Về thuế quan, ban đầu, các nước thống nhất sẽ cắt giảm thuế quan trong nội bộASEAN xuống mức từ 0-5% trong giai đoạn 15 năm, tức là hoàn thành vào năm 2008.Tuy nhiên, vào tháng 9 năm 199
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Trang 2Mục lục:
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Cơ sở lý thuyết 1
1.1 Thuế quan 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Vai trò và tác động của Thuế quan 1
1.1.3 Phân loại thuế quan 2
1.2 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) 3
1.2.1 Giới thiệu chung về AFTA 3
1.2.2 Quy định của AFTA về hạn ngạch - thuế quan 4
II Thực trạng thuế quan của Việt Nam trước và sau khi gia nhập AFTA 5
2.1 Chính sách thuế quan của Việt Nam trước khi gia nhập AFTA 5
2.2 Chính sách thuế quan Việt Nam sau khi gia nhập AFTA 7
2.2.1 Sự thay đổi của các chính sách 7
2.2.2 Tác động của việc thay đổi chính sách thuế quan khi gia nhập AFTA đến nền kinh tế Việt Nam 11
2.3 Cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập AFTA 20
2.3.1 Cơ hội 20
2.3.2 Thách thức 22
KẾT LUẬN 24
Trang 3BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ NHÓM 1
Trang 4MỞ ĐẦU
Tự do hóa thương mại hiện nay không còn là một xu thế mà đã trở thành một thựctiễn sôi động và phổ biến của nền kinh tế thế giới Để phát triển, các quốc gia phải xâydựng mô hình “kinh tế mở”, chuyển từ xu hướng bảo hộ thương mại (bảo hộ mậu dịch)sang thương mại tự do nhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế mỗi nước
Tự do hóa thương mại không những tạo thuận lợi cho các nước đang phát triển mở rộngthị trường, có thêm vốn và công nghệ, tập hợp lực lượng để bảo vệ lợi ích của mình màcòn giúp cho các nước này cải cách cơ cấu và thể chế nền kinh tế
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) được thành lập năm 1992 trên cơ sởHiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và Hiệp định về Chương trình ưuđãi thuế quan có hiệu lực chung cho AFTA (CEPT) ký năm 1992 Theo đó, các rào cảnthương mại đối với hàng hóa dần được dỡ bỏ cùng với các hoạt động thuận lợi hóathương mại hàng hóa được xúc tiến AFTA đã và đang mang lại những lợi ích rất lớn chocác nền kinh tế thành viên, doanh nghiệp, người dân ASEAN Vậy việc thực thi các camkết về thuế quan của Việt Nam sau khi gia nhập AFTA cụ thể như thế nào? Điều này sẽđược phân tích trong bài thảo luận của Nhóm 1 chúng em với đề tài: “Thuế quan của ViệtNam trong bối cảnh thực hiện AFTA” Qua thực trạng ấy, chúng em cũng xin đưa ra một
số đánh giá về cơ hội và thách thức mà chính sách thuế quan của AFTA mang lại
Trang 51.1.2 Vai trò và tác động của Thuế quan
Vai trò của Thuế quan
Thuế quan trước hết là nhằm điều tiết hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu Lượng hànghóa xuất khẩu và nhập khẩu phụ thuộc vào sự tiêu thụ hàng hóa, yếu tố này lại phụ thuộcvào giá cả Giá cả lên xuống làm giảm hoặc tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Một bộphận quan trọng tác động đến sự lên xuống của giá cả hàng hóa ngoại thương đó là thuếquan Thuế quan đánh thấp hay đánh cao ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa, do
đó thông qua mức thuế quan đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu người ta gián tiếp điềutiết hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
Thứ hai, thuế quan có tác dụng bảo hộ thị trường nội địa vì đánh thuế cao vào nhữnghàng hóa nhập khẩu, giúp các nhà sản xuất trong nước bằng giá rẻ có thể cạnh tranh vớihàng hóa nhập khẩu Đặc biệt thuế quan giúp các xí nghiệp sản xuất non trẻ ở trong nước
có thời gian để phát triển và sinh lời nhằm có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu trongtương lai Vì những xí nghiệp non trẻ thường phải chi phí ban đầu cao, chưa có thị trườngrộng lớn nên những xí nghiệp này có thể bị bóp chết trong trường hợp thương mại tự dokhi bị hàng nhập khẩu cạnh tranh
Thứ ba, thuế quan có tác dụng tăng thu cho ngân sách quốc gia với chi phí rẻ hơn sovới nhiều loại thuế tiêu dùng, vì điểm thu thuế nhập khẩu ít hơn nhiều so với các điểmcủa loại thuế tiêu dùng
Ngoài ra, thuế nhập khẩu có tác dụng giảm bớt nạn thất nghiệp vì sản phẩm thay thếhàng nhập khẩu là do việc đánh thuế cao gây nên sẽ đòi hỏi mở thêm sản xuất tạo thêmcông ăn việc làm giải quyết bớt nạn thất nghiệp trong nội địa
Thuế quan là công cụ phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và gây áp lực đốivới các bạn hàng phải nhượng bộ trong đàm phán
Trang 6 Tác động của Thuế quan
Nhìn trên tổng thể, thuế quan có cả tác động tích cực lẫn tiêu cực cho từng nhóm lợi ích
Cụ thể:
- Mặt tích cực:
Thuế quan có thể bảo vệ các nhà sản xuất trong nước khỏi sựcạnh tranh từ nước ngoài Bằng cách làm tăng giá bán của hàngnhập khẩu
Mang lại nguồn thu nhập lớn cho nhà nước, chính phủ
- Mặt tiêu cực:
Thuế quan cũng đồng thời làm tăng giá của các mặt hàng nhậpkhẩu trong nước Điều này ảnh hưởng đến khả năng mua sắmhàng nhập khẩu của người dân tại Quốc gia đó Giá xe ô tô nhậpkhẩu quá đắt như Việt nam hiện nay chính là một biểu hiện rõnhất
Việc áp dụng thuế quan cũng làm giảm hiệu quả tổng thể củatoàn bộ nền kinh tế Bởi vì khoản thuế này sẽ khuyến khích cáccông ty nội địa sản xuất những sản phẩm Mà theo lý thuyết cóthể được sản xuất một cách hiệu quả hơn ở nước ngoài
1.1.3 Phân loại thuế quan
Tùy theo các chỉ tiêu phân loại, có thể phân chia thuế quan ra thành nhiều loại thế khácnhau, cụ thể:
- Theo đối tượng đánh thuế, thuế quan bao gồm: thuế quan xuất khẩu, thuế quannhập khẩu và thuế quan quá cảnh
- Theo phương pháp tính thuế, thuế quan bao gồm: thuế quan tính theo giá trị, thuếquan tính theo số lượng, thuế quan kết hợp
- Theo mức thuế, có thuế quan tối đa, thuế quan tối thiểu, thuế quan ưu đãi
- Theo mục đích, có thuế quan tài chính, thuế quan bảo hộ
1.2 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
1.2.1 Giới thiệu chung về AFTA
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA là cụm từ viết tắt của ASEAN FreeTrade Area là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong)
khối ASEAN Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại bỏ
Trang 7dần các hàng rào thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tục hảiquan giữa các nước.
Sáng kiến về AFTA vốn là của Thái Lan Sau đó hiệp định về AFTA được ký kết vàonăm 1992 tại Singapore Ban đầu chỉ có sáu nước là Brunei, Indonesia, Malaysia,Philippines, Singapore và Thái Lan (gọi chung là ASEAN-6) Các nước Campuchia, Lào,Myanma và Việt Nam được yêu cầu tham gia AFTA khi được kết nạp vào khối này Cóthể nói AFTA là một khu vực thương mại tự do lớn đóng vai trò quan trọng không chỉ vềmặt kinh tế mà còn là chính trị, văn hóa, đối ngoại
Hoàn cảnh ra đời:
Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong môitrường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEAN trước nhữngthách thức to lớn không dễ dàng vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ và nỗ lực vủatoàn hiệp hội, những thách thức đó là:
– Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệttrong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN ngày càng mất
đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế
– Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt như Khu vựcMậu dịch Tự do Bắc Mỹ và Khu vực Mậu dịch Tự do châu Âu của EU, NAFTA sẽ trởthành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hóa ASEAN khi thâm nhậpvào những thị trường này
– Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộng rãicho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên
và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nga và các nước Đông Âu đãtrở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòi hỏi ASEAN vừa phải mởrộng về thành viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầm hợp tác khu vực
Để đối phó với những thách thức trên, năm 1992, theo sáng kiến của Thái Lan, Hộinghị Thượng đỉnh ASEAN họp tại Singapore đã quyết định thành lập một Khu vực Mậudịch Tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA)
Mục đích ra đời:
Bên cạnh việc giảm thiểu và xóa bỏ những rào cản về mặt thuế quan đối với cácthành viên tham gia thì mục tiêu của tổ chức này còn lớn không kém Đó chính là việctăng lợi thế cạnh tranh của Asean với các nước trong khu vực Châu Á và toàn thế giới.Nói một cách dễ hiểu hơn là “chất xúc tác” để giúp Asean có thể thành cơ sở sản xuất
Trang 8trên thị trường thế giới Trở thành khu vực thu hút nhiều nguồn đầu tư, hợp tác đến từ các
“ông trùm” kinh tế của thế giới
1.2.2 Quy định của AFTA về hạn ngạch - thuế quan
Mục tiêu chiến lược của Hiệp định AFTA là tăng cường năng lực sản xuất và khảnăng cạnh tranh của ASEAN, thúc đẩy hiệu quả kinh tế trong một thị trường và cơ sở sảnxuất đơn nhất Trên cơ sở đó, nội dung cơ bản của AFTA là Chương trình ưu đãi thuếquan có hiệu lực chung (CEPT) với ba vấn đề chủ yếu, không tách rời là cắt giảm thuế,loại bỏ các hàng rào phi thuế và hài hòa các thủ tục hải quan
Về thuế quan, ban đầu, các nước thống nhất sẽ cắt giảm thuế quan trong nội bộASEAN xuống mức từ 0-5% trong giai đoạn 15 năm, tức là hoàn thành vào năm 2008.Tuy nhiên, vào tháng 9 năm 1994, tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 26, cácnước ASEAN quyết định đẩy tiến độ thực hiện AFTA sớm hơn 5 năm Theo đó, sáu nướcthành viên cũ là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan sẽ hoànthành CEPT (Chương trình thuế ưu đãi có hiệu lực chung) vào ngày 1 tháng 1 năm 2003.Bốn nước tham gia AFTA sau là Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam sẽ có thời hạnhoàn thành CEPT muộn hơn
Trong CEPT, các mặt hàng cũng được phân loại để đưa vào các lộ trình cắt giảmthuế khác nhau, tùy thuộc vào mức độ nhạy cảm của mặt hàng đó đối với nền kinh tếtừng nước thành viên Ngay từ khi mới thực hiện CEPT, hầu hết các mặt hàng thuộc diệntrao đổi thương mại trong ASEAN đều được đưa vào danh mục thông thường (IL) để cắtgiảm thuế về 0-5% theo lộ trình nhanh nhất Một phần nhỏ các mặt hàng nhạy cảm đượccác nước đưa vào danh mục nhạy cảm (SL), nhạy cảm cao (HSL) và danh mục loại trừ(GE) với lộ trình cắt giảm chậm hơn Đến nay, hơn 99% số dòng thuế của các nướcASEAN-6 đã được đưa về 0% và các nước CLMV cũng đã có gần 99% dòng thuế đượccắt giảm xuống 0-5%, đưa các nước ASEAN gần hơn bao giờ hết tới mục tiêu thiết lậpmột thị trường và cơ sở sản xuất đơn nhất, tạo tiền đề xây dựng Cộng đồng kinh tếASEAN
Để thiết lập được khu vực mậu dịch tự do, việc cắt giảm thuế quan cần phải đượctiến hành đồng thời với việc loại bỏ các hàng rào phi thuế quan Các hàng rào phi thuếquan bao gồm các hạn chế về số lượng (như hạn ngạch, giấy phép, v.v.), các khoản phụthu, các quy định về tiêu chuẩn chất lượng, v.v Các hạn chế về số lượng có thể được xácđịnh một cách dễ dàng, do đó, được quy định loại bỏ ngay đối với các mặt hàng trongChương trình CEPT được hưởng nhượng bộ từ các nước thành viên khác Tuy nhiên, việc
Trang 9xác định và loại bỏ các rào cản phi thuế quan khác phức tạp hơn rất nhiều và quy địnhphải được xóa bỏ dần dần trong vòng 5 năm sau khi sản phẩm được hưởng ưu đãi Ngoài
ra, CEPT cũng quy định việc các nước tiến tới thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, côngkhai chính sách và thừa nhận các chứng nhận chất lượng của nhau
Trên cơ sở Hiệp định CEPT, trong quá trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN,các nước thành viên đã đưa ra và cam kết thực hiện việc xóa bỏ các rào cản phi thuế theo
3 gói lịch trình là giai đoạn 2008-2010 đối với các nước ASEAN-6, giai đoạn 2010-2012đối với Phi-líp-pin và giai đoạn 2013-2015, linh hoạt tới 2018 đối với CLMV Hiện nay,việc xóa bỏ này vẫn đang được các nước ASEAN thực hiện theo kế hoạch đề ra Dự kiếntrong thời gian tới, ASEAN sẽ xây dựng một cơ chế phù hợp để rà soát và tổng hợp cácrào cản được loại bỏ
Việc đảm bảo thông thoáng, minh bạch các thủ tục hải quan, tạo thuận lợi chothương mại cũng là một nội dung cần thực hiện khi thiết lập khu vực thương mại tự doASEAN Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu ASEAN tiếnhành buôn bán trong nội bộ khu vực và để các cơ quan Hải quan các nước dễ dàng xácđịnh mức thuế cho các mặt hàng, ASEAN đã thống nhất một biểu thuế quan chung(AHTN) trên cơ sở Hệ thống hài hoà (HS) của Cơ quan hải quan thế giới (WCO) BiểuAHTN này được sửa đổi 5 năm một lần nhằm rà soát, cập nhật chính xác các mặt hàngđang được trao đổi, buôn bán trong khu vực ASEAN xây dựng Biểu AHTN 2012 để bắtđầu chính thức áp dụng từ đầu năm 2012 Mẫu tờ khai hải quan chung của khu vực đốivới các hàng hóa thuộc diện được hưởng thuế suất CEPT cũng đã được thống nhất; cácthủ tục hải quan được đơn giản và minh bạch hóa để việc trao đổi thương mại diễn ranhanh chóng, thuận tiện
II Thực trạng thuế quan của Việt Nam trước và sau khi gia nhập AFTA
2.1 Chính sách thuế quan của Việt Nam trước khi gia nhập AFTA.
Một số văn bản quy phạm pháp luật về thuế quan của Việt Nam trước khi gia nhập AFTA:
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch được ban hành ngày 29 tháng
12 năm 1987, có hiệu lực từ ngày 29 tháng 12 năm 1987
Luật 64-LTC/HĐNN8 về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được ban hành ngày 26tháng 12 năm 1991, có hiệu lực từ ngày 4 tháng 1 năm 1992
Trang 10 Văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩuđược ban hành ngày 5 tháng 7 năm 1993.
Pháp lệnh số 32-LCT/HĐNN8 về Hải quan, ban hành ngày 23 tháng 2 năm 1990,
có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 1990
Nghị quyết số 292/NQ-UBTVQH9 về chương trình giảm thuế nhập khẩu của ViệtNam để thực hiện Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung(CEPT) của các nước ASEAN, ban hành và có hiệu lực từ ngày 8 tháng 11 năm1995
Nghị quyết số 91/CP về ban hành Danh mục hàng hóa để thực hiện Hiệp định vềChương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEANcho năm 1996, được ban hành ngày 18 tháng 12 năm 1995 và có hiệu lực từ ngày
1 tháng 1 năm 1996
Quyết định số 280/TTg về việc ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhậpkhẩu kèm theo Nghị định số 54/CP ngày 28 tháng 8 năm 1993, được ban hànhngày 28 tháng 5 năm 1994
Chính sách thuế quan của Việt Nam trước khi gia nhập AFTA
Chính sách thuế quan giai đoạn này tập trung vào mục đích tăng thu ngân sách nhànước và hướng về xuất khẩu, bảo hộ và thúc đẩy nền sản xuất trong nước pháttriển trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động
Năm 1992, Luật thuế xuất nhập khẩu ra đời đã thống nhất được chế độ thu thuếgiữa hàng mậu dịch và hàng phi mậu dịch Vì vậy, đối tượng nộp thuế đã có sựthay đổi Thuế xuất nhập khẩu sẽ đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu của các tổchức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế thông qua cửa khẩu biên giới, khôngphân biệt đó là hàng hóa mậu dịch hay phi mậu dịch kể cả hàng hóa trong nướcđưa vào khu chế xuất vào thị trường trong nước
Giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu là giá mua tại cửa khẩu theo hợp đồngthương mại quốc tế, kể cả chi phí vận tải và bảo hiểm
Giá tính thuế của hàng hóa xuất khẩu là giá bán tại cửa khẩu theo hợp đồngthương mại quốc tế, không bao gồm chi phí vận tải và bảo hiểm
Một số hạn chế:
Thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này còn có một số hạn chế nhưsau:
Trang 11 Biểu thuế nhập khẩu có mức thuế suất khá là cao, bao gồm 36 mức áp dụng chohơn 3000 mặt hàng với mức chênh lệch thuế suất lớn (0% đến 120%).
Có quá nhiều thuế suất thấp hơn 5% (chiếm hơn 50% tổng danh mục hàng hóatrong Biểu thuế xuất nhập khẩu) Mức thuế cao chỉ tập trung vào một nhóm nhỏcác mặt hàng Điều này làm cho thuế suất được phân bổ không đều, khiến chochính sách bảo hộ chỉ tập trung vào một số mặt hàng, đồng thời làm hạn chếnguồn thu ngân sách nhà nước
Mức thuế suất khá cao trong giai đoạn này sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình ViệtNam gia nhập AFTA Bởi gia nhập AFTA sẽ giảm thuế gần như toàn bộ các mặthàng, trong đó có cả các mặt hàng có mức thuế cao trước khi Việt Nam tham giavào AFTA Khi mặt hàng có mức thuế suất khá cao được giảm thuế theo lộ trìnhxuống mức thấp sẽ làm nguồn thu ngân sách nhà nước bị thiếu hụt, ngành sản xuấtmặt hàng đó trong nước có thể chưa đủ sức cạnh tranh so với hàng nhập khẩu
Một số mặt hàng tiêu dùng trong nước chưa được sản xuất hoặc sản xuất với giácao và chất lượng chưa đạt tiêu chuẩn để thỏa mãn nhu cầu ngày càng thay đổi củangười tiêu dùng trong nước Tuy nhiên, một số mặt hàng tiêu dùng này được nhậpkhẩu lại có mức thuế suất khá cao, khiến cho giá thành của hàng hóa sau khi nhậpkhẩu cao hơn rất nhiều so với hàng hóa tương tự trong nước Điều này có thể dẫnđến việc các thương nhân sẽ có xu hướng gian lận thương mại gia tăng, do đó,công tác quản lý cũng gặp nhiều khó khăn hơn
Có thể nói rằng, thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trước khi gia nhập AFTA chủyếu đóng vai trò tăng thu ngân sách nhà nước, bảo hộ nền sản xuất trong nước còn nontrẻ Tuy nhiên, trẻ có thể hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, thay đổi chính sáchthuế quan phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện trong nước là điều tất yếu kháchquan
2.2 Chính sách thuế quan Việt Nam sau khi gia nhập AFTA
2.2.1 Sự thay đổi của các chính sách
Sau một năm khi Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á (ASEAN), năm 1996 Việt Nam tham gia vào Khu vực mậu dịch tự do củaASEAN (AFTA) - đây là những bước đi đầu tiên của Việt Nam thực hiện chiến lược đốingoại trên cơ sở đa phương hóa và đa dạng hóa các mối quan hệ với đối tác, trong đó lấyhợp tác kinh tế là nền tảng quan trọng Nội dung cơ bản của AFTA là Chương trình ưu đãi
Trang 12thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) với 3 vấn đề chủ yếu không tách rời nhau là cắtgiảm thuế, loại bỏ các hàng rào phi thuế và hài hòa hóa các thủ tục hải quan.
CEPT đề ra việc cắt giảm dần thuế nội khối đối với những sản phẩm liệt kê trongDanh mục CEPT xuống 0 - 5% thông qua một lộ trình cắt giảm có phân biệt giữa cácnước ASEAN - 6 và các nước CLMV Cụ thể là Việt Nam phải thực hiện việc giảm thuếnội khối xuống 0 - 5% vào năm 2006 Thông qua việc ký kết Nghị định thư sửa đổi Hiệpđịnh về Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung đối với Khu vực thương mại tự
do ASEAN (AFTA) đối với việc xóa bỏ thuế nhập khẩu, các nước ASEAN - 6 cam kếtxóa bỏ tất cả thuế nhập khẩu vào năm 2010 và 2015, còn đối với các nước CLMV linhhoạt đến năm 2018
Việt Nam đã có những thay đổi mạnh mẽ, chấp nhận cạnh tranh, chấp nhận nhữngnguyên tắc trong kinh tế thị trường ở mức độ của khu vực và liên khu vực Kể từ khichính thức ký thỏa thuận tham gia CEPT/AFTA, Việt Nam đã nghiêm chỉnh thực hiện cáccam kết đã ký kết với các nước ASEAN, trong đó có các cam kết về thuế và hải quan Cụthể như sau:
*Cắt giảm thuế quan:
Bản chất của CEPT là thỏa thuận giảm thuế trong nội bộ khối xuống còn 0 - 5%,tiến tới xóa bỏ các hạn ngạch nhập khẩu và những hàng rào phi quan thuế khác Việt Nambắt đầu thực hiện lộ trình giảm thuế từ ngày 01/01/1996, đưa 875 mặt hàng đầu tiên vàothực hiện CEPT, ở khung thuế suất 0 - 5% Đến năm 2003, mức thuế suất trung bình củaViệt Nam chỉ hơn 2%, là mức thuế suất trung bình thấp thứ ba trong ASEAN, sauSingapore và Brunei
Trên cơ sở các thỏa thuận đã ký kết, hàng năm Bộ Tài chính đã ban hành thông tưquy định chi tiết danh mục các mặt hàng thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu đối với hànghóa có xuất xứ ASEAN và cắt giảm thuế xuất khẩu theo cam kết với các nước ASEAN.Theo quy định của Hiệp định CEPT, các mặt hàng của Việt Nam được chia thành 2 nhómchính:
- Nhóm các mặt hàng cắt giảm và xóa bỏ thuế quan: chiếm hầu hết các mặt hàng, có lộ
trình giảm thuế từ năm 1996, giảm thuế suất xuống mức 0 - 5% vào năm 2006 và xoá bỏthuế quan vào năm 2015, một số mặt hàng được linh hoạt đến 2018 Ngoài ra, các mặthàng công nghệ thông tin (phù hợp với diện mặt hàng của WTO) sẽ được xoá bỏ thuếquan trong 3 năm: 2008 - 2010 Đồng thời các mặt hàng thuộc lĩnh vực ưu tiên hội nhập(12 lĩnh vực) sẽ được xóa bỏ sớm hơn là vào năm 2012, trong đó có 9 lĩnh vực hàng hoá
Trang 13gồm: gỗ và sản phẩm gỗ, ô tô, cao su, dệt may, sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản, điện tử,công nghệ thông tin, y tế.
- Nhóm hàng nông sản nhạy cảm: gồm 89 dòng thuế là các mặt hàng nông sản chưa chế
biến, gồm một số loại gạo, hoa quả, thực phẩm, đường Những mặt hàng này không phảixoá bỏ thuế quan, có lộ trình giảm thuế từ năm 2004 xuống mức thuế suất cao nhất là 5%vào năm 2013 Để bảo vệ sức khỏe con người, môi trường, giá trị văn hóa, đạo đức hay
an ninh, quốc phòng, các nước được phép loại trừ (không phải cắt giảm thuế) những mặthàng vì mục đích này Trên cơ sở đó, mỗi nước đã tự xây dựng một Danh mục các mặthàng để loại trừ khỏi phạm vi thực hiện CEPT (GEL) và đã đưa vào đó những mặt hàngmang tính bảo hộ Chính vì vậy, trong vài năm gần đây, các nước đã ráo riết rà soát danhmục GEL để đưa vào cắt giảm thuế những mặt hàng không phù hợp Từ năm 2005 đếnnay, Việt Nam đã đưa nhiều mặt hàng GEL vào thực hiện CEPT, trong đó quan trọng nhất
là các thiết bị truyền phát (ra đa, điện thoại di động…), đồ uống có cồn và ô tô, xe máy.Danh mục GEL hiện nay của Việt Nam vẫn còn các mặt hàng mà các nước ASEAN cho
là không phù hợp, gồm: thuốc lá (thuốc lá điếu và nguyên liệu), xăng dầu
Tính đến hết năm 2014, Việt Nam đã thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu về 0%cho gần 6.900 dòng thuế có xuất xứ ASEAN, chiếm khoảng 72% trong tổng số 9.558dòng thuế nhập khẩu Có khoảng 7% dòng thuế, tương đương 687 mặt hàng được xem lànhạy cảm theo thỏa thuận với ASEAN chưa cắt giảm ngay về 0% trong năm 2015 màthực hiện dần đến năm 2018 và 3% số dòng thuế được loại trừ khỏi cam kết xóa bỏ thuếquan (bao gồm các mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm được phép duy trì thuế suất ở mức5%: Gia cầm sống, thịt gà, trứng gia cầm, quả có múi, thóc, gạo lứt, thịt chế biến, đường).Thông tư 165/2014/TT-BTC cũng quy định cụ thể lộ trình cắt giảm thuế đối với 7% sốmặt hàng nhạy cảm trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018 Qua đó, đã đảm bảorằng, đến năm 2018, ngoại trừ danh mục 3% dòng thuế trong danh mục loại trừ, toàn bộ
số dòng thuế còn lại được thực hiện cắt giảm
*Hài hòa hóa mã hàng hóa:
Để đảm bảo thuận lợi cho giao thương hàng hóa và thực hiện thỏa thuận vớiASEAN, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quyđịnh về phân loại và xác định mã hàng hóa Bằng việc ban hành Thông tư số 49/2010/TT-BTC ngày 12/4/2010 hướng dẫn việc phân loại, áp dụng mức thuế đối với hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu, Bộ Tài chính đã tiến một bước dài trong việc đưa các quy định vềhải quan của Việt Nam gần hơn với các thông lệ quốc tế và theo thỏa thuận ASEAN
Trang 14Theo đó, danh mục biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam được xây dựng trên cơ
sở Danh mục Biểu thuế quan hài hoà ASEAN (AHTN) Đây là danh mục hàng hoá củacác nước ASEAN được xây dựng trên cơ sở Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa(HS) của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO)
Năm 2014, Luật Hải quan ra đời, nhiều bất cập trong lĩnh vực hải quan đã đượcgiải quyết triệt để Đây là nền tảng để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện quy định về phân loạihàng hóa Trên cơ sở Luật Hải quan 2014 và các luật, nghị định có liên quan, ngày30/01/2015 vừa qua, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 14/2015/TT-BTC hướng dẫn
về phân loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa, phân tích để kiểm tra chất lượng,kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Điều này thể hiệnquyết tâm rất cao của Việt Nam trong thực hiện cam kết về thuế và hải quan hướng đếnthành lập AEC cuối năm 2015
Việt Nam đã tham gia tích cực vào hoạt động hợp tác hải quan với các nước Theo
đó, Việt Nam là một trong 7 quốc gia thuộc ASEAN thử nghiệm áp dụng Cơ chế hải quanmột cửa ASEAN (ASEAN Single Window - ASW) Mục tiêu của ASW là đẩy nhanh thờigian thông quan hàng hóa trong bối cảnh hội nhập ASEAN bằng cách đơn giản hóa, minhbạch hóa thủ tục hải quan trên cơ sở trao đổi thông tin đáng tin cậy và an toàn quaphương tiện điện tử Đến năm 2014, Việt Nam và 6 nước khác tham gia thử nghiệm đãkết nối thành công cổng ASW về trao đổi dữ liệu điện tử giấy chứng nhận xuất xứ (C/O)mẫu D và tờ khai hải quan điện tử
*Điều chỉnh hệ thống thuế nội địa:
Tuy không trực tiếp nằm trong nội dung cam kết với ASEAN, song trong nhữngnăm qua, hệ thống thuế nội địa của Việt Nam đã được điều chỉnh phù hợp với các camkết về thuế của Việt Nam với ASEAN, WTO và các cam kết quốc tế khác Quá trình điềuchỉnh ấy nhằm các mục tiêu chủ yếu sau đây: (i) Làm cho hệ thống thuế Việt Nam phùhợp với các thông lệ quốc tế; (ii) Đơn giản hóa và minh bạch hóa hệ thống thuế để nângcao hiệu lực, hiệu quả quản lý và tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sản xuất, kinh doanhphát triển; (iii) Xác định mức động viên hợp lý, đảm bảo số thu cho ngân sách để thựchiện các nhiệm vụ chi ngân sách phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước Nhìn lại quátrình cải cách hệ thống thuế những năm qua, về cơ bản, các mục tiêu nêu trên đã đượchiện thực hóa Cụ thể như sau:
Trang 15 Từng bước sửa đổi các sắc thuế chủ yếu trong hệ thống thuế theo hướng mở rộng
cơ sở thuế để bao quát nguồn thu và tăng thu hợp lý bù lại cho sự suy giảm nguồnthu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Điều chỉnh hợp lý thuế suất của các sắc thuế trong hệ thống thuế để vừa sức dân,vừa đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước Theo đó, thuế suất thuế thu nhậpdoanh nghiệp phổ thông đã nhiều lần được điều chỉnh giảm từ mức 32% đối vớidoanh nghiệp trong nước và 25% đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài thống nhất thành một mức 25% (năm 2004), xuống 20% vào năm
2016 Thuế thu nhập cá nhân từ mức cao nhất là 50% giảm xuống còn 35% (năm2009)
Ban hành thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thay thế cho thuế nhà đất (có hiệu lực
từ 01/01/2012) với những thay đổi cơ bản về căn cứ tính thuế theo hướng đảm bảotính thuế phù hợp với khả năng sinh lợi của đất và thúc đẩy sử dụng đất tiết kiệm,hiệu quả
Ban hành sắc thuế mới - thuế bảo vệ môi trường (có hiệu lực từ 01/01/2012) nhằmbuộc các nhà sản xuất sản phẩm gây ô nhiễm hoặc nhập khẩu sản phẩm gây ônhiễm môi trường phải tính đủ chi phí xã hội vào giá thành sản phẩm; tạo nguồnthu bổ sung để Nhà nước thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường
Ban hành Luật Quản lý thuế (có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007) nhằm thống nhấtcác quy định pháp luật về quản lý thuế và tạo nền tảng pháp lý thực hiện minhbạch hóa và đơn giản hóa các thủ tục quản lý thuế Đặc biệt, trong 2 lần sửa đổi,
bổ sung gần đây (Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế năm
2012 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế năm 2014), nhiềuthay đổi về thuế đã hướng mạnh đến cắt giảm thủ tục về thuế với mục tiêu giảmthời gian thực hiện để người nộp thuế thực hiện các thủ tục về thuế ở Việt Namtương đồng với các nước ASEAN Năm 2014 đã giảm thời gian làm thủ tục vềthuế từ 872 giờ xuống còn 537 giờ và phấn đấu xuống còn 171 giờ vào năm 2015
2.2.2 Tác động của việc thay đổi chính sách thuế quan khi gia nhập AFTA đến nền kinh tế Việt Nam
2.2.2.1 Thương mại
Trang 16Kể từ khi là thành viên chính thức của ASEAN, thương mại Việt Nam và ASEANphát triển nhanh hơn so với thương mại giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới.Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và ASEAN tăng 20% ngay năm đầu tiênthực hiện CEPT (1996) Tổng kim ngạch thương mại đã tăng gấp 4,5 lần chỉ trong mộtthập niên, từ 8,9 tỷ USD năm 2003 lên 40 tỷ USD năm 2013, trong đó Singapore hiện làđối tác thương mại lớn thứ 7 của Việt Nam và lớn nhất trong ASEAN với giá trị buôn bánhai chiều năm 2013 tăng hơn 20% lên 17 tỷ USD Tuy nhiên, thương mại giữa Việt Nam
và ASEAN đã tăng trưởng chậm trong thời gian gần đây
Về xuất khẩu:
a Xuất khẩu sang các nước ASEAN khác
Nếu chỉ xét trên phương diện lý thuyết, việc tham gia AFTA chắc chắn sẽ khuyếnkhích Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang ASEAN vì 2 lý do sau:
Thứ nhất, hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu sang các
nước ASEAN do các hàng rào thuế quan và phi thuế quan bị bãi bỏ Điều này làm tăngkhả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường khu vực
Thứ hai, các nước ASEAN với số dân khoảng 630 triệu người là một thị trường
rộng lớn không đòi hỏi cao về chất lượng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệpViệt Nam mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, hội nhập vào thương mại khuvực và thế giới
Xuất phát từ hai lý do trên, nên ngay sau khi trở thành thành viên chính thức củaHiệp hội các nước Đông Nam Á, Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh quan hệ buôn bánvới các nước thành viên ASEAN, biến các nước này trở thành bạn hàng hết sức quantrọng của mình Theo Tổng cục Hải quan, ASEAN hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ bacủa Việt Nam, chỉ sau Mỹ và Liên minh châu Âu Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu củaViệt Nam sang ASEAN gồm dầu thô, điện thoại và linh kiện, máy tính, máy móc thiết bị,gạo, cà phê, cao su, hàng dệt may Đồng thời, ASEAN cũng là thị trường cung ứng quantrọng thứ hai, sau Trung Quốc Trong đó, Singapore, Thái Lan và Lào là 3 thị trườngnhập khẩu chính với các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu đang tăng mạnh là khí hóalỏng, sắt thép, gỗ và sản phẩm gỗ, rau quả, đá quý…