1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chứng minh sức lao động là một hàng hóa đặc biệt từ đó liên hệ đến việc học tập của bản thân để sau khi tốt nghiệp có thể gia nhập thị trường lao động một cách thuận lợi hoặc khởi nghiệp thành công

31 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 793,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hiểu rõ hơn vấn đề này, nhóm chúng em chọn nghiên cứu đề tài: “Chứng minh sức lao động là một hàng hóa đặc biệt từ đó liên hệ đến việc học tập của bản thân để sau khi tốt nghiệp có th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

một cách thuận lợi hoặc khởi nghiệp thành công.

GIẢNG VIÊN: HOÀNG VĂN MẠNH NHÓM: 4

MÃ LỚP HỌC PHẦN: 2151RLCP1211

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

A LÝ THUYẾT 3

I Sức lao động là một loại hàng hóa 3

1 Khái niệm hàng hóa 3

2 Khái niệm sức lao động 3

3 Điều kiện để sức lao động trở thành một hàng hóa 3

II Hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt 4

1 Thuộc tính giá trị của hàng hóa sức lao động 4

2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động 5

KẾT LUẬN PHẦN LÝ THUYẾT 5

B LIÊN HỆ THỰC TẾ 8

I Thực trạng thị trường lao động Việt Nam hiện nay 8

1 Thị trường lao động Việt Nam 8

2 Thực trạng thị trường lao động Việt Nam giai đoạn 2019-2021 9

2.1 Thực trạng thị trường lao động Việt Nam năm 2019 9

2.2 Thực trạng thị trường lao động Việt Nam năm 2020 10

2.3 Thực trạng thị trường lao động Việt Nam 2021 ( 9 tháng đầu năm 2021) 11

2.3.1 Lực lượng lao động trong 9 tháng đầu năm 2021 11

2.3.2 Lao động có việc làm trong 9 tháng đầu năm 2021 12

2.3.3 Lao động thiếu việc làm trong 9 tháng đầu năm 2021 12

2.3.4 Thu nhập của người lao động trong 9 tháng đầu năm 2021 13

2.3.5 Thất nghiệp trong độ tuổi lao động trong 9 tháng đầu năm 2021 13

2.3.6 Lao động tự sản tự tiêu trong 9 tháng đầu năm 2021 14

2.4 Nhận xét đánh giá và đề xuất 14

II Liên hệ đến việc học tập của bản thân 16

Bài của bạn Hoàng Thị Phương Oanh 16

Bài của bạn Nguyễn Thị Hồng Nhung 19

Bài của bạn Thiều Thị Nhung 22

Bài của bạn Nguyễn Thị Nguyệt 24

Bài của bạn Tường Hồng Nhung 27

KẾT LUẬN 30

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm qua nền kinh tế nước ta dần dần chuyển nền kinh tế từ kế hoạchhoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, nhiều thị trường của nước ta đã từng bước đượchình thành và phát triển, song trình độ phát triển còn thấp so với các nước và sự phát triểncủa nó còn thiếu đồng bộ Một trong những thị trường được hình thành đó là thị trườngsức lao động (hay còn gọi là thị trường lao động) Cho đến nay vẫn còn chưa có nhận thức

rõ và thống nhất về thị trường sức lao động Trước đổi mới, chúng ta hầu như không thừanhận thị trường sức lao động Trong điều kiện hiện nay, việc thừa nhận nó là tất yếu BộLuật Lao động đã được ban hành ngày 23/6/1994 và tiếp đó là một loạt các nghị định củaChính phủ hướng dẫn thi hành Bộ Luật Lao động đã có những tác động tích cực đến việchình thành khuôn khổ pháp lý cho thị trường này Sức lao động được coi là một hàng hoáđặc biệt, tiền lương được coi là mức giá của sức lao động và được quyết định bởi sự thoảthuận giữa hai bên Cả người lao động và người sử dụng lao động đều có những quyền cơbản đảm bảo cho việc tham gia thị trường lao động Để hiểu rõ hơn vấn đề này, nhóm

chúng em chọn nghiên cứu đề tài: “Chứng minh sức lao động là một hàng hóa đặc biệt từ

đó liên hệ đến việc học tập của bản thân để sau khi tốt nghiệp có thể gia nhập thị trường lao động một cách thuận lợi hoặc khởi nghiệp thành công.”

Trang 4

A LÝ THUYẾT

I Sức lao động là một loại hàng hóa

1 Khái niệm hàng hóa

Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của conngười thông qua trao đổi, mua bán

2 Khái niệm sức lao động

Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và năng lựctinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ravận động mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó

3 Điều kiện để sức lao động trở thành một hàng hóa

Không phải tự nhiên mà sức lao động được gọi là một loại hàng hóa đặc biệt Để trởthành hàng hoá, sức lao động bắt buộc phải đạt điều kiện cụ thể sau:

 Thứ nhất, người lao động phải tự do về thân thể Tự do ở đây có nghĩa là khôngphải phụ thuộc vào bất kỳ ai, người lao động có thể chi phối, sử dụng sức lao động củamình Người lao động sẽ trao đổi, bán sức lao động của mình như một loại hàng hoáthông thường

 Thứ hai, người có sức lao động phải không có tư liê ou sản xuất Họ trở thành người

“vô sản” Để tồn tại buộc họ phải bán sức lao động của mình để sống

 Hai điều kiện trên buộc phải tồn tại đồng thời sức lao động mới trở thành hànghoá Nếu không có một trong hai điều kiện bắt buộc kia, sức lao động chỉ là sức lao động

mà thôi Tuy nhiên hàng hóa sức lao động bước đến sự phát triển vượt bậc khi chủ nghĩa

tư bản đang ở thời kỳ đỉnh cao Đó là nền tảng quan trọng để đánh dấu sự vượt bậc củavăn minh nhân loại Khi mà cả hai điều kiện ở trên cùng tồn tại một cách song hành thìsức lao động sẽ tạo thành một loại hàng hóa tất yếu và hiển nhiên Xét trên thực tế thìhàng hóa sức lao động đã có mặt từ trước thời điểm xã hội tư bản chủ nghĩa Tuy nhiênchỉ đến lúc tư bản chủ nghĩa đã được hình thành thì chúng mới được khẳng định và trởnên phổ biến Cũng tại thời điểm này thì sự bóc lột lao động cũng không còn mà thay vào

đó chính là sự thỏa thuận theo dạng “thuận mua - vừa bán” - đánh dấu một bước ngoặtcực văn minh ra đời

Dưới chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó Một mặt, cách mạng tưsản đa giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể vào chủ nô và chúa phongkiến Mặt khác, do tác động của quy luật giá trị và các biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ của

Trang 5

tư bản đa làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản và tập trung tưliệu sản xuất vào trong tay một số ít người Việc mua bán sức lao động được thực hiệndưới hình thức thuê mướn Quan hệ làm thuê đã tồn tại khá lâu trước chủ nghĩa tư bản,nhưng không phổ biến và chủ yếu được sử dụng trong việc phục vụ nhà nước và quốcphòng Chỉ đến chủ nghĩa tư bản nó mới trở nên phổ biến, thành hệ thống tổ chức cơ bảncủa toàn bộ nền sản xuất xã hội.

Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định sự chuyển hoátiền thành tư bản

II Hàng hóa sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt

1 Thuộc tính giá trị của hàng hóa sức lao động

Giá trị hàng hóa sức lao động được xác định dựa trên thời gian lao động xã hội cầnthiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động

Giá trị hàng hóa sức lao động có thể được đo lường gián tiếp bằng giá trị của các tưliệu sinh hoạt cần thiết như: lương thực, thực phẩm, quần áo, điện, nước, tiền đi lại, tiềnthuê nhà, tiền thuốc men… để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, để duy trì đời sốngcủa công nhân làm thuê và gia đình họ

Là hàng hóa đặc biệt, giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường

ở chỗ nó bao gồm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử của từng quốc gia, từng phong tụctập quán trong từng thời kỳ, trình độ văn minh, điều kiện địa lý, khí hậu, quá trình hìnhthành giai cấp công nhân Điều này thể hiện ở chỗ ngoài nhu cầu về vật chất, công nhâncòn có những nhu cầu về tinh thần như vui chơi, giải trí, học tập, tiếp nhận thông tin, giaolưu văn hóa được phân tích rất rõ trong tháp nhu cầu của Maslow Tuy nhiên, tại mộtquốc gia và thời kỳ lịch sử nhất định tư liệu sinh hoạt cần thiết có thể được xác định dựatrên 3 thành tố:

 Thứ nhất: Giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết đủ để duy trì sức lao động của mộtngười lao động

 Thứ hai: Chi phí đầu tư vào học việc cho lao động

 Thứ ba: Giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết đáp ứng đủ cho nhu cầu gia đình củangười lao động

Trang 6

2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

Nếu tính đúng theo nguyên tắc ngang giá trong nền kinh tế thị trường thì giá cả củahàng hóa sức lao động phải phản ánh lượng giá trị của hàng hóa sức lao động

- Giá trị sử dụng của sức lao động là để thỏa mãn nhu cầu của người mua.

Khác với nhu cầu thông thường, khi sử dụng hàng hóa sức lao động, người muahàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăngthêm Giá trị sử dụng của sức lao động là công dụng của sức lao động và nó được thể hiệntrong quá trình tiêu dùng sản xuất của nhà tư bản

Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, nó mang yếu tố tinh thần và lịch

sử Hơn thế, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt mà các khóathông thường không có được, đó chính là trong khi sử dụng, không những giá trị của nóđược bảo tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn Đây chính là chìa khóa chỉ rõnguồn gốc của giá trị lớn hơn nêu trên do đâu mà có Nguồn gốc của giá trị thặng dư là dohao phí sức lao động mà có

KẾT LUẬN PHẦN LÝ THUYẾT

Sức lao động chính là một loại hàng hóa đặc biệt Bởi trong bất kỳ xã hội nào,

sức lao động cũng đều là yếu tố hàng đầu của quá trình lao động sản xuất Tuy nhiênkhông phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá Sức lao động chỉ biến thành hàng hoákhi có hai điều kiện sau: Một là; người lao động phải được tự do về thân thể, do đó có khảnăng chi phối sức lao động của mình Hai là: người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sảnxuất không thể tự tiến hành lao động sản xuất Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mớibuộc phải bán sức lao động của mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống Sự tồn tạiđồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hoá đặcbiệt

Hàng hoá Sức lao động là hàng hoá đặc biệt Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá

- sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng Nhưng, sức lao động chỉtồn tại trong cơ thể sống của con người Nó đặc biệt ở chỗ để sản xuất và tái sản xuất ranăng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định Sốlượng giá trị sức lao động được xác định bằng số lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt đểduy trì cuộc sống của người có sức lao động ở trạng thái bình thường khác với hàng hoáthông thường, giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử

Tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể hiện đó là: Thứ nhất, sự khácbiệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với giá trị sử dụng của các hàng hoákhác là ở chỗ, khi tiêu dùng hàng hoá sức lao động, nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn giátrị của thân giá trị sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư Như vậy, hàng

Trang 7

hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Đó là đặc điểm cơ bản nhấtcủa giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá khác Nó là chìa khoá

để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Như vậy, tiền chỉ thành tư bảnkhi sức lao động trở thành hàng hoá Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hoá sức laođộng vì vậy, việc cung ứng sức lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh

tế, xa hội của người lao động Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vàocon người với những đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường lao động thì con người lại

có ảnh hưởng quyết định tới cung

Để làm rõ kết luận này, chúng ra sẽ cùng nhau xét một ví dụ để thấy được sức laođộng chính là một loại hàng hóa đặc biệt

Ví dụ: Giả sử sản xuất giá trị thặng dư được thực hiện dưới hình thái sản xuất cụ thể là

sản xuất sợi và trong quá trình sản xuất này, nhà tư bản thuần túy chỉ đóng vai trò là chủ

sở hữu và chỉ có người công nhân là người lao động trực tiếp

Để tiến hành sản xuất áo, nhà tư bản phải ứng ra số tiền như sau:

 100 USD để mua 100 kg bông,

 10 USD hào mòn máy móc để kéo 100kg bông thành sợi,

 25 USD mua hàng hóa sức lao động để sử dụng trong 1 ngày làm việc 8 giờ vàđiều này được người công nhân thỏa thuận chấp nhận

→ Như vậy, nhà tư bản phải ứng ra tổng số 135 USD

Trong quá trình sản xuất sợi, bằng lao động cụ thể, người xông nhân biến bông thànhsợi Giá trị của bông và hao mòn máy móc được chuyển vào giá trị của sợi Bằng lao độngtrừu tượng người công nhân tạo ra giá trị mới, giả định, trong 4 giờ lao động công nhân đãchuyển toàn bộ 100kg bông thành sợi Giá trị sợi bao gồm:

 Giá trị 100kg bông chuyển vào: 100 USD

 Hao mòn máy móc: 10 USD

 Giá trị mới bằng giá trị sức lao động: 25 USDTổng cộng: 135 USD

Nhà tư bản ứng ra 135 USD, giả định sợi được bán hết, thu về 135 USD Nếu quátrình lao động dừng lại tại điểm này thì không có giá trị thặng dư, tiền ứng ra chưa trởthành tư bản

Để có giá trị thặng dư, thời gian lao động phải vượt quá cải điểm bù lại giá trị sức laođộng Lúy ý là nhà tư bản mua sức lao động của công nhân để sử dụng trong 8 giờ (với 25USD như đã thỏa thuận), không phải 4 giờ

Công nhân phải tiếp tục làm việc trong 4 giờ nữa Trong 4 giờ này, nhà tư bản chỉphải bỏ thêm 100 USD để mua 100kg bông và 10 USD hao mòn máy móc

Quá trình lao động 4 giờ sau diễn ra như quá trình đầu Số sợi được tạo ra trong 4 giờlao động sau cũng có giá trị 135 USD Con số này bao gồm:

 Giá trị của bông chuyển vào: 100 USD

Trang 8

 Hao mòn máy móc: 10 USD

 Giá trị mới tạo thêm: 25 USD

Sau khi được bán hết, giá trị thu về sau 8h lao động của công nhân là: 135 USD + 135USD = 270 USD

Tổng cộng, nhà tư bản ứng ra 200 USD + 20 USD + 25 USD = 245 USD, trong khi

đó số sợi sản xuất ra có giá trị 270 USD

Do đó, nhà tư bản thu được lượng giá trị thặng dư là: 270 USD - 245 USD = 25 USD.Phần chênh lệch này là giá trị thặng dư Đây là giá trị mới do người lao động tạo rangoài hao phí lao động tất yếu Phần giá trị mới này nhà tư bản nắm lấy do địa vị là ngườichủ sở hữu

Như vậy, giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động docông nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho nhà tư bản

Trang 9

LIÊN HỆ THỰC TẾ

I

Thực trạng thị trường lao động Việt Nam hiện nay

1 Thị trường lao động Việt Nam

Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ với nguồn nhânlực dồi dào Nhìn chung thì mỗi năm Việt Nam tăng khoảng gần 1 triệu người bước vào

độ tuổi lao động, đây là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của Việt Nam trong việc thu hútđầu tư nước ngoài góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Việt Nam có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN

Xét cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính, tỷ lệ lao động nam lại nhiều hơn nữvới trên 50% lao động là nam giới

Hiện nay, lực lượng lao động vẫn tập trung đông nhất ở khu vực Đồng bằng sôngHồng (chiếm trên 22%), tiếp đến là khu vực Bắc trung bộ, Duyên hải miền Trung (trên21%) và Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn lao động phân bố chưa đồng đều chưa hợp lý giữa các vùng và giữa cácngành kinh tế nói chung trong đó đại bộ phận lao động cả nước phân bố ở đồng bằngtrong các ngành nông nghiệp Ở đồng bằng thì thừa lao động và thiếu việc làm nhưngmiền núi trung du thiếu lao động, thừa việc làm ở các vùng miền núi trung du khôngnhững thiếu lao động về số lượng mà thiếu lao động về chất lượng cao cho nên sự phân

bố lao động bất hợp lý → các nguồn TNTN ở trung du và miền núi chưa được lôi cuốnvào quá trình sản xuất → nền kinh tế kém phát triển

Cơ cấu lực lượng lao động phân theo 2 khu vực thành thị và nông thôn cũng có sựchênh lệch lớn Nhìn chung, lực lượng lao động ở nước ta chủ yếu tập trung ở khu vựcnông thôn (69,3%) cao gấp đôi ở thành thị (30,7%), cơ cấu lao động chưa qua đào tạochiếm tỷ lệ cao (70,1%) con số này có xu hướng giảm qua các năm nhưng vẫn ở mứccao

Nguồn lao động nước ta vốn có bản chất cần cù, năng động, khéo tay, có khả năngtiếp thu KHKT nhanh và trình độ lao động liên tục được nâng cao Nhưng về chất lượngthì nhìn chung nguồn lao động nước ta với trình độ chuyên môn kỹ thuật tay nghề cònthấp, lao động thủ công là chính và vẫn còn thể hiện rất rõ sự thiếu tác phong

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên năm 2020 là24,1%, cao hơn 1,3% so với năm 2019, tuy nhiên vẫn còn thấp Tỷ lệ qua đào tạo của lao

Trang 10

động khu vực thành thị đạt 39,9%, cao hơn 2,5 lần khu vực nông thôn (16,3%) Cơ cấulao động đã qua đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu thực tiễn Các định chế trung gian,chính sách an sinh và bảo hiểm của thị trường lao động còn yếu, độ bao phủ thấp, chưađạt hiệu quả cao.

Từ năm 2010 đến nay, tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước duy trì dưới 3%, tỷ lệthất nghiệp khu vực thành thị dưới 4% Tuy nhiên, thị trường lao động vẫn tồn tại nhữnghạn chế, bất cập như: chất lượng việc làm, chất lượng lao động còn thấp, còn thiếu nhiềulao động kỹ thuật trình độ cao, lao động trong một số ngành công nghiệp mới Đến nay, tỉ

lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mặc dù đã có sự gia tăng nhưng vẫn còn rấtthấp, mới chỉ đạt trên 24,1%

Bên cạnh đó, lực lượng lao động tại Việt Nam ngày một già hóa với lao động caotuổi tăng mạnh, lao động trẻ giảm và không đủ thay thế lực lượng lao động đang già hóa.Năm 2019 tuổi bình quân là 41 tuổi, tuổi trung vị là 40 tuổi

2 Thực trạng thị trường lao động Việt Nam giai đoạn 2019-2021

2.1 Thực trạng thị trường lao động Việt Nam năm 2019

- Quy mô và phân bố lực lượng lao động: Lực lượng lao động trung bình cả nướcnăm 2019 là 55,77 triệu người, tăng so với năm trước 413 nghìn người (0,75%) Lựclượng lao động bao gồm 54,66 triệu người có việc làm và hơn 1,1 triệu người thất nghiệp

Nữ giới (47,3%) chiếm tỷ trọng thấp hơn nam giới (52,7%) Mặc dù có sự tăng lên về tỷtrọng lực lượng lao động ở khu vực thành thị trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn67,6% lực lượng lao động nước ta tập trung ở khu vực nông thôn

- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động Năm 2019, có hơn ba phần tư (chiếm 76,8%)dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực l ợng lao động Tỷ lệ tham gia lực lượng lao độngƣchênh lệch đáng kể giữa nam (81,9%) và nữ (71,8%) và không đồng đều giữa các vùng

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực nông thôn cao hơn khu vực thànhthị tới 11,0 điểm phần trăm Cả nam giới và nữ giới đều có sự chênh lệch này, song mức

độ chênh lệch của nữ giới (khoảng 12,0 điểm phần trăm) lớn hơn của nam giới (khoảng8,9 điểm phần trăm)

- Đặc trưng của lực lượng lao động:

a Tuổi

Có sự khác nhau đáng kể về phân bố lực lượng lao động theo tuổi giữa khu vựcthành thị và nông thôn Phần trăm lực lượng lao động nhóm tuổi trẻ (15- 24) và già (50tuổi trở lên) của khu vực thành thị thấp hơn của khu vực nông thôn Ngược lại, đối vớinhóm tuổi lao động chính (25-49) thì tỷ lệ này của khu vực thành thị lại cao hơn của khuvực nông thôn Điều này cho thấy, người lao động ở khu vực thành thị tham gia vào lực

Trang 11

l ợng lao động muộn hơn và ra khỏi lực lượng lao động sớm hơn so với người lao độngƣ

ở khu vực nông thôn

b Trình độ chuyên môn kỹ thuật

Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo ở nước ta vẫn còn thấp Trong tổng số55,77 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của cả nước, chỉ có khoảng12,7 triệu người đã được đào tạo, chiếm 22,8% tổng lực lượng Hiện cả nước có hơn 43,1triệu người (chiếm 77,2% lực lượng lao động) chưa được đào tạo để đạt một trình độchuyên môn kỹ thuật nhất định Nhờ vậy, nguồn nhân lực của nước ta trẻ và dồi dàonhưng trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật còn thấp

- Lực lượng lao động thanh niên:

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chung của thanh niên năm 2019 là 55,0% Có sựchênh lệch giữa nam (58,1%) và nữ (51,8%) và không đồng đều giữa các vùng Tỷ lệtham gia lực l ợng lao động thanh niên của khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thịƣtới 17,9 điểm phần trăm Cả nam giới và nữ giới đều có sự chênh lệch này, song mức độchênh lệch của nam giới (19,9 điểm phần trăm) lớn hơn của nữ giới (15,5 điểm phầntrăm) Có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng về tỷ lệ tham gia lực l ợng lao động thanhƣniên Trong khi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của thanh niên khu vực Trung du vàmiền núi phía Bắc đạt 72,8% thì tỷ lệ này của thanh niên ở vùng Đồng bằng sông Hồngchỉ là 46,2% Tỷ lệ tham gia lực l ợng lao động thanh niên của nam giới đều cao hơn nữƣgiới ở tất cả 6 vùng kinh tế - xã hội

2.2 Thực trạng thị trường lao động Việt Nam năm 2020

- Đại dịch Covid-19 khiến thị trường lao động Việt Nam năm 2020 gặp nhiều sónggió, lần đầu tiên trong 10 năm qua, nền kinh tế Việt Nam chứng kiến sự sụt giảm nghiêmtrọng về số người tham gia thị trường lao động và số người có việc làm Thu nhập bìnhquân của người lao động cũng theo đó bị thâm hụt Các chỉ tiêu về tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệthiếu việc làm đều tăng cao trái ngược hẳn với xu thế giảm trong các năm gần đây

- Quy mô và phân bố lực lượng lao động: Lực lượng lao động trung bình cả nướcnăm 2020 là 54,84 triệu người, giảm so với năm trước 924 nghìn người (tương đươnggiảm 1,66% so với năm 2019) Lực lượng lao động bao gồm 53,6 triệu người có việc làm

và hơn 1,2 triệu người thất nghiệp Nữ giới (47,4%) chiếm tỷ trọng thấp hơn nam giới(52,6%) Mặc dù có sự tăng lên về tỷ trọng lực lượng lao động ở khu vực thành thị trongnhững năm gần đây, nhưng vẫn còn 66,9% lực lượng lao động nước ta tập trung ở khuvực nông thôn

- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động Năm 2020, có gần ba phần tư (chiếm 74,4%)dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động, giảm 2,4 điểm phần trăm so vớinăm 2019 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam (79,9%) và nữ(69,0%) và không đồng đều giữa các vùng Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân sốkhu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị tới 15,1 điểm phần trăm Cả nam giới và nữgiới đều có sự chênh lệch này, song mức độ chênh lệch của nữ giới (khoảng 16,1 điểmphần trăm) lớn hơn của nam giới (khoảng 13,5 điểm phần trăm)

Trang 12

- Đặc trưng của lực lượng lao động:

a Tuổi

Có sự khác nhau đáng kể về phân bố lực lượng lao động theo tuổi giữa khu vựcthành thị và nông thôn Phần trăm lực lượng lao động nhóm tuổi trẻ (15- 24) và già (50tuổi trở lên) của khu vực thành thị thấp hơn của khu vực nông thôn Ngược lại, đối vớinhóm tuổi lao động chính (25-49) thì tỷ lệ này của khu vực thành thị lại cao hơn của khuvực nông thôn Điều này cho thấy, người lao động ở khu vực thành thị tham gia vào lựclượng lao động muộn hơn và ra khỏi lực lượng lao động sớm hơn so với người lao động ởkhu vực nông thôn

b Trình độ chuyên môn kỹ thuật

Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo ở nước ta vẫn còn thấp Trong tổng số54,82 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của cả nước, chỉ có khoảng13,2 triệu người đã được đào tạo, chiếm khoảng 24,0% tổng lực lượng lao động Hiện cảnước có hơn 41,6 triệu người (chiếm khoảng 76,0 % lực lượng lao động) chưa được đàotạo để đạt một trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định Như vậy, nguồn nhân lực củanước ta trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật còn thấp

- Lực lượng lao động thanh niên:

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chung của thanh niên năm 2020 là 49,4% Có sựchênh lệch giữa nam (52,4%) và nữ (46,3%) và không đồng đều giữa các vùng Tỷ lệtham gia lực lượng lao động thanh niên của khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thịtới 13,8 điểm phần trăm Cả nam giới và nữ giới đều có sự chênh lệch này, song mức độchênh lệch của nam giới (17,0 điểm phần trăm) lớn hơn của nữ giới (10,3 điểm phầntrăm)

2.3 Thực trạng thị trường lao động Việt Nam 2021 ( 9 tháng đầu năm 2021)

Trong 9 tháng đầu năm 2021, do ảnh hưởng của Covid-19 khiến cho thị trưởng laođộng gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ lao động có việc làm giảm mạnh, tỷ lệ thất nghiệp và thiếuviệc làm tăng lên mức cao nhất chưa từng thấy đặc biệt là quý III năm 2021 Thu nhậpbình quân tháng của người lao động sụt giảm nghiêm trọng so với quý trước và cùng kỳnăm trước

2.3.1 Lực lượng lao động trong 9 tháng đầu năm 2021

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 50,4 triệu người, giảm 250 nghìn người sovới cùng kỳ năm trước Tỷ lệ tham gia lao động là 67,6%, giảm 1,2 điểm phần trăm so vớicùng kỳ năm trước

Lao động đã qua đào tạo từ trình độ “Sơ cấp” trở lên là 13,1 triệu người, chiếm26,1% lực lượng lao động, tăng 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước

Hình 1: Lực lượng lao động, giai đoạn 2020 - 2021

Đơn vị tính: Triệu người

Trang 13

2.3.2 Lao động có việc làm trong 9 tháng đầu năm 2021

Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc là 49,0 triệu người,giảm 388,2 nghìn người sovới cùng kỳ năm trước Lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 14,1triệu người, (chiếm 28,8%), tăng 332,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vựccông nghiệp và xây dựng là 16,1triệu người (chiếm 33,9%), giảm 268,3 nghìn người sovới cùng kỳ năm trước; khu vực dịch vụ là 18,8 triệu người (chiếm 38,3%), giảm 452,8nghìn người so với cùng kỳ năm trước

Hình 2: Lao động có việc làm chia theo khu vực kinh tế, quý III các năm 2019-2021

Đơn vị: Triệu người

2.3.3 Lao động thiếu việc làm trong 9 tháng đầu năm 2021

Số lượng người thiếu việc làm là hơn 1,3 triệu người, tăng187,2 nghìn người so vớicùng kỳ năm trước

Hình 3: Số người và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động,

các quý năm 2020 và 2021

Trang 14

2.3.4 Thu nhập của người lao động trong 9 tháng đầu năm 2021

Thu nhập bình quân tháng của người lao động là 5,9 triệu đồng, gần như tươngđương so với cùng kỳ năm 2020 và giảm 34 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2019

Mặc dù chịu tác động mạnh mẽ do dịch bệnh nhưng thu nhập bình quân tháng củalao động làm công hưởng lương trong ngành nông, lâm nghiệp thủy sản tăng 4,7%, tươngứng tăng 210 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2020; ngành thông tin truyền thông tăng2,4%, tương ứng tăng 237 nghìn đồng; lao động trong ngành sản xuất và phân phối điện,khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 2,4%, tương ứng tăng 206 nghìn đồng

Hình 4: Thu nhập bình quân tháng của người lao động theo khu vực kinh tế, các quý

năm 2020 và năm 2021

Đơn vị tính: Triệu đồng

2.3.5 Thất nghiệp trong độ tuổi lao động trong 9 tháng đầu năm 2021

Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động là hơn 1,3 triệu người, tăng 126,5 nghìnngười so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,99%, tăng0,35 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước

Trang 15

Hình 5: Số người và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động, các quý năm 2020 và

năm 2021

2.3.6 Lao động tự sản tự tiêu trong 9 tháng đầu năm 2021

Số lao động làm công việc tự sản tự tiêu là hơn 4,3 triệu người, tăng gần 600 nghìnngười so với cùng kỳ năm trước Số lao động này chủ yếu ở khu vực nông thôn (chiếm90,4%)

2.4 Nhận xét đánh giá và đề xuất

 Đánh giá/Nhận xét

 Đánh giá chung thị trường hàng hóa sức lao động hiện nay tại Việt Nam:

Do dịch bệnh COVID-19 diễn biến căng thẳng từ đầu năm 2020 đến hiện tại đã ảnhhưởng rất lớn đến nền kinh tế và thị trường lao động không chỉ ở Việt Nam Thị trườnglao động hàng hóa sức lao động bất ổn định, sự mất cân bằng của cơ cấu các nhóm ngànhđặc biệt là dịch vụ, công nghiệp nhưng lao động trong ngành nông nghiệp lại tăng Đây làdấu hiệu không tích cực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta

 Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay:

- Có thể thấy rằng chất lượng lao động Việt Nam hiện nay còn thấp, chủ yếu là laođộng nông nghiệp, nông thôn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển: Nguồn cung laođộng ở Việt Nam hiện nay luôn xảy ra tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuậttrình độ cao, lao động một số ngành dịch vụ (ngân hàng, thông tin viễn thông, du lịch…)

và công nghiệp mới Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng, tay nghề, thểlực và tác phong lao động công nghiệp còn yếu nên khả năng cạnh tranh thấp

Ngày đăng: 04/08/2022, 09:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w