ĐỀ BÀI Đặc điểm tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến với văn hóa Trung Hoa I Khái niệm chung về văn hóa Văn hóa là gì? Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới.
Trang 1ĐỀ BÀI: Đặc điểm tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến với văn hóa Trung Hoa.
I Khái niệm chung về văn hóa.
Văn hóa là gì? Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v.v Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
- Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử
- Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sng1 tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội
- Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát);
- Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát);
- Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh;
Trang 2- Văn hóa còn là cum từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn
II Khái niệm tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến văn hóa.
Khái niệm giao lưu và tiếp biến văn hóa là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người (cộng đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau sống cùng nhau, giao lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc cả hai nhóm Giao lưu văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng Ở đó có sự kết hợp giữa các yếu tố "nội sinh" với yếu tố "ngoại sinh" tạo nên sự phát triển văn hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể Quá trình này luôn đặt mỗi dân tộc phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố "nội sinh" và "ngoại sinh"
Ghi chú: Nội sinh là những thứ đã có ở sẵn đất nước Ngoại sinh là những thứ được “hội nhập vào”
III Khái quát về đất nước Trung Quốc.
Trung Quốc là một quốc gia nằm tại Đông Á Đây là quốc gia đông dân cư nhất trên thế giới, với trên 1,35 tỷ người Thủ đô của Trung Quốc
là thành phố Bắc Kinh
Lịch sử Trung Quốc bắt nguồn từ một trong những văn minh cổ nhất thế giới, văn minh này phát triển tại lưu vực phì nhiêu của Hoàng
Hà tại bình nguyên Hoa Bắc Trải qua hàng nghìn năm, hệ thống chính trị của Trung Quốc dựa trên các chế độ quân chủ kế tập, được gọi là triều đại, khởi đầu với triều đại Hạ bán thần thoại ở lưu vực Hoàng Hà Từ năm 221 TCN, khi triều đại Tần chinh phục các quốc gia khác để hình thành một đế quốc Trung Hoa, quốc gia trải qua nhiều lần mở rộng, đứt đoạn và cải cách Trung Hoa Dân Quốc lật đổ triều đại Thanh vào năm
Trang 31911, và thống trị Trung Quốc đại lục cho đến năm 1949 Sau khi Đế quốc Nhật Bản chiến bại trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Cộng sản đảng đánh bại Quốc dân đảng tại Trung Quốc đại lục, và thiết lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh vào ngày 1 tháng 10 năm
1949, trong khi đó Quốc dân đảng dời chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đến thủ đô hiện hành là Đài Bắc
Trong hầu hết thời gian trong hai nghìn năm qua, kinh tế Trung Quốc lớn nhất và phức tạp nhất trên thế giới, với những chu kỳ hưng thịnh và suy thoái Kể từ khi tiến hành cải cách khai phóng vào năm
1978, Trung Quốc trở thành một trong các nền kinh kế lớn có mức tăng trưởng nhanh nhất Trung Quốc được công nhận là một quốc gia vũ khí hạt nhân và có quân đội thường trực lớn nhất thế giới, với ngân sách quốc phòng lớn thứ nhì Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở thành một thành viên của Liên Hiệp Quốc từ năm 1971, khi chính thể này thay thế Trung Hoa Dân Quốc trong vị thế thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc Trung Quốc cũng là thành viên của nhiều tổ chức đa phương chính thức và phi chính thức, và được coi là một cường quốc của khu vực Châu Á
IV Khái quát tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt – Trung trong lịch sử.
Việt Nam là nước có ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa Trung Hoa; điều đó không ai phủ nhận được Ta có thể khẳng định như vậy do rất nhiều lí do:
+ Thứ 1: Việt Nam là nước giáp với Trung Quốc về vị trí địa lý: tuyến biên giới Việt-Trung với hệ thống cửa khẩu là đường bộ, là cửa ngõ giao lưu của phía bắc với quốc tế Đây là nơi mở rộng giao lưu văn hóa vùng miền lớn nhất giữa miền núi-trung du phía bắc
+ Thứ 2: Trong lịch sử Việt Nam và Trung Quốc đã có nhiều sự tranh chấp và giao tranh tranh giành lãnh thổ:
Trang 4Lịch sử Việt Nam nếu tính từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã có hàng vạn năm trước công nguyên, còn tính từ khi nhà nước được hình thành thì mới khoảng từ hơn 4000 năm trước đây (theo truyền thuyết)
Đến thời kỳ đồ sắt, vào khoảng thế kỷ 7 trước công nguyên đã xuất hiện nhà nước đầu tiên của người Việt trên miền Bắc Việt Nam ngày nay, theo sử sách đó là nhà nước Văn Lang của các vua Hùng Thời kỳ Vua Hùng được nhiều người ghi nhận ra là một quốc gia có tổ chức đầu tiên của người Việt Nam, bắt đầu với truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên mà người Việt Nam tự hào truyền miệng từ đời này qua đời khác
Thế kỷ thứ 3 TCN, Thục Phán, thủ lĩnh của bộ tộc Âu Việt - một trong những bộ tộc của Bách Việt ở phía bắc Văn Lang, đã đánh bại Hùng Vương thứ
18 lập nên nhà nước Âu Lạc Nhà nước liên minh Âu Việt- Lạc Việt đã đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tần Nhà nước định đô tại Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay Ông tự xưng là An Dương Vương
Nước Âu Lạc của An Dương Vương bị Triệu Đà thôn tính năm 208 TCN (hoặc 179 TCN)
Cuối thời Tần, Triệu Đà (người nước Triệu - thời Chiến Quốc) là Huyện lệnh huyện Long Xuyên, sau được Nhâm Ngao tự ý bổ nhiệm làm Quận úy quận Nam Hải (thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay) Nhân khi nhà Tần rối loạn sau cái chết của Tần Thủy Hoàng (210 TCN), Triệu Đà đã cát cứ quậnNam Hải, sau đó ông đem quân thôn tính sáp nhập vương quốc Âu Lạc và quận Quế Lâm lân cận rồi thành lập nước Nam Việt với kinh đô đặt tạiPhiên Ngung (nay
là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông) vào năm 207 TCN
Nước Nam Việt trong thời nhà Triệu bao gồm khu vực hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam ngày nay Nam Việt
Trang 5được chia thành 4 quận: Nam Hải, Quế Lâm, Giao Chỉ và Cửu Chân Biên giới phía bắc là hệ thống dãy núi Ngũ Lĩnh, biên giới phía nam là dãy Hoành Sơn
Sau khi nhà Hán của người Hoa Hạ được thành lập, Triệu Đà đã đứng về phía những bộ tộc Bách Việt còn lại để đối chọi với sự bành trướng xâm lăng của nhà Tây Hán Trong khoảng thời gian một thế kỷ (207 TCN-111 TCN), tuy
có vua ngoại tộc là người phương Bắc nhưng vương quốc Nam Việt hoàn toàn độc lập, tự chủ trước đế chế Hán
Đội quân của Hán Vũ Đế xâm chiếm nước Nam Việt và sáp nhập Nam Việt vào đế chế Hán Người Trung Quốc muốn cai quản miền châu thổ sông Hồng để có điểm dừng cho tàu bè đang buôn bán với Đông Nam Á[11] Trong thế kỷ thứ 1, các tướng Lạc vẫn còn được giữ chức Trung Quốc bắt đầu chính sách đồng hóa các lãnh thổ bằng cách tăng thuế và cải tổ luật hôn nhân, biến Việt Nam thành một xã hội phụ hệ để dễ tiếp thu quyền lực chính trị hơn Một cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo đã nổ ra ở quận Giao Chỉ, tiếp theo sau đó
là các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và các địa phương khác của vùng Lĩnh Nam (mà theo cổ sử Việt ghi nhận là có tất cả 65 thành trì) diễn ra trong năm 40 Nhà Hán đã phái tướng Mã Viện sang đàn áp cuộc khởi nghĩa này Sau ba năm giành độc lập, cuộc khởi nghĩa bị tướng Mã Viện đàn áp Do bị
cô lập và quân đội chưa tổ chức hoàn thiện nên không đủ sức chống cự lại quân
do Mã Viện chỉ huy, Hai Bà Trưng đã tuẫn tiết trên dòng sông Hát để giữ vẹn khí tiết
Nhà Đường đô hộ Việt Nam gần 300 năm Trung Quốc đến thời Đường đạt tới cực thịnh, bành trướng ra 4 phía, phía bắc lập ra An Bắc đô hộ phủ, phía đông đánh nước Cao Ly lập ra An Đông đô hộ phủ, phía tây lập ra An Tây đô
hộ phủ và phía nam lập ra An Nam đô hộ phủ, tức là lãnh thổ nước Vạn Xuân
cũ Từ sau loạn An Sử (756-763), nhà Đường suy yếu và bị mất thực quyền kiểm soát với nhiều địa phương do các phiên trấn cát cứ, không kiểm soát nổi
Trang 6phía nam An Nam đô hộ phủ bị các nước láng giềng Nam Chiếu, Chăm
Pa, Sailendra vào cướp phá và giết hại người bản địa rất nhiều, riêng Nam Chiếu đã giết và bắt đến 15 vạn người Tới năm 866, nhà Đường kiểm soát trở lại, nhưng đến cuối thế kỷ 9 thì bị suy yếu trầm trọng sau cuộc nổi loạn của Hoàng Sào và các chiến tranh quân phiệt tại Trung Quốc Đến năm
905, một hào trưởng địa phương người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm giữ thủ phủ Đại La, bắt đầu thời kỳ tự chủ của người Việt
Tóm lại: Các triều đại này cố gắng đồng hóa dân tộc Việt Nam theo tộc Hán Mặc dù người Việt chịu nhiều ảnh hưởng về tổ chức thể chế chính trị, xã hội, văn hóa của Trung Quốc, nhưng người Việt Nam vẫn giữ được nhiều bản chất nền tảng văn hóa dân tộc vốn có của mình sau một nghìn năm đô hộ
+ Thứ 3: Việt Nam và Trung Quốc có sự giao thương:
Thông qua chiến tranh, quá trình giao lưu và tiếp biến ấy diễn ra ở 2 trạng thái: giao lưu cưỡng bức và giao lưu không cưỡng bức
Giao lưu cưỡng bức: diễn ra từ thế kỉ I đến thế kỉ X, sử dụng chính sách đồng hóa và bóc lột đồng hóa người Việt
Giao lưu văn hóa tự nguyện: nhà Trần, nhà Lê tự nguyện giao lưu và chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giao Ta cũng tiếp nhận kĩ thuật đúc sắt và gang, kinh nghiệm chất đá để ngăn sóng biển Đáng chú ý là việc tiếp nhận chữ Hán, làm cho tiếng Việt biến đổi theo xu hướng âm tiết hóa và thanh điệu hóa, nhưng lại không bị đồng hóa về mặt tiếng nói
Không chỉ thời kì chiến tranh mà ngay cả thời kì hòa bình văn hóa Việt nam vẫn có sự giao lưu với văn hóa Trung Quốc Trung Quốc tiếp tục có những ảnh hưởng về Văn hóa tới Việt Nam, như các loại hình văn hóa của Trung Quốc được cho phép xuất bản rộng rãi tại Việt Nam Rất nhiều các loại phim Trung
Trang 7Quốc được dịch và trình chiếu tại các đài truyền hình Trung Ương và địa phương
V Các mặt ảnh hưởng từ văn hóa Trung Quốc.
Từ thời các triều đại các Vua Hùng cho đến thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, Nước Đại Việt xưa bị ảnh hưởng sâu sắc bởi văn minh văn hóa Trung Hoa -một dân tộc lớn ngay cạnh chúng ta Tuy nhiên sự ảnh hưởng đó không phải là
sự tiêu cực mà nó là cơ hội để làm cho văn hóa của dân tộc ta càng sâu sắc theo một cách riêng, những thứ mà đã được chắt lọc sau đó làm cho phù hợp với văn hóa của người Việt
Về tư tưởng tôn giáo, Trung Hoa có rất nhiều những giáo lý và tư tưởng nổi tiếng, nhiều trong số đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam như Phật giáo Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường xâm lược, không phải do sự cưỡng chế của Trung Hoa mà thông qua đường giao thương buôn bán (giao thương buôn bán qua đường bộ với Trung Quốc) Đạo Phật đến bằng con đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình đẳng, bắc ái, cứu khổ, cứu nạn…gần gũi với cư dân Việt Nam do đó dễ được chấp nhận Mặt khác thời kỳ này còn có các tín ngưỡng bản địa của cư dân nông nghiệp lúa nước, cộng với sự tồn tại của Nho giáo cũng Trung Quốc truyền vào, tuy nhiên các tín ngưỡng, tôn giáo đó còn có nhiều mặt khiếm khuyết đối với đời sống tâm linh cộng đồng và đạo Phật đã bổ sung vào chỗ thiếu hụt ấy Vì vậy đạo Phật ở Việt Nam được giao thoa bởi các tín ngưỡng bản địa, cũng như ảnh hưởng bởi đạo Lão ở Việt Nam.Phật giáo là tôn giáo gần gũi và dễ hoà hợp với tín ngưỡng dân gian người Việt Nếu đặc điểm tôn giáo Việt Nam là sự thờ cúng tổ tiên (linh hồn người thân đã khuất) thì Phật hay quan âm cũng được coi
là một thứ tổ tiên (trong tâm thức dân gian Việt cổ, Phật hay quan âm không phải là người “ngoại quốc, người khác tộc) Nếu đặc điểm của tôn giáo Việt Nam là sự thờ thần (thế lực siêu nhiên) mà con người cũng cần để nhờ sự “phù
Trang 8hộ độ trì” thì Phật hay quan âm cũng trở thành một vị thần, phật điện cũng trở thành thần điện, tính tâm linh nhường bước cho tính tình Việt Nam Hơn đâu hết, tôn giáo Việt Nam nặng về tính tình cảm hơn là giáo lý
Về hệ tư tưởng, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc thời cổ đại
đó là những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức, thể chế cai trị vốn đã có cơ sở ở Trung Quốc từ thời Tây Chu, đến cuối thời Xuân Thu (TKXI-TKV TCN) thì được Khổng Tử (551-479TCN) và các môn đệ của Ông là Mạnh Tử (372-289 TCN) và Tuân Tử ( 313 -238 TCN) hệ thống hóa ổn định lại trong hai bộ kinh điển là Tứ Thư và Ngũ Kinh Nhà nước phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo, với tư tưởng trung quân ái quốc, là kim chỉ nam hành động của
sĩ phu, làm hệ tư tưởng chính Nó rất thiết thực cho công cuộc cai trị, cho trật tự
xã hội và nhất là cho chế độ quân chủ Để chọn lựa nhân tài ra làm quan, các chính quyền quân chủ tổ chức thi cử bằng chữ Nho Nội dung thi cử dựa trên Nho học Tất cả mọi người dân Việt muốn tiến thân, đều phải học chữ Nho, học chương trình Nho học, để thi cử đỗ đạt, mới được ra làm quan
Một ảnh hưởng quan trọng nữa của văn hóa Trung Quốc đến văn hóa Việt Nam mà ta có thể thấy rõ chính được thể hiện qua chữ viết của ta trong lịch sử Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên Đến thế kỷ VII - XI chữ Hán và tiếng Hán được
sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc Bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt Từ
Trang 9thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực
sự hoàn chỉnh Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt
Do vậy, ta có thể thấy, dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt Chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi
Ngoài những mặt chính đã kể trên, văn hóa Trung Quốc còn ảnh hưởng đến rất nhiều yếu tố khác trong sự hình thành và phát triển văn hóa Việt Nam
- Kiến trúc: trải qua thời Bắc thuộc, kiến trúc Việt Nam chịu nhiều ảnh
hưởng của nền kiến trúc Trung Quốc Kiến trúc Việt Nam là sự kết hợp giữa kiến trúc bản địa cùng với những ảnh hưởng từ Trung Quốc, ví dụ những công trình kiến trúc nổi tiếng như Quốc Tử Giám, chùa Một Cột hay thành nhà Hồ… đều có sự pha trộn với kiến trúc Trung Hoa
- Văn học: Văn học Việt Nam được chia thành hai loại: văn học dân gian
và văn học viết Cả hai loại văn học này đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Quốc Văn học dân gian của Việt Nam được ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp từ văn học Trung Quốc Ảnh hưởng trực tiếp là vận dụng trực tiếp văn học Trung Hoa vào văn học Việt Nam, còn ảnh hưởng gián tiếp là một quá trình này diễn ra như sau: lúc đầu những điển tích, tên đất, tên người của tác phẩm văn học Trung Quốc đi vào những tác phẩm lớn của văn học viết của người Việt, sau đó các tác giả thơ ca dân gian người Việt đã tiếp thu những điển tích này Và nhiều khi ca dao người Việt chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc trong việc sử dụng các điển tích đúng như người Trung Quốc quan niệm, nhiều khi ý nghĩa của các hình ảnh trong ca dao người Việt lại
Trang 10khác với ý nghĩa của các hình ảnh cùng tên trong văn học Trung Quốc Đây là sự khác nhau giữa hai cách tiếp thu văn hóa Trung Quốc của người Việt: tiếp thu nguyên vẹn so với tiếp thu có cải biên Trong văn học viết, với chữ Hán và chữ Nôm được sử dụng trong một thời gian dài Các tác phẩm văn học cổ nhất còn lưu lại được sáng tác vào thế kỷ
11 và chủ yếu liên quan đến đạo Phật khi đó đang thịnh hành tại Việt Nam Đó là những bài thơ của các vị sư giải thích về cơ sở căn bản của đạo Phật cũng như bình luận về các biến cố lịch sử hay các đề tài về ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, từ thế kỷ 13 nhiều công trình về lịch sử, địa lý
và địa chí bằng chữ Hán đã xuất hiện Khi hệ thống chữ Nôm được hoàn chỉnh vào thế kỷ 13, nhiều tác phẩm văn học viết bằng chữ Nôm lần lượt xuất hiện, một trong những tác phẩm sớm nhất bằng chữ Nôm còn để lại đến hôm nay là các bài thơ của Nguyễn Trãi, các tác phẩm đồ
sộ của ông bao gồm một tuyển tập hàng trăm bài thơ Nôm có tên Quốc
âm thi tập ở thế kỷ 15, và kế tiếp là Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, các bài thơ của Hồ Xuân Hương và đặc biệt là tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
VI Những ưu điểm, hạn chế rút ra từ tiếp xúc giao lưu văn hóa Việt –
Trung.
Từ những ảnh hưởng được nêu ở mục trên, ta có thấy những giá trị điển hình và quan trọng nhất mà văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam ta chính là tư tưởng Phật giáo, tư tưởng Nho Giáo, và chữ Nôm Những giá trị điển hình này mang được du nhập và Việt Nam hóa, mang lại cho chúng
ta rất nhiều ưu điểm không thể chối cãi
- Về Phật giáo: Chúng ta cũng có thể thấy rằng tư tưởng Phật giáo có ảnh
hưởng ít nhiều đến đời sống của thanh thiếu niên hiện nay Ở các