LỜI NÓI ĐẦU Đề tài “Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu thuộc chương trình Ocop tỉnh Quảng Ninh” được thực hiện trong hai năm 2017, 2018 với 06 nội dung nghiên cứu bao gồm các s
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG
BÁO CÁO TỔNG HỢP NHIỆM VỤ KHOA HỌC CẤP TỈNH NĂM 2018
NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM DƯỢC LIỆU THUỘC CHƯƠNG TRÌNH OCOP TỈNH QUẢNG NINH (Báo cáo đã chỉnh sửa theo kết luận của Hội đồng nghiệm thu cấp tỉnh
do sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh tổ chức ngày 28/6/2019
Cơ quan quản lí: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Hạ Long
Chủ nhiệm: TS Trần Trung Vỹ
Quảng Ninh, năm 2019
Trang 2UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG
BÁO CÁO TỔNG HỢP NHIỆM VỤ KHOA HỌC CẤP TỈNH NĂM 2018
Nhiệm vụ:
NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM DƯỢC LIỆU THUỘC CHƯƠNG TRÌNH OCOP TỈNH QUẢNG NINH ( Báo cáo đã chỉnh sửa theo kết luận của Hội đồng nghiệm thu cấp tỉnh
Do sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh tổ chức ngày 28/6/2019
Cơ quan quản lí: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Hạ Long
Chủ nhiệm: TS.Trần Trung Vỹ
Danh sách cán bộ tham gia:
1 TS Phan Thị Huệ 6.ThS Vũ Thị Thu Hương
2 TS.Nguyễn Thị Lan Anh 7.ThS Đinh Bá Trinh
3 TS Đỗ Thùy Ninh 8.ThS Lý Văn Diểng
4 TS Đỗ Xuân Luận 9.Th.S Đào Thị Hương
5 TS Lê Duy Khương
CHỦ NHIỆM NHIỆM VỤ
Trần Trung Vỹ
CƠ QUAN CHỦ TRÌ
KT HIỆU TRƯỞNG PHÓ HIỆU TRƯỞNG
Phan Thị Huệ
Trang 3Quảng Ninh, năm 2019
MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ viii
LỜI NÓI ĐẦU ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DƯỢC LIỆU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan về dược liệu 4
1.1.1 Tổng quan về dược liệu trên thế giới 4
1.1.2 Tổng quan về dược liệu Việt Nam 5
1.1.3 Tổng quan về dược liệu Quảng Ninh 7
1.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 10
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 10
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 14
1.2.3 Điều kiện giao thông - thủy lợi 16
1.2.4 Dân số và lao động 17
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 20
2.1 Các phương pháp nghiên cứu 20
2.1.1 Phương pháp thống kê 20
2.1.2 Phương pháp phân tích chuỗi 22
Trang 42.1.3 Phương pháp phân tích hồi quy 24
2.1.4 Phương pháp chuyên gia 25
2.1.5 Phương pháp phân tích SWOT 25
2.2 Kết quả phân tích số liệu điều 26
2.2.1 Khái quát về dược liệu và chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu tỉnh Quảng Ninh 26
2.2.2 Phân tích chuỗi giá trị cây dược liệu trọng yếu của Quảng Ninh 28
2.2.3 Phân tích SWOT cho chuỗi giá trị dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh 28
2.2.4 Đánh giá chung về phát triển chuỗi giá trị dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh 29
2.4.5 Một số vấn đề nổi cộm cần giải quyết 34
Chương 3 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Cơ sở lý luận về phát triển chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu 36
3.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị 36
3.1.2 Mô hình chuỗi giá trị trong doanh nghiệp 37
3.1.3 Chuỗi giá trị sản phẩm 41
3.1.4 Kinh nghiệm phát triển dược liệu theo chuỗi của một số địa phương trong nước 42
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chuỗi dược liệu tỉnh Quảng Ninh 48
3.2.1 Những nhân tố bên ngoài (Ngoại sinh) 48
3.2.2 Những nhân tố bên trong (Nội sinh) 51
3.3 Thực trạng phát triển chuỗi sản phẩm dược liệu thuộc Chương trình OCOP Quảng Ninh 56
3.3.1 Tình hình tổ chức sản xuất dược liệu 56
3.3.2 Bản đồ chuỗi giá trị dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh 57
3.3.3 Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm Trà hoa vàng và Ba kích 58
3.3.4 Chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị dược liệu 67
3.4 Mối liên kết của các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu thuộc nhóm OCOP tỉnh Quảng Ninh 69
Trang 53.4.1 Liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp 69
3.4.2 Liên kết Nông dân với Nhà khoa học 74
3.4.3 Liên kết giữa Nông dân và Nhà nước 75
3.4.4 Liên kết giữa Nông dân và Hợp tác xã nông nghiệp 75
3.4.5 Đánh giá sự phối hợp liên kết sản xuất và liên kết 4 nhà 77
3.4.6 Lợi ích của liên kết ngang và liên kết dọc trong chuỗi giá trị 81
3.5 Giải pháp phát triển chuỗi giá trị dược liệu thuộc nhóm OCOP tỉnh Quảng Ninh 82
3.5.1 Chiến lược phát triển sản xuất nguồn nguyên liệu 82
3.5.2 Chiến lược phát triển và nâng cấp chuỗi giá trị dược liệu hiện có 84
3.5.3 Chiến lược xây dựng chuỗi giá trị một số dược liệu tiềm năng 85
3.5.4 Chiến lược nâng cấp và đầu tư công nghệ chế biến dược liệu 87
3.5.5 Chiến lược quảng cáo tiếp thị sản phẩm dược liệu 89
3.5.6 Chiến lược nâng cấp và tổ chức lại hệ thống kênh phân phối và xúc tiến thương mại 90
3.5.7 Chiến lược củng cố và tổ chức mối quan hệ trong chuỗi giá trị dược liệu 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Kiến nghị 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV Bảo vệ thực vật CNH Công nghiệp hóa
CP Cổ phần
CP Chi phí CTCP Công ty cổ phần
DN Doanh nghiệp DNCĐ Doanh nghiệp cộng đồng GDP Tổng sản phẩm quốc nội GMP Hướng dẫn thực hành sản xuất tốt GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn
GTGT Giá trị gia tăng GTSX Giá trị sản xuất HĐH Hiện đại hóa HTX Hợp tác xã KHCN Khoa học công nghệ KTMD Kích thích miễn dịch OCOP Mỗi xã phường một sản phẩm PTNT Phát triển nông thôn
QĐ Quyết định TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TP Thành phố TTTT Tri thức truyền thống UBND Ủy ban nhân dân VTYT Vật tư y tế
WHO Tổ chức y tế thế giới YHCT Y học cổ truyền
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thống kê diện tích đất các loại theo thổ nhưỡng tỉnh Quảng
Ninh năm 2017 12
Bảng 1.2: Tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013-2017 15
Bảng 1.3: Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013 - 2017 15
Bảng 1.4: Thu nhập bình quân của người dântỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013-2017 18
Bảng 2.1: Phương pháp tính chi phí, lợi nhuận trong chuỗi giá trị 24
Bảng 2.2: Mô hình phân tích ma trận SWOT 26
Bảng 3.1: Chiến lược phát triển và nâng cấp chuỗi giá trị dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh 68
Bảng 3.2: Các Công ty/tổ chức kinh tế tham gia sản xuất dược liệu 71
Bảng 3.3: Khó khăn khi tham gia liên kết 79
Bảng 3.4: Khó khăn khi vay vốn từ các tổ chức tín dụng 80
Bảng 3.5: Lý do nông dân không tham gia liên kết 80
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình vẽ:
Hình 1.1: Tỷ lệ lao động 15 tuổi trở lên có việc làm so với dân số tại
Quảng Ninh giai đoạn 2013-2017 18 Hình 3.1: Phân đoạn chuỗi giá trị cho một sản phẩm 37 Hình 3.2: Chuỗi giá trị của doanh nghiệp 37 Hình 3.3: Bản đồ chuỗi giá trị dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh
Quảng Ninh 58
Sơ đồ:
Sơ đồ 3.1: Liên kết thông qua bán vật tư giữa nông dân và công ty/tổ
chức trong cung ứng đầu vào sản xuất dược liệu tại địa bàn nghiên cứu 72
Sơ đồ 3.2: Liên kết trực tiếp giữa nông dân và doanh nghiệp trong chế
biến và tiêu thụ dược liệu 73
Sơ đồ 3.3: Liên kết giữa nông dân và hợp tác xã của chuỗi dược liệu tại
địa bàn nghiên cứu 76
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Đề tài “Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu thuộc chương trình Ocop tỉnh Quảng Ninh” được thực hiện trong hai năm 2017, 2018 với 06
nội dung nghiên cứu bao gồm các sản phẩm: 01 báo cáo phân tích số liệu điều tra thực trạng sản phẩm dược liệu và các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu; 05 chuyên đề nghiên cứu có nội dung về chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu; 01 tài liệu giới thiệu sản phẩm, chuỗi giá trị dược liệu thuộc nhóm sản phẩm OCOP tỉnh Quảng Ninh; 02 bài viết công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí khoa học có uy tín trong nước
Các sản phẩm nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chuỗi giá trị sản phẩm, chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu, các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị dược liệu Đi sâu đánh giá phân tích tình hình sản xuất dược liệu, thực trạng chuỗi giá trị dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013-2017, từ đó đưa ra các giải pháp, chiến lược nhằm hình thành và hoàn thiện chuỗi giá trị dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh
Nhiệm vụ hoàn thành là kết quả làm việc nghiêm túc trách nhiệm của nhóm nghiên cứu Trong quá trình thực hiện, nhóm nghiên cứu nhận được sự quan tâm chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Ninh, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh, Trường Đại học Hạ Long; sự phối hợp của Ban xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh, Sở Y tế Quảng Ninh, sự ủng hộ của các chuyên gia thuộc lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực dược liệu, người dân địa phương khu vực trồng cây dược liệu và một số doanh nghiệp đã tạo mọi điều kiện để nhóm nghiên cứu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn
Quảng Ninh, ngày tháng 5 năm 2019
TM NHÓM NGHIÊN CỨU
Chủ nhiệm nhiệm vụ: Trần Trung Vỹ
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau ba năm triển khai chương trình OCOP (2013-2016) tỉnh Quảng Ninh
đã đạt được kết quả quan trọng: Thành lập được hệ thống tổ chức (Ban Điều hành OCOP) ở cấp tỉnh và 14 huyện, thị xã, thành phố; toàn tỉnh đã có 180 tổ chức kinh tế, hộ sản xuất (32 doanh nghiệp, 36 hợp tác xã, 7 hội và 94 hộ sản xuất) tham gia chương trình OCOP Quy mô, năng lực của các tổ chức kinh tế tham gia chương trình OCOP tăng trưởng mạnh với tổng số vốn đăng kí trên
117 tỉ đồng, giải quyết việc làm cho 2.172 người lao động Sản phẩm của chương trình được phát triển, từng bước hoàn thiện và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Nếu năm 2014, có 60 sản phẩm thì năm 2015 tăng lên 120 và năm
2016 có 198 sản phẩm, năm 2017 322 sản phẩm và tính đến tháng 9/2018 415 sản phẩm Điều này cho thấy được lợi ích to lớn của chương trình, thu hút sự tham gia của người dân
Bên cạnh những mặt đạt được, chương trình OCOP còn một số bất cập đó
là sự liên kết phát triển sản phẩm OCOP giữa các địa phương chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng không ít trung tâm OCOP tại các địa phương sau khai trương chỉ trưng bày đơn điệu một vài sản phẩm Cùng với đó là nhận thức của một số ngành về Chương trình còn hạn chế, chưa thực sự vào cuộc Hệ thống tổ chức từ tỉnh đến huyện bước đầu hình thành, cán bộ làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, chưa chuyên nghiệp; năng suất, chất lượng, số lượng sản phẩm và trình độ quản trị sản xuất, kinh doanh của các HTX, doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh còn thấp Hiện nay, nhiều địa phương đều có cùng những chủng loại sản phẩm như gà, rượu ba kích, chả mực, nước mắm… song, mẫu mã, bao bì, nhãn mác của các sản phẩm lại không có sự đồng nhất Điều này không chỉ làm người tiêu dùng nhầm lẫn, đánh đồng tất cả các sản phẩm, khó nhận diện được sản phẩm nào thuộc chương trình OCOP của tỉnh mà còn khiến hàng giả, hàng nhái
dễ trà trộn, bất lợi cho những nỗ lực của các cấp chính quyền trong việc triển khai chương trình OCOP
Là địa phương có địa hình đồi núi, từ thấp đến núi cao, Quảng Ninh được thiên nhiên ưu đãi có nhiều dược liệu có giá trị như: Ba kích, Trà hoa vàng, Hồi, Quế, Trầu một lá, Bình vôi, Bá bệnh, Kim ngân hoa, Nhân trần, Ý dĩ… đây là những nguyên liệu để điều chế thành các loại dược phẩm, thuốc chữa bệnh, nhưng chủ yếu được phân bổ ở những xã vùng sâu, xa của tỉnh Một số sản phẩm dược liệu đã được các chủ thể tham gia vào chương trình OCOP Tuy nhiên, số sản phẩm đạt tiêu chuẩn từ 3 sao (***) còn ít và thị trường tiêu thụ sản phẩm còn rất hạn chế, do nhiều nguyên nhân khác nhau: Người tiêu dùng chưa
Trang 11có thói quen dùng dược liệu làm thực phẩm, hoặc thay thế cho những sản phẩm tân dược trong chữa bệnh, một số sản phẩm có giá quá cao chưa phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, nhiều người tiêu dùng chưa biết hết công dụng của các loại dược liệu, quảng cáo tiếp thị còn hạn chế
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa và cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp, địa phương và quốc gia cần phải xác định cho mình lợi thế cạnh tranh bền vững Việc phát huy, khai thác lợi thế về du lịch sinh thái, gắn với việc tiêu thụ các sản phẩm mang tính đặc trương như Chương trình OCOP là rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương Yếu tố then chốt chính là tạo ra được một chuỗi giá trị gia tăng cho sản phẩm Những lợi thế về các nguồn lực đầu vào như k thuật - công nghệ, khả năng sản xuất, nguồn vốn, nhân công,… chỉ là tương đối, khó tạo ra được lợi thế bền vững Michael Eugene Porter - Giáo
sư ĐH Harvard Hoa K , một chuyên gia hàng đầu về lý thuyết cạnh tranh, chỉ
r : “Ch h t o r m t i th nh tr nh n v ng h nh à á
o nh nghi p á ph ng phải t o r m t hu i giá tr ho sản ph m
h y ho h v Từ chuỗi giá trị này phải tạo ra được ba điểm khác biệt cơ
bản: Thứ nhất, tạo ra được các sản phẩm có chất lượng vượt trội, khác biệt; thứ hai, có chi phí thấp; thứ ba, chọn lọc và tập trung
Xuất phát từ những lí do trên, Trường Đại học Hạ Long thực hiện nhiệm
vụ khoa học: “Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh”
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng hoạt động sản xuất dược liệu để chỉ r những loại dược liệu đã được sản xuất theo chuỗi và phân tích và những dược liệu chưa hình thành chuỗi khi tham gia chương trình OCOP Trên cơ sở đó có những đề xuất, kiến nghị thích hợp nhằm phát triển sản xuất dược liệu theo chuỗi để nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm tham gia chương trình OCOP, góp phần xây dựng nông thôn mới và phát huy được những tiềm năng thế mạnh của tỉnh
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Khảo sát thực tế tình hình sản xuất dược liệu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đề phát hiện những dược liệu sản xuất theo chuỗi và chưa theo chuỗi giá trị;
- Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh;
Trang 12- Nghiên cứu mối liên kết của các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu thuộc nhóm OCOP tỉnh Quảng Ninh;
- Đề xuất một số giải pháp và cơ chế phát triển chuỗi giá trị dược liệu trong nhóm sản phẩm OCOP tỉnh Quảng Ninh;
- Biên soạn tài liệu: Giới thiệu sản phẩm, chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu thuộc nhóm sản phẩm OCOP tại Quảng Ninh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các chủ thể tham gia sản xuất dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh: Các Doanh nghiệp, HTX, cơ sở sản xuất nhỏ, hộ nông dân trồng dược liệu và tổng thể chuỗi giá trị dược liệu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Ph m vi v hông gi n: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Ph m vi v thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2015-2017,
số liệu sơ cấp được thu thập năm 2017
- Ph m vi v n i ung nghiên ứu: Đề tài triển khai nghiên cứu thực trạng
phát triển chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh với các sản phẩm tham gia chương trình OCOP là các sản phẩm có nguồn gốc từ thảo dược, trong đó tập trung vào 2/6 sản phẩm trọng yếu của tỉnh là Trà hoa vàng và Ba kích Ngoài ra, còn một số dược liệu có nguồn gốc từ động vật, nghiên cứu này không đề cập tới
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DƯỢC LIỆU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về dược liệu
Từ cổ xưa, con người đã biết sử dụng các dược liệu thảo mộc và động vật để làm thuốc chữa bện và phòng bệnh Cùng với sự tồn tại và phát triển của lịch sử loài người, những kinh nghiệm nghiên cứu, sử sụng dược liệu để làm thuốc phòng chữa bệnh cũng ngày một phát triển Dược liệu là một phần rất quan trọng nền y học cổ truyền trước kia, hiện nay cũng như về lâu dài
Ngày nay, loài người đang sống trong thời đại khoa học công nghệ hiện đại Nhiều thuốc mới đã được nghiên cứu, sản xuất bằng k thuật hiện đại và đưa vào
sử dụng trong phòng chữa bệnh Nhưng dược liệu và thuốc có nguồn gốc thực vật
và động vật (thuốc cổ truyền) vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tầm quan trọng của nó Dược liệu ngày càng được coi trọng trong sự nghiệp y tế của nhân loại bởi những
ưu điểm nổi bật trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe cũng như phát triển kinh tế Đó là:
- Tỷ trọng thuốc làm từ dược liệu vẫn chiếm tỷ lệ cao trong ngành dược
- Nhiều hoạt chất dùng sản xuất dược phẩm hiện đại hiện nay vẫn còn phải chiết xuất từ dược liệu như: Strychnin, Morphin, Berberin, Artemisinin…
- Dùng thuốc cổ truyền làm từ dược liệu rất ít độc, rẻ tiền, dễ kiếm mà hiệu quả cao, sử dụng đơn giản, ít tai biến
1.1.1 Tổng quan về dược liệu trên thế giới
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cho đến nay 80% dân số trên thế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu, trong đó chủ yếu là thuốc từ cây cỏ Sự quan tâm về các hệ thống y học
cổ truyền và đặc biệt là các loại thuốc dược thảo, thực tế là đã ngày càng gia tăng tại các nước phát triển và đang phát triển trong hơn hai thập kỷ qua Các thị trường dược thảo quốc gia và toàn cầu đã và đang tăng trưởng nhanh chóng, và hiện đang mang lại rất nhiều lợi nhuận kinh tế Theo thống kê của WHO, ở Trung Quốc doanh số thị trường thuốc từ dược liệu đạt 26 tỷ USD (2008, tăng trưởng hàng năm đạt trên 20%), M đạt 17 tỷ USD (2004), Nhật Bản đạt 1,1 tỷ USD (2006), Hàn Quốc 250 triệu USD (2007), châu Âu đạt 4,55 tỷ Euro (2004), Đối với những nước vốn có nền y học cổ truyền như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á vẫn thường xuyên có những kế hoạch điều tra
và tái điều tra với các quy mô, phạm vi và mục tiêu khác nhau Thường tập trung
Trang 14ở các đơn vị tỉnh hoặc cho một hướng tác dụng điều trị nào đó như điều tra cây thuốc có tác dụng chữa sốt rét, tim mạch, viêm gan, rắn cắn
Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc Khoảng 2500 cây thuốc được buôn bán trên thế giới Có ít nhất 2000 cây thuốc được sử dụng ở châu Âu, nhiều nhất ở Đức 1543 Ở Châu Á có 1700 loài ở Ấn
Độ, 5000 loài ở Trung Quốc, trong đó có đến 90% thảo dược thu hái hoang dại
Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lượng, các nguồn cây thuốc tự nhiên bị tàn phá đến mức không thể cưỡng lại được, ước tính có đến 50% đã bị thu hái cạn kiệt Hiện nay, chỉ có vài trăm loài được trồng, 20-50 loài ở Ấn Độ, 100-250 loài ở Trung Quốc, 40 ở Hungari, 130-140 ở Châu Âu Những phương pháp trồng truyền thống đang dần được thay thế bởi các phương pháp công nghiệp ảnh hưởng xấu đến chất lượng của nguồn nguyên liệu này
Năm 1993 Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Qu hoang dã thế giới (WWF) ban hành các hướng dẫn cho việc bảo vệ và sự khai thác cây thuốc được cân bằng với sự cam kết của các tổ chức Thấy được tầm quan trọng của việc phải bảo tồn
và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc, và đáp ứng lời kêu gọi của các tổ chức trên, rất nhiều nước trong đó có các nước đang phát triển với những điều kiện kinh tế xã hội gần tương đồng với nước ta cũng đã xây dựng những Vườn bảo tồn cây thuốc (VBTCT) là các quốc gia như: Guatemala, Nepal, Trung Quốc và
Ần Độ, Ai Cập, Nam Phi (Ricupero, R (1998), "Biodiversity as an engine of trade and sustainable development" POEMA tropic, No 1, January-July, pp 9-13) Một ví dụ: đó là vườn Bảo tồn cây thuốc Pichandikulam ở vùng ven biển phía Nam của Ấn Độ Nơi tập hợp của 440 loài thực vật trong đó có gần 340 cây thuốc Trong VBTCT có một trung tâm trong đó có nhà bảo tàng trưng bày hình ảnh, mẫu vật của 240 loài cây thuốc, thư viện sách tham khảo, tài liệu nghiên cứu, cơ sở dữ liệu về cây thuốc lưu trên máy tính Trung tâm này là nơi giảng dạy, tuyên truyền về bảo tồn nhân giống, cách sử dụng, trồng trọt, thu hái cây thuốc Một vườn ươm nhân giống các cây thuốc đang có nguy cơ tiệt chủng Một khu vực khác với gần 300 loài cây là nơi lưu giữ, bảo tồn ( ngân hàng gene) đồng thời phục vụ cho mục đích tham quan, du lịch Và cuối cùng là khu vực tập trung khoảng 100 loài cây thuốc được trồng và thu hái cho nhu cầu chữa bệnh của người dân
1.1.2 Tổng quan về dược liệu Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm có thực vật và động vật làm thuốc rất phong phú và đa dạng Đây là một kho tài nguyên thiên nhiên hết sức quý giá Vì vậy, việc bảo tồn, khai thác sử dụng và phát triển nguồn tài nguyên dược
Trang 15nhiệm của ngành y tế mà là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Điều đó
sẽ góp phần thực hiện chiến lược phát triển ngành dược liệu nói riêng và bảo vệ môi trường sinh tháo nói chung; đảm bảo cho đất nước phát triển bền vững
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về dược liệu trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng Hiện nay, khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển sử dụng y học cổ truyền hoặc thuốc từ thảo dược để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Đây chính là cơ hội thúc đẩy phát triển ngành dược liệu trong nước
Theo thống kê của Viện Dược liệu, Việt Nam ghi nhận có trên 5.000 loài thực vật và nấm, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc Trong số những loài đã công bố, có nhiều loài được xếp vào loại quý hiếm trên thế giới như: sâm Ngọc Linh, Tam thất hoang, Bách hợp Trong đó, sâm Ngọc Linh là một trong những loại sâm có hàm lượng saponin (có công dụng chống lão hóa, ức chế tế bào ung thư) cao nhất, cao hơn cả những loại sâm quý được nghiên cứu sử dụng lâu đời trên thế giới như sâm Triều Tiên, sâm Trung Quốc
Ngành y tế đã duy trì mạng lưới bảo tồn nguồn gen tại 7 vùng sinh thái gồm: vùng Đồng bằng sông Hồng (Hà Nội), vùng trung du phía Bắc (Tam Đảo - Vĩnh Phúc), vùng núi cao phía Bắc (Lào Cai), vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa), vùng Tây Nguyên (Đà Lạt - Lâm Đồng), vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (Phú Yên) và vùng Đông Nam bộ (TP Hồ Chí Minh) Đồng thời, ngành đã lưu giữ và bảo tồn 1.531 nguồn gen thuộc 884 loài cây thuốc tại 7 vườn cây thuốc thuộc các đơn vị; 100% nguồn gen bảo tồn được đánh giá ban đầu; 30% nguồn gen được đánh giá chi tiết về các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển… Công tác ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại trong phát triển dược liệu theo hướng dựa trên ứng dụng kết quả nghiên cứu, tạo sản phẩm phục vụ nhu cầu thị trường, xây dựng các vùng trồng dược liệu, bảo tồn lưu giữ nguồn gen dược liệu và tri thức bản địa; một số sản phẩm dược liệu viên dầu gấc, cao trinh nữ hoàng cung, diệp
hạ châu, tinh dầu tràm… đã được xuất khẩu Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, cha ông ta đã tích lũy kho tri thức khổng lồ về dược liệu và y học cổ truyền với 1.300 bài thuốc
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% dân số nông thôn và các nước đang phát triển vẫn dựa vào thuốc thảo dược để chăm sóc sức khỏe cộng đồng Ở các nước có nền công nghiệp phát triển, 1/4 số thuốc thống kê trong các đơn đều có chứa hoạt chất thảo mộc Còn tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế), mỗi năm nước ta tiêu thụ khoảng 50 - 60 nghìn tấn các loại dược liệu khác nhau, sử dụng vào việc chế biến vị thuốc y học
cổ truyền, nguyên liệu ngành công nghiệp dược hoặc xuất khẩu
Trang 16Hệ thống khám - chữa bệnh bằng y học cổ truyền hiện có hơn 60 bệnh viện y học cổ truyền công lập; hơn 90% bệnh viện đa khoa cấp tỉnh có bộ phận y học cổ truyền; khoảng 80% trạm y tế xã có hoạt động khám - chữa bệnh bằng y học cổ truyền và gần 7.000 cơ sở hành nghề y học cổ truyền tư nhân sử dụng dược liệu trong khám chữa bệnh Với thị trường tiêu thụ như vậy, dược liệu nói chung và cây thuốc nói riêng mang lại giá trị kinh tế hơn bất k cây lương thực, thực phẩm nào
Một số hạn chế
Theo ông Phạm Vũ Khánh, Cục trưởng Cục Quản lý y, dược cổ truyền thì hiện nay, Việt Nam mới chỉ tự cung cấp được 25% nguyên liệu để phục vụ việc sản xuất thuốc trong nước, còn lại 75% phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu Việt Nam cũng chưa đưa được các bài thuốc quý trở thành hàng hóa có giá trị cao và được sử dụng rộng rãi
Theo ông Đào Văn Hồ, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và PTNT): Việt Nam có nhiều dược liệu có tiếng nhưng một trong những điểm hạn chế là chưa làm tốt khâu xúc tiến thương mại Việc sản xuất, chế biến, đưa sản phẩm y dược cổ truyền ra thị trường chưa được kết nối tốt
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chưa đưa được các bài thuốc quý trong cộng đồng ra sử dụng rộng rãi; khai thác dược liệu chưa có tổ chức, không có kế hoạch, không có hướng dẫn khai thác gắn với bảo tồn, phát triển bền vững, dẫn đến một số loài cây thuốc có nguy cơ cạn kiệt hoặc tiệt chủng, thậm chí nhiều bài thuốc quý đã bị mai một, thất truyền hoặc bị đánh cắp, giả mạo
Lâu nay, dược liệu của Việt Nam không được quản lý tốt, thương lái nước ngoài thu mua tự do hoặc chỉ chế biến thô rồi xuất tiểu ngạch nên hiệu quả rất thấp Thêm nữa, công nghiệp chế biến dược liệu chưa đủ mạnh để sản xuất sản phẩm chất lượng cao Chưa có chính sách thu hút đầu tư trồng, chế biến dược liệu Nghiên cứu khoa học về dược liệu còn thiếu
1.1.3 Tổng quan về dược liệu Quảng Ninh
Quảng Ninh có nguồn tài nguyên cây cỏ phong phú, từ các thực vật vùng núi thấp, núi cao cho đến các cây cỏ vùng đồng bằng, cửa sông, nước lợ, vùng triều, thềm lục địa, hải đảo Theo thống kê, trên toàn tỉnh có trên 600 loài dược liệu, trong
đó nhiều loài quý, có giá trị kinh tế cao như ba kích, hồi, trẩu, quế, bình vôi, hoàng đằng, đẳng sâm, thổ phục linh Nhiều trong số chúng có thể là loài đặc hữu hoặc
có chất lượng riêng tạo ra các đặc sản của tỉnh, có giá trị chăm sóc sức khỏe và chữa trị bệnh Nhiều loài dược liệu được thu hái, sử dụng nhiều như Ba kích, Hồi,
Trang 17dược liệu tự nhiên quá mức không quan tâm tới tá sinh, bảo tồn, thêm vào đó là sự thu mua dược liệu ồ ạt từ phía Trung Quốc, khiến cho nhiều loài cây thuốc đứng trước nguy cơ cạn kiệt Hàng triệu tấn dược liệu tươi và khô được bán sang Trung Quốc qua đường tiểu ngạch với mức giá thấp Trước đây, ý thức về bảo tồn nguồn dược liệu tự nhiên là rất thấp, nhiều người lên rừng thu hái thuốc theo hướng tận thu, thu hái cả những cây nhỏ, nhổ cả rễ… Người dân chưa nhận thức r giá trị từ cây dược liệu đem lại, việc phá rừng tự nhiên chuyển sang trồng Thông, Keo, Sa mộc,… cũng khiến nhiều loài cây thuốc quý bị biến mất
UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp, tập thể, cá nhân tham gia trồng, phát triển cây dược liệu như: Thủ tục pháp lý thông thoáng hơn, dành phần ngân sách đáng kể hỗ trợ KHCN, cơ
sở hạ tầng, giống, sản xuất… Trong thời gian qua, đã có một số nhà đầu tư tham gia vào công tác phát triển dược liệu để tạo ra nhiều sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp vừa góp phần giải quyết công ăn, việc làm cho người dân ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa Một
số mô hình trồng cây dược liệu điển hình như:
Công ty CP Secoin đã đầu tư trên diện tích hơn 180ha tại Bình Khê và Tràng Lương (Đông Triều) Công ty bố trí 40ha để lập trung tâm bảo tồn, phát triển dược liệu, 70ha chuyên trồng và phát triển cây thuốc Năm 2013, Công ty đã trồng và ký hợp đồng liên kết trồng với người dân 75ha Nghệ vàng, thu được hơn 1.500 tấn nghệ tươi Ngoài ra, Công ty tiến hành trồng khảo nghiệm nhiều loại dược liệu, từ
đó lựa chọn một số cây phù hợp với điều kiện tự nhiên khu vực xã Tràng Lương, Bình Khê như Đinh lăng, Địa hoàng, Kim ngân, Hoài sơn, Diệp hạ châu, Trinh nữ hoàng cung
Công ty TNHH nuôi trồng sản xuất và chế biến dược liệu Đông Bắc có hơn 30ha trồng cây thuốc tại xã Cộng Hòa (Cẩm Phả) Một số cây thuốc công ty trồng như Ba kích tím (9ha), Hoài sơn (2ha), Giảo cổ lam (2ha), chuyển giao cho người dân trồng 1 ha Giảo cổ lam, Thìa canh, Diệp hạ châu, Cà gai leo
Công ty CP Công nghệ xanh Đông Sơn có 125ha trồng dược liệu tại Đồng Sơn (Hoành Bồ) gồm Ba kích (90ha), Khôi tía (1ha), Đinh lăng, Trà hoa vàng; chuyển giao trồng Ba kích cho người dân tại Đồng Sơn, K Thượng, Tân Dân
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ trồng 11,5ha Ba kích
Công ty CP Trồng rừng bền vững ở xã Thanh Sơn trồng 5ha Ba kích
Vùng trồng dược liệu của Công ty CP Công nghệ xanh Đông Sơn; Hợp tác
xã Nông trang Quảng La (huyện Hoành Bồ) trồng Nấm linh chi; Công ty CP Tùng Lâm đã phối hợp với Công ty DKPharma, Trường ĐH Dược Hà Nội xây dựng Vườn cây thuốc Yên Tử,…
Trang 18Nhiều HTX cũng tham gia SX cây dược liệu như HTX Toàn Dân (Ba Chẽ) trồng hơn 100 ha, HTX Nông trang Quảng La (Hoành Bồ) phát triển nấm linh chi Từ các mô hình trồng, chế biến dược liệu, đến nay các đơn vị đã đưa
ra thị trường 28 sản phẩm thuốc, thực phẩm chức năng như hoạt huyết dưỡng lão; hoàn long não hạt sen; mẫu sinh đường; bổ phế thủy; phong thấp thủy
Chương trình OCOP (mỗi xã, phường một sản phẩm) ở Quảng Ninh cũng thu hút được các hộ gia đình cũng tham gia trồng cây thuốc như Quế, Hồi (tại Bình Liêu, Ba Chẽ, Móng Cái); Ba kích, Bồ công anh, Kim tiền thảo, Gấc, Kim ngân, Địa liền, Đinh lăng, Hoa hòe,… (tại Móng Cái, Tiên Yên, Hoành Bồ, Ba Chẽ, Uông Bí)
Tuy nhiên, việc trồng và phát triển dược liệu còn gặp nhiều khó khăn về
k thuật trồng trọt, chăm sóc, thu hái Dược liệu chưa được chuẩn hóa (theo GACP-WHO), sản lượng thấp khó khăn trong khi tham gia thị trường dẫn đến nhiều dược liệu trồng ra không bán được, giá thấp
Trước đây, nguồn cây thuốc đem về trồng thường được lấy trên rừng về, điều kiện sinh thái khác nhau, nhiều giống khác nhau, dẫn đến cây khó sống, chất lượng không thống nhất, số lượng nhỏ, không đủ đáp ứng trồng trên quy
mô lớn Nhiều công ty, cá nhân đặt mua dược liệu giống từ địa phương khác về trồng nhưng cây giống cũng không đảm bảo được chất lượng, giá thành cao
Hiện tại, nhiều công ty, cơ sở tự học hỏi nhân giống dược liệu, vừa phục
vụ hoạt động trồng dược liệu của mình, vừa cung cấp giống cho các cá nhân, tổ chức khác có nhu cầu Một số cơ sở cung cấp cây dược liệu giống trên địa bàn như Trung tâm nghiên cứu khoa học nông lâm nghiệp tỉnh Quảng Ninh (TX Quảng Yên) cung cấp giống cây Ba kích từ nuôi cấy mô; HTX Toàn Dân nhân giống Ba kích tím bằng phương pháp nuôi cấy mô (từ Viện Công nghệ Sinh học thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Quốc gia); Công ty CP kinh doanh Đạp Thanh (Ba Chẽ) nhân giống Trà hoa vàng bằng cành hom Các cơ sở này đã phần nào chủ động được giống nhưng vẫn ở mức hạn chế
Phương thức ản xuất dược liệu được áp dụng chủ yếu gồm thâm canh, quảng canh Để tăng diện tích đất trồng dược liệu, các công ty, cơ sở trồng bằng cách thuê đất của người dân, hay ký hợp đồng liên kết sản xuất dược liệu Ngoài
ra, hiện nay các cơ sở trồng dược liệu cũng áp dụng thêm k thuật trồng xen canh cây dược liệu với cây rau màu, hay xen cây dược liệu ưa bóng dưới cây keo, quế; xen canh cây dược liệu ngắn ngày và dài ngày (Địa liền trồng xen Đinh lăng, Ba kích trồng dưới tán cây Keo…) vừa tận dụng được qu đất, vừa đa dạng nguồn
Trang 19Các công ty, cơ sở trồng dược liệu dần chuẩn hóa chất lượng cũng như quy trình trồng, thu hái dược liệu theo tiêu chuẩn GACP-WHO, đảm bảo dược liệu có chất lượng tốt, không chất bảo quản, không có tồn dư hóa chất BVTV Nhiều sản phẩm thô từ dược liệu như Ba kích, Trà hoa vàng, Nghệ, Địa liền có chất lượng tốt, nhu cầu thu mua lớn
Hiện nay, phương thức chuyển giao KHCN đến nông dân, cũng như các
cơ sở trồng dược liệu đang dần được áp dụng phổ biến Ở lĩnh vực trồng trọt, các
cơ quan khuyến nông, khuyến lâm đã triển khiển, tập huấn các mô hình k thuật tiến bộ, trong đó có mô hình nhân giống Ba kích bằng phương pháp nuôi cấy mô;
mô hình trồng luân canh lúa - rau màu - dược liệu, xen canh giúp người trồng thay đổi tập quán độc canh, nâng cao hiệu quả kinh tế Không chỉ nhân rộng các
mô hình trồng trọt hiệu quả mà còn triển khai đồng bộ các k thuật tiến bộ về giống, dinh dưỡng, bảo vệ cây trồng…
1.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên
1.2.1.1 Đ h nh, h hậu
Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải, với hơn 80% đất đai là đồi núi Trong đó, có hơn hai nghìn hòn đảo núi đá vôi nổi trên mặt biển, phần lớn chưa được đặt tên Địa hình của tỉnh có thể chia thành 3 vùng:
- Vùng núi: Chia hai miền bao gồm: (1) vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc với hai dãy núi chính là dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà; dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía Bắc huyện Tiên Yên (2) Vùng núi miền Tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía Bắc
TP Uông Bí và thấp dần xuống ở phía Bắc thị xã Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ
- Vùng trung du và đồng bằng ven biển: Gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển, bao gồm vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Quảng Yên, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái Ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp, gồm các vùng nam Uông Bí, nam Quảng Yên (đảo Hà Nam), đông Quảng Yên, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái
Trang 20- Vùng biển và hải đảo: Có địa hình độc đáo với hơn hai nghìn hòn đảo, chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước, trải dài theo đường ven biển hơn 250 km Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô và 2 vịnh lớn gồm vịnh Hạ Long và Bái Tử Long
- Khí hậu: Quảng Ninh nằm vùng Khí hậu cận nhiệt đới ẩm đặc trưng cho các tỉnh miền bắc vừa có nét riêng của một tỉnh vùng núi ven biển có một mùa
hạ nóng ẩm mưa nhiều, một mùa đông lạnh khô và ít mưa Các quần đảo ở Cô
Tô, Vân Đồn có đặc trưng của khí hậu đại dương Do ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoá thành hai mùa gồm có mùa hạ thì nóng ẩm với mùa mưa, còn mùa đông thì lạnh với mùa khô Nhiệt độ trung bình trong năm từ 21 - 23oC, lượng mưatrung bình hàng năm 1.995 m, độ ẩm trung bình 82 - 85% Mùa lạnh thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, trong khi đó mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10 Ngoài ra, do tác động của biển, nên khí hậu của Quảng Ninh nhìn chung mát mẻ, ấm áp, thuận lợi đối với phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nhiều hoạt động kinh tế khác
1.2.1.2 Đi u i n thủy văn
Quảng Ninh có tất cả khoảng 30 sông, suối có chiều dài trên 10 km Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có 8 con sông chính chảy trên địa bàn tỉnh đó là: Sông Bạch Đằng, sông Đá Bạc, sông Diễn Vọng, sông Hà Cối, sông Ba Chẽ, sông Phố Cũ, sông Tiên Yên và sông Đầm Hà Đặc điểm chung của sông suối là nhỏ, lòng sông hẹp và dốc, cự ly ngắn lại chạy thẳng
từ vùng núi ra biển nên hầu hết sông trong tỉnh không có vùng trung lưu Mạng lưới suối khá dày đặc, mật độ 1,6 km/1km2 Mặc dù, diện tích lưu vực các sông suối nhỏ, nhưng đặc điểm thuỷ văn cũng tương đối phức tạp, sự phân bố dòng chảy trong năm không đều Mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa cạn bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4, lượng nước chảy trên sông, suối chủ yếu dựa vào nguồn nước ngầm là chính
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh hiện có 23 hồ chứa lớn nhỏ có dung tích gần 250 triệu m3 Các hồ chứa điển hình như hồ Khe Dược liệu, hồ Yên Lập, hồ Đầm Hà Động, hồ Trúc Bài Sơn, hồ Tràng Vinh Hệ thống hồ đập này có vai trò to lớn trong việc cung cấp nước để phát triển sản xuất cây trồng lâm - nông nghiệp, là điều kiện thuận lợi để khai thác và phát triển cây dược liệu
Trang 21Theo kết quả điều tra đề xuất phát triển dược liệu Quảng Ninh năm 2017,
có 6 loại đất phù hợp với sản xuất nông nghiệp được phân tích ở bảng sau:
Bảng 1.1: Thống kê diện tích đất các loại theo thổ nhưỡng tỉnh Quảng Ninh
I C ĐẤT CÁT AR 19.955,64 3,27 ARENOSOLS
I.1 Cs Bãi cát ven sông biển AR 15.660,83 2,57 Arenosols
I.2 Cc Cồn cát trắng vàng ARl 1.236,42 0,2 Luvic Arenosols I.3 C Đất cát biển AR 3.058,39 0,5 Arenosols
II M ĐẤT MẶN FLs 33.922,33 5,56 SALIC
FLUVISOLS
II.1 Mm Đất mặn sú vẹt đước FLsg 30.074,22 4,93 Gleyi Salic
Fluvisols II.2 Mn Đất mặn nhiều FLsh 812,95 0,13 Hyper Salic
Fluvisols II.3 M Đất mặn trung bình
Molli Salic Fluvisols
III S ĐẤT PHÈN FLt 7.456,42 1,22 THIONIC
FLUVISOLS
III.1 Sj Đất phèn hoạt động FLto 6.369,12 1,04 Orthi Thionic
Fluvisols III.2 Sp Đất phèn tiềm tàng FLtp 1087,3 0,18 Proto Thionic
loang lổ TT ít chua PT 1087,01 0,18 Eutric Plinthisols
VI G ĐẤT G LÂY GL 562,83 0,09 GLEYSOLS VII X ĐẤT XÁM AC 5075,39 0,83 ACRISOLS
VII.1 Xh Đất xám điển hình ACh 1.443,32 0,24 Haplic Acrisols VII.2 Xg Đất xám glây ACg 3509,3 0,58 Gleyic Acrisols
Trang 22STT Ký
hiệu Tên đất Việt Nam
Ký hiệu Diện tích Tỷ lệ (%) Tên đất
VII.3 Xb Đất xám bạc màu ACal 122,77 0,02 Albic Acrisols
VIII N ĐẤT NÂU TÍM NT 16.719,07 2,74 NITISOLS
XII.1 NTct Đất ruộng bậc thang
vùng đồi núi ATag 12179,04 2 Agric Anthrosols XII.2 NTkt Đất bãi khai thác mỏ ATur 1022,34 0,17 Urbic Anthrosols
Cộng (+) 499.516,66 81,9
Sông suối núi đá và đất không điều tra 110.381,40 18,1
(Nguồn: Dự án i u tr i u tỉnh Quảng Ninh)
- Đất nâu tím (NT): Đặc điểm của nhóm đất là có hàm lượng chất hữu cơ ở tầng mặt giầu và nghèo ở các tầng dưới, thành phần cơ giới thịt nặng đến sét, tỷ
lệ dao động khoảng 30 - 40% Phân bố chủ yếu ở một số xã vùng núi huyện Vân Đồn, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà, Bình Liêu, Móng Cái Diện tích của nhóm đất này là 16.719,07 ha, chiếm 2,83% tổng diện tích tự nhiên
- Đất vàng đỏ (AC): Đây là nhóm đất có tầng B tích sét (Argic), hàm lượng hữu cơ tầng mặt đạt từ khá đến giàu (2,47 - 3,08%), xuống sâu thì hàm lượng mùn giảm dần Trên các khu vực đất đồi chưa sử dụng (đất trống đồi núi trọc) và đất canh tác nương rẫy du canh, quá trình xói mòn mặt, rửa trôi và thoái hóa đất diễn ra mạnh Nhóm này co diện tích lớn nhất là 378.526,84 ha và phân
bố ở hầu hết các huyện; thị xã; thành phố trên địa bàn tỉnh
- Đất vàng đỏ trên núi (ACu): Đất mùn vàng đỏ trên núi hình thành ở độ cao tuyệt đối > 700m, khí hậu lạnh và ẩm hơn vùng đồi núi thấp Trên địa bàn tỉnh loại đất này hình thành trên các đỉnh núi thuộc cánh cung Đông Triều - Nam Mẫu - Bình Liêu Đặc điểm của nhóm đất này là đất mùn vàng đỏ trên núi có
Trang 23giảm nhanh ở các tầng dưới Nhóm đất này có diện tích 17.727,1 ha chiếm 3,0% tổng diện tích tự nhiên
- Đất tầng mỏng (LP): Đất tầng mỏng được hình thành trong điều kiện địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, thảm thực vật che phủ mặt đất đã bị chặt phá nặng nề và do hậu quả của nhiều năm canh tác không chú trọng đến việc bảo vệ đất Nhóm đất này phân bố rải rác ở thị xã Đông Triều và thành phố Móng Cái Đặc điểm của nhóm đất này là đất tầng mỏng là nhóm “đất có vấn đề” trong đó tầng đất mịn rất mỏng < 30cm Đất bị rửa trôi, xói mòn mặt mạnh nên tầng đất cứng, chặt, đất nghèo chất dinh dưỡng, nhất là chất dễ tiêu Đất hình thành trên
đá sa phiến thạch thường có phản ứng chua Nhóm này có diện tích là 299,34 ha, chiếm 0,05% tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất nhân tác (AT): Là nhóm đất được hình thành do tác động của con người Tầng đất bị xáo trộn mạnh bởi các hoạt động của con người như hoạt động san ủi làm ruộng bậc thang, hoặc các hoạt động của công nghiệp khai thác
mỏ, tầng đất bị xáo trộn dày trên 50 cm Đặc điểm của loại đất phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc đất được khai thác để canh tác Đất có sự thay đổi mạnh về nhiệt
độ, chế độ không khí, chế độ nước, chế độ dinh dưỡng và một loạt đặc tính sinh học khác so với các nhóm đất tự nhiên Nên trong sản xuất kinh doanh cần quan tâm đầu tư thâm canh nhằm tăng giá trị sử dụng của đất
- Đất mặn sú vẹt, đước (Mm): Loại đất này thường có tầng mặt ở dạng bùn lỏng, cát, sét nhiều chất hữu cơ, glây mạnh Đặc điểm của nhóm này là thảm thực vật rừng ngập mặn thường gặp rừng Sú, Vẹt, Đước, Bần chua, Mắm, Trang cần được bảo vệ tốt nhằm nâng cao hiệu quả phòng hộ môi trường, tính
đa dạng sinh học cùng nguồn lợi thủy sản Với diện tích 30.074,22 ha, chiếm 4,9% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các bãi ngoại đê thuộc TP Hạ Long, TP.Cẩm Phả, TP Uông Bí, TP Móng Cái, TX Quảng Yên, huyện Đầm Hà, huyện Hải Hà, huyện Vân Đồn, huyện Hoành Bồ
1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
GDP toàn tỉnh (theo giá cố định 2010) năm 2013 đạt 58.565 tỷ đồng, năm
2014 đạt 61.370 tỷ đồng, năm 2015 đạt 62.515 tỷ đồng, năm 2016 đạt 70.720 tỷ đồng và năm 2017 đạt 78.324 tỷ đồng Sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh thể hiện ở
cả 3 lĩnh vực trong sản xuất (nông, lâm nghiệp, thủy sản - Công nghiệp và xây dựng - dịch vụ), trong đó khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng cao nhất, khu vực nông lâm nghiệp thủy sản có tốc độ tăng trưởng thấp nhất
Trang 24Bảng 1.2: Tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013-2017
(Tính theo giá cố định năm 2010)
(Nguồn: Niên giám thống ê tỉnh Quảng Ninh)
Cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ninh chuyển dịch theo hướng tích cực, cơ cấu ngành nông lâm thủy sản giảm và tăng dịch vụ và ngành công nghiệp và xây dựng Cụ thể, đối với ngành nông, lâm thủy sản, năm 2013 chiếm 8,21%, năm
2014 chiếm 7,72%, năm 2015 chiếm 7,97%, năm 2016 giảm còn 7,66% và năm
2017 còn 6,88% Đối với ngành công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất, nhưng có xu thế giảm, năm 2013 chiếm 63,81%, năm 2014 chiếm 60,43%, năm 2015 chiếm 58,6%, năm 2016 chiếm 58,68% và năm 2017 chiếm 57,87%
Bảng 1.3: Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Ninh
(Nguồn: Niên giám thống ê tỉnh Quảng Ninh)
Đối với ngành dịch vụ, cơ cấu có xu hướng tăng lên, năm 2013 chiếm 33,38%, năm 2014 chiếm 31,85%, năm 2015 chiếm 33,43%, năm 2016 chiếm 33,65% và năm 2017 chiếm 35,25% Năm 2017, mặc dù công nghiệp khai khoáng gặp nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ, lượng than tồn kho lớn, sản lượng khai thác than giảm nên chỉ số phát triển của ngành khai khoáng tăng trưởng âm, ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp-
Trang 25xây dựng (thấp hơn 3,5 điểm phần trăm so với cùng k ), song lĩnh vực xây dựng
và đặc biệt khu vực dịch vụ phát triển mạnh mẽ, tăng trưởng cao góp phần bù đắp sự giảm sút của ngành công nghiệp khai khoáng, đảm bảo duy trì tăng trưởng kinh tế cao và ổn định Đối với ngành nông nghiệp, tỷ trọng có xu hướng giảm, nhưng giảm chậm, ngành dịch vụ tăng cũng rất chậm, đó cũng là những lỗ lực lớn của Tỉnh Mặc dù, xu hướng này cũng đã góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, nhưng vẫn cần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ và công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chú trọng vào việc chế biến các sản phẩm nông nghiệp, trong đó có chế biến các loai dược
liệu, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn
1.2.3 Điều kiện giao thông - thủy lợi
- Đ ờng b : Toàn tỉnh có 2.283 km đường giao thông, trong đó có 5 tuyến
quốc lộ, 10 tuyến tỉnh lộ tiêu chuẩn cấp V, VI; 60 tuyến giao thông huyện lộ 100% đã được cứng hóa Các xã có đường ô tô đến trung tâm xã đạt 100% Các tuyến liên xã, thôn, xóm tỷ lệ cứng hóa đạt 24% Nhiều tuyến đường quan trọng
đã được xây dựng hoặc nâng cấp như: đường cao tốc Hạ Long-Hải Phòng, Hạ Long-Vân Đông, Cẩm Hải-Vân Đông, Cầu Bạch Đằng, đường dẫn và nút giao cuối tuyến, cải tạo và nâng cấp quốc lộ 18A đoạn Hạ Long - Mông Dương, cảng Hàng không Quốc tế Vân Đồn, dự án nối cao tốc Hạ Long-Hải Phòng với khu công nghiệp - Nam Tiền Phong; Nút giao thông Loong Toòng Một số công trình, dự án trọng điểm đã và đang triển khai như Cao tốc Vân Đồn-Móng Cái, đường bao biển Hạ Long- Cẩm Phả, đường trục chính từ Cảng hàng không đến khu phức hợp nghỉ dưỡng giải trí cao cấp Vân Đồn, Cảng khách Hòn Gai, Cung văn hóa thanh thiếu nhi, Trạm kiểm soát liên ngành cầu Bắc Luân II,… đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của các huyện miền núi, biên giới, hải đảo
- Đ ờng thủy: Chiều dài bờ biển hơn 250 km, đường giao thông thủy là
501 km, tổng chiều dài các tuyến sông chính là hơn 288 km nối liền Hải Phòng
và hệ thống sông Thái Bình Có 121 cảng biển, dẫn đầu là cụm cảng Hòn Gai (đại diện tiêu biểu là cảng Cái Lân) và cụm cảng Cẩm Phả (đại diện là cảng Cửa Ông), Đây là hai cụm cảng có lượng hàng hóa lưu thông nhiều nhất của tỉnh Quảng Ninh Ngoài ra, Quảng Ninh có 2 bến tàu hành khách lớn, mang tầm cỡ quốc gia là bến Tuần Châu và bến Hòn Gai, đây là địa điểm cập bến của các tàu khách du lịch, thông quan với Hải Phòng và các cảng nội địa khác Tuy nhiên, bến cảng có công suất lớn chiếm tỷ lệ nhỏ (10%), còn lại là các cảng quy mô nhỏ được hình thành do nhu cầu thị trưởng như trên sông Mạo Khê, Diễn vọng,
Trang 26khu vực Cẩm Phả và trên sông Móng Cái Cơ sở hạ tầng của cảng bến chưa được các doanh nghiệp đầu tư đúng mức (cầu cập tàu, kho, bãi) vẫn dựa vào điều kiện tự nhiên nhiều Do cơ sở vật chất thiếu và phạm vi bến bãi hạn chế nên bến khách du lịch Hạ Long, Cái Rồng những ngày cao điểm tỏ ra lộn xộn gây vất vả cho đơn vị quản lý bến và khó khăn cho khách
- Gi o thông ông ng: Hiện tại tỉnh Quảng Ninh có 9 tuyến xe buýt
(trong đó: có 3 tuyến nội thị, 5 tuyến nội tỉnh, 1 tuyến liền kề), Nối các vùng trong tỉnh (Hạ Long, Hoành Bồ, Cẩm Phả, Uông Bí, Đông Triều, Vân Đồn, Móng Cái) và có 1 tuyến nối với Hải Dương, Tuy hệ thống này phục vụ rất hiệu
quả nhưng cần nâng cấp chất lượng phục vụ hơn nữa
- Thuỷ l i: Lượng nước trữ ở 23 hồ đập 18,4m3 nước, so với cùng k giảm 5,8 triệu m3; nguồn nước đảm bảo cho phục vụ sẩn xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn tinh Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước đạt vệ sinh là 96%, dân số thành thị được cung cấp nước sạch đạt 93%
Hệ thống giao thông đường bộ của Quảng Ninh về cơ bản đã đáp ứng được chức năng liên kết, vận tải trong khu vực, các tuyến giao thông trọng yếu phân bố chủ yếu tại khu vực duyên hải ven biển, kết nối các Đô thị, khu kinh tế tạo hệ thống liên hoàn Tại khu vực các huyện miền núi, mật độ đường thấp nhưng vẫn có thể tiếp cận được với hệ thống giao thông chung của tỉnh Hệ thống thủy lợi về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu, phục vụ phát triển nông nghiệp
1.2.4 Dân số và lao động
V ân số tỉnh: Năm 2017 dân số tỉnh Quảng Ninh là 1,313 triệu người,
trong đó dân số thành thị là chiếm 67,4% dân số toàn tỉnh Bình quân số người trong hộ gia đình là 3,67 người/hộ Tỷ lệ tăng tự nhiên hàng năm khoảng 1,24% Mật độ dân số toàn tỉnh là 198 người/km2 Mật độ dân số cao nhất với 894 người/km2 (TP.Hạ Long), thấp nhất là 43 người/km2 (huyện Ba Chẽ) Cơ cấu dân
số Quảng Ninh tương đối trẻ: Gần 30% có độ tuổi từ 15 đến 29; 25% có độ tuổi từ
30 đến 39; 24% có độ tuổi từ 40 đến 49 và 22% trên 50 tuổi Toàn tỉnh có 22 dân tộc đang sinh sống trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số là 86,6%, dân tộc Dao (5,5%), Tày (2,98%), Sán Dìu (1,58%), Sán Chay (1,2%) và dân tộc Hoa (0,46%)
Về thu nhập của người dân: Qua các năm 2013-2017, GRDP bình quân đầu người tăng đáng kể, năm 2013 đạt 2.958 (USD/người/năm), năm 2014 đạt 3.500 (USD/người/năm), năm 2015 đạt 3.900 (USD/người/năm), năm 2016 đạt
Trang 274.050 (USD/người/năm), năm 2017 đạt 4.258 (USD/người/năm)
Bảng 1.4: Thu nhập bình quân của người dântỉnh Quảng Ninh
(Nguồn: C c thống ê tỉnh Quảng Ninh)
Tại bảng số liệu cho thấy cùng với sự chuyển biến cơ cấu kinh tế các ngành làm cho thu nhập người dân tăng đáng kể Có thể nói trong 5 năm thu nhập bình quân đầu người đã tăng lên 43,94% là một tỷ lệ tăng khá nhanh so với các tỉnh khác trong cả nước Tuy nhiên, nếu khai thác tốt những tiềm năng thế mạnh của tỉnh thì còn có khả năng tăng cao hơn nữa
V L o ng: Số người trong độ tuổi lao động của tỉnh năm 2013 chiếm
53,5%, năm 2014 chiếm 53,9%, năm 2015 chiếm 54,7% dân số của tỉnh, năm
2016 chiếm 54,8% dân số của tỉnh và năm 2017 chiếm 57,5% dân số của tỉnh
Số lao động được tạo việc làm là 43,8 nghìn người, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 34,2%
ĐVT: %
Hình 1.1: Tỷ lệ lao động 15 tuổi trở lên có việc làm so với dân số
tại Quảng Ninh giai đoạn 2013-2017
(Nguồn: Niên giám thống ê tỉnh Quảng Ninh)
V giáo ào t o: Chất lượng giáo dục đào tạo chuyển biến mạnh mẽ
và tích cực, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia ở các cấp học đạt 78,32% (502/641 trường), tỷ lệ phòng học kiên cố hóa đạt 88,1%; có 55 trường được đầu tư
Trang 28phương tiện, trang thiết bị, máy móc hiện đại, tiên tiến; tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo là 99,1% (trong đó 45,8% đạt trên chuẩn) Kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học được duy trì, giữ vững và nâng cao chất lượng, tỷ lệ tốt nghiệp THPT quốc gia đạt 98,86%, tại k thi học sinh giỏi quốc gia có đứng 11/63 tỉnh thành cả nước
V h tầng y t và hăm s sức khỏe nhân ân: Tiếp tục củng cố mạng
lưới y tế, trong đó đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng mới các công trình y tế; sắp xếp và quản lý các trung tâm y tế tuyến huyện, trạm y tế cấp xã, tổ chức lại Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình trực thuộc UBND cấp huyện Hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số, kế hoạch hóa gia đình đạt kết quả quan trọng Thực hiện triển khai mô hình quản lý sức khỏe nhân dân, đến nay tỉnh thiết lập hồ sơ ban đầu cho 1,229 triệu người (93,6% dân số), trong đó có 207,7 nghìn người (16,7%) được cập nhật thông tin hồ sơ sức khỏe
Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn tỉnh đạt 92,9%
Chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp đưa các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, hoàn thành mục tiêu chương trình 135 giai đoạn 2017-2020 được triển khai tích cực Hết năm 2017,
có 01 xã và 07 thôn thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn (về đích sớm 01 năm so với đề án phê duyệt); có 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới (đạt vượt kế hoạt), nâng tổng số xã đạt chuẩn toàn tỉnh là 51/111 xã (46%); hoàn thiện hồ sơ trình Trung ương thẩm định TP.Uông Bí, TP Cẩm Phả hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, nâng tổng số cấp huyện trong toàn tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới lên 4 địa phương (Cẩm Phả, Uông Bí, Đông Triều và Cô Tô) Chương trình mỗi xã phường, một sản phẩn (OCOP) từng bước đáp ứng được nhu cầu của thị trường, xây dựng thành thương hiệu mạnh của Tỉnh
Trang 29Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Đối với bất k một nghiên cứu nào, xác định mục tiêu nghiên cứu là việc làm đầu tiên, quan trọng để công trình đi đến đích, từ mục tiêu đặt ra ra, cần xác định được nội dung nghiên cứu để đạt được mục tiêu đó Muốn giải quyết được tốt nội dụng để đạt mục tiêu thì việc xác định phương pháp nghiên cứu đúng là rất cần thiết và quan trọng Bởi vì, phương pháp nghiên cứu là cách thức (trình
tự các bước) mà người nghiên cứu phải thực hiện trong quá trình nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Do vậy, việc xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp sẽ giúp người nghiên cứu nhanh chóng giải quyết được các nội dung của vấn đề nghiên cứu và hoàn thiện công trình của mình Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây
2.1 Các phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp thống kê
Thống kê là một hệ thống các phương pháp (thu thập, tổng hợp, trình bày
số liệu và tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu) nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định Vì vậy, phương pháp thống kê được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu từ việc thu thập thông tin,
xử lý thông tin, phân tích thông tin và rút ra xu hướng vận động của vấn đề nghiên cứu Một số phương pháp cụ thể được sử dụng trong nghiên cứu như sau:
2.1.1.1 Ph ng pháp thu thập thông tin
Thông tin thứ ấp: Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ sách, báo, tạp
chí, các báo cáo của tỉnh, huyện đã công bố, công trình nghiên cứu liên quan đến sản phẩm và chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu Những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới chuỗi giá trị - dược liệu sẽ được tổng hợp nhằm cung cấp những luận cứ khoa học và xây dựng khung phân tích cho đề tài Ngoài ra, các văn bản, quy định liên quan đến chuỗi giá trị dược liệu sẽ được thu thập, tổng hợp phục vụ mục tiêu nghiên cứu
Thông tin s ấp: Nhóm nhiên cứu tiến hành điều tra khảo sát các huyện,
thành phố có sản phẩm dược liệu tham gia chương trình OCOP và điều tra các
Tổ chức quản lý, Doanh nghiệp, HTX và hộ nông dân tham gia vào chương trình OCOP bằng bảng hỏi được thiết kế sẵn, kết hợp với quan sát thực địa
Trang 30- Dung lượng mẫu: Tổng số phiếu điều tra là 720 phiếu, Trong đó có 40 phiếu điều tra phỏng vấn sâu đối với các tổ chức: Lãnh đạo 6 huyện và 2 thành phố có các sản phẩm tham gia OCOP, lãnh đạo của Văn phòng điều phối Nông thôn mới, Ban chỉ đạo OCOP, 10 Doanh nghiệp và HTX sản xuất và chế biến dược liệu, số còn lại là các hộ nông dân, thương lái
- Phương pháp chọn mẫu:
+ Đối với các tổ chức: Các huyện, thị xã, thành phố và các phòng trực thuộc chọn theo chủ đích để có được những thông tin hữu ích: Phòng Kinh tế, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trung tâm khuyến Nông, Phòng công thương vì thông tin liên quan đến vấn đề tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, cần chọn các phòng theo chủ đích để có được thông tin hữu ích nhất
+ Đối với các hộ nông dân và thương lái, chọn theo phương pháp ngẫu nhiên là những hộ có trồng, hoặc thu hái, hoặc đứng ra thu mua và các hộ tham gia chương trình OCOP
+ Đối với Doanh nghiệp và HTX, thường bảo vệ hệ thống số liệu kinh doanh của họ như là bí mật kinh doanh Do đó, không có cơ sở để rút mẫu và tính xác suất rút mẫu, khó có khả năng chắc chắn về mức tin cậy tuyệt đối và khả năng đại diện của nguồn số liệu này để từ đó phỏng đoán được số liệu của tổng thể Vì các lí do đã nêu, nhóm tác giả quyết định áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp chọn mẫu theo kinh nghiệm, nhờ sự hỗ trợ của chuyên gia OCOP tỉnh, cán bộ địa phương, cán bộ hợp tác xã và các mối quan
hệ cá nhân để lựa chọn các đối tượng có tính chất phù hợp với yêu cầu nghiên cứu, nhằm tăng mức độ tiếp cận và thu thập thông tin trên địa bàn nghiên cứu
- Thời gian điều tra: Tháng 8 -9/2017
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát vùng trồng dược liệu của tỉnh gồm: Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Tiên Yên, Đầm Hà, Ba Chẽ, Bình Liêu và TP Cẩm Phả để có được bức tranh tổng quan về sản xuất và tiêu thụ dược liệu, cũng như việc đánh giá tiềm năng thế mạnh của mỗi địa phương về sản xuất, chế biến và tiêu thụ dược liệu, sự tham gia của các sản phẩm dược liệu vào chương OCOP của tỉnh
2.1.1.2 Ph ng pháp thống ê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng để mô tả hiện trạng của vấn
đề nghiên cứu là các phương pháp liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt,
Trang 31quát đối tượng nghiên cứu là các hộ sản xuất dược liệu, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến là tiêu thụ dược liệu, cùng các cơ quan tổ chức liên quan đến công tác tổ chức và quản lý sản xuất dược liệu
- Phương pháp so sánh: Được dùng để so sánh đánh giá các chỉ tiêu kinh
tế từ các số liệu được điều tra, nhằm rút ra xu hướng phát triển của dược liệu So sánh theo thời gian đối với cùng một loại dược liệu để thấy được sự biến động
về giá, năng suất, diện tích so sánh theo không gian đối với những loại dược liệu khác nhau để biết được lợi thế của mỗi loại Phương pháp này cũng giúp đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu của vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp số tuyệt đối: Nhằm phân tích r lượng tăng giảm tuyệt đối của k sau so với k trước hoặc đánh giá cụ thể về một lượng tuyệt đối nào đó: Tổng giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, tổng chi phí sản xuất, chi phí tăng thêm
- Phương pháp số tương đối: Nhằm so sánh để biết được con số ở mức tương đối, khi không muốn công bố về con số cụ thể, hoặc để ước lượng một con số nào đó khi không có khả năng đưa ra con số chính xác
2.1.2 Phương pháp phân tích chuỗi
Việc phân tích chuỗi có xem xét đến tính liên ngành, kết hợp các phương pháp của kinh tế học, xã hội học và môi trường học Để giải thích kết quả phân tích chuỗi, nhóm nghiên cứu kết hợp sử dụng thông tin từ phỏng vấn các bên liên quan trong chuỗi như nông dân, các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, các cơ sở sản xuất và chế biến tại trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Kết quả phân tích kết hợp giữa định tính và định lượng sẽ là cơ sở đề xuất chính sách vận hành chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu cho tỉnh đồng thời đưa ra đề xuất kiến nghị nhằm tác động lan tỏa chung đến nhóm sản phẩm OCOP mà tỉnh Quảng Ninh đang triển khai rộng rãi
- Phương pháp định tính: Được sử dụng nhằm tìm hiểu bản chất của chuỗi giá trị dược liệu, quá trình vận động, tương tác giữa các nhóm tác nhân, và giữa chuỗi giá trị với hệ thống chính sách tác động đến nó Ở giai đoạn thu thập dữ liệu, các k thuật định tính được áp dụng bao gồm phỏng vấn chuyên gia, nghiên
Trang 32cứu tình huống, và quan sát Nghiên cứu này dùng các k thuật cụ thể như phương pháp chọn mẫu có mục đích, thu thập dữ liệu mở, phân tích văn bản, số liệu thứ cấp, tổng hợp ý nghĩa và giải thích các kết quả tìm thấy
- Phương pháp định lượng: Nghiên cứu áp dụng các công cụ điều tra thống kê, phân tích chi phí - doanh thu, phân tích giá trị gia tăng cho từng công đoạn và toàn bộ chuỗi giá trị theo một số kênh sản phẩm chủ yếu Phương pháp định lượng dựa trên khảo sát thực tế các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị dược liệu để thiết lập sơ đồ chuỗi giá trị, tính toán chi phí, doanh thu, giá trị gia tăng qua từng khâu của chuỗi giá trị Từ đó phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quá trình vận hành của chuỗi giá trị để làm cơ sở cho việc xây dựng những chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị
Phân tích chuỗi giá trị, giá trị gia tăng (VA) trong nghiên cứu này được sử dụng để xem xét, đánh giá từng tác nhân, nhóm tác nhân và toàn chuỗi dược liệu VA hay lợi nhuận được tích bằng công thức sau:
Pr = GO –TC (1) và VA = GO - IC (2)
Trong :
Pr: Lợi nhuận
VA: Là giá trị gia tăng (giá trị tăng thêm)
GO: Là Tổng giá trị sản phẩm dược liệu sản xuất ra
IC: Là tổng chi phí vật chất và những chi phí dịch vụ mua hoặc thuê ngoài TC: là tổng chi phí sản xuất bao gồm những chi phí vật chất cụ thể và các dịch vụ mua hoặc thuê ngoài= IC + IL
IL: Là chi phí lao động gồm cả lao động gia đình và lao động thuê ngoài Trong nghiên cứu này do chi phí khấu hao không lớn nên được gộp vào chi chí vật chất IC
Phân tích hiệu quả sản xuất để thấy được tính hiệu quả của mỗi tác nhân tham gia trong chuỗi, trên cơ sở phân tích nhằm đề xuất giải pháp nhằm hài hòa lợi ích giữa các tác nhân Một số chỉ tiêu được sử dụng để phân tích hiệu quả chuỗi trong nghiên cứu này là:
+ So sánh giữa Tổng giá trị sản xuất (GO) và tổng Chi chí sản xuất (chi phí vật chất là chi phí lao động): Chỉ tiêu này nhằm đánh giá xem mỗi đồng chi phí bỏ ra tạo ra được bao nhiêu giá trị mang lại kể cả hao phí về lao động
Trang 33+ So sánh giữa giá trị gia tăng với tổng chi phí (VA/TC): Chỉ tiêu này nhằm biết được một đồng chi phí sản xuất tạo ra được bao nhiêu giá trị gia tăng
+ So sánh giữa tổng giá trị sản xuất và chi phí ngày công lao động (GO/IL): Chỉ tiêu này cho biết giá trị một ngày công lao động tạo ra được bao nhiêu giá trị sản xuất
+ So sánh giá trị gia tăng và chi phí lao động (VA/IL): Chỉ tiêu này cho biết giá trị một ngày công lao động tạo ra được bao nhiêu giá trị gia tăng
+ So sánh giá trị gia tăng và chi phí trung gian (VA/IC): Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng chi phí vật chất bỏ ra thu được bao nhiêu giá trị gia tăng
- Phân tích chi phí - lợi nhuận, phân tích giá trị gia tăng: Được sử dụng để phân tích kinh tế của các tác nhân tham gia vào chuỗi dược liệu, trên cơ sở đó thấy được sự phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị
Bảng 2.1: Phương pháp tính chi phí, lợi nhuận trong chuỗi giá trị
Tác nhân
Chi phí Doanh thu Lợi nhuận
Khoản giá trị tăng lên (MarginalValu)
Chi phí đơn vị
Chi phí gia tăng
% Chi phí gia tăng
Giá bán
Lợi nhuận
% Lợi nhuận
Giá trị tăng thêm
% Giá trị tăng thêm
Thu gom G+B B B/F H H-B-G
(H-B-G)/(K-F) H-G (H-G)/K
Chế biến H+C C C/F I I-C-H (I-C-H)/(K-F) I-H (I-H)/K
Buôn bán I+D D D/F J J-D-I (J-D-I)/(K-F) J-I (J-I)/K
Bán lẻ J+E E E/F K K-E-J (K-E-J)/(K-F) K-J (K-J)/K
2.1.3 Phương pháp phân tích hồi quy
Phương pháp này được sử dụng để phân tích các yếu tố đến ảnh hưởng hiệu quả kinh tế trong sản xuất dược liệu của hộ nông dân Sử dụng mô hình kinh tế lượng hồi quy bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) Sau khi thực hiện hồi quy từ bộ số liệu, kết quả cho thấy dạng hàm Cobb-Douglas có kết quả đáng tin cậy hơn về mặt thống kê
Trang 34Yi là biến phụ thuộc
Xi (i = 1, 2 , k) là biến độc lập
α (i = 1, 2 , k) là các hệ số hồi quy
A là hằng số; ui là sai số; e là cơ số toán học (e = 2,71828)
Để nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất dược liệu của hộ nông dân thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh, mô hình tương quan tổng thể là hàm sản xuất Cobb-Douglas (1) và logarit hóa 2 vế ta có phương trình:
LnY = + LnX1 + LnX2 + LnX3 + LnX4 + LnX5
Trong đó: Y là Giá trị sản xuất của hộ (tỷ đồng/ha)
Các biến độc lập X1-5.Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu chọn các biến độc lập gồm: Lao động, thuốc BVTV, thủy lợi, giống, phân bón là những nhân tố tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất của các hộ nông dân trồng cây dược liệu
2.1.4 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia có trình độ cao của một chuyên ngành để xem xét, nhận định bản chất một sự kiện khoa học hay thực tiễn phức tạp, để tìm ra giải pháp tối ưu cho các sự kiện đó hay đánh giá một sản phảm khoa học Theo đó, nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn các chuyên gia về lĩnh vực dược liệu, chuyên gia về phân tích chuỗi thông qua việc tổ chức hội thảo để lấy ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà nông và doanh nghiệp về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dược liệu, về sự vận hành chuỗi giá trị dược liệu; cơ chế phát triển chuỗi giá trị dược liệu phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh, với cơ chế thị trường trong thời kì hội nhập
2.1.5 Phương pháp phân tích SWOT
- Phân tích ma trận SWOT: Được sử dụng nhằm mục đích phân tích, tổng hợp các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tích cực, tiêu cực (thuận lợi, khó khăn) của địa bàn nghiên cứu của mỗi tác nhân cũng như của
Trang 35toàn bộ chuỗi giá trị dược liệu Đây là cơ sở để đề ra các chiến lược phát triển và nâng cấp chuỗi giá trị
Bảng 2.2: Mô hình phân tích ma trận SWOT
Điểm mạnh
(S)
SO: Giải pháp công kích (tận
dụng điểm mạnh để đeo đuổi
cơ hội)
ST: Giải pháp thích ứng (tận
dụng điểm mạnh để hạn chế những đe dọa có thể xảy ra)
Điểm yếu
(W)
WO: Giải pháp điều chỉnh
(tận dụng cơ hội để khắc phục điểm yếu)
WT: Giải pháp phòng thủ (khắc
phục điểm yếu và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra)
2.2 Kết quả phân tích số liệu điều
Nhóm nghiên cứu phân tích tổng hợp đưa ra số liệu chung về dược liệu Quảng Ninh chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh; Đồng thời lựa chọn 04 dược liệu tiêu biểu: Ba kích, Trà hoa vàng,
vỏ Quế, cây Thìa canh để phân tích cụ thể như sau:
2.2.1 Khái quát về dược liệu và chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu tỉnh Quảng Ninh
(1) Danh mục cây thuốc được trồng và quy mô trồng tại Quảng Ninh: Quảng Ninh hiện có 35 loại cây dược liệu với tổng diện tích là 6560ha, trong đó cây dược liệu hồi, quế chiếm 6235ha (chiếm 95%), 33 loại cây dược liệu còn lại chiếm 325ha ( chiếm 5%)
` (2) Giá trị trung bình, mode của các biến số về điều kiện sinh thái tự nhiên, kinh tế - xã hội - nhân văn và số loài cây thuốc theo 12 huyện, thị ở tỉnh Quảng Ninh: Ba Chẽ, Bình Liêu, Cẩm Phả, Cô Tô, Đầm Hà, Hải Hà, Đông Triều, Hoành
Bồ, Móng Cái, Tiên Yên, Uông Bí, Vân Đồn
(3) Liệt kê số liệu về tên sản phẩm, số sao, thời gian chứng nhận, tình hình nhà xưởng sản xuất, công nghệ sản xuất, thị trường tiêu thụ của 35 sản phẩm dược liệu thuộc chương trình OCOP của 08 huyện thị Quảng Ninh: Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên, Hoành Bồ, Cẩm Phả, Móng Cái, Đầm Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ
(4) Sản phẩm dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh giai đoạn (2016-2018): gồm 44 sản phẩm, trong bảng số liệu ghi r tên công ty sản xuất, chất lượng sao và năm công nhận
Trang 36(5) Danh sách kiệt kê 14 tổ chức kinh tế tham gia hoạt động sản xuất sơ cấp dược liệu tại Quảng Ninh
(6) Danh sách liệu kê 19 tổ chức kinh tế tham gia hoạt động sản xuất thứ cấp dược liệu tại Quảng Ninh
(7) Cơ cấu sản lượng dược liệu được hộ gia đình bán cho doanh nghiệp: phân tích làm r tỷ lệ % sản lượng bán cho doanh nghiệp, các hộ có ký hợp đồng với doanh nghiệp và các hộ chưa ký hợp đồng với doanh nghiệp
(8) So sánh giá trị bình quân giữa thu chi trồng dược liệu với thu chi sản xuất nông nghiệp tại Quảng Ninh cho thấy tỷ lệ thu/chi đối với nông nghiệp là
4207 /2060=2,4, trong khi đó tỷ lệ thu/chi đối dược liệu là 2537/431 = 5,9, với con số này cho thấy việc trông cây dược liệu có giá trị mang lợi ích kinh tế hơn rất nhiều so với trồng cây nông nghiệp nói chung
(9) Các lý do hộ gia đình liên kết với doanh nghiệp: có 618 hộ được hỏi có
154 hộ ( chiếm 25%): Muốn có đầu ta chắc chắn, có 111 hộ ( chiếm 18%): để bán dược liệu với giá ổn định Có 87 hộ ( chiếm 14% ) để bán dược liệu với giá cao…
(10) So sánh thu nhập từ dược liệu của các hộ gia đình trước và sau khi liên kết: Số liệu phân tích mức thu nhập của hộ đạt được trước khi liên kết và số
hộ đạt được sau khi liên kết
(11) Đối với việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ dược liệu tại tỉnh Quảng Ninh: Qua khảo sát điều tra cho thấy Đối với các hộ gia đình, việc tiêu thụ qua các thương lái sẽ dễ dàng bị ép giá các hộ dân dẫn đến việc giống như sản xuất nông sản, được mùa nhưng lại không tiêu thụ được Ngoài ra, quy trình sản xuất không thống nhất dẫn tới nguồn đầu vào không đồng đều về chất lượng phục vụ các công ty dược hoặc xuất khẩu
(12) Kết quả phân tích tương quan hồi quy trong sản xuất dược liệu của người dân chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cây Ba kích bởi hàm số:
GTSX = 94,38 + 1,086X 1 + 0,657 X 2 + 0,327 X 3 + 0,013 X 4 + 1,073 X 5
(Tri u ồng sào)
Giá trị tra bảng của hệ số Dubin Watson với n=54, các giả trị của P value) < 0,05, dL = 1,209 và dU=1,592, như vậy thỏa mãn 1<d<3 nên không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình (xem Phụ lục số 1)
(P-Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cây Trà hoa vàng bởi hàm số:
Trang 37GTSX = 795,856 + 4,211X 1 + 1,062 X 2 + 1,375 X 3 + 0,602 X 4 + 1,593 X 5
(Tri u ồng sào)
Giá trị tra bảng của hệ số Dubin Watson với n=45, các giả trị của P value) < 0,05, dL = 1,111 và dU=1,583, như vậy thỏa mãn 1<d<3 nên không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình (xem Phụ lục số 2)
(P-(13) Chuỗi giá trị sản phẩm dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh
Người
thu gom
Người thu gom
Bán sỉ Bán lẻ
2.2.2 Phân tích chuỗi giá trị cây dược liệu trọng yếu của Quảng Ninh
Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 02 loại dược liệu được tỉnh xác định là trọng yếu của Quảng Ninh là Ba Kích và Trà Hoa vàng, thông qua các số liệu phân tích hiệu quả kinh tế của: Người sản xuất; người thu gom; người chế biến, người bán buôn các sản phẩm; người bán lẻ sản phẩm; và so sánh hiệu quả của các nhân tham gia chuỗi giá trị, và cuối cùng là kết quả xử lý mô hình hồi quy
về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của hai loại cây dược liệu này
2.2.3 Phân tích SWOT cho chuỗi giá trị dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh
Báo cáo đã chỉ ra 06 cơ hội, 06 thách thức, 06 điểm mạnh và 07 điểm
yếu, cùng với đó báo cáo còn đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi
47,5%
100 % 37%
Trang 38giá trị dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh như: Các chính sách hỗ trợ sản xuất; phương pháp và công nghệ chế biến; tiếp thị và bán hàng, phát triển công nghệ, cơ sở hạ tầng doanh nghiệp (xem Phụ lục 3)
2.2.4 Đánh giá chung về phát triển chuỗi giá trị dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh
Hộp 2.1: Hiệu quả một số cây dược liệu khác theo ý kiến người dân
Chẳng hạn, tại xã Yên Than, huyện Tiên Yên, đã có 25 hộ tham gia HTX trồng Cà gai leo và dây Thìa canh HTX đã liên kết với Công Ty TNHH Nuôi Trồng, Sản Xuất và Chế Biến Dược Liệu Đông Bắc để cung cấp nguyên liệu Người dân đã nhận thấy hiệu quả của cây dược liệu có thể gấp 5 lần trồng lúa,
họ sẵn sàng chuyển diện tích trồng lúa, ngô sang trồng dược liệu Tại thời điểm khảo sát (tháng 7/2017) thì họ đang gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm,
do Công ty không đủ năng lực chế biến nguồn nguyên liệu mà các hộ đã làm ra
Do vậy, dây thìa canh để quá lứa tại ruộng, còn Cà gai leo thì được các hộ cắt về
tự phơi khô và bán cho người tiêu dùng
(Nguồn: Nh m NC hảo sát thự tiễn)
- Hình thành được dạng liên kết chuỗi giá trị đối với hai loại dược liệu điển hình là ba kích và trà hoa vàng Kết quả phân tích chuỗi giá trị của hai loại dược liệu này cho thấy, có 5 tác nhân chính là người sản xuất, người thu gom, người chế biến, người bán buôn và người bán lẻ Tuy nhiên, có tác nhân cũng chưa thật r ràng (người thu mua - người chế biến; Người chế biến - người bán buôn; Người bán buôn- người bán lẻ) Hiệu quả kinh tế được tạo ra của các tác nhân trong chuỗi là khác nhau, tác nhân tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất là người sản xuất, tác nhân tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất là người bán lẻ, điều này khá phù hợp, vì người sản xuất là tác nhân đầu tư nhiều công sức nhất và bỏ vốn vật chất là ít nhất
Trang 39- Hình thành được các kênh tiêu thụ sản phẩm dược liệu Theo đó, giá trị gia tăng và GTGT thuần được phân phối chủ yếu ở khâu trung gian thương mại như tập trung vào tác nhân gần khách hàng nhất như người bán buôn và người bán lẻ Tuy nhiên, mô hình bán buôn dược liệu qua chế biến không thể hiện r , trong nghiên cứu này, chỉ phân tích tác nhân bán buôn nguyên liệu cho tác nhân chế biến và người chế biến cũng có thể kiêm bán lẻ sản phẩm hoặc bán cho đại
lý bán lẻ Thực tế, đối với Ba kích, người mua có thể dùng làm nguyên liệu để chế biến rượu Ba kích hoặc nấu thành cao Ba kích sau đó đem bán ra thị trường lại làm gia tăng giá trị của sản phẩm Trà Hoa Vàng có thể lại được bán lẻ tiếp đến người tiêu dùng tiếp theo
- Mặc dù, mối liên kết còn chưa r ràng và chặt chẽ, nhưng các mô hình liên kết khá đa dạng, chứng tỏ người sản xuất/thu hái biết tận dụng cơ hội tham gia vào các mô hình liên kết; Liên kết trong sản xuất - tiêu thụ đã từng bước giải quyết một số khó khăn, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá, giải quyết một phần bức xúc của nông dân, nhất là về tiêu thụ dược liệu đến thị trường mới Kết quả phân tích cho biết các tiêu chí mà người sản xuất/thu hái khi lựa chọn liên kết khá r ràng
- UBND tỉnh Quảng Ninh và các Sở, Ban ngành đặc biệt quan tâm đến quá trình xây dựng và phát triển quy hoạch dược liệu để khai thác lợi thế trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh, mong muốn dược liệu trở thành hàng hóa thế mạnh, ngoài thế mạnh về công nghiệp khai thác khoáng sản và du lịch của tỉnh Các chính sách về đất đai, mặt bằng sản xuất, KHCN, vốn được Tỉnh ủy, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm để thực hiện chương trình OCOP trong đó có sản phẩm dược liệu, góp phần xây dựng nông thôn mới
- Bước đầu, doanh nghiệp và người dân đã sử dụng các hợp đồng văn bản khi tham gia vào mối liên kết giữa các tác nhân; mối liên kết thể hiện theo chiều ngang (giữa các hộ, tổ hợp tác, các cơ sở chế biến, tiêu thụ), theo chiều dọc (người sản xuất, người thu gom, người chế biến, người tiêu thụ, người mua)
- Hộ nông dân đều rất sẵn sàng tham gia vào chuỗi giá trị dược liệu, người dân đều nhận thấy việc trồng cây dược liệu mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn các cây trồng khác, họ sẵn sàng chuyển đổi đất trồng lúa và một số cây trồng khác để trồng cây dược liệu, khi sản phẩm của họ được tiêu thụ
Trang 402.2.4.2 Nh ng h hăn, h n h
- Vấn đề nổi cộm là thị trường: Giá các sản phầm từ dược liệu còn đắt, chịu sự cạnh tranh từ các sản phẩm từ địa phương khác, từ nhập khẩu những sản phẩm có cùng công dụng (ví dụ: cùng chữa tiểu đường, có nhiều sản phẩm khác nhau, dẫn đến khó cạnh tranh về giá, công dụng, chất lượng) Thị trường tiêu thụ nguyên liệu thô của người nông dân còn hạn chế, khó khăn trong việc mở rộng diện tích trồng một số dược liệu không mang tính đặc sản: Dây Thìa canh, cà gai leo, dây kim ngân, xả
Thị trường đầu ra của dược liệu là khó khăn nhất, các hộ đều bán cho các thương lái tại địa phương, chưa có đơn vị, tổ chức nào đại diện thu mua sản phẩm cho các hộ nông dân, nên giá cả rất bấp bênh, thường bị thương lái ép giá, công nghệ bảo quản yếu và thiếu Đối với những chế phẩm từ dược liệu cũng rất khó khăn, tiêu thụ chậm, thị trường còn nhỏ hẹp, chưa có chính sách tiếp thị quảng cáo ra thị trường ngoài tỉnh và quốc tế
Một số sản phẩm được thương lái bán sang Trung Quốc là chủ yếu: Trà hoa vàng (Ba Chẽ), Quế (Quang Lâm- Đầm Hà); Sở (Bình Liêu) Nếu thị trường Trung Quốc ách tắc thì thương lái không mua, người trồng rất khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm, theo đó, hạn chế đến việc duy trì cũng như mở rộng quy mô sản xuất
- Người tiêu dùng, đặc biệt là người ngoài tỉnh, chưa thực sự biết đến những giá trị đích thực của sản phẩm dược liệu; chưa sẵn sàng mua do giá đắt;
sự cạnh tranh; hàng giả, hàng nhái khó phân biệt vì hầu hết các dược liệu đều chưa có thương hiệu Mặt khác, tác dụng của dược liệu thường chậm hơn, so với các loại thuốc tân dược, ít được người tiêu dùng quan tâm, nhất là những người
có thu nhập thấp, thích các sản phẩm có hiệu quả nhanh
- Số hộ đã có ký hợp đồng với các cơ sở chế biến còn rất hạn chế, quy mô còn nhỏ Các doanh nghiệp và bản thân người dân chưa thực sự có những thỏa hiệp với nhau để xây dựng chuỗi giá trị Chưa có những liên kết bằng các hợp đồng dưới dạng văn bản mà họ mới chỉ thực hiện hợp đồng miệng Một số tuy
đã có những thỏa thuận bằng hợp đồng, nhưng quá trình thực hiện chưa thật sự nghiêm túc và triệt để Doanh nghiệp chế biến phụ thuộc vào thị trường, còn người dân trồng dược liệu thì phụ thuộc vào doanh nghiệp và thời tiết, nên vẫn
có tình trạng thừa ế nguyên liệu vào lúc chính vụ hoặc thiếu nguyên liệu lúc trái