Tuyên bố đề tài nghiên cứu Từ những thực trạng đang diễn ra, chúng tôi đã lựa chọn: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
trường Đại học Thương Mại
Giảng viên giảng dạy: Ths.Nguyễn Nguyệt Nga
Nhóm thực hiện: 09
Mã lớp: 2220SCRE0111
Hà Nội – Năm 2022
Trang 2CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
Nền kinh tế đang ngày càng phát triển trong xã hội văn minh, đặc biệt là nền kinh
tế tri thức khi mà con người đã nhận thức và hiểu sâu hơn về việc nâng cao chất lượng sống bằng các biện pháp mang tính tổng thể, trong đó phải kể đến là sự chăm sóc và tự nâng cao năng lực miễn dịch bằng cách thích ứng qua luyện tập vận động không ngừng.Tuy vậy, không phải ai cũng có lối sống lành mạnh Lối sống ít vận động, dành thời gian nhiều cho xem ti vi, đọc báo, ăn uống, đang ngày càng phổ biến trong đại bộ phận giới trẻ nước ta, gây ra những căn bệnh nguy hiểm Hoạt động thể lực ngày càng ít
đi, con người sẽ càng trở nên lười nhác hơn Đặc biệt, lười vận động còn là nguyên
nhân của những chứng bệnh nguy hiểm như béo phì, xương khớp, dẫn đến sự suy giảm sức khỏe làm ảnh hưởng đến tinh thần, thậm chí là chất lượng cuộc sống Trong một nghiên cứu quốc tế năm 2012 đăng tải trên tạp chí y khoa The Lancet
(Anh), Việt Nam được xếp vào nhóm lười vận động nhất thế giới với chỉ hơn 15% người tập thể dục nhiều hơn
30 phút mỗi ngày Ở Việt Nam, theo số liệu báo cáo của Tổng cục Thể dục thể thao mớiđây cho biết mục tiêu đề ra trong năm 2019 là số người tập luyện thể thao thường xuyên của ViệtNam đạt cấp xỉ 34%, số gia đình tập luyện thể thao là 24,5% Như vậy, đang có hàng chục triệungười chưa hề tham gia tập luyện thể thao
1.2 Tuyên bố đề tài nghiên cứu
Từ những thực trạng đang diễn ra, chúng tôi đã lựa chọn: “Nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinhviên trường Đại học Thương mại” nhằm tìm ra lời giải thích cho vấn đề trên
1.3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thểdục hàng ngày của sinh viên Đại học Thương mại, xem xét các vấn đề tác động đó là dođâu Từ đó xác định sự ảnh hướng của các yếu tố đó đến quyết định duy trì thói quenthể dục của sinh viên
1.4 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 3Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thểdục hàng ngày của sinh viên Đại học Thương mại Từ đó đưa ra mô hình nghiên cứuphù hợp nhất phản ánh sự ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định duy trì thói quenvận động thể dục hàng ngày của sinh viên Đại học Thương mại Nghiên cứu tập trungkhám phá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hàngngày của sinh viên Đại học Thương mại, từ đó đánh giá mức độ tác động của các yếu tốđến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hàng ngày của sinh viên Đại họcThương mại.
1.5 Câu hỏi nghiên cứu
* Câu hỏi nghiên cứu tổng quát:
+ Những yếu tố nào tác động đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên Đại học Thương mại
+ Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên Đại học Thương mại được đánh giá như thế nào?
+ Đề xuất nào được đưa ra để sinh viên Đại học Thương mại có thể duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày
* Câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
+ Câu hỏi 1 Mục tiêu của bản thân có là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên hay không?
+ Câu hỏi 2 Sức khỏe có là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên hay không?
+ Câu hỏi 3 Thói quen sinh hoạt có là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên hay không?
+ Câu hỏi 4 Môi trường sống có là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên hay không?
+ Câu hỏi 5 Chi phí có là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên hay không?
+ Câu hỏi 6 Lợi ích của việc tập thể dục có là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên hay không?
Trang 41.6: Giả thuyết nghiên cứu:
+ Giả thuyết H1 Mục tiêu của bản thân có thể ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên
+ Giả thuyết H2 Sức khỏe có thể ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên
+ Giả thuyết H3 Thói quen sinh hoạt có thể ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên
+ Giả thuyết H4 Môi trường sống có thể ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên
+ Giả thuyết H5 Chi phí có thể ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận độngthể dục hằng ngày của sinh viên
+ Giả thuyết H6 Lợi ích của việc tập thể dục có thể ảnh hưởng đến quyết định duy trìthói quen vận động hằng ngày của sinh viên
1.8: Mô hình nghiên cứu
1.7: Ý nghĩa của nghiên cứu
Trang 5+ Đề tài nghiên cứu giúp đánh giá mức độ tác động của các yếu tố thời tiết, thời gian,thói quen đến việc duy trì thói quen luyện tập thể dục thể thao hằng ngày của sinh viên trường Đạihọc Thương mại Từ đó có thể đề ra các giải pháp phù hợp cho sinh viên để có thể duy trì thói quenvận động thể dục hằng ngày.
+ Kết quả của nghiên cứu giúp sinh viên có thể nắm được vai trò, lợi ích của việc duytrì thói quen duy trì vận động thể dục thể thao từ đó thay đổi thói quen và duy trì việc vận động thểdục thể thao thường xuyên hơn
+ Đánh giá được thực trạng vận động thể dục thể thao hiện nay
1.8 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.8.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục hằng ngày của sinh viên trường đại học Thương mại
+ Khách thể nghiên cứu: sinh viên trường đại học Thương mại
1.8.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Trường đại học Thương mại
+ Phạm vi thời gian: Từ ngày 01/02/2022 đến ngày 20/04/2022
+ Lĩnh vực nghiên cứu: Sức khỏe-Xã hội
1.9: Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Xây dựng bảng câu hỏi tiến hành khảo sát
phạm vi 100 sinh viên là sinh viên trường Đại học Thương mại nhằm thu thập dữ liệuđưa vào phân tích và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Trong đó, nhóm sử dụng 4 phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu cụ thể:
+ Phương pháp nghiên cứu lí luận: Sử dụng dữ liệu thứ cấp làm cơ sở lý luận cho đềtài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán về thuộc tính và xây dựng mô hình lý thuyết ban đầu.+ Phương pháp khảo sát (survey): tìm kiếm dữ liệu nghiên cứu phổ biến nhất trên cácbảng hỏi (questionnaire), tìm một lượng nhỏ dữ liệu dướtrung ba trung bảo là cóa
Trang 6sdcteurng bariqwre qưeqweqweqwe123123123231212231345456i dạng được tiêu chuẩn hóa từ một mẫu tương đối lớn và quá trình chọn mẫu mang tính đại diện.
+ Phương pháp thu thập dữ liệu: Nhóm tìm kiếm dữ liệu sơ cấp và thứ cấp bằng nhiều hình thức khác nhau
+ Phương pháp thống kê toán học: Thông qua phần mềm như Excel, SPSS…
1.10 Quy trình thu thập dữ liệu, thông tin và xử lý số liệu
Dữ liệu thứ cấp: Thu thập thông tin qua việc tìm hiểu các đề tài nghiên cứu trướcđây đã từng nghiên cứu về vấn đề duy trì thói quen tập thể dục của sinh viên Qua đónhóm sẽ tổng hợp 5 đề tài có liên quan Kế thừa và phát triển các yếu tố ảnh hưởng, từ
đó định được các biến động lập và biến phụ thuộc Nguồn tài liệu được tham khảo từcác trang web: google, google scholar…; các bài báo khoa học, thư viện online củatrường Đại học Thương Mại
Dữ liệu sơ cấp: Thông tin thu thập thông qua phiếu điều tra khảo sát online bằngbảng hỏi Trong bảng câu hỏi, nhóm đưa ra thang đo 5 điểm để đo lường mức đô sinhviên đánh giá nhân tố tác động đến việc quyết định duy trì tập thể dục của mình 1 điểm(1): hoàn toàn không đồng ý; 2 điểm (2): không đồng ý; 3 điểm (3): trung lập; 4 điểm(4): đồng ý; 5 điểm (5): hoàn toàn đồng ý
Kết quả khảo sát được rà soát kiểm tra tính hợp lệ: Trả lời đầy đủ câu hỏi, điềnđầy đủ thông tin phù hợp với nghiên cứu Kết quả khảo sát: 114 phiếu hỏi sinh viênThương Mại, trong đó 156 phiếu hợp lệ (chiếm 100%) trả lời đầy đủ thông tin phù hợpvới yêu cầu của phiếu hỏi
Số liệu được nhóm xử lý thông qua phần mềm hỗ trợ như: Excel, SPSS, …Xử lý
số liệu bằng phần mềm SPSS:
+ Kiểm định đánh giá thang đo
+ Phân tích hồi quy
Trang 7CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU2.1 Các khái niệm liên quan
Thể dục: Thể dục là tất cả những hoạt động của cơ thể nhằm nâng cao hoặc duy
trì sự vừa vặn của cơ thể và sức khỏe nói chung
Vận động: Vận động là sự tự thân vận động của vật chất, được tạo nên từ sự tác
động lẫn nhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc vật chất (là thuộc tính cốhữu của vật chất) Theo Ăng-ghen, vận động của vật chất do tác động qua lại giữa cácyếu tố, các bộ phận khác nhau của bản thân sự vật, "sự tác động qua lại đó chính là sựvận động"
Sinh viên: Thuật ngữ “Sinh viên” được bắt nguồn từ một từ gốc Latin:
“Students” với nghĩa là người làm việc, học tập, tìm hiểu, khai thác tri thức (Từ điểnBách khoa toàn thư- tiếng Nga) Hiểu theo nghĩa thông thường thì “Sinh viên” là nhữngngười đang học trong các trường Đại học, cao đẳng
Tinh thần: Tình thần là tổng thể nói chung những ý nghĩ, tình cảm, những hoạt
động thuộc về đời sống nội tâm, những thái độ, ý nghĩ định hướng cho hoạt động, quyếtđịnh hành động của con người
Thể chất: Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những đặc trưngtương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển
do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện)
Thói quen: Thói quen là những hành vi đã được hình thành và lặp đi lặp lại
nhiều lần
Duy trì: Giữ cho tồn tại, không thay đổi trạng thái bình thường.
2.2 Tổng quan các tài liệu liên quan
2.2.1. Bài nghiên cứu của Hulya Kodal Sevindir, Cuneyt Yazici, Suleyman
Cetinkaya (2014) “A study on physical exercise habit” (nghiên cứu về thói quen tập
Trang 8thuộc khoa toán, hóa học, lịch sử và khảo cổ học, nghệ thuật và khoa học Sinh viêntrong cuộc lấy mẫu phải trả lời bảng câu hỏi gồm 43 câu hỏi liên quan đến hoạtđộng thể chất Dữ liệu được phân tích và xử lý bằng phần mềm SPSS Phươngpháp thống kê mô tả và phương pháp thống kê suy diễn được sử dụng để phântích dữ liệu nghiên cứu (Hulya Kodal Sevindir và cộng sự, 2014) Nghiên cứu chỉ ramột số nhân tố ảnh hưởng đến thói quen tập thể dục như: tuổi tác, năm học của sinhviên, thu nhập của sinh viên Từ bảng khảosát 43 câu hỏi thì nhà nghiên cứu đưa ra một
số kết luận: Thứ nhất, các sinh viên nữ trong cuộc lấy mẫu không tập thể dục thườngxuyên Nữ sinh cho rằng tập thể dục thể thao là không cần thiết (Hulya Kodal Sevindir
và cộng sự, 2014) Thứ hai, đối với những câu hỏi liên quan đến nhận thức cá nhân vềhoạt động thể dục thì các sinh viên nam đưa ra câu trả lời tích cực hơn so với nữ (HulyaKodal Sevindir và cộng sự, 2014). Thứ ba, các câu hỏi liên quan đến lợi ích của tập thểdục đối với cuộc sống thìsinh viên trong độ tuổi từ 22-26 tuổi có phản ứng tích cực hơnsinh viên trong độ tuổi từ 18-22 tuổi (Hulya Kodal Sevindir và cộng sự, 2014) Thứ tư,
kết quả phân tích câu hỏi "Bạn có thường xuyên tập thể thao không?" chỉ ra rằng: nhữngsinh viên có thu nhập cao có nhiều thời gian dành cho hoạt động thể dục thể thao.(Hulya Kodal Sevindir và cộng sự, 2014)
2.2.2 Bài nghiên cứu của Kayla Bruner và cộng sự (2018) Factors that affect exercise habit of college students
Mục tiêu nghiên cứu của nhóm Kayla Bruner (2018) là xác định các yếu tố ảnhhưởng đến thói quen tập thể dục của các sinh viên đại học Các nhà nghiên cứu sử dụngcách tiếp cận định lượng trong bài khảo sát của mình, xây dựng nên một bảng khảo sátgồm các câu hỏi về thông tin cá nhân và 20 mục liên quan đến các tác động đối với việctập thể dục Thang điểm là thang điểm 4 với 4 đại diện cho “hoàn toàn đồng ý” và 1 đạidiện cho “hoàn toàn không đồng ý” Có 124 sinh viên đại học đã tham gia nghiên cứunày với 53% nữ và 47% nam tham gia khảo sát (Kayla Bruner và cộng sự, 2018).Nghiên cứu chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến thói quen tập thể dục của sinh viên baogồm: tâm lí, thời tiết, lợi ích của việc tập thể dục và các hoạt động xã hội Kết quảnghiên cứu cho thấy: Những người tham gia xem việc giữ gìn sức khỏe là lý do hàngđầu để tăng cường thể dục, những người tham gia xem cảm giác
Trang 9tích cực sau khi tập thể dục là nguyên nhân thứ hai ảnh hưởng tích cực đếnthói quen tập thể dục của họ, nguyên nhân thứ ba làm tăng cường độ luyện tậpthể dục của sinh viên là có một người bạn cũng tập thể dục (K.Bruner và cộng sự,2018) Thêm vào đó, những người tham gia cho rằng việc tăng lượng bài tập vềnhà là yếu tố hàng đầu làm giảm tần suất tập thể dục sau đó là thời tiết xấu và cáctháng mùa đông tất cả đều làm giảm hoạt động thể dục thể thao mà sinh viên đãtham gia (K.Bruner và cộng sự, 2018) Cuối cùng, dựa vào kết quả nghiên cứu, các nhànghiên cứu đã khuyến nghị: cần phải được giáo dục về tầm quan trọng của tậpthể dục và về việc tập thể dục có lợi như thế nào đối với cơ thể và sức khỏetổng thể của một cá nhân để ý thức được việc duy trì luyện tập thể dục thể thao
(K.Bruner và cộng sự, 2018)
2.2.3 Vanessa Grout, Elizabeth A.Easley, Sarah H.Sellhorst, William F.Riner
(2016) Sedentary behaviors and measured physical activity in college student
popullations
Nhóm nghiên cứu Vanessa Grout, Elizabeth A.Easley, Sarah H.Sellhorst,William F.Riner đã nghiên cứu về các hành vi ít vận động trong quần thể sinh viên đạihọc Dựa vào đề tài nghiên cứu các nhà nghiên cứu đã xác định mục đích của nghiêncứu là để xác định xem sự khác biệt về giới tính có ý nghĩa thống kê giữa các hành vi ítvận động được đo lường khách quan và mức độ hoạt động thể chất ở sinh viên đại họctại một khuôn viên nhỏ, nông thôn, dành cho người đi làm hay không đi làm (VanessaGrout và cộng sự, 2016) Mục tiêu nghiên cứu là so sánh hoạt động thể chất trong thờigian giải trí giữa sinh viên nam và sinh viên nữ (Vanessa Grout và cộng sự, 2016) Kếtquả nghiên cứu chỉ ra rằng: Số phút dành cho hoạt động thể chất vừa phải ở nam nhiềuhơn nữ (chênh lệch trung bình = 91,49 phút/ tuần), nam giới cũng dành nhiều thời giantrong hoạt động thể chất mạnh hơn phụ nữ (chênh lệch trung bình = 102,08 phút/ tuần)(Vanessa Grout và cộng sự, 2016) Việc không hoạt động thể chất còn tăng lên theo độtuổi và kể cả đối với những người hoạt động thể chất cao cũng có thời gian lớn chohành vi ít vận động Để giảm các hành vi ít vận động trong quần thể sinh viên đại học,các cá nhân phải thể hiện sự sẵn sàng về động lực và tích cực đưa ra các sáng kiếnhướng tới giảm các hành vi ít vận động (Vanessa Grout và cộng sự, 2016)
Trang 102.2.4 Nghiên cứu của Nguyễn Bình Minh và Cao Mỹ Phượng (2019) “Thực trạng luyện tập thể dục thể thao của sinh viên hệ đại học chính quy khóa 2018 tại trường đại học Trà Vinh”
Bài nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Bình Minh và Cao Mỹ Phượng đượcnghiên cứu từ ngày 18/03/2019 đến 02/06/2019, thực hiện trên 390 đối tượng về thựctrạng luyện tập thể dục thể thao của sinh viên hệ đại học chính quy khóa 2018 tạiTrường đại học Trà Vinh Mục tiêu nghiên cứu: xác định tỉ lệ sinh viên có luyện tập thểdục thể thao và mô tả một số yếu tố liên quan đến việc luyện tập thể dục thể thao củasinh viên (Nguyễn Bình Minh và Cao Mỹ Phượng, 2019) Phương pháp nghiên cứuđược sử dụng là phương pháp định lượng, sử dụng bộ câu hỏi Sau khi thu thập số liệuđược làm sạch sau đó nhập và phân tích, xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 13 (Nguyễn
Bình Minh và Cao Mỹ Phượng, 2019) Nghiên cứu chỉ ra một số nhân tố ảnh hưởng đến
luyện tập thể dục thể thao của sinh viên trường Đại Học Trà Vinh là: giới tính sinh viên,nơi ở trước khi vào học (thành thị, nông thôn), nơi ở trong khi học (nhà trọ, kí túc xá, ởvới nhà cha mẹ), ngành học của sinh viên, tình trạng kinh tế gia đình, liên quan giữaluyện tập thể dục thể thao với việc tham gia làm việc thêm Kết quả nghiên cứu chothấy: Thứ nhất, đối tượng tham gia nghiên cứu là nữ sinh viên chiếm tỉ lệ cao hơn nam,chủ yếu là người dân tộc Kinh Tỉ lệ nam sinh viên có tập luyện TDTT cao gấp 2 lần tỉ
lệ nữ sinh viên (Nguyễn Bình Minh và Cao Mỹ Phượng, 2019) Thứhai, tỷ lệ có tậpluyện TDTT của nghiên cứu này chiếm tỉ lệ khá thấp (33,3%) có thể giải thích dosinh viên phải dành nhiều thời gian cho việc học trên lớp cũng như tự học Bêncạnh đó, sự bùng nổ về công nghệ thông tin và mạng xã hội cũng góp phầnkhiến quỹ thời gian của sinh viên bị ảnh hưởng (Nguyễn Bình Minh và Cao MỹPhượng, 2019) Thứ ba, tỷ lệ các đối tượng có nhu cầu và cảm thấy yêu thíchtập luyện TDTT hoặc không lần lượt chiếm 52,1 và 47,9%; tỉ lệ sinh viên trả lờiđộng lực để tập luyện TDTT để nâng cao thể lực và yêu thích tập luyện TDTTkhá cao, lần lượt là 53,1% và 31,3%; tỉ lệ các sinh viên trả lời động lực họ tậpluyện TDTT là do muốn hoàn thành chương trình giáo dục thể chất bắt buộctrong chương trình học chiếm 37,2% (Nguyễn Bình Minh và Cao MỹPhượng,2019) Thứ tư, một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tập luyện TDTT đềuđặn của sinh
Trang 11viên chủ yếu đến từ nguyên nhân chủ quan: ngại vận động, lịch học dày đặc là
lý do được nhiều sinh viên lựa chọn nhất Thứ năm, sinh viên có nơi ở trước khivào học ở thành thị có tập luyện thể dục thể thao cao gấp 1,345 lần so với sinhviên ở nông thôn (Nguyễn Bình Minh và Cao Mỹ Phượng, 2019) Thứ sáu, cóliên quan giữa tập luyện TDTT và tình trạng thừa cân/béo phì, các sinh viênkhông tập luyện TDTT có nguy cơ bị thừa cân/béo phì cao gấp 1,122 lần so vớisinh viên có tập luyện TDTT (Nguyễn Bình Minh và Cao Mỹ Phượng, 2019)
2.2.5: ThS.Phạm Thế Hoàng - Bộ môn GDTC&QP (2015) Thực trạng và những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thể thao ngoại khóa của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội
Mục tiêu của nghiên cứu là nghiên cứu thực trạng và những nhân tố ảnh hưởngđến hoạt động thể thao ngoại khóa của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội để tìm hiểu vàđánh giá nhận thức, nhu cầu của sinh viên về tập thể thao cũng như động cơ rèn luyệnTDTT, tác dụng của hoạt động TDTT (ThS.Phạm Thế Hoàng, 2015) Nghiêncứu đượckiểm định bởi 400 sinh viên nam, nữ trong trường thông qua các phiếu khảo sát Nghiêncứu được dựa trên mô hình nghiên cứu sau: Nhu cầu, thái độ, động cơ luyện tập, chi phí,tần suất tập luyện Số liệu nghiên cứu cho thấy: Thứ nhất, “Nhu cầu tập luyện TDTTcủa sinh viên cả nam và nữ còn thấp chiếm (69.17%), còn lại 30.83% sinh viên không
có nhu cầu tập luyện” (ThS.Phạm Thế Hoàng, 2015, tr.4/10) Thứ hai, “Thực trạng củatrường Đại học Văn hóa Hà Nội có đến 31,42% sinh viên không thích tham gia hoạtđộng ngoại TDTT ngoại khóa, số sinh viên ghét và sợ hoạt động này chiếm tới 29,17%,trong đó đa số là sinh viên nữ (21,42%), số sinh viên thích hoạt động TDTT ngoại khóachiếm tỉ lệ thấp (13,42%)” (ThS.Phạm Thế Hoàng, 2015, tr.4/10), điều đó bị ảnh hưởngbởi nhiều nhân tố như những hoạt động này không phù hợp với sinh viên nữ, sinh viêntham gia nhiều hoạt động xã hội, tâm lý lo sợ vì là học phần bắt buộc Thứ ba, về động
cơ tập luyện TDTT: “33,88% sinh viên muốn tham gia hoạt động TDTT để được giaolưu, mở rộng mối quan hệ; 27,83%, sinh viên muốn tập luyện TDTT để thi kết thúc họcphần; 17,47%, sinh viên muốn tập luyện TDTT để có thể hình đẹp; 9,4% sinh viênmuốn tập luyện TDTT để nâng cao thể lực Số còn lại
Trang 12muốn tập luyện TDTT là do ham thích TDTT (5,42%)” (ThS.Phạm Thế Hoàng, 2015,tr.5/10) Thứ tư, về tần suất tập luyện: “Số lượng sinh viên chỉ tham gia hoạt động từ 1-
2 lần/tuần và không có số lượng nhất định chiếm 70%” (ThS.Phạm Thế Hoàng, 2015,tr.8/10) cho thấy thực trạng tham gia hoạt động này là rất thấp Qua thực trạng trên, cácnhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thể thao ngoại khóa được ThS.Phạm Thế Hoàng đềcập là: “Sinh viên chưa có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vai trò, ý nghĩa, tác dụngcủa các hoạt động TDTT… sinh viên có tâm lý sợ các môn thể thao vận động… điềukiện cơ sở vật chất cho hoạt động thể thao chưa phong phú, đảm bảo tính đa dạng vàđầy đủ cho sinh viên có điều kiện tiếp xúc với nhiều môn thể thao” (ThS.Phạm ThếHoàng, 2015, tr.9/10)
Trang 13CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NHIÊN CỨU
3.1 Các giai đoạn nghiên cứu
3.1.1 Giai đoạn nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp những công trình nghiên cứu của các tác giả trong nướccũng như các tác giả nước ngoài về quyết định duy trì thói quen vận động thể dục củasinh viên trường Đại học Thương mại từ đó xác định kế thừa những luận điểm của họđồng thời chỉ ra được những hạn chế ở các nghiên cứu để tiếp tục nghiên cứu
3.1.2 Giai đoạn điều tra thử
+ Mục đích: Xác định độ giá trị và độ tin cậy của bảng hỏi để rút kinh nghiệm, sửa chữa những câu hỏi không đạt yêu cầu
+ Phương pháp: Để điều tra thử, nhóm tiến hành sử dụng bảng hỏi đã được chuẩn bị
ở giai đoạn trước
+ Nội dung: Tiến hành khảo sát thử bằng phiếu trưng cầu ý kiến và xử lý độ tin cậy,
độ giá trị của công cụ điều tra
3.1.3 Giai đoạn điều tra chính thức
Nhóm thảo luận sử dụng phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp điều trabằng
phiếu, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn sâu
+ Mục đích: Khảo sát thực trạng các mức độ nhận thức, thái độ của sinh viên Đại họcThương Mại về quyết định duy trì thói quen vận động thể dục Đồng thời khảo sát các yếu tố ảnhhưởng đến thói quen vận động thể dục của sinh viên Đại học Thương mại
+ Cách thức xử lý số liệu: Xử lý số liệu đã thu thập được bằng chương trình SPSS phiên bản 20.0
Ở giai đoạn này, nhóm quan tâm đến độ tin cậy và giá trị của bảng hỏi nên đã sửdụng kỹ thuật thống kê, đó là phân tích độ tin cậy của bảng hỏi bằng phương pháp cronbach’salpha
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nhằm phục vụ cho nghiên cứu lý luận chủ yếu là phương pháp nghiên cứu tàiliệu, văn bản Phương pháp này bao gồm các giai đoạn: phân tích, tổng hợp, hệ thống
Trang 14hóa và khái quát hóa những lý thuyết cũng như những vấn đề phương pháp luận và có
liên quan đến quyết định duy trì thói quen vận động thể dục của sinh viên trường Đại
học Thương Mại
Mục đích: Nghiên cứu, thu thập số liệu, khái quát hóa những thông tin về vấn
đề liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả trong nước và nước ngoài, xây dựng cơ
sở khoa học về mặt lý luận cho đề tài Từ đó, phân tích và lý giải về mặt khoa học cũng
như tính hợp lý của những quan điểm mà đề tài đã đưa ra
Nội dung: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì vận động thể dục của
sinh viên trường Đại học Thương Mại
Các hình thức tiến hành: Nghiên cứu, thu thập thông tin từ các tài liệu, văn bản,
sách báo trên cơ sở đó hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Bảng hỏi cho sinh viên với nội dung: Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến quyếtđịnh duy trì vận động thể dục của sinh viên trường Đại học Thương Mại
Xử lý và phân tích kết quả điều tra: Số liệu thu thập được sau khi khảo sát phiếuđiều tra được sử lý bằng phần mềm SPSS Trong quá nghiên cứu đề tài chủ yếu dung
phương pháp phân tích thống kê mô tả và phân tích thống kê suy luận Cách tính số
điểm
trong bảng hỏi:
Trong bảng hỏi, nhóm thảo luận sử dụng mỗi thang đo có 5 lựa chọn trả lời Đềtài theo cách 1-2-3-4-5 cho các lựa chọn như sau:
+ 1 điểm cho các lựa chọn: Hoàn toàn không đồng ý
+ 2 điểm cho các lựa chon: Không đồng ý
+ 3 điểm cho các lựa chọn: Trung lập
+ 4 điểm cho các lựa chọn: Đồng ý
+ 5 điểm cho lựa chọn: Hoàn toàn đồng ý
Như vậy ĐTB cho mỗi thang đo (X) tối đa là 5 điểm và tối thiểu là 1 điểm Mô
tả thang đo: Thang đo sử dụng thang điểm từ 1-5 và khi đó:
Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum)/n = (5-1)/5 (3.1)
Ý nghĩa các mức như sau:
+ Hoàn toàn đồng ý: 4 < ĐTB < 5
+ Đồng ý: 3,25 < ĐTB< 4
+ Trung bình: 2,50< ĐTB < 3,24
Trang 15+ Không đồng ý: 1,75< ĐTB< 2,49
+ Hoàn toàn không đồng ý: 1 < ĐTB < 1,74
Việc lượng hóa thành các mức độ như trên được sử dụng để đánh giá thực trạngcác nhân tố ảnh hưởng đến quyết định duy trì vận động thể dục của sinh viên, từ đó chỉ
ra được các nhân tố ảnh hương đến quyết định duy trì vận động thể dục của sinh viêntrường Đại học Thương mại
3.3 Phương pháp chọn mẫu
3.3.1 Phương pháp chọn mẫu:
Sử dụng phương pháp chọn mẫu để thuận tiện kiểm tra trước bảng hỏi nhằmhoàn chỉnh các câu hỏi cũng như ước lượng sơ bộ về đề tài nghiên cứu mà không tốnnhiều chi phí, thời gian
Đối với đề tài nghiên cứu này của nhóm, để đơn giản hóa quá trình thu thập dữliệu, nhóm nghiên cứu tiến hành chọn mẫu phi ngẫu nhiên Cụ thể, nhóm sử dụngphương pháp quả cầu tuyết đối với học sinh Thương Mại theo từng khóa (sinh viên nămnhất, sinh viên năm hai…) và khoa đào tạo
3.3.2 Cách thức chọn mẫu
a Khung mẫu
+ Tổng thể nghiên cứu: 2000 sinh viên chính quy Đại học Thương mại
+ Phần tử: Sinh viên chính quy Đại học Thương mại
Trang 16hợp cho nghiên cứu có sử dụng phân tích nhân tố (Comery,1973 và Roger, 2006).(Lưu ý: m là số lượng câu hỏi trong bài):
n =5 *m (3.2)
Ta có: n = 5 * 25= 125 là số mẫu tối thiểu cần khảo sát
Thông tin phiếu hỏi online nhóm nghiên cứu đưa ra: 156 phiếu phù hợp với số lượng phiếu tối thiểu đã đưa ra như trên
3.4 Các thang đo
3.4.1 Thang đo “Mục tiêu của bản thân” gồm 4 biến quan sát được mã hóa từ MT1 đếnMT3
MT1 Duy trì tập thể dục là một phần quan trọng của lối sống lành mạnh
MT2 Bạn duy trì tập thể dục để cải thiện sức khỏe và độ bền bỉ
MT3 Bạn tập thể dục để duy trì và cải thiện vóc dáng
3.4.2 Thang đo “Thói quen sinh hoạt” gồm 4 biến quan sát được mã hóa từ TQSH1 đếnTQSH4
TQSH1 Giấc ngủ không khoa học khiến thói quen luyện tập thể dục của bạn bị
gián đoạn (không xác định được thời gian cố định để tập thể dục)
TQSH2 Ăn uống không đầy đủ, không đúng thời gian khiến bạn trì hoãn việc duy
trì tập thể dục hàng ngày
TQSH3 Việc tăng lượng bài tập, công việc về nhà làm giảm thời gian bạn dành
cho luyện tập thể thao
TQSH4 Nếu bạn có công việc quan trọng vào ngày hôm sau việc luyện tập của
bạn sẽ bị gián đoạn3.4.3 thang đo “Sức khỏe cá nhân” Thang đo gồm 3 biến quan sát được mã hóa từ SKCN1 đến SKCN3
SKCN1 Một số bệnh nền hay chấn thương xương khớp của bạn đã cản trở đến
việc duy trì luyện tập thể dục thể thaoSKCN2 Sự mệt mỏi và khó chịu trong người sẽ làm gián đoạn buổi tập hôm đó
của bạn
Trang 173.4.4 Thang đo “Môi trường sống” gồm 5 biến quan sát được mã hóa từ MTS1 đến MTS5
MTS1 Thời tiết xấu làm giảm khả năng luyện tập thể dục thể thao ngày hôm đó
của bạnMTS2 Vào những tháng mùa đông, tần suất tập thể dục của bạn bị giảm dần
MTS3 Không gian luyện tập (rộng rãi thoáng mát, chật hẹp bí bách, sạch sẽ, bừa
bộn ) sẽ chi phối hoạt động luyện tập thể dục thể thao của bạn
MTS4 Gia đình (hoặc bạn bè) sống cùng bạn đã hoặc đang duy trì việc luyện tập
thể dục hằng ngày, vì vậy bạn tập thể dục theo họMTS5 Bạn được mọi người khuyên nên duy trì hoạt động thể dục mỗi ngày
3.4.5 Thang đo “Chi phí” gồm 4 biến quan sát được mã hóa từ CP1 đến CP4
CP1 Chi phí về dụng cụ (giày, quần áo, dây nhảy ) ảnh hưởng đến việc luyện tập
CP4 Chi phí cho không gian tập (phòng tập gym, sân golf, hồ bơi, ) có ảnh hưởng
đến quyết định tập luyện thể dục thể thao của bạn
3.3.6 Thang đo “Lợi ích của việc tập thể dục” gồm 4 biến quan sát được mã hóa từ LI1 đến LI4
LI1 Duy trì thói quen luyện tập thể dục thể thao giúp bạn cảm thấy thoải mái
và giảm căng thẳng, áp lực
LI2 Vóc dáng được cải thiện làm tăng cường độ luyện tập thể dục thể thao của
bạnLI3 Tập thể dục hàng ngày giúp bạn nâng cao sức khỏe, từ đó làm tăng tần
suất luyện tập hơn
Trang 18LI4 Tập thể dục hàng ngày giúp tăng sự tự tin và rèn luyện cho bản thân sự
kiên cường, bền bỉ
3.3.7 “Quyết định tập thể dục” gồm 3 biến quan sát được mã hóa từ QĐ1 đến QĐ3QĐ1 Duy trì thói quen tập thể dục là quan trọng cho một cuộc sống lành mạnhQĐ2 Để nâng cao sức khỏe thì tập thể dục là một lựa chọn hàng đầu
QĐ3 Bạn ủng hộ việc kêu gọi mọi người tham gia các chương trình thể thao
Trang 19CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIEN CỨU
Chương 4 phân tích mô tả dựa trên kết quả sau khi sử dụng phần mềm SPSS đểthống kê và phân tích dữ liệu khảo sát, kiểm định các thang đo danh nghĩa, thang đo thứ
bậc, thang đo khoảng, thang đo tỉ lệ, các khái niệm nghiên cứu và mô tả cảm nhận của
sinh viên Đại học Thương mại về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ
ATM
* Tổng số phiếu khảo sát thu về: 156 phiếu
4.1 Thống kê mô tả đối tượng nghiên cứu
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên SPSS)
Hình 4.1.1 Biểu đồ biểu thị phần trăm cho khoa của sinh viên theo học
Trang 20Kết quả cho thấy trong tổng số 156 sinh viên trường Đại học Thương Mại đượckhảo sát thì có tới 85 sinh viên thuộc chuyên ngành Hệ thống thông tin kinh tế và
Thương mại điện tử, chiếm 54.5% 13 sinh viên khoa Tài chính-ngân hàng chiếm 8.3%;
11 sinh viên khoa Marketing chiếm 7.1% Sinh viên các khoa còn lại nằm rải rác trong
khoảng từ 3 đến 8 sinh viên Qua biểu đồ cho ta thấy số lượng sinh viên được khảo sát
chủ yếu là sinh viên khoa Hệ thống thông tin kinh tế và Thương mại điện tử Số sinh
viên được khảo sát của khoa Quản trị nhân lực và Viện đào tạo quốc tế là ít nhất với 3
sinh viên trên tổng số 156 sinh viên được khảo sát
4.1.2 Năm học
Bảng 4.1.2 Thống kê về năm học của sinh viên Đại học Thương Mại
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên SPSS)
Hình 4.1.2: Biểu đồ biểu thị phần trăm cho năm học của sinh viên
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên Google excel)
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong tổng số 156 sinh viên của Đại học Thương Mại tham gia khảo sát thì có 83 sinh viên năm nhất, chiếm tỉ lệ 53,2% và 52 sinh viên
Trang 21năm hai chiếm tỉ lệ 33.3% Sinh viên năm ba là 17 sinh viên, chiếm tỉ lệ 10.9%, còn lại
là sinh viên năm cuối với 4 sinh viên chiếm tỉ lệ 2.6% Qua biểu đồ cho thấy tỉ lệ sinh
viên được khảo sát ở năm thứ nhất là chủ yếu do đối tượng tiếp cận quen biết của nhóm
phần lớn là sinh viên năm nhất
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên SPSS)
Hình 4.1.3: Biểu đồ biểu thị phần trăm cho giới tính của sinh viên
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên Google excel)
Kết quả thống kê giới tính của 156 phiếu khảo sát cho thấy 105 sinh viên nữ chiếm 67.3% và 51 sinh viên nam chiếm 32.7% Cho thấy sinh viên nữ ở trường Đại
học Thương Mại chiếm nhiều hơn sinh viên nam và điều này hoàn toàn phù hợp với tỉ
lệ giới tính tại trường Đại học Thương Mại
4.1.4 Mức độ quan tâm đến hoạt động tập thể dục của sinh viên Đại học Thương
Mại
Trang 22Bảng 4.1.4 Thống kê về mức độ quan tâm đến hoạt động tập thể dục
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Percent
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên SPSS)
Hình 4.1.4: Biểu đồ biểu thị phần trăm sự quan tâm đến hoạt động thể dục của sinh viên
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên SPSS)
Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết mọi người đều quan tâm đến hoạt động tập thểdục cụ thể trong 156 sinh viên được khảo sát có 142 sinh viên quan tâm đến hoạt động
tập thể dục chiếm tỉ lệ 91.0% và 14 sinh viên không quan tâm đến hoạt động tập thể dục
chiếm tỉ lệ 9,0%
4.1.5 Mức độ thường xuyên tập thể dục của sinh viên
Bảng 4.1.5 Thống kê về mức độ thường xuyên tập thể dục
Trang 23Hình 4.1.5.Biểu đồ biểu thị phần trăm mức độ thường xuyên tập thể dục của sinh
viên (Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên Google excel)
Kết quả khảo sát 156 sinh viên cho thấy có 92 sinh viên thường xuyên tập thểdục chiếm 59.0%, 64 sinh viên không thường xuyên luyện tập chiếm 41.0% Qua đây
có thể thấy rằng sinh viên đã có ý thức trong việc thường xuyên luyện tập thể dục
nhưng số lượng sinh viên tập thể dục không thường xuyên vẫn chiếm tỉ lệ cao
4.1.6 Hình thức thể dục thể thao mà sinh viên chọn
Bảng 4.1.6 Thống kê về số lượng hình thức thể thao được chọn theo mẫu
Frequency Percent Valid Cumulative
Trang 24Hình 4.1.6 Biểu đồ biểu thị phần trăm lựa chọn loại hình thể dục thể thao trong mẫu
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên Google excel)
Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn sinh viên lựa chọn 3 hình thức trở xuống(83,3%), trong đó lựa chọn 1 hình thức chiếm tỉ lệ cao nhất (30,1%) với 47 sinh viên
cho thấy mức độ tập luyện thể dục thể thao của sinh viên Đại học Thương mại còn thấp
Chạy bộ là môn thể thao được lựa chọn nhiều nhất 55,1% trên tổng số phiếu Tiếp theo
là bộ môn cầu lông chiếm 38.5% trên tổng số phiếu Bên cạnh 9 hình thức được đưa ra
trong mẫu, có thêm 4 bộ môn được sinh viên bổ sung là Yoga (phiếu số 47 và phiếu số
124), Nhảy dây (phiếu số 16), Đi bộ (phiếu số 18) và Tập theo video (Phiếu số 39)
4.1.7 Thái độ tích cực trong việc duy trì thói quen luyện tập thể dục
Bảng 4.1.7 Thống kê về thái độ tích cực trong việc duy trì thói quen luyện tập thể dục
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Trang 25Hình 4.1.7 Biểu đồ biểu thị phần trăm thái độ tích cực trong việc duy trì tập thể dục
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên Google excel)
Nghiên cứu cho thấy: Phần lớn sinh viên tham gia khảo sát đang có thái độ tíchcực trong việc duy trì thói quen luyện tập thể dục (73,7%), có 4 phiếu lựa chọn khác:
Phiếu số 52, phiếu số 61 và phiếu số 116 ghi chú là “Thỉnh thoảng”, phiếu số 12 ghi
chú là “Trung lập” Tuy nhiên nghiên cứu vẫn chỉ ra đa số sinh viên Đại học Thương
mại có thái độ tích cực trong việc duy trì thói quen luyện tập thể dục
4.1.8 Bạn thường dành khoảng thời gian nào để luyện tập thể dục?
Bảng 4.1.8 Thống kê về khoảng thời gian thường dành để luyện tập thể dục
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Trang 26Hình 4.1.8 Biểu đồ biểu thị phần trăm về khoảng thời gian dành để luyện tập thể dục
(Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên Google excel)
Nghiên cứu cho thấy phần lớn sinh viên Đại học Thương mại thường tập thể dụcvào buổi chiều (50.6%) với 79 sinh viên; có 50 sinh viên chon buổi sáng để luyện tập
thể dục chiếm 32.1% Có 2 phiếu lựa chọn khác: Phiếu số 12 ghi chú là “Buổi sáng +
buổi tối”, điều đó cũng góp phần tăng phần trăm của nghiên cứu, phiếu số 72 ghi chú
“Không tập”
4.1.9 Khoảng thời gian để tập thể dục trong một ngày?
Bảng 4.1.9 Thống kê về lượng thời gian thường dành để tập thể dục trong ngày
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Trang 27Hình 4.1.9 Biểu đồ biểu thị phần trăm lượng thời gian dành để tập thể dục trong
ngày (Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu trên Google excel)
Kết quả nghiên cứu chỉ ra: Phần lớn sinh viên Đại học Thương mại đều tập trongkhoảng thời gian dưới 1 tiếng (92,9%), dưới 30 phút chiếm 65,4%, chỉ có 6,4% sinh
viên được khảo sát của Đại học Thương mại lựa chọn tập thể dục trên 1 tiếng Bên cạnh
đó có 1 phiếu số 92 lựa chọn khác, cụ thể là “Tùy tâm trạng”
4.1.10 Cảm nhận của sinh viên về chế độ luyện tập của bản thân
Bảng 4.1.10 Thống kê về cảm nhận của bản thân về chế độ tập thể dục
Frequency Percent Valid Percent Cumulative