MỞ ĐẦUCông nghiệp hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình phát triển vì nó đưa cả nền sản xuất vật chất và đời sống văn hóa - xã hội của đất nước lên trình độ m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
Đề tài: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn: Đặng Thị Hoài Lớp HP: 2154RLCP1211 Nhóm thực hiện: Nhóm 8
Trang 2STT MSV Thành viên Công việc Ghi chú
71 20D150097 Trịnh Thị Thu Phương Làm powerpoint
(nhóm trưởng)
72 20D150157 Phạm Thị Phượng Nội dung chương
1-phần 1,2
73 20D150039 Lê Thị Diễm Quỳnh Nội dung chương
1-phần 1,2
74 20D150099 Lê Thị Thúy Quỳnh Nội dung chương
1-phần 1,2
75 20D150159 Nguyễn Phương Quỳnh Nội dung chương
1-phần 3
76 20D150040 Nguyễn Thị Diễm Quỳnh Nội dung chương
1-phần 3
77 20D150100 Triệu Thị Như Quỳnh Nội dung chương
1-phần 3
78 20D150102 Lê Thị Thảo Nội dung chương
2-phần 1
79 20D150162 Lê Thị thảo Nội dung chương
2-phần 2
80 20D150043 Nguyễn Thị Thảo Nội dung chương
2-phần 3; tổng hợp word
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở
VIỆT NAM 5
1 Khái quát về cách mạng công nghiệp và công nghiệp hóa 5
1.1 Cách mạng công nghiệp 5
1.2 Công nghiệp hóa và các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới 6
2 Tính tất yếu của công nghệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam 7
2.1 Tính tất yếu của công nghiệp - hóa hiện đại hóa ở việt nam 7
2.2 Tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa 10
3 Nội dung các vấn đề cơ bản về công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam 10
3.1 Tạo lập những điều kiện để có thể thực hiện chuyển đổi từ nền sản xuất - xã hội lạc hậu sang nền sản xuất - xã hội tiến bộ 10
3.2 Thực hiện các nhiệm vụ để chuyển đổi nền sản xuất - xã hội lạc hậu sang nền sản xuất - xã hội hiện đại 10
CHƯƠNG 2: NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM 14
1 Đổi mới công nghệ trong nền kinh tế 14
2 Nâng cao trình độ người lao động 15
3 Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế 16
KẾT LUẬN
Trang 4MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình phát triển vì nó đưa cả nền sản xuất vật chất và đời sống văn hóa - xã hội của đất nước lên trình độ mới Đối với Việt Nam, khi chính thức bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng chủ trương tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, và từ cuối thế kỷ XX đến nay, quá trình này được xác định đầy đủ là công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó là một quá trình kỹ thuật
- công nghệ và kinh tế - xã hội toàn diện, sâu rộng nhằm chuyển đổi nền sản xuất và xã hội Việt Nam từ trình độ nông nghiệp lạc hậu lên trình độ công nghiệp với các trình độ công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại, văn minh
Trên cơ sở tổng kết công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
XX đến nay và bám sát bối cảnh, yêu cầu, nhiệm vụ mới, Đại hội XIII của Đảng nêu rõ chủ trương: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo” Thực hiện đề tài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, chúng
em muốn thể hiện cái nhìn của mình về công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đồng thời có thể rút ra được
những kiến thức cần thiết cho mình trong công việc cũng như cuộc sống sau này Dù đã rất cố gắng hoàn thành bài tiểu luận nhưng không thể tránh khỏi sai sót, chúng em kính mong nhận được sự góp
ý, chỉnh sửa của cô để thêm phần hoàn thiện hơn
Chúng em xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
1 Khái quát về cách mạng công nghiệp và công nghiệp hóa
1.1 Cách mạng công nghiệp
1.1.1 Khái niệm về cách mạng công nghiệp
Cách mạng công nghiệp là những bước phát triển nhảy vọt về chất trình độ của tư liệu lao động trên cơ sở những phát minh đột phá về kỹ thuật và công nghệ trong quá trình phát triển của nhân loại kéo theo sự thay đổi căn bản về phân công lao động xã hội cũng như tạo bước phát triển năng suất lao động cao hơn hẳn nhờ áp dụng một cách phổ biến những tính năng mới trong kỹ thuật - công nghệ đó vào đời sống xã hội
1.1.2 Vai trò của cách mạng công nghiệp đối với phát triển
Một là, thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất.
Các cuộc cách mạng công nghiệp có những tác động vô cùng to lớn đến sự phát triển lực lượng sản xuất của các quốc gia Từ những bước đầu tiên khi máy móc ra đời thế chỗ cho lao động thủ công cho đến khi nền sản xuất chuyển sang giai đoạn tự động hóa bởi sự ra đời của máy tính điện tử đã đẩy nhanh quá trình tập trung hóa sản xuất Cách mạng công nghiệp cũng
đã đẩy sản xuất của con người vượt qua những giới hạn về tài nguyên thiên nhiên và sự phụ thuộc của sản xuất vào các nguồn năng lượng truyền thống Chính vì thế, cách mạng công nghiệp vừa đặt ra những đòi hỏi về chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao lại vừa tạo điều kiện để phát triển nguồn nhân lực Những thành tựu của các cuộc cách mạng công nghiệp là đòn bẩy để phát triển xa hơn về khoa học - công nghệ cho việc ứng dụng chúng vào nền sản xuất và trong đời sống Bên cạnh đó cũng là tạo điều kiện cho các nước kém phát triển tiếp cận với những thành tựu về khoa học - công nghệ, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa để rút ngắn khoảng cách về trình độ với các nước tiên tiến hơn
Hai là, thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất.
Cách mạng công nghiệp đặt ra những yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế và trao đổi thành tựu khoa học công nghệ Ngoài ra còn tạo điều kiện tiếp thu, trao đổi kinh nghiệm tổ chức, quản lý kinh tế - xã hội giữa các nước; mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế; phát triển các mô hình kinh doanh mới, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh nghiệp
Ba là, thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị phát triển.
Trang 6Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động mạnh đến phương thức quản trị và điều hành của nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước phải cải tổ theo hướng minh bạch và hiệu quả, yêu cầu các quốc gia phải có hệ thống thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi hoạt động sản xuất lên một trình độ cao hơn, tạo ra năng suất và giá trị cao hơn, đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Bên cạnh đó còn tác động đến phương thức quản trị và điều hành của doanh nghiệp Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất làm cho các doanh nghiệp phải thay đổi cách thức tiếp thị và cung ứng hàng hóa dịch vụ theo cách mới Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có quy mô vô cùng lớn và lan truyền mạnh mẽ, làm thay đổi nhận thức của con người trên nhiều lĩnh vực và làm đổi mới công nghệ tạo nên sức ép cạnh tranh rất lớn buộc các doanh nghiệp phải thích ứng và đổi mới kịp thời phương thức quản trị và điều hành
1.2 Công nghiệp hóa và các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới
1.2.1 Công nghiệp hoá
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi nền sản xuất xã hội từ dựa trên lao động thủ công là chính sang nền sản xuất xã hội dựa chủ yếu trên lao động bằng máy móc nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao
1.2.2 Các mô hình công nghiệp hoá tiêu biểu trên thế giới:
a) Mô hình công nghiệp hoá cổ điển:
Mô hình công nghiệp hóa đầu tiên trong lịch sử được gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp 1.0 tiêu biểu ở nước Anh (giữa thế kỷ XVIII) bắt đầu từ phát triển ngành công nghiệp nhẹ (ngành dệt), nông nghiệp và cuối cùng là ngành công nghiệp nặng (cơ khí chế tạo máy) Quá trình công nghiệp hóa diễn ra tuần tự trong thời gian trung bình từ 60-80 năm, sau khi khởi nguồn ở Anh rồi lan rộng sang Pháp và các nước Đức, Mỹ
Quá trình công nghiệp hóa cổ điển dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa tư bản và lao động, làm bùng lên cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại nhà tư bản ở các nước tư bản lúc bấy giờ, tạo tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác Nó còn dẫn đến mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau, giữa các nước tư bản với các nước thuộc địa, quá trình xâm chiếm và cướp bóc thuộc địa đã dẫn đến phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa, thoát khỏi sự thống trị và áp bức của các nước tư bản
b) Mô hình công nghiệp hóa kiểu Liên Xô:
Mô hình này được xây dựng đầu tiên ở liên xô năm 1930 sau đó lan ra các nước XHCN ở Đông Âu sau 1945, ở Việt Nam chúng ta xây dựng mô hình này từ năm 1960 đến năm 1986 rồi xóa bỏ Đặc trưng là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng như ngành cơ khí chế tạo máy; nhà nước có vai trò quyết định, thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung và mệnh lệnh, cho
Trang 7phép trong một thời gian ngắn các nước theo mô hình Liên Xô đã xây dựng được hệ thống cơ
sở vật chất - kỹ thuật to lớn, hoàn thành được mục tiêu đề ra
Giai đoạn đầu mô hình này rất hiệu quả, sản lượng công nghiệp của Liên Xô đứng đầu Châu Âu và chỉ đứng thứ 2 sau Mỹ, giúp Liên Xô nhanh chóng hoàn thành xong kế hoạch công nghiệp hóa sau 18 năm Tuy nhiên ở giai đoạn sau, khi tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, Liên Xô tỏ ra lạc hậu, không còn thích ứng được, làm kìm hãm việc ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật mới Mô hình công nghiệp hóa ưu tiên phát triển công nghiệp nặng không còn đủ sức mạnh để giúp Liên Xô vươn lên trong cuộc đua với Mỹ sau này nên mô hình sụp đổ vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX
c) Mô hình công nghiệp hoá của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới (NICs)
Dù xuất phát muộn nhưng rút kinh nghiệm từ quá trình công nghiệp hóa của các nước đi trước, các nước như Nhật Bản và NICs đã tiến hành công nghiệp hóa theo con đường mới thực hiện chiến lược công nghiệp hóa rút ngắn, tận dụng tốt cơ hội để đi tắt thông qua tiếp nhận công nghệ và đi thẳng vào công nghiệp hóa hiện đại bắn việc nhập khẩu công nghệ của các nước đi trước từng bước sáng tạo đẩy mạnh xuất khẩu phát triển hàng hóa trong nước thay thế nhập khẩu Kết quả là chỉ sau 20 đến 30 năm đã thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Mô hình này đã cho thấy trong thời đại hiện nay các nước đi sau nếu biết khai thác tốt lợi thế trong nước tận dụng tiếp thu những nguồn lực đặc biệt là các thành tựu khoa học, công nghệ mới của các nước đi trước thì sẽ rút ngắn được quá trình công nghiệp hóa
Nhật Bản và các nước công nghiệp hóa mới (NICs), đã xây dựng chiến lược phát triển khoa học - công nghệ nhiều tầng, kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại Kết hợp vừa nghiên cứu chế tạo vừa tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển hơn, con đường vừa cơ bản, lâu dài và vững chắc vừa đảm bảo đi tắt và bám đuổi theo các nước phát triển hơn Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Nhật Bản và các nước công nghiệp hóa mới (NICs) là gợi ý tốt cho Việt Nam trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân
Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ sang một nền kinh tế sản xuất lớn ngày càng hiện đại Một nền sản xuất lớn đòi hỏi phải có cơ cấu cơ sở hạ tầng và những công cụ lao động ngày càng tiến bộ Để tạo lập ra những cơ
Trang 8sở vật chất kỹ thuật đó thì theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác, mọi quốc gia đều phải tiến hành quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Đối với các nước đang phát triển, việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một trong những nhiệm vụ kinh tế to lớn và là một yêu cầu khách quan Cơ sở vật chất kỹ thuật của một nền sản xuất lớn đòi hỏi phải dựa trên trình độ kỹ thuật công nghệ ngày càng hiện đại và không ngừng hoàn thiện
Chúng ta không chỉ dừng lại ở việc cơ khí hoá các tư liệu sản xuất mà còn ngày càng hiện đại hoá ở trình độ công nghệ tiên tiến và thường xuyên đổi mới Đây là một nhiệm vụ khó khăn và mang tính chất quyết định đối với sự sống còn của mỗi quốc gia Chỉ có tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất hiện đại mới có thể làm thay đổi căn bản đời sống vật chất cũng như tinh thần của xã hội, đẩy nhanh tốc độ phát triển tăng năng suất lao động, ngày càng thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu của nhân dân Công nghiệp hoá hiện đại hoá chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật đó
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa được hiểu là “Quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công
là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiêu biểu hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động cao”
Như vậy, trong điều kiện thế giới đang chuyển từ văn minh công nghiệp sang hậu công nghiệp, nhiều nước châu Á đã chọn con đường “công nghiệp hoá đuổi kịp để nhanh chóng hoà nhập vào nền văn minh hiện đại, biến những vùng nghèo nàn lạc hậu trước đây thành những xã hội hiện đại” Các nước này đã tạo nên những kinh nghiệm bổ ích, thiết thực cho các nước đang phát triển trong đó có nước ta
Ở các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng công nghiệp hoá là điều cấp bách sống còn Công nghiệp hoá là chìa khóa của sự phát triển đặc biệt gắn chặt với sự tăng trưởng bởi vì “công nghiệp hoá chẳng phải là cái gì khác ngoài một phương tiện đặc biệt mạnh mẽ để tăng năng suất của con người qua đó mà tăng số lượng sản phẩm, tính đa dạng và số lượng sản phẩm Các nước gọi là phát triển khác hẳn các nước khác chính là ở chỗ là công nghiệp hoá”
Công nghiệp hoá tạo nên nền kinh tế hiện đại với những ưu thế nổi bật: năng suất cao, cơ cấu sản xuất đa dạng, công ăn việc làm phong phú hơn nhiều so với một nền kinh tế chưa công nghiệp hoá
Để đạt được hiệu quả cao thì công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp với những bước tiến tuần tự về công nghệ vận dụng phát triển chiều rộng, tạo nhiều công ăn việc
8
Trang 9làm cho đội ngũ đông đảo lao động hiện nay Với việc tranh thủ với bước đi tắt đón đầu phát triển chiều sâu tạo nên những mũi nhọn theo trình độ phát triển của khoa học và công nghệ trên thế giới Khoa học và công nghệ hiện đại là nhân tố then chốt của hiện đại hóa, nhưng hiện đại hoá có nội dung sâu sắc và rộng lớn hơn nhiều, bao gồm các mặt kinh tế, chính trị và văn hoá
Hiện đại hoá là quá trình mà nhờ đó các nước đang phát triển tìm cách đạt được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiến hành cải cách chính trị và củng cố xã hội của họ nhằm tiến tới một hệ thống kinh tế xã hội chính trị văn minh tiên tiến Công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước con người những vấn đề nan giải cả trong quan hệ giữa con người với con người và con người với thiên nhiên Để giải quyết những vấn đề này chúng ta phải thay đổi sâu sắc cách nhìn, cách nghĩ và hành động của mình Nắm bắt được tư tưởng đó, Đảng ta đã xác định thực chất của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là quá trình thực hiện cách mạng kỹ thuật, thực hiện sự phân công mới về lao động xã hội là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa để không ngừng quá trình tái sản xuất mở rộng Đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa được xác định là ưu tiên cho phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Như vậy, không còn như trước kia coi công nghiệp nặng là công nghiệp hàng đầu tuyệt đối
Công nghiệp hóa và hiện đại hoá có những nét riêng đối với từng nước nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quá trình chuyển đổi có tính chất phổ biến cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước mà thôi Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là quá trình rộng lớn và phức tạp, bản chất của quá trình này bao gồm các mặt sau:
- Trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại cho nền kinh tế
- Xây dựng một cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý
Thực hiện tốt công nghiệp hoá và hiện đại hoá có ý nghĩa vô cùng to lớn: làm thay đổi lực lượng sản xuất thay đổi căn bản công nghệ kỹ thuật, công nghệ sản xuất tăng năng suất lao động tạo ra tốc độ phát triển cao, thực hiện xã hội hoá về mặt khoa học kỹ thuật Hơn thế nữa trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mối quan hệ giữa các ngành là rất phức tạp và đa dạng đòi hỏi phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý, điều tiết vĩ mô của nhà nước, tạo khả năng tích lũy vốn Tất cả chỉ có thể thực hiện nhờ quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá Chỉ có công nghiệp hóa và hiện đại hoá mới có khả năng thực tế để quan tâm phát triển tự do toàn diện của yếu tố con người tạo khả năng mở rộng hợp tác quốc tế và củng cố quốc phòng
Với tất cả ý nghĩa to lớn trên, công nghiệp hoá và hiện đại hoá là tất yếu và mang tính khách quan là nội dung và con đường duy nhất đúng đắn để dựa trên kinh tế xã hội nước ta
Trang 10phát triển nhanh, bền vững, có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
2.2 Tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thực hiện đúng đắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ có những tác dụng to lớn
về nhiều mặt trong sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước:
Tạo điều kiện thay đổi về chất nền sản xuất xã hội, tăng năng suất lao động, tăng sức chế ngự của con người đối với thiên nhiên, tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội
Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước, nâng cao năng lực quản lý, khả năng tích lũy và phát triển sản xuất, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, giúp cho sự phát triển tự do toàn diện của con người trong mọi hoạt động kinh tế –
xã hội
Tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học và công nghệ phát triển nhanh đạt trình độ tiên tiến hiện đại Tăng cường lực lượng vật chất – kỹ thuật cho quốc phòng, an ninh; bảo đảm đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ngày càng được cải thiện Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đủ sức thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế
3 Nội dung các vấn đề cơ bản về công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam
3.1 Tạo lập những điều kiện để có thể thực hiện chuyển đổi từ nền sản xuất - xã hội lạc hậu sang nền sản xuất - xã hội tiến bộ
Muốn thực hiện chuyển đổi trình độ phát triển đòi hỏi phải dựa trên những tiền đề trong nước và quốc tế để tạo lập các điều kiện cần thiết trên tất cả các mặt của đời sống sản xuất
-xã hội Đó chính là đồng thời thực hiện phát triển tư duy, thể chế và nguồn lực; môi trường quốc tế thuận lợi và trình độ văn minh của xã hội, ý thức xây dựng xã hội văn minh của người dân
3.2 Thực hiện các nhiệm vụ để chuyển đổi nền sản xuất - xã hội lạc hậu sang nền sản xuất - xã hội hiện đại
3.2.1 Đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ mới, hiện đại
Quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ mới, hiện đại vào tất cả các ngành, các vùng, các lĩnh vực của nền kinh
tế và cũng cần phải có sự lựa chọn cho phù hợp với khả năng, trình độ và điều kiện thực tiễn trong từng giai đoạn Ứng dụng khoa học - công nghệ mới, hiện đại phải được tiến hành đồng
bộ, cân đối thì mới đem lại hiệu quả cao