1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình kỹ thuật nhân giống cây chè lai bằng phương pháp giâm cành tại vườn ươm trường đại học nông lâm thái nguyên

46 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện quy trình kỹ thuật nhân giống cây chè lai bằng phương pháp giâm cành tại vườn ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tác giả Trương Văn Pao
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thu Hoàn
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông Lâm Kết Hợp
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU (8)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (8)
    • 1.2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu (10)
      • 1.2.1. Thực hiện quy trình gieo ươm cây Chè lai giai đoạn vườn ươm (10)
      • 1.2.2. Chăm sóc cây Chè lai tại vườn ươm (10)
      • 1.2.3. Rút ra bài hoc kinh nghiệm trong sản xuất cây con (10)
  • PHẦN 2. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU (11)
    • 2.1. Tổng quan về cây Chè lai LDP1 (11)
      • 2.1.1. Đặc điểm hình thái (11)
      • 2.1.2. Đặc điểm sinh thái (11)
      • 2.1.3. Ưu điểm của cây Chè lai (16)
      • 2.1.4. Nhược điểm của cây Chè Lai (0)
      • 2.1.5. Tiêu chuẩn đối với cây giống đạt chất lượng (17)
    • 2.2. Nguồn gốc vật liệu giống (17)
    • 2.3. Nghiên cứu về kĩ thuật gieo ươm cây Chè lai ở thế giới và Việt Nam 10 2.4. Tổng quan cơ sở thực tập (17)
      • 2.4.1. Điều kiện vườn ươm (20)
      • 2.4.2. Đặc điểm khí hậu thủy văn (20)
  • PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 3.1. Thời gian và phạm vi thực hiện (22)
      • 3.1.1. Thời gian (22)
      • 3.1.2. Phạm vi thực hiện (22)
    • 3.2. Nội dung thực hiện (22)
      • 3.2.1. Thực hiện các bước quy trình gieo ươm (22)
      • 3.2.2. Thực hiện các bước thực hiện chăm sóc cây con giai đoạn vườn ươm (22)
      • 3.2.3. Kĩ thuật theo dõi và phòng trừ sâu bệnh hại cây con trong giai đoạn vườn ươm (22)
      • 3.2.4. Tiêu chuẩn cây con xuất vườn (22)
      • 3.2.5. Bài học kinh nghiệm (22)
    • 3.3. Các bước thực hiện (22)
  • PHẦN 4. KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ THẢO LUẬN (24)
    • 4.1. Kết quả theo dõi và đánh giá các bước quy trình thực hiện gieo ươm. 17 1. Nguồn gốc giống và hồ sơ vườn ươm (24)
      • 4.1.2. Kỹ thuật đóng bầu gieo ươm (25)
      • 4.1.3. Kỹ thuật xử lý hom cành (27)
      • 4.1.4. Kỹ thuật cắm hom (29)
      • 4.1.5. Kỹ thuật chăm sóc, dặm hom cây con (29)
      • 4.1.6. Theo dõi các chỉ tiêu về tỷ lệ sống, số mầm, động thái tăng trưởng về đường kính và chiều cao cây hom (32)
      • 4.1.7. Kỹ thuật theo dõi và phòng trừ sâu bệnh hại (33)
      • 4.1.8. Tiêu chuẩn cây con xuất vườn và xuất vườn cây giống phục vụ trồng cây ăn quả (37)
    • 4.2. Bài học kinh nghiệm (38)
  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (39)
    • 5.1. Kết luận (39)
    • 5.2. Tồn tại (40)
    • 5.3. Đề nghị (40)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (41)

Nội dung

TRƯƠNG VĂN PAO THỰC HIỆN QUY TRÌNH KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY CHÈ LAI BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM CÀNH TẠI VƯỜN ƯƠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành

TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU

Tổng quan về cây Chè lai LDP1

Cây chè có một thân chính duy nhất và từ đó phân nhánh thành các cấp cành khác nhau Do hình dạng phân nhánh khác nhau nên người ta phân loại thân chè thành ba loại: thân gỗ, thân bán gỗ và thân bụi.

Cành chè phát triển từ mầm dinh dưỡng thành nhiều đốt và phân thành các cấp I, II, III từ thân chính; Thân và cành chè tạo nên khung tán của cây chè, và khi số lượng cành thích hợp trên khung tán được cân đối sẽ cho sản lượng cao; Cây chè ở dạng bụi thấp thường phân cành nhiều, tăng diện tích quang hợp và năng suất.

Lá nhỏ dày, gợn sóng, màu xanh đậm và có chiều dài từ 3,5 đến 6,5 cm; trên lá có 6 đôi gân nhưng không nổi rõ, mép có răng cưa nhỏ và loài có khả năng chịu lạnh tốt.

Chè thích hợp với thổ nhưỡng của vùng đồi cao, không thích hợp vùng đồng bằng trung du, chè đem lại hương thơm dịu mát cho mọi người

Chè chỉ có một thân chính sau đó mới phân ra các cấp cành

Do đặc điểm sinh trưởng và hình dạng phân nhánh khác nhau, thân chè được chia thành ba loại: thân gỗ, thân nhỡ (thân bán gỗ) và thân bụi Cành chè hình thành từ mầm dinh dưỡng, phát triển thành nhiều đốt; chiều dài của đốt biến đổi từ 1–10 cm tùy giống và điều kiện sinh trưởng, đốt chè dài là một biểu hiện của giống chè có năng suất cao Từ thân chính, các cành chè được phân thành nhiều cấp: cành cấp 1, cấp 2 và cấp 3.

Hoạt động sinh trưởng của các cấp cành trên tán chè rất khác nhau Theo lý thuyết phát dục giai đoạn, những mầm chè nằm càng sát phía gốc của cây càng có giai đoạn phát dục non, sức sinh trưởng mạnh; còn những cành chè ở phía trên ngọn (mặt tán) thì càng có giai đoạn phát dục già, sức sinh trưởng yếu nhưng khả năng ra hoa kết quả lại mạnh Các cành ở giữa tán hoặc trên mặt tán thường có hoạt động sinh trưởng mạnh hơn các cành ở rìa tán và ở phía dưới tán Thân và cành chè tạo nên khung tán của cây chè; với số lượng cành thích hợp và cân đối trên tán, cây chè cho sản lượng cao Vượt quá giới hạn đó, sản lượng không tăng và phẩm cấp giảm xuống do búp mù nhiều Tương quan giữa mật độ cành và sản lượng búp là một tương quan không chặt; theo Bakhơtatje, hệ số tương quan giữa mật độ cành với sản lượng là r = 0,071 Trong sản xuất, cần nắm vững đặc điểm sinh trưởng của cành để áp dụng các biện pháp kỹ thuật đốn, hái hợp lý mới có thể tạo ra trên tán chè nhiều búp, đặt cơ sở cho việc tăng sản.

Trên cây chè có hai loại mầm chính là mầm dinh dưỡng và mầm sinh thực Mầm dinh dưỡng phát triển thành cành lá, tăng khả năng quang hợp và tích lũy dinh dưỡng cho cây, còn mầm sinh thực phát triển thành nụ hoa và sau đó cho ra quả, đảm bảo chu kỳ sinh sản của cây chè.

Mầm dinh dưỡng gồm có:

- Mầm bất định (mầm ở cổ rễ)

Loại mầm ở vị trí trên cùng của cành là mầm đỉnh; nó tiếp tục phát triển trên trục chính của các mầm năm trước, hoạt động sinh trưởng mạnh và thường ức chế sinh trưởng của các mầm phía dưới để duy trì ưu thế ngọn Trong một năm, mầm đỉnh hình thành búp sớm nhất cùng với thời kỳ bắt đầu sinh trưởng mùa xuân của cây Búp được hình thành từ các mầm đỉnh và là búp đợt 1, có thể là búp bình thường hoặc búp mù.

Trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, phần lớn chúng ở trạng thái nghỉ do sự ức chế của mầm đỉnh Khi hái các búp đỉnh, mầm nách phát triển thành búp mới, tùy theo vị trí của lá trên cành mà khả năng phát triển và chất lượng búp ở các nách lá khác nhau Những mầm nách ở phía trên thường có xu hướng sinh trưởng mạnh hơn, nên cho ra búp có chất lượng tốt hơn so với các mầm ở nách lá phía dưới Các búp hình thành từ mầm nách của các lá năm trước được gọi là búp đợt 1, có thể là búp bình thường hoặc búp mù.

Đây là các mầm nằm trên các bộ phận đã hóa gỗ của các cành một năm tuổi hoặc già hơn Những mầm này kém phân hóa và phát triển so với hai loại mầm được nêu ở trên, do đó sự hình thành búp sau khi đốn đòi hỏi thời gian dài hơn Kỹ thuật đốn lửng và đốn đau có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của mầm ngủ, từ đó tạo nên những cành chè mới có giai đoạn phát dục non và sức sinh trưởng mạnh Búp được hình thành từ mầm ngủ có thể là búp bình thường hoặc búp mù.

Vị trí của loại mầm này không cố định trên thân chè thường ở sát cổ rễ

Cây chè chỉ phát triển thành cành lá mới khi được đốn trẻ lại; trong trường hợp đó, cành chè như mọc lên từ gốc, từ dưới đất Búp trên cây chè được hình thành từ các mầm bất định và có hai loại: búp bình thường và búp mù.

Mầm sinh thực nằm ở nách lá chè, bình thường mỗi nách lá có hai mầm sinh thực, nhưng đôi khi số mầm sinh thực lại nhiều hơn và ở nách lá có thể hình thành một chùm hoa Các mầm sinh thực phát sinh cùng với mầm dinh dưỡng trên cùng một trục, mầm dinh dưỡng ở giữa và mầm sinh thực ở hai bên Vì vậy, quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực thường nảy sinh mâu thuẫn: khi mầm sinh thực phát triển nhiều trên cành chè, quá trình sinh trưởng của các mầm dinh dưỡng bị yếu đi do tiêu hao dưỡng chất cho việc hình thành nụ hoa và quả Trong sản xuất chè búp, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích đáng để hạn chế sự phát triển của các mầm sinh thực.

Búp chè là đoạn non của một cành chè, được hình thành từ các mầm dinh dưỡng, gồm tôm (lá non ở đỉnh của cành chưa xòe ra) và hai hoặc ba lá non Trong quá trình sinh trưởng, búp chè chịu sự chi phối của cả yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong của nó Kích thước của búp thay đổi tùy theo giống, loại chè và liều lượng phân bón, cũng như các khâu kỹ thuật canh tác khác như đốn, hái và điều kiện địa lý nơi trồng Búp chè là nguyên liệu để chế biến ra các loại chè, vì vậy nó có quan hệ trực tiếp đến năng suất và phẩm chất của chè Nghiên cứu của Bakhơtatje (1947) cho thấy mối tương quan giữa số lượng búp trên một đơn vị diện tích và năng suất rất chặt chẽ, với hệ số tương quan r = 0,956.

Búp chè gồm hai loại: búp bình thường và búp mù Búp bình thường (gồm tôm và 2–3 lá non) có trọng lượng trung bình của một búp từ 1 g đến 1,2 g đối với giống chè Shan, và từ 0,5–0,6 g đối với giống chè Trung du; búp càng non thì phẩm chất càng tốt Hệ số tương quan giữa tỷ lệ phần trăm búp bình thường với hàm lượng tanin và cafein trong lá chè lần lượt là r = 0,67 và r = 0,48 Búp mù là búp phát triển không bình thường, trọng lượng trung bình của một búp mù thường bằng khoảng một nửa trọng lượng búp bình thường và phẩm chất thì thua kém rõ rệt Nguyên nhân xuất hiện búp mù rất phức tạp, một mặt do đặc điểm sinh vật học của cây trồng, mặt khác do ảnh hưởng xấu của các điều kiện bên ngoài hoặc do biện pháp kỹ thuật không thích hợp.

Lá chè mọc cách trên cành, mỗi đốt có một lá và hình thái lá có thể thay đổi nhiều theo các giống khác nhau và điều kiện ngoại cảnh Lá chè có gân rất rõ, nhưng các gân chính thường không phát triển đến tận rìa lá Rìa lá chè thường có răng cưa, và hình dạng răng cưa này lại khác nhau tùy từng giống chè Số đôi gân lá là một trong những chỉ tiêu để phân biệt các giống chè, giúp nhận diện nhanh và hỗ trợ các nghiên cứu, ứng dụng nông nghiệp.

Cây chè sống nhiều năm trên một mảnh đất cố định, do đó việc nghiên cứu đặc điểm bộ rễ là nền tảng quan trọng cho xây dựng các biện pháp kỹ thuật trồng chè hiệu quả Rễ chè phát triển khỏe mạnh tạo điều kiện cho các bộ phận trên mặt đất phát triển đồng bộ, tăng khả năng hấp thu nước và dinh dưỡng, từ đó cải thiện năng suất và chất lượng chè.

Hệ rễ chè gồm có: Rễ trụ (rễ cọc), rễ bên và rễ hấp thu Quá trình sinh trưởng và phát triển của bộ rễ có những đặc điểm:

Nguồn gốc vật liệu giống

Nguồn gốc hom cành: Được tuyển chọn từ các nương Chè lai đạt tiêu chuẩn cung cấp hom giống từ Thái Nguyên, Phú Thọ.

Nghiên cứu về kĩ thuật gieo ươm cây Chè lai ở thế giới và Việt Nam 10 2.4 Tổng quan cơ sở thực tập

Chè là cây công nghiệp thuộc nhóm nhiệt đới và cận nhiệt, thích nghi với đất feralit hơi chua có độ pH từ 4 đến 6; tại Việt Nam, năm 2001 diện tích trồng chè ước khoảng 98,3 nghìn ha cho sản lượng búp khô khoảng 75,7 nghìn tấn và xếp hạng thứ 8 trong 44 quốc gia trồng chè trên thế giới.

Chè được trồng nhiều hơn ở trung du và miền núi Bắc Bộ với diện tích 67.6 nghìn ha chiếm 68.8% diện tích chè búp khô của cả nước; sản lượng đạt

47 nghìn tấn chè búp khô chiếm 62,1% tổng sản lượng chè búp khô cả nước Tây Nguyên có diện tích và sản lượng chè đứng thứ hai cả nước, với diện tích 24,2 nghìn ha chiếm 24,6% diện tích chè của cả nước và sản lượng đạt 20,5 nghìn tấn chiếm 27,1% tổng sản lượng chè búp khô của cả nước.

Sản phẩm chè được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường trong nước và xuất khẩu sang Châu Phi, EU, Tây Á, Nhật Bản, Trung Quốc

Trong 12 tháng tính đến tháng 5 vừa qua, sản lượng chè tại các nước sản xuất lớn nhất thế giới được phân tích và so sánh với hoạt động sản xuất từ tháng 6/2016 – 5/2017 Việc so sánh này giúp làm rõ sự biến động và xu hướng của ngành chè ở quy mô toàn cầu giữa hai chu kỳ, đồng thời cung cấp cơ sở cho các quyết định kinh doanh và kế hoạch thị trường.

Tuy nhiên, dữ liệu tổng thể vẫn chưa phản ánh sự khác biệt lớn giữa các nước; Ấn Độ ghi nhận một mùa xuân bội thu chè với sản lượng 1,063 triệu tấn ở các bang phía Bắc và 226.960 tấn ở phía Nam Bangladesh cho biết sản lượng tăng từ 72.353 tấn trong niên vụ kết thúc tháng 5 năm 2016 lên 84.278 tấn trong niên vụ kết thúc tháng 5 năm 2017.

Lũ lụt nghiêm trọng ở Sri Lanka đã làm giảm mạnh sản xuất chè, với mức giảm 21.000 tấn, trong khi Kenya cũng ghi nhận giảm 48.000 tấn sản lượng chè, theo số liệu thống kê của Hội đồng Chè Quốc tế tại Luân Đôn Những con số này cho thấy tác động tiêu cực của thiên tai lên nguồn cung chè toàn cầu và nhấn mạnh sự phụ thuộc của thị trường chè vào điều kiện thời tiết.

Tính đến tháng 5/2017, tổng sản lượng lũy kế niên vụ đạt 2,193 triệu tấn, tương đương với sản lượng niên vụ trước đó, và niên vụ 2015 ghi nhận sản lượng chè đạt 2,182 triệu tấn.

Trong năm 2017, tổng sản lượng chè của Ấn Độ, Kenya và Sri Lanka tăng 3,5%, nhờ sự tăng trưởng ở Kenya và Ấn Độ (tăng khoảng 2,5%), trong khi Sri Lanka ghi nhận đà giảm mạnh 11% Sri Lanka tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong sản xuất chè do lũ lụt nghiêm trọng, ngược lại Kenya đang trải qua hạn hán [10]

Ngày nay trên thế giới có khoảng 40 nước trồng chè Chè được trồng tập trung nhiều nhất ở Châu Á sau đó đến châu Phi [10]

Theo con số thống kê của cơ quan nông nghiệp và lương thực thế giới (FAO năm 1971và 1975) thì diện tích trồng chè trên thế giới năm 1942 –

1952 là 985.000 ha, năm 1971 là 1.357.000 và năm 1074 là 1.531.000 ha (Đường Hồng Dật 2004 [1]

Việt Nam là một quốc gia với khoảng 120 nghìn ha đất trồng chè, hiện nay Việt Nam đã đứng hàng thứ 5 về diện tích trong các nước trồng chè, và khoảng 80 nghìn tấn chè xuất khẩu, Việt Nam xếp thứ 8 về khối lượng trong các nước xuất khẩu chè trên thế giới (Lê Quốc Doanh và cộng sự 2001[2]) Theo tổng công ty chè Việt Nam, đến nay cả nước đã có 34 địa phương trồng chè và trên 600 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chè với hơn 2.000 thương hiệu khác nhau Đặc biệt, ngành chè đã thiết lập được nhiều vùng chè chất lượng cao như: Lâm Đồng, Lặng Sơn, Sơn La, Lào Cai, Cao Bằng, Thái Nguyên.[2]

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã cho phép khảo nghiệm khu vực hóa trên diện rộng 7 giống chè chất lượng cao như: Bát tiên, Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Keo Am Tích…tại vùng chè chủ lực

Theo Bộ Thương mại, ước tính năm 2012 xuất khẩu chè của Việt Nam đạt 98.000 tấn, trị giá 93 triệu USD, tăng 61,9% về lượng và 55% về giá trị so với năm 2011 Trước đó, dự báo cho năm 2011 cho thấy sản phẩm chè Việt Nam có thể đạt 111.000 tấn, trị giá khoảng 120 triệu USD (Lê Quốc Doanh và cộng sự) Nhờ đà tăng mạnh này, chè Việt Nam hiện nay đã có mặt ở nhiều thị trường trên thế giới.

92 thị trường trên thế giới

2.4 Tổng quan cơ sở thực tập

Vườn ươm được bố trí tại khu vực mô hình CAQ - chè Trường của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố khoảng 3 km về phía Tây và nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng.

- Phía Nam vườn ươm giáp với phường Thịnh Đán

- Phía Bắc vườn ươm giáp với phường Quán Triều

- Phía Đông vườn ươm giáp với khu dân cư

- Phía Tây vườn ươm giáp với xã Phúc Hà

* Vườn ươm có diện tích 1000m 2 , được xây dựng bán cố định với công suất 500.000 cây giống

Địa hình khu vực vườn ươm của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tương đối bằng phẳng và được bao quanh bởi những đồi núi thấp Nhờ vậy, khi mưa lớn xảy ra, khu vực này ít bị rửa trôi và xói mòn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc và phát triển cây trồng trong vườn ươm.

2.4.2 Đặc điểm khí hậu thủy văn

Theo số liệu quan trắc từ trạm khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên cho thấy Trường Đại học Nông Lâm, trực thuộc xã Quyết Thắng, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với thời tiết chia làm 4 mùa rõ rệt là xuân, hạ, thu và đông; tuy nhiên, hai mùa mưa và mùa khô vẫn là đặc trưng nổi bật của khu vực.

- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, củ thể:

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22-32 độ

- Chênh lệch nhiệt độ giũa ngày và đêm khoảng 2-5 độ

- Nhiệt độ cao tuyệt đối là 37 độ

- Nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3 độ

- Nắng: Số gời nắng cả năm là 1588 giờ, tháng 5 đến tháng 6 có giờ nắng nhiều nhất khoảng (170-180 gời)

- Lượng mưa trung bình năm khoảng 2007 mm/năm tập trung chủ yếu vào mùa mưa tháng (6,7,8,9) chiếm 85% lượng mưa cả năm , trong đó tháng

7 có số ngày mưa nhiều nhất

- Độ ẩm không khí trung bình đạt khoảng 82%

Độ ẩm không khí dao động theo mùa và thường không ổn định, với mức cao nhất vào tháng 7 (mùa mưa) lên tới 86,8% và mức thấp nhất vào tháng 3 (mùa khô) là 70%.

- Sự chênh lệch độ ẩm không khí giữa 2 mùa khoảng 10-17%

Xã Quyết Thắng không có sông lớn chảy qua địa bàn, nên nguồn nước chủ yếu phụ thuộc vào chế độ thủy văn của hệ thống kênh đào và các nguồn nước tự nhiên như sông, suối, ao, hồ trong khu vực Những yếu tố thủy văn này quyết định khả năng cung cấp nước tưới tiêu cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong xã Do vậy, việc quản lý và khai thác hợp lý các nguồn nước từ kênh đào, sông và hồ là yếu tố then chốt cho sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh nước cho Quyết Thắng.

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian và phạm vi thực hiện

- Thời gian nghiên cứu: Tháng 1 đến tháng 5 năm 2018

- Thực hiện quy trình kĩ thuật nhân giống cây Chè lai bằng giâm cành

- Tại vườn ươm Đại học Nông Lâm, công suất 40 vạn bầu

Nội dung thực hiện

3.2.1 Thực hiện các bước quy trình gieo ươm

3.2.2 Thực hiện các bước thực hiện chăm sóc cây con giai đoạn vườn ươm 3.2.3 Kĩ thuật theo dõi và phòng trừ sâu bệnh hại cây con trong giai đoạn vườn ươm

- Kĩ thuật điều tra và đánh giá sâu/bệnh hại cây con

- Kĩ thuật phòng trừ sâu bệnh hại

3.2.4 Tiêu chuẩn cây con xuất vườn

Rút ra được bài học kinh nghiệm ở các bước kỹ thuật cụ thể

Các bước thực hiện

Bước 1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

- Tài liệu điều kiện (tự nhiên, kinh tế, xã hội) khu vực và điều kiện vườn ươm cây giống

- Tài liệu công trình nghiên cứu có liên quan trong nước và thế giới

Bước 2: Phương pháp thực nghiệm và quan sát trực tiếp

- Quan sát và thực hiện các công đoạn kĩ thuật trực tiếp tại vườn ươm

- Kĩ thuật đóng bầu gieo ươm

- Kĩ thuật xử lý hom

- Kĩ thuật chọn hom, cắm hom

- Kĩ thuật chăm sóc cây hom

- Kĩ thuật tra dặm cây hom

- Kĩ thuật chăm sóc, bón phân qua lá

- Kĩ thuật đảo bầu, phân loại cây

- Đánh giá các chỉ tiêu tỉ lệ sống, động thái tăng trưởng đường kính và chiều cao cây hom

- Kĩ thuật điều tra và đánh giá sâu/bệnh hại cây con

- Kĩ thuật phòng trừ sâu bệnh hại

Bước 3 Phương pháp đánh giá và tính toán một số chỉ tiêu vườn ươm

- Tỷ lệ cây sống: Đếm ba điểm trên luống, mỗi luống đếm 3 hàng, tính số bầu cây sống và tính tỷ lệ sống

Công thức tính tỷ lệ sống: Tỷ lệ cây sống = số bầu sống/tổng bầu kiểm tra x100

- Phân loại sâu bệnh hại, phân bố sâu bệnh hại cây con vườn ươm thông qua điều tra sơ bộ tại vườn ươm:

Tiến hành điều tra toàn bộ vườn ươm để xác định loại bệnh hại phổ biến và lập bản đồ phân bố bệnh hại trên luống ươm Quá trình khảo sát được thực hiện trên 3 ODB (mỗi ODB rộng 1 m) x 5 luống, tương đương 15 ODB Trong mỗi ODB, cách 1 hàng điều tra 1 hàng, và ở mỗi hàng tiến hành điều tra toàn bộ cây để nắm rõ mức độ nhiễm và vị trí xuất hiện bệnh hại, từ đó cung cấp dữ liệu quan trọng cho công tác phòng trừ và quản lý bệnh hại.

KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ THẢO LUẬN

Kết quả theo dõi và đánh giá các bước quy trình thực hiện gieo ươm 17 1 Nguồn gốc giống và hồ sơ vườn ươm

4.1.1 Nguồn gốc giống và hồ sơ vườn ươm

Giống chè LDP1 được chọn lọc từ hạt hữu tính năm 1981 tại Phú hộ, có mẹ là Đại Bạch Trà – một giống chè Trung Quốc có chất lượng tốt – và bố là PH1, một giống có năng suất cao Sự kết hợp này mang lại một giống chè vừa đảm bảo chất lượng đầu ra vừa tối ưu về năng suất, phù hợp cho sản xuất quy mô lớn và mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân.

- Giống do viện nghiên cứu chè lai tạo, được công nhận giống quốc gia năm 2002

- Cây sinh trưởng khỏe, phân cành thấp, mật độ cành dày, mật độ búp rất dày, sớm cho năng suất cao

- Tán rộng, mật độ cành đều đặn, búp to trung bình

- Nếu trồng, chăm sóc và đốn tạo hình hợp lý thì chè tuổi 3 có thể khép tán

- Giống có khả năng cho năng suất cao

- Chè tuổi 3 - 4, có thể đạt 5 - 7 tấn búp/ha

- Các tỉnh Phú Thọ, Nghệ An, Yên Bái, Sơn La đều cho năng suất bình quân 15 tấn búp/ha

- Giống chè LDP1 có hàm lượng tanin 31,76%, chất hòa tan 42,61%, hàm lượng cafein tổng số 139,23mg/g chất khô

- Nguyên liệu dùng chế biến chè xanh, chè đen cho chất lượng khá

- Điểm thử nếm chè xanh 16,0 điểm, chè đen 16,3 điểm

- Giống chè LDP1 có khả năng chịu hạn hán và sâu bệnh tốt

- Giống có khả năng thích ứng rộng

- Giống chè LDP1 dễ giâm cành và có hệ số nhân giống rất cao

Đây là dòng chè lai từ LDP1, kết hợp giữa giống Trung Quốc Đại Bạch trà nổi tiếng về chất lượng thơm ngon và năng suất cao, đạt từ 2-3 tấn búp tươi/ha Dòng chè lai LDP1 giữ được hương vị thơm ngon của Đại Bạch Trà và cho năng suất cao tương đương với PH1 Với những ưu thế này, sản phẩm chè từ LDP1 có thể chế biến thành các loại chè có hương vị ngon, đạt chuẩn xuất khẩu.

4.1.2 Kỹ thuật đóng bầu gieo ươm

Để đạt tiêu chuẩn, khi đóng bầu phải đảm bảo mép đáy căng và đất được nén chặt, thành bầu không nhăn, gãy hoặc bị gấp khúc; sau khi đóng, phần đáy cứng và mềm dần khi lên đến đỉnh bầu, giúp đảm bảo độ bền và an toàn trong quá trình sử dụng.

- Kích thước vỏ bầu to, nhỏ tùy thuộc vào từng loại cây và thời gian sinh trưởng của cây

- Thường sử dụng khi đất đóng bầu có hàm lượng sét cao, vùng có khí hậu khô, các loại cây rễ cọc

- Túi bầu là túi PE có kích thước 6x13 cm đục 4-4 lỗ và hàn đáy, trong 1 m2 luống chè có thể xếp được 672 bầu, thông thường số bầu/ hàng là 26 bầu

Khi đưa đất vào túi bầu, nhồi chặt để đất thật chắc và không bị lỏng; xếp bầu vào luống thật đứng và sát nhau Dùng tre nứa nẹp hoặc vun đất hai bên chân bầu quanh luống để cố định bầu, giữ cho bầu đứng thẳng, không nghiêng hay đổ Việc thực hiện đúng bước này giúp cây con bén rễ tốt và phát triển đồng đều từ ban đầu.

* Loại đất: đất dưới tán rừng

Đất đóng bầu cần tơi xốp, có thành phần cơ giới trung bình và được xử lý kỹ trước khi gieo trồng Ở miền Bắc đất thường có màu đỏ nâu, còn ở miền Nam (Bảo Lộc) đất có màu xám, do đó cần nhận biết loại đất để điều chỉnh quy trình chuẩn bị Trước khi lấy đất, cần gạt tầng đất mặt từ 10–20 cm để đảm bảo chất lượng và độ đồng nhất Đất được đập nhỏ qua sàng với đường kính viên đất nhỏ hơn 0,5 cm, và việc phơi khô đất càng tốt sẽ giúp tăng cường độ tơi xốp và dễ xử lý sau này.

- Thao tác tay: Tùy thuộc vào người đóng mà sử dụng ngón cái với ngón trỏ hoặc ngón cái với ngón giữa để mở miệng túi bầu

Vị trí đặt tay được xác định ở hai mép viền của túi bầu Độ sâu đặt tay nên đạt tới hai đốt ngón ở ngón trỏ và ngón giữa, và một đốt ở ngón cái, giúp đảm bảo độ chuẩn xác và ổn định khi thực hiện động tác.

+ Bước 2: Cho đất vào túi bầu

- Một tay mở miệng túi bầu, tay kia úp ngửa hình chữ U (đây là tư thế mà xúc được nhiều đất nhất)

- Đầu tay xúc đất tiếp xúc với miệng bầu đồng thời cho đất vào túi bầu

- Khi cho đất vào 1/3 túi bầu ta bắt đầu nén đất

- Dùng ngón tay cái hoặc ngón giữa để nén đất ở hai góc túi bầu, giữa bầu

- Tiếp tục cho đất đầy bầu sau đó dùng ngón tay nén đất ở các vị trí giữa và xung quanh túi bầu

- Tiếp tục cho đất và dùng tay nén nhẹ phần đất ở trên mặt túi bầu

- Xếp bầu vào luống thật đứng và sít vào nhau có thể dùng tre, núa nẹp xung quanh luống, giữ cho bầu đứng không nghiêng không đổ

Hình 4.1 Kĩ thuật đóng bầu và xếp bầu theo luống

4.1.3 Kỹ thuật xử lý hom cành

Để có kết quả cao khi cắt cành giâm, hãy chọn cây mẹ đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn: đủ tuổi, khỏe mạnh, không sâu bệnh và có chất lượng tốt; ưu tiên hom giâm bánh tẻ (không quá già cũng không quá non) ở điểm giữa của cành, nơi các trồi trên cành giâm ở trạng thái ngủ (chưa đâm chồi, lộc) Cành giâm nên là những cành năng suất, tránh chọn cành ở bóng râm hoặc cành tăm, nhằm tăng khả năng bật mầm và cho lộc sau khi giâm.

Hình 4.2: Chọn cành cắt hom giâm

* Thời gian cắt cành giâm

- Chọn lúc thời tiết giâm mát để tiết hành

- Giâm cành ngày nào thì cắt cành ngày đó

- Dùng dao, kéo sắc để cắt cành hom, tuyệt đối không được làm dập nát cành và lá khi vận chuyển và cắt

- Hom giâm có từ 3-5 mắt ở dạng ngủ

- Cắt vát thân hom theo mầm lá, hai vết cắt phải ngược chiều nhau và nghiêng 45 độ, cách nách mầm 0,5cm để bảo vệ mầm

- Đối với cành có nhiều lá thì cắt hết lá hoặc để lại 1 lá đã cắt 2/3 diện tích để giảm sự thoát hơi nước

Sau khi cắt, hom được ngâm vào thùng nước cho ẩm, vớt ra cho ráo nước và cắm ngay vào luống bầu để kích thích quá trình ra rễ và đâm chồi; không nên để hom quá lâu vì sẽ ảnh hưởng đến quá trình ra rễ và sự phát triển của chồi.

Hình 4.3 Tạo hom và xử lý hom trước khi giâm

- Trước khi cắm hom, bầu đất cần được tưới ẩm 80-85% bằng ô doa, hom chè được cắm thẳng đứng, lá xuôi theo chiều gió, cuống lá gần sát mặt đất

- Những hom dễ phát triển, nhanh ra rễ có thể cắm trực tiếp vào bầu, cách cắm như cắm ở luống nhưng hom cắm thẳng không nghiêng quá 45 độ

- Những hom đã được giâm ở luống cần kiểm tra theo dõi thường xuyên

Hình 4.4 Kỹ Thuật cắm hom 4.1.5 Kỹ thuật chăm sóc, dặm hom cây con

- Chuẩn bị dụng cụ tưới: Hom mới dùng bình tưới phun ở dạng sương mù, khi cây ra rễ con dùng bình ozoa để tưới

- Thời tiết dâm mát ngày tưới 1 lần, trời nắng và có giàn che có thể tưới

- Sau khi giâm cần tưới ướt bề mặt thân, lá thường xuyên ở dạng phun sương để làm mát hom, tránh thoát hơi nước gây rụng lá

- Đảm bảo độ ẩm thường xuyên từ 75-80%, độ ẩm, không khí từ 80-85%

- Khi cành giâm hom ra lá và rễ có thể mở một nửa giàn che (bằng1/2 gian) hoặc không cần mở cho đến khi xuất vườn

- Thường xuyên làm cỏ để cỏ không cạnh tranh chất dinh dưỡng của cây hom

- Phát dọn cỏ sạch sẽ ở hàng rào, rãnh luống, xung quanh khu vực giâm hom

Hình 4.5 Kỹ thuật dặm hom

* Kỹ thuật làm cỏ cho cây

Để vườn chè luôn sạch cỏ, nhổ cỏ dại ở gốc chè bằng tay và thực hiện làm cỏ ít nhất một lần mỗi tháng Việc làm cỏ nên được kết hợp với xới xáo đất và bón phân ở các lần chăm sóc, nhằm duy trì đất tơi xốp, thoáng khí và cung cấp dinh dưỡng cho cây chè.

Hình 4.6 Làm cỏ cho cây

* Kỹ thuật kiểm tra dặm toàn vườn ươm

- Thường xuyên tiến hành kiểm tra vườn ươm và tiến hành dặm ngay những hom chết, hom bị sâu bệnh (cắm dự phòng 10% số hom để dặm)

Hình 4.7 Cây hom được kiểm tra, dặm (nếu khô chết) toàn vườn ươm

4.1.6 Theo dõi các chỉ tiêu về tỷ lệ sống, số mầm, động thái tăng trưởng về đường kính và chiều cao cây hom

Trong quá trình gieo ươm chè, cần thường xuyên theo dõi tỉ lệ sống của mầm chè và sự tăng trưởng làm cơ sở cho việc bón phân, chăm sóc và dặm kịp thời để cây chè cùng một lứa và đúng thời điểm hom giống chưa phát lộc.

Kết quả đánh giá và theo dõi trên một số điểm trên luống chè cho thấy tỉ lệ sống của cây con chè lai tăng lên theo thời gian, cho thấy khả năng bén rễ và phát triển của cây con được cải thiện khi được chăm sóc và theo dõi lâu dài Các hom cắt ở vị trí khác nhau có tỉ lệ sống khác nhau; cụ thể, tỉ lệ sống cao ở một số vị trí cắt và thấp ở vị trí khác, cho thấy vị trí cắt ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sống của cây con chè lai Những kết quả này giúp tối ưu hóa quy trình nhân giống chè lai bằng hom cắt và cung cấp thông tin quan trọng cho quản lý luống chè, từ đó nâng cao tỉ lệ sống và hiệu quả canh tác.

- Hom gốc: Tỉ lệ sống 190 cây, không nẩy mầm (chết) 4,8%, chiều cao 15cm

- Hom giữa: Tỉ lệ sống 245 cây, không nẩy mầm (chết) 8%, chiều cao 25cm

- Hom ngọn: Tỉ lệ sống 290 cây, không nẩy mầm (chết) 10,6%, chiều cao 30 cm

Bảng 4.1 Theo dõi các chỉ tiêu về tỷ lệ sống, tỷ lệ không nẩy mầm hoạc chết, động thái tăng trưởng về chiều cao cây hom

TT Loại hom Ô/luống Tỉ lệ sống Tỉ lệ không nẩy mầm

Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sống, tỷ lệ không nẩy mầm hoạc chết, động thái tang trưởng về chiều cao cây hom

350 ô/luống Tỷ lệ sống Tỷ lệ không sống Chiều cao

Hom gốc Hom giữa Hom ngọn

Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ sống và động thái tăng trưởng của cây con 4.1.7 Kỹ thuật theo dõi và phòng trừ sâu, bệnh hại

Việc theo dõi và đánh giá phân bố bệnh tại vườn ươm là nền tảng để lựa chọn biện pháp và loại thuốc phòng trừ cây con ở giai đoạn vườn ươm một cách kịp thời, từ đó ngăn ngừa thiệt hại nghiêm trọng cho người sản xuất và duy trì tỉ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn Nhận diện sớm bệnh và áp dụng biện pháp quản lý dịch hại phù hợp giúp tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả bảo vệ cây con Khi bệnh được kiểm soát tốt, tỉ lệ cây đạt chuẩn xuất vườn sẽ được duy trì; ngược lại, để bệnh nặng có thể làm giảm rõ rệt số cây con đạt tiêu chuẩn xuất vườn.

 Sâu rầy xanh hại chè

Kết quả đánh giá sơ bộ trên một số luống ươm về rầy xanh hại cây chè tổng hợp vào bảng 4.2 như sau:

Bảng 4.2 Đánh giá sâu rầy xanh hại cây chè lai

TT Số cây/luống Số cây bị sâu hại P% Phân bố

Hình 4.9 Biểu đồ phân số sâu hại cây chè lai

* Rầy xanh (Empoasca flavescens Fabr)

Rầy non và rầy trưởng thành gây hại cho cây chè bằng cách chích hút nhựa ở phần búp và lá non, vết chích theo đường gân chính và gân phụ của lá, nhỏ như kim châm Dấu hiệu gây hại gồm lá non biến dạng và vàng úa, làm giảm khả năng phát triển của cây và ảnh hưởng đến năng suất chè Việc nhận diện sớm và quản lý rầy sẽ giúp bảo vệ chất lượng lá chè và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Các vết chích dày đặc của rầy gây tắc nghẽn sự vận chuyển nước và dưỡng chất lên búp non, khiến búp bị cong queo và khô héo Đồng thời, khi lá non gặp ngày nắng nóng, chúng khô dần từ đầu lá đến nách lá, làm giảm khả năng quang hợp và sức sống của cây.

- Do sợ ánh sáng trực xạ nên ban ngày phần lớn rầy nấp dưới tán là hoặc phần khuất ánh nắng mặt trời

- Khi bị động, rầy bò ngang hoặc nhảy lẩn trốn khá nhanh, một số rầy trưởng thanh bay lên

Rầy non mới nở di chuyển rất chậm, còn rầy ở tuổi 3-4 nhanh nhẹn hơn, cho thấy sự khác biệt về sinh học ảnh hưởng tới mức gây hại Trong một vùng, các nương chè non vừa bật mầm sau đốn, chè xanh tốt và cỏ nhiều thường chịu rầy gây hại nặng hơn so với nương chè già sạch cỏ Chính đặc điểm này cho thấy rầy ưa thích môi trường có chè non và cỏ dày, làm tăng nguy cơ hại trên những nương chè mới đâm chồi so với nương chè đã trưởng thành và sạch cỏ.

- Chè nơi khuất gió bị hại nặng hơn nơi thoáng gió

- Dọn sạch cỏ dại, bón phân cân đối, không trồng các cây che bóng, cây chắn gió là ký chủ của rầy

- Chọn thời điểm đốn, hái chè thích hợp để tránh búp chè ra rộ trùng với thời điểm phát sinh của rầy xanh

- Hái kỹ búp chè bị rầy trưởng thành đẻ rộ để hạn chế trứng rầy

+ Biện pháp hóa học: Khi thấy trên vườn chè có mức độ trứng rầy cao, đợi đa số rầy nở đến tuổi 1-2 thì xịt thuốc

- Sử dụng các loại thuốc DETECT50WP, Haihamec3.6EC, Tilgent450SC

Sử dụng 3 loại thuốc trên phun trực tiếp vào búp chè khi rầy rộ

Bài học kinh nghiệm

Qua thời gian nghiên cứu và thực hiện quy trình nhân giống cây chè lai bằng phương pháp giâm hom tại vườn ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2018, tôi đã nắm vững các kỹ thuật cơ bản của giâm hom Quy trình này tập trung vào chọn nguyên liệu khỏe, cắt cành đúng tỉ lệ, xử lý kích thích ra rễ và chăm sóc sau giâm để cây con phát triển tốt Những yếu tố ảnh hưởng như chất lượng cành, độ ẩm, ánh sáng và quản lý nhiệt độ được nhận diện và tối ưu hóa trong vườn ươm Kết quả từ thời gian nghiên cứu này đóng góp vào nâng cao hiệu quả nhân giống chè lai bằng giâm hom tại cơ sở nghiên cứu và có thể mở rộng cho các mô hình vườn ươm khác.

Kỹ thuật chọn đất, làm đất đóng bầu, xếp bầu và tạo luống để giâm hom chề cành: đất đóng bầu phải tươi xốp có thành phần cơ giới trung bình; đất thương có màu nâu đỏ; trước khi lấy đất cần gạt tầng đất mặt từ 10-20 cm, từ 20 cm trở xuống được gọi là đất tầng B; đất phải được đập nhỏ qua sàng càng nhỏ càng tốt.

Bầu phải được xếp so le sít chật nhau để hạn chế các khe hở bầu,tránh tình trang bầu nghiêng không thẳng đứng

Kỹ thuật xử lí và tạo hom trước khi đem vào cắm bầu để có tỷ lệ nẩy mầm tốt

Kỹ thuật tra dặm chè, cách dặm, số hom dặm

Kỹ thuật chăm sóc cây chè lai và các biện pháp kỹ thuât canh tác như: Tưới nước, nhổ cỏ, bón phân qua lá

Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh, khi phát hiện sâu bệnh hại phải phòng trừ kịp thời

Về kiến thức cần củng cố thêm kiến thức ngoài thực tế chung như thực hành, để tạo cơ hội giải quyết vấn đề đặt ra.

Ngày đăng: 03/08/2022, 23:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đường Hồng Dật (2004) cây chè các biện pháp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, Nxb Lao động xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: cây chè các biện pháp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội Hà Nội
2. Lê Quốc Doanh và Cộng Sự (2011) kết quả nghiên cứu chuyển giao tiens bộ khoa học kỹ thuật chè giai đoạn 2010-2011,Viện KHKT Nâng Lâm Nghiệp miền núi phía Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: kết quả nghiên cứu chuyển giao tiens bộ khoa học kỹ thuật chè giai đoạn 2010-2011
3. Đặng Khanh Khôi (1993), chè và công dụng của chè, Nxb Khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chè và công dụng của chè
Tác giả: Đặng Khanh Khôi
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1993
4. Lê Tất Khương và Cộng Sự (1999) Giáo trình cây chè, Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây chè
5. Lê Tất Khương (2003) Nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng trọt phục vụ cơ giới hóa trong sản xuất chè tại một số tỉnh trung du miền núi phía Bắc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng trọt phục vụ cơ giới hóa trong sản xuất chè tại một số tỉnh trung du miền núi phía Bắc
6. Đỗ Ngọc Qũy, Đỗ Thị Ngọc Oanh (2008) Kỹ thuật trồng và ché biến chè, măng suất cao, chất lượng tốt, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng và ché biến chè, măng suất cao, chất lượng tốt
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
7. Nguyễn Văn Tạo (1998) Cơ sở khoa học một số biện pháp thâm canh tăng năng suất chè, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học một số biện pháp thâm canh tăng năng suất chè
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
8. Trịnh Xuân Ngọ (2009), Cây chè và kỹ thuật chế biến, Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây chè và kỹ thuật chế biến
Tác giả: Trịnh Xuân Ngọ
Năm: 2009
9. UBND tỉnh Thái Nguyên (2001), Báo cáo tình hình sản xuất tiêu thụ chè ở tỉnh Thái Nguyên tại Hội nghị Quốc tế trà tại Thái Nguyên năm 2011,Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình sản xuất tiêu thụ chè ở tỉnh Thái Nguyên tại Hội nghị Quốc tế trà tại Thái Nguyên năm 2011
Tác giả: UBND tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm