu tư từ NSNN cũng trong xu hướng giảm Tỷ lệ vốn ODA/GDP giảm một nửa từ 2,9% trong giai đoạn 2011-2015 còn 1,5% trong giai đoạn 2016-2019 Tương tự, tỷ lệ ODA/Tổng đầu tư phát triển giảm từ 8,8% giai đoạn 2011 2015 xuống còn 4,7% giai đoạn 2016 2019 Đóng góp - -của ODA và vốn vay ưu đãi trong tổng vốn đầu tư từ NSNN cũng đã giảm từ 38,8% (2011-2015) xuống còn 27,3% (2016-2020)

Tỷ lệ vốn ODA, vốn vay ưu đãi trong tổng đầu tư phát triển, đầu tư từ NSNN và trong GDP giai đoạn 2011-2015 và 2016-2019

Trang 13

12

Nguồn: Số liệu Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính

Trong giai đoạn 2016 2020, huy động vốn ODA và vốn vay ưu đãi đạt 12,553 tỷ USD, trong đó vốn vay là 12,04 tỷ USD (vay ODA: 9,169 tỷ USD, vay ưu đãi: 2,871 tỷ USD), viện trợ không hoàn lại là 513 triệu USD Việt Nam đang là nước tiếp nhận nguồn vốn ODA nhiều nhất trong khối các nước ASEAN, với tỷ trọng ODA/GDP ở mức cao, 3% GDP trong những năm 2000-2010 và khoảng 2% GDP năm 2011 2019, so với mức chưa -đến 1% GDP ở các nước ASEAN khác

-Dòng vốn ODA vào Việt Nam có xu hướng giảm đáng kể (đặc biệt khi Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình thấp vào năm 2010) và trở nên ít ưu đãi hơn khi Việt Nam “tốt nghiệp” vốn viện trợ chính thức của Hiệp hội phát triển quốc tế - IDA (7/2017)

và của Quỹ phát triển châu Á ADF (1/1/2019) Điều đó có nghĩa là Việt Nam không còn - nhận được các khoản vay vốn ưu đãi từ IDA của WB mà phải chịu các khoản vay kém ưu đãi, dần tiến tới vay theo điều kiện thị trường Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng xếp Việt Nam vào nhóm B, nhóm đối tượng vay hỗn hợp chứ không thuộc diện chỉ nhận được các khoản vay ưu đãi Đây là một thách thức không nhỏ trong việc thu hút và sử dụng nguồn ngoại lực này

Năm 2020, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch bệnh Covid 19, Việt Nam cũng là một trong số các quốc gia những quốc gia được tiếp -nhận các khoản viện trợ nhằm ứng phó với đại dịch Covid 19 Cụ thể, ngày 2/5, Đại sứ -Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel J Kritenbrink công bố Chính phủ Hoa Kỳ, thông qua Cơ

Trang 14

13

quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), sẽ hỗ trợ thêm 5 triệu USD để giúp giảm thiểu tác động của đại dịch COVID 19 tới nền kinh tế Việt Nam Bên cạnh đó, Ngân -hàng thế giới đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam khoản viện trợ trị giá 6,2 triệu USD đã được ký tiếp nhận vào cuối tháng 7/2020

Các khoản hỗ trợ này được sử dụng để cung cấp những nguồn lực cần thiết nhất, bao gồm

hỗ trợ sự phục hồi của khu vực tư nhân thông qua tăng cường tiếp cận tài chính cho các doanh nghiệp; nâng cao năng lực hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh nhu cầu tăng mạnh;

và phối hợp với các bên liên quan của Chính phủ Việt Nam để đẩy mạnh các giải pháp

hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam

Ngoài ra, là các khoản viện trợ cho Việt Nam nhằm ứng phó với tình hình lũ lụt miền Trung xảy ra nghiêm trọng Cụ thể, vào ngày 17 10, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Daniel J -Kritenbrink công bố khoản viện trợ ứng phó thiên tai ban đầu trị giá 100 nghìn USD để đáp ứng các nhu cầu nhân đạo khẩn cấp tại các cộng đồng dễ bị tổn thương ở các khu vực

bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi bão Linfa Khoản viện trợ này do Cơ quan Phát triển Quốc

tế Mỹ (USAID) trao cho Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Ngân hàng phát triển Châu Á ADB cũng viện trợ không hoàn lại cho chính phủ Việt Nam 2,5tr USD nhằm ứng phó với lũ lụt xảy ra

Các khoản viện trợ ODA và vốn vay ưu đãi đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và kịp thời hỗ trợ Chính phủ giải quyết những khó khăn của Việt Nam trong những thời điểm cấp bách như năm 2020 đầy biến động

1.3 Các nhà tài trợ ODA cho Việt Nam

Việt Nam đã huy động vốn ODA và vốn vay ưu đãi từ gồm 28 nhà tài trợ song phương

và 31 nhà tài trợ đa phương Trong đó, khoảng 80% nguồn vốn ODA của Việt Nam được huy động từ 6 ngân hàng, gồm: Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM), Cơ quan phát triển Pháp (AFD) và Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW)

ODA song phương:

Trang 15

14

a) Nhật Bản

Nhật Bản chính thức có quan hệ viện trợ cho Việt Nam kể từ năm 1975 nhưng đến năm

1979 bị đình chỉ Đến năm 1992, Nhật chính thức công bố nối lại viện trợ cho Việt Nam

Kể từ khi nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam (1992), Nhật Bản luôn là nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam Tính lũy kế đến năm 2015, Nhật Bản đã viện trợ cho Việt Nam khoảng 2.600 tỷ Yên, chiếm trên 40% tổng nguồn vốn ODA của Việt Nam Các chương trình viện trợ của Nhật Bản nhằm vào 5 lĩnh vực chính: phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế; xây dựng và cải tạo các công trình giao thông và điện lực; phát triển nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; phát triển giáo dục đào tạo và y tế; bảo vệ môi trường

Năm 2015, nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản cung cấp cho Chính phủ Việt Nam đợt 1 tài khóa 2015 có trị giá 95,167 tỷ yên Số vốn này được dành triển khai 4 dự án, trong đó có 3 dự án phát triển hạ tầng kinh tế xã hội là Dự án xây dựng đường bộ Cao - tốc Bắc Nam (đoạn Đà Nẵng Quảng Ngãi) trị giá 30 tỷ yên; Dự án xây dựng cơ sở hạ - - tầng Cảng quốc tế Hải Phòng (Cảng Lạch Huyện) bao gồm phần hạ tầng cảng trị giá 32,287 tỷ yên và phần cầu, đường trị giá 22,88 tỷ yên, Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu chu kỳ VI (10 tỷ yên) Thông qua khoản ODA này, Nhật Bản muốn hỗ trợ Việt Nam phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, tạo điều kiện để Việt Nam tăng - cường thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập kinh tế quốc tế

Trong đợt 2, Chính phủ Nhật Bản tiếp tục viện trợ ODA trị giá 172 tỷ yên, nâng tổng mức ODA Nhật Bản cung cấp cho Việt Nam trong năm 2015 lên mức 267 tỷ Yên Số tiền này được sử dụng tài trợ cho 3 dự án là Dự án đường sắt đô thị TP.HCM tuyến số 01 (Bến Thành Suối Tiên), Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình, Dự án cải tạo môi trường nước - TP.Hồ Chí Minh

Ngoài ra, chính phủ Việt Nam cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ, đóng góp của Nhật Bản trong việc phát triển kết cấu hạ tầng GTVT với 43% vốn ODA của Nhật dành cho lĩnh vực giao thông Thông qua Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Chính phủ Nhật Bản đã và đang hỗ trợ Bộ GTVT triển khai 52 dự án với số vốn là 10.801 triệu USD Đến

Trang 16

15

nay, 43 dự án đã hoàn thành và đưa vào khai thác, 9 dự án khác đang được triển khai Các

dự án do Nhật Bản tài trợ đều là các dự án quan trọng, có quy mô lớn, tiêu chuẩn kỹ thuật phức tạp, áp dụng nhiều công nghệ tiên tiến, hiện đại, khi đưa vào khai thác sử dụng đã đảm bảo yêu cầu về chất lượng và phát huy hiệu quả

Năm 2016, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) ký với Chính phủ nước Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam các hiệp định vốn vay ODA với tổng giá trị 166,124 triệu Yên Nhật Như vậy, Nhật Bản là quốc gia đứng đầu về hỗ trợ vốn ODA cho Việt Nam cho 3 dự án: Dự án xây dựng Tuyến đường sắt đô thị số 1 Bến Thành – Suối Tiên (III) (90.175 triệu Yên); Dự án Xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Điện Thái Bình và đường dây truyền tải điện (IV) (54.982 triệu Yên); Dự án Cải tạo Môi trường Nước Tp HCM – Giai đoạn 2 (III) (20.967 triệu Yên)

Năm 2017, tổng giá trị vốn vay ODA cam kết đối với các dự án mới là khoảng 61,8 tỷ yên (12.515 tỷ đồng) cho ba dự án; tổng giá trị vốn vay đã giải ngân là 51,2 tỷ yên, trong

đó giá trị ròng (net) là 18,3 tỷ yên Có năm dự án vốn vay ODA mới đã được ký kết với tổng giá trị vốn vay hơn 82,8 tỷ yên (tương đương 16.768 tỷ đồng); tổng giá trị khoản vay

đã giải ngân là 119,2 tỷ yên Về viện trợ không hoàn lại, đã có một dự án mới được ký kết hiệp định viện trợ không hoàn lại với tổng giá trị 1,8 tỷ yên

Năm 2018, do ảnh hưởng của chính sách hạn chế và quản lý nợ công, và do chậm trễ về thủ tục hành chính v.v… nên trong tài khóa vừa qua đã không có dự án vốn vay ODA mới nào được cam kết, mặc dù các dự án này đều là những dự án trọng điểm mà phía Việt Nam đã đề xuất và phía Nhật Bản đã chấp thuận hỗ trợ JICA tiếp tục triển khai vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam với việc đặt trọng tâm vào 3 vấn đề: thúc đẩy các dự án đang thực hiện, tái khởi động các dự án bị đình trệ như Dự án Đường sắt nội đô Hà Nội

số 1 và 2, triển khai các dự án đã được hai bên thông qua

Năm 2019, Việt Nam tiếp tục không có dự án vốn vay ODA mới nào với Nhật Bản, JICA tiếp tục triển khai vốn ODA tại Việt Nam với số vốn khoảng 37,5 tỷ yên với 28 dự án đang triển khai, viện trợ không hoàn lại: 6 dự án đang triển khai (trong đó có 3 dự án mới)

Trang 17

tế, hạ tầng (giao thông, đô thị, cấp thoát nước), ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, năng lượng, quản lý nhà nước Năm 2016, tổng ngân sách viện trợ của KOICA dành cho Việt Nam là 31,5 triệu USD, trong đó 22,4 triệu USD dành cho 24 dự án đang được triển khai Ngày 08/11/2017, chính phủ Hàn Quốc đã ký kết Hiệp định khung với Việt Nam cho các khoản tín dụng từ Quỹ hợp tác phát triển kinh tế Hàn Quốc (EDCF) lên đến 1,5 tỷ USD vốn ODA cho giai đoạn 2016 2020 Bộ GTVT phối hợp với EDCF - thực hiện 5 dự án đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 2020 với tổng vốn vay 428,86 -triệu USD bao gồm: Dự án thành phần 1A thuộc Dự án đường Tân Vạn – Nhơn Trạch, giai đoạn 1, Vành đai 3 – TP HCM; Cải tạo cầu yếu và cầu kết nối trên các quốc lộ (gồm hai Giai đoạn 1, 2); Cải tạo đường sắt khu vực đèo Khe Nét; Cải tạo khu gian Hòa Duyệt – Thanh Luyện tuyến đường sắt Thống Nhất ODA Hàn Quốc có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao năng lực và chất lượng hạ tầng giao thông, nhất là giao thông đường

bộ ở Việt Nam Hai bên tiếp tục chuẩn bị và thực hiện các dự án xây dựng cầu, đường, đường sắt, đường vành đai, hỗ trợ kỹ thuật…

c Thụy Điển

Thụy Điển là một trong những nước phương Tây viện trợ sớm nhất cho Việt Nam, bắt đầu từ năm 1969

Trang 18

17

Chính Phủ Thuỵ Sĩ cam kết hỗ trợ Việt Nam 90 triệu CHF (tương đương 92 triệu USD) giai đoạn 2017 2020, vốn ODA không hoàn lại để thực hiện các dự án hợp tác ưu tiên -của hai nước, tập trung vào 3 lĩnh vực chính: hỗ trợ thúc đẩy thể chế và chính sách kinh tế; hỗ trợ xây dựng khu vực kinh tế tư nhân cạnh tranh và hiệu quả; hỗ trợ phát triển đô thị bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu

Cơ cấu vốn ODA huy động trong giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020

Chiến lược hợp tác phát triển của SECO với Việt Nam trong thời gian tới sẽ tập trung vào các lĩnh vực như: quản lý tài chính công, tăng cường ngành tài chính, tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy các tiêu chuẩn môi trường và xã hội bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch, các điều kiện khung để phát triển thương mại bền vững, môi trường kinh doanh lành mạnh, quy hoạch đô thị hợp nhất cũng như tiếp cận các dịch vụ công đáng tin cậy

ODA đa phương:

Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) là những nhà tài trợ lớn nhất trong nhóm các nhà tài trợ đa phương Ngoài ra còn có các nhà tài trợ đa phương khác: Cơ quan phát triển Pháp (AFD)

a.Ngân hàng thế giới (WB)

Trang 19

18

Từ khi nối lại quan hệ hợp tác với WB (năm 1993) đến năm 2020, WB đã tài trợ cho Việt Nam khoảng 25 tỷ USD (gồm cả vốn vay và viện trợ không hoàn lại) Đến tháng 7/2017, Ngân hàng Thế giới (World Bank) sẽ tuyên bố chấm dứt ODA ưu đãi với Việt Nam và phải chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vay kém ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường Nguồn vốn ODA đã vay chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc tăng lãi suất lên từ 2% 3,5% Các dự án sử dụng vốn vay của WB giai đoạn - 2017-2018 tập trung vào các lĩnh vực thiết yếu như phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng giáo dục đại học, phát triển đô thị, xây dựng nông thôn mới, đầu tư phát triển mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao hiệu quả sử dụng nước cho các tỉnh bị ảnh hưởng bởi hạn hán… ODA ưu đãi từ IDA bắt đầu giảm mạnh sau mức cao nhất mọi thời đại là 1,38 tỷ

đô la vào năm 2014, giảm xuống còn 915 triệu đô la trong 2015, 756 triệu USD năm

2016, 313 triệu USD năm 2017 và 0 USD năm 2018 Cho rằng Việt Nam đã tốt nghiệp từ IDA vào ngày 1 tháng 7 năm 2017, lần cuối cùng Chính phủ nhận được vốn ưu đãi từ IDA là trong nửa đầu năm 2017 IDA tiếp tục cung cấp các khoản vay cho Việt Nam trên

cơ sở chuyển tiếp, nhưng những các khoản vay được cung cấp tại Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế không ưu đãi (IBRD) điều khoản

Trang 20

19

Khoản vay ưu đãi và không ưu đãi từ Ngân hàng Thế giới (triệu USD) 1990-2018

Từ bảng trên, các năm 2015, 2016 nguồn vốn ODA từ IDA vẫn có ưu đãi tuy nhiên không còn được nhiều như năm 2014 và đặc biệt đến năm 2017 sau khi Việt Nam tốt nghiệp IDA thì ưu đãi giảm hẳn, một phần sự sụt giảm trong nguồn vốn ODA từ IDA đã được thay thế bằng các khoản giải ngân của các khoản vay không ưu đãi từ IDA và IBRD

b Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)

Từ năm 1966 đến hết 2019, ADB đã cung cấp hỗ trợ tổng cộng 17,3 tỷ USD cho Việt Nam Tổng giá trị giải ngân lũy kế các khoản vay và viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam là 11,7 tỷ USD, được tài trợ từ nguồn vốn vay thông thường và nguồn vốn thông thường ưu đãi, Quỹ Phát triển Châu Á và các quỹ đặc biệt khác

Giai đoạn 2017 – 2018: Đây là 2 năm cuối cùng Việt Nam được tiếp cận nguồn vốn vay

ưu đãi ADF trước khi tốt nghiệp ADF vào 1/1/2019 do đã chuyển sang nhóm nước có mức thu nhập trung bình

Trong giai đoạn 2017 – 2018, tổng phê duyệt tài trợ vốn vay của ADB cho Việt Nam khoảng 1.145,96 triệu USD, trong đó:

Năm 2017, ADB duyệt cho vay 469 triệu USD cho 3 chương trình/ dự án: Dự án Cơ sở

hạ tầng cơ bản cho Tăng trưởng toàn diện các tỉnh Đông Bắc (BIIG1)( 15000 triệu USD);

Dự án Cơ sở hạ tầng cơ bản cho tăng trưởng toàn diện các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị (BIIC 2) (9700 triệu USD); Chương trình Phát triển các đô thị loại 2 (Các đô thị xanh) (1200 triệu USD)

Năm 2018, hai bên đã tiến hành đàm phán và phê duyệt tài trợ đối với 7/8 chương trình/dự án vay được xác định trong danh mục đàm phán năm 2018 với tổng trị giá tài trợ

là 676,96 triệu USD để tận dụng hết nguồn ADF còn lại trong năm 2018 trước khi tốt nghiệp ADF từ tháng 1/1/2019, bao gồm: Dự án Nâng cao hiệu quả sử dụng nước cho các tỉnh chịu ảnh hưởng hạn hán; Chương trình kỹ năng và kiến thức cho tăng trưởng kinh tế chuyên sâu-Tiểu chương trình 1; Dự án Trung tâm chăm sóc y tế cơ sở; Dự án Cơ sở hạ tầng du lịch GMS lần 2 cho tăng trưởng toàn diện; Dự án kết nối giao thông các tỉnh

Trang 21

Dự án Đường cao tốc GMS Bến Lức - Long Thành với tổng giá trị Khoản vay ADB lần

II cho Dự án là 286 triệu USD từ nguồn vốn vay thông thường (OCR) do Tổng Công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) là chủ Dự án Thời gian thực hiện Dự

án từ năm 2016 đến 2019

Dự án Xây dựng cơ sở hạ tầng toàn diện thích ứng với biến đổi khí hậu cho đồng bào dân tộc thiểu số với tổng vốn vay OCR là 141 triệu USD do Ủy ban dân tộc làm cơ quan chủ quản theo dự kiến ban đầu thuộc Danh mục chương trình, dự án năm 2019 đã được chuyển sang danh mục chính thức năm 2020

Các chương trình hỗ trợ của ADB tập trung vào các lĩnh vực hỗ trợ truyền thống như y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng nông thôn, giao thông đô thị, năng lượng nhưng đã có sự thay đổi nhất định để đáp ứng nhu cầu thực tiễn về mở rộng, kết nối hành lang kinh tế quốc tế khu vực và nội địa, bảo vệ môi trường và tăng trưởng xanh

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút ODA tại Việt Nam

a Nguồn cung cấp ODA

Hiện nay, trên thế giới có 2 nguồn cung cấp ODA chủ yếu là: các nhà tài trợ song phương (các nước thành viên của Ủy ban Hỗ trợ Phát triển – DAC, Trung – Đông u, một số nước

Ả Rập và một số nước công nghiệp mới), các tổ chức tài trợ đa phương (chủ yếu WB, ADB, FDB, IMF), ngoài ra còn có các khoản tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ (NGO) Trong số các nguồn này thì ODA từ các nước thành viên của DAC là lớn nhất Hiện tại, trong số 22 nước thành viên của DAC có tới 17 nước dành dưới 0,5% GDP cho viện trợ nước ngoài, 11 nước dành dưới 0,3% GDP

Năm 1993, sau khi nối lại quan hệ với các định chế tài chính quốc tế, đến nay đã có gần

50 nhà tài trợ đa phương và song phương cùng 350 tổ chức chính phủ với 1.500 chương trình, dự án dành cho Việt Nam Đứng đầu trong các quốc gia và tổ chức trên là Nhật

Ngày đăng: 05/08/2022, 10:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w