Để tìm hiểu một số kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài Lan rừng, tôi ngh
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Về cơ sở sinh học
Việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ được đặc điểm sinh học của từng loài lan Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp và kịp thời, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật một cách khái quát hơn
Cơ sở thực tiễn Đối với phong lan: Không để cho nắng trời trực tiếp chiếu vào, đặc biệt
"kỵ" với nắng quái chiều và gió tây (gió Lào)
Chú ý phun tưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) cho toàn bộ cây và giá thể theo kinh nghiệm "2 ướt - 1 khô" trong ngày, đó là vào các thời điểm trước bình minh và sau hoàng hôn Lượng nước vừa đủ để làm mát cây, ướt rễ và dự trữ Đối với địa lan: Chăm sóc như đối với phong lan, cần chú ý đảm bảo đất nền tơi xốp, nhiều màu ở thể hữu cơ đang hoai mục là tốt nhất Nên bổ sung từ 10-20% vụn gỗ mục (cả vỏ), 10-20% (theo khối lượng tổng thể) các mẫu than gỗ nhỏ, luôn ẩm (nhưng không ướt sũng) để nhử rễ ăn ra (gọi là hồ rễ) Tránh gió khô, nóng lùa qua phần nổi của cây Làm mát đất bằng phun tưới nước loang theo bóng tán Cần loại bỏ ngay những lá già để ngăn chặn sâu bệnh bội nhiễm, tỉa các cành khô, rễ đã hết chức năng hấp thụ hơi nước và cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm nuôi cây
Không nên dùng NPK - loại dùng cho cây hoa màu, cây lương thực để bón cho lan Để cây tươi lâu, đẹp bền, hoa sai thắm màu, hương đậm có thể
5 thúc cho lan (phun tưới toàn bộ giá thể) với nước gạo mới vo, nước ngâm tro hoai và rắc xỉ than (nguồn phân vi lượng tổng hợp) Nếu có điều kiện lấy bông (hoặc vải cotton) nhúng vào dung dịch glycerin 10-15% cuốn vào cổ rễ để giữ ẩm cho cây
Kỹ thuật chăm sóc lan ra hoa:
Cây sau khi ra hoa nếu không đáp ứng độ ẩm sẽ khiến rễ, lá teo nhăn lại rất khó hồi phục Nếu mới trồng, nên tưới phân số 1 (phân nhiều đạm) hay phân số 2 (phân trung hòa đạm và NPK) nồng độ 1- 2g/lít nước Trung bình nên tưới nước cho cây hai lần/ngày, tưới vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát Làm đúng như vậy thì cây sẽ ra hoa.
Tổng quan về các loài lan
Hoa là nguồn tài nguyên, là vẻ đẹp tôn quý của thiên nhiên ban tặng cho con người, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội nghề trồng hoa và thú vui chơi hoa trong những năm gần đây dần đi theo chiều sâu, thưởng thức những loài hoa có chất lượng cao và có giá trị kinh tế lớn Trong các loài hoa, hoa lan đang là nhu cầu của nhiều thị trường trong và ngoài nước
Họ Lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan Orchidales, lớp thực vật một lá mầm
Lan thuộc vào loài hoa đông đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000 giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã được lai giống nhân tạo hay thiên tạo, hoa lan (Orchidaceae) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae)
Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa lan là phong lan Hoa lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại:
1 Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống
2 Terestrials: Địa lan mọc dưới đất
3 Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá
4 Saprophytes: Loại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục Đối với các loài lan (phong lan và địa lan), hầu như từ trước tới nay, người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang trí ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn loài lan đã phát hiện có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng Trong số những loài đó người ta đã phát hiện trong lan Thạch hộc tía và lan kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thư Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay lên tới 7 triệu đồng/kg lan Thạch hộc tía
- Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa
Theo Helmut Bechtel (1982) [13], hiện nay trên thế giới có hơn 750 loài lan rừng, gồm hơn 25.000 giống được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ Lan lai không thể thống kê chính xác số lượng Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 05 khu vực:
+ Vùng nhiệt đới Châu Á gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis, Vanda, Anoectochillus…
+ Vùng nhiệt châu Mỹ gồm các giống: Brassavola, Catasetum, Cattleya, Cynoches, Pleurothaillis, Stanhopea, Zygopetalum, Spathoglottis
+ Châu Phi gồm các giống: Lissochilus, Polystachiya, Ansellia, Disa… + Châu Úc gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Cymbidium, Dendrobium, Eria, Phaius, Pholidota, Sarchochilus…
+ Vùng ôn đới của Châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Châu Á gồm các giống: Cypripedium, Orchis, Spiranthes…
Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ Orchidaceae: Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi
Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi
Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi
Lan rừng Việt Nam – Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học đã được rất nhiều tác gia để cập đến Có thể tóm tắt đặc điểm thực vật học của lan rừng Việt Nam theo tiêu trí chính sau:
Rễ lan có 2 nhiệm vụ:
- Hút nước và chất bổ dưỡng để nuôi cây
- Giữ cho cây bám vào trên cành cây, hốc đá hay dưới đất
Nếu rễ quá ít, cây sẽ không đủ nước, không bám cành cây hốc đá đươc, hoa sẽ không nhiều và không đẹp Nếu rễ không mọc được, bị thối, bị bệnh hay bi chết, cây sẽ thiếu nước, thiếu chất bổ dưỡng cây sẽ còi cọc và sẽ chết dần chết mòn
8 hân tích cho kỹ rễ chia ra làm 5 phần: lõi rễ, thân rễ, vỏ rễ, lông rễ và đầu rễ Đầu rễ có nhiệm vụ hút nước và chất bổ dưỡng để nuôi cây Nếu vật liệu nuôi trồng khô ráo, rễ sẽ mọc dài ra để tìm nước Trái lại lúc nào cũng có sẵn nước ở bên, rễ sẽ không mọc thêm ra Ngay cả nhưng giống lan cần tưới nhiều như Vanda, Renanthera chẳng hạn, cũng nên đợi một vài giờ sau cho khô rễ rồi mới tưới
Nếu tình trạng sũng nước kéo dài ngày này qua ngày khác, rễ sẽ bị thối
Rễ bị thối không có gì để hút nước, lá cũng có thể thấm nước nhưng không đủ để nuôi cây cho nên lá bị nhăn nheo, thân, bẹ cây bị tóp lại Chúng ta cũng đừng nhầm lẫn giữa thối rễ và tưới không đủ nước Nếu tưới không đủ, cây sẽ bị cằn cỗi và không tăng trưởng đúng mức Những loại lan có lá dài và mềm như Oncidium, Brassia hay Odontoglossum… khi thiếu nước lá sẽ có triệu chứng chun xếp lại
Rễ lan cần ẩm chứ không ướt và có không khí chuyển động quanh rễ Nhìn vào rễ có thể biết ngay việc tưới nước và bón phân ra sao Nếu rễ có mầu trắng, cứng và đầu rễ có mầu xanh là tốt, còn nếu tưới quá nhiều chỉ có một vài rễ tốt, số còn lại mềm nhũn và có mầu nâu
Bón phân quá mạnh hoặc quá nhiều sẽ làm cho rễ cháy xám lại Vì vậy nên bón phân rất loãng và thưa không nên bón bằng phân viên, phân hột vì chúng ta không thể kiểm soát được liều lượng
Muốn quan sát tình trạng của rễ ra sao, nhiều người dùng loại chậu nhựa trong suốt để dễ dàng quan sát Đầu rễ của lan rất dễ bị tổn thương và rất dễ gãy khi chúng ở ngoài chậu Hầu hết rễ lan thường phải nằm yên trong chậu, nhưng theo bản năng chúng thường hướng về phía có không khí và nước nên thường mọc tràn ra
9 miệng chậu và tiếp tục phát triển thì có thể lơ lửng hay bám vào bất kỳ bề mặt nào mà chúng chạm tới
Rễ không được kết cấu thường xuyên mà theo từng năm, nhú ra từ gốc một khoảng thời gian sau khi mọc chồi mới Tương tự như thế, lá rụng sau 1 hay vài năm, do đó rễ chết tự nhiên và được thay thế bằng rễ từ chồi mới
Lan có 2 loại thân đa thân và đơn thân Ở các loài lan sống phụ có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành) đó là bộ phận giữ trử nước và các chất dinh dưỡng để nuôi cây khi điều kiện gặp khô hạn khi sống bám trên cao Củ giả hành đa dạng, hình cầu hay thuôn dài xếp sát nhau hay rải rác đều đặn hoặc hình trụ xếp chồng chất thành một thân giả, cấu tạo củ giả, gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy phía ngoài là lớp biểu bì, với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ để trách sự mất nước do mặt trời hun nóng Đa số củ giả đều xanh bóng để làm nhiệm vụ quang hợp cùng với lá
Hầu hết các loài phong lan là cây tự dưỡng, nó phát trển đầy đủ hệ thống lá, hình dạng của lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nước đến loại lá phiến mỏng phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung, hay chỉ gấp lại theo hình chữ v Màu sắc lá thường xanh bóng, nhưng có trường hợp hai mặt lá khác nhau
Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Những nghiên cứu về lan
Cây hoa lan được biết đến đầu tiên từ năm 2800 trước công nguyên, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, đến nay ở nhiều quốc gia đã lai tạo, nhân nhanh được giống mới đem lại kinh tế cao Chính vì vậy, việc nghiên cứu và sản suất hoa lan trên thế giới ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn, đặc biệt nhất là Thái lan
Thái Lan có lịch sử nghiên cứu và lai tạo phong lan cách đây khoảng 130 năm (Arjan Germy, 2005), hiện nay là nước đứng đầu về xuất khẩu hoa phong lan trên thế giới (kể cả cây giống và hoa lan cắt cành) trong đó các giống phong lan thuộc chi lan Hoàng Thảo Dendrobium chiếm 80%
Cây lan biết đến đầu tiên ở Trung Quốc là Kiến lan (được tìm ra đầu tiên ở Phúc Kiến) đó là Cymbidium ensifonymum là một loài bán địa lan Ở
Phương Đông, lan được chú ý đến bởi vẻ đẹp duyên dáng của lá và hương thơm tuyệt vời của hoa Vì vậy trong thực tế lan được chiêm ngưỡng trước tiên là lá chứ không phải màu sắc của hoa (quan niệm thẩm mỹ thời ấy chuộng tao nhã chứ không ưa phô trương sặc sỡ)
Lan đối với người Trung Hoa hay Lan đối với người Nhật, tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp, hương thơm tao nhã, tất cả thuộc về phái yếu, quý phái và thanh lịch như có người đã nói “Mùi hương của nó tỏa ra trong sự yên lặng và cô đơn” Khổng Tử đề cao lan là vua của những loài cây cỏ có hương thơm Phong trào chơi phong lan và địa lan ở Trung Quốc phát triển rất sớm, từ thế kỷ thứ V trước công nguyên đã có tranh vẽ về phong lan còn lưu lại từ thời Hán Tông Ở châu Âu bắt đầu để ý đến phong lan từ thế kỷ thứ 18, sau Trung Quốc đến hàng chục thế kỷ và cũng nhờ các thuỷ thủ thời bấy giờ mà phong lan đã đi khắp các miền của địa cầu Lúc đầu là Vanny sau đó đến Bạch Cập, Hạc Đính rồi Kiến Lan lan chính thức ra nhập vào ngành hoa cây cảnh trên thế giới hơn 400 năm nay Địa lan (Cymbidium) hay còn gọi Thổ lan là một loại hoa lan khá phổ thông, vì hội đủ điều kiện: có nhiều hoa, to đẹp, đủ màu sắc và lâu tàn, rất thông dụng cho việc trang trí trưng bày Hiện nay nước Mỹ có nhiều vườn địa lan dùng cho kỹ nghệ cắt bông như Gallup & Tripping ở Santa Barbara nhưng cũng phải nhập hàng triệu đô la mỗi năm từ các nước Âu Châu và Á châu để cung ứng cho thị trường trong nước
Trước năm 1930, nước Mỹ không có nhiều giống lan và cũng không có nhiều người thích chơi lan hay vườn lan Nói riêng về California thì chỉ có 2-3 vườn lan ở Oakland và San Francisco, nhưng chỉ dùng cho kỹ nghệ cắt bông, không có bán cây Lúc bấy giờ các vườn lan chỉ có Cát lan (Cattleya) hay địa lan (Cymbidium) nhưng cũng không có nhiều giống lan hay hoa đẹp, những giống này được nhập cảng từ nước Anh
Nước Anh là nơi nghiên cứu và lưu trữ hồ sơ những loài thảo mộc hay bông hoa, tất cả tên tuổi của những loài thào mộc hay bông hoa đều được đăng ký và lưu trữ ở Anh Quốc Sau năm 1930 địa lan mới được nhập cảng vào nước Mỹ nhưng rất giới hạn Lúc bấy giờ địa lan rất đắt giá, giá tính từng củ một, dù củ không có lá, hay củ có lá giá cả cũng không khác biệt bao nhiêu Có nhiều l oại, một củ với giá có thể tới 800 đô la, vào thời đó 800 đô là mua được một chiếc xe hơi mới tinh Một cây địa lan tên Cym ros anna ‘pinkie’ được bán đấu giá 2.500 đô la và có người mua với giá 2.600 đô la (Dẫn theo Phạm Cường - Thursday
Những nghiên cứu về gây trồng lan
Theo tạp chí (Chinese Cymbidium History Part 1),hiện nay tại Mỹ đã có những nghiên cứu về cây địa lan ở một số khâu kỹ thuật sau:
+ Nghiên cứu giá thể (môi trường) trồng:
Mỗi một điều kiện khác nhau có thể dùng các giá thể khác nhau: Ở vùng có nhiệt độ môi trường thấp (65 0 F ban ngày và 45 0 F ban đêm)với độ ẩm trung bình có thể thêm vỏ cây linh sam và đá bọt biển (peclit thô) vào hỗn hợp trên Hỗn hợp này có nhiều tác dụng nhất cho khí hậu lạnh vào mùa đông và ấm nóng vào mùa hè vì vỏ cây giúp giữ lại lượng ẩm đáng kể trong hỗn hợp
14 Ở điều kiện khí hậu khô có thể tăng thêm rêu và rong biển chúng sẽ làm sự thoát ẩm diễn ra chậm lại Nhýng cần sử dụng cẩn thận khi thêm rong (rêu) vì sự tưới nước thường xuyên sẽ dẫn đến thừa ẩm, úng làm bộ rễ thối rữa, cây dễ bị bệnh và chết
Người ta đã sử dụng các loại giá thể, mục đích giữ cho rễ cây ẩm song không quá ẩm, rễ cây luôn mát mẻ phát triển tốt
Lượng ẩm được giữ lại
Tần xuất tưới nước Độ ổn định Đá gai bọt biển Thấp - Thấp - Thường xuyên Cao Cây dương xỉ Thấp + Thấp - Thường xuyên Thấp
Vỏ cây thông Trung bình + Thấp + Trung bình + Thấp Đá Thấp - Cao Thường xuyên Cao
Than hoạt tính Trung bình Thấp Trung bình Trung bình
Rêu/rong biển Cao Thấp Trung bình Thấp
+ Nghiên cứu về thay chậu và tách cây:
Phương pháp chính sự sinh sản của Địa lan kiếm châu Á đặc biệt bởi sự đẻ nhánh Những chậu cây sâu và rộng sẽ cho một số sự phát triển mới hay là
(thân hành - giả hành), có thể để từ 2-3 năm mới thay giá thể và cho nhiều cây vào chậu tạo sự sinh sản mới, ở điều kiện này sẽ tạo nhiều cụm hoa Tuy nhiên cần lưu ý tới vết cắt khi tách cây phải được sử lý bằng sunfua làm giảm sự tiếp xúc của virut
+ Chọn giống (cây khoẻ có nhiều rễ, rễ trắng)
+ Chế độ tưới nước dựa vào các yếu tố:
- Ẩm độ trong vùng trồng
Trong mùa hè - mùa sinh trưởng nên tưới nước 2 lần/tuần, tưới nước từ miệng chậu sao cho nước qua chậu khoảng 10 giây, có thể dùng bình tưới phân sau khi tưới nước, cần giữ độ ẩm ở 75% Khi cây vào thời kỳ nghỉ ngơi cần tưới ít nước và giữ độ ẩm từ 40-60% Tưới nước vừa ðủ cây có bộ rễ sinh trưởng khoẻ và đều đặn
+ Nghiên cứu về ánh sáng, mùa hè cần độ che phủ khoảng 60-70% ánh sáng, trong mùa đông có thể giảm 20% Lá cây tiếp nhận ánh sáng tốt nhất sẽ xanh, bóng và có độ cong thanh nhã Màu xanh vàng có thể cho biết là lá quá thừa ánh sáng, lá bị gãy gập và rụng có thể là ánh sáng yếu
+ Nghiên cứu về nhiệt độ tới sinh trưởng và phát triển:
Nhiệt độ khác nhau có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình ra hoa Địa lan Kanran và Gorengi đòi hỏi nhiệt độ ban đêm khoảng 40-50 0 F để bắt đầu nở hoa, địa lan Sinence cần nhiệt độ 50-60 0 F
+ Nghiên cứu về bón phân
Khi cây con phát triển cần bón phân 1 lần/tuần, ngừng tưới phân khi cây chuyển sang giai đoạn nghỉ ngơi
+ Nghiên cứu về bộ rễ, đánh giá khả nãng sinh trưởng của cây
Mùa xuân là thời gian tốt nhất để kiểm tra bộ rễ, nếu rễ bám quá chặt vào chậu có thể đập bỏ chậu Kiểm tra bộ rễ sẽ giúp ta biết được lượng nước tưới, giá thể trồng và sức khoẻ của cây
* Những nghiên cứu về phòng chống một số bệnh thường gặp của địa lan
(hiện tượng) Nguyên nhân gây bệnh Biện pháp khắc phục
- Tưới nước không thường xuyên
- Tăng sự lưu thông nhiệt trong hỗn hợp, dùng chậu gốm
Kiểm tra lượng phân bón và số lần bón, chuyển cây ra vùng có nhiều ánh ság hơn
- Bón phân không thường xuyên
Kiểm tra chế độ bón phân
Chồi và hoa bị rụng
- Giữ độ ẩm khỏang 40-60% vào mùa đông và dưới 80% vào mùa hè, tăng lượng lưu thông không khí
- Kiểm tra lượng phân bón
- Giảm tưới nước và ko tưới nước vào hoa
Rễ có đốm nâu không theo quy tắc
- Độ ẩm được giữ lại trong chậu không nhiều
- Kiểm tra tần xuất tưới nước
- Tăng thêm hỗn hợp trồng
Trên thế giới, việc sản xuất hoa đã trở thành một ngành kinh doanh khá quan trọng và phát triển một cách mạnh mẽ Diện tích hoa của thế giới ngàu càng mở rộng Tổng kim ngạch xuất khẩu hoa tươi trên thế giới hàng năm khoảng 25 tỷ USD và đang tăng mạnh, trong đó hoa lan chiếm tỷ lệ không nhỏ (Đồng Văn Khiêm, 2003) [6]
Tổng quan về khu vực
2.4.1 Vị trí địa lý Đại từ là Huyện miền núi nằm ở phía Tây bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách Thành Phố Thái Nguyên 25km
- Phía Bắc giáp huyện Định Hoá
- Phía nam giáp huyện Phổ Yên và Thành Phố Thái Nguyên
- Phía đông giáp huyện Phú Lương
- Phía tây bắc và đông nam giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Phú Thọ
2.4.2 Điều kiện địa hình a) Về đồi núi
Do vị trí địa lý của Huyện, Đại Từ được bao bọc xung quanh bởi dãy núi
- Phía Tây và Tây Nam có dãy núi Tam đảo ngăn cách giữa Huyện và tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, độ cao từ 300 - 600m
- Phía Bắc có dãy Núi Hồng và Núi Chúa
- Phía Đông là dãy núi Pháo cao bình quân 150 - 300m
- Phía Nam là dãy núi Thằn Lằn thấp dần từ bắc xuống nam b) Sông ngòi thuỷ văn
- Sông ngòi: hệ thống sông Công chảy từ Định Hoá xuống theo hướng Bắc Nam với chiều dài chạy qua huyện Đại Từ khoảng 2km Hệ thống các
35 suối, khe như suối La Bằng, Quân Chu v.v cũng là nguồn nước quan trong cho đời sống và trong sản xuất của Huyện
- Thuỷ văn: Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, đặc biệt là các dãy núi bao bọc Đại Từ thường có lượng mưa lớn nhất Tỉnh, trung bình lượng mưa hàng năm từ 1.800mm - 2.000mm rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của Huyện (đặc biệt là cây chè)
2.4.3 Điều kiện khí hậu thời tiết
Do mưa nhiều khí hậu thường ẩm ướt độ ẩm trung bình từ 70 - 80% , nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 270 (là miền nhiệt độ phù hợp cho nhiều loại cây trồng phát triển)
2.4.4 Về đất đai thổ nhưỡng
Tổng diện tích tự nhiên57.848 ha
Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 28,3%, đất Lâm nghiệp chiếm 48,43%; Đất chuyên dùng 10,7%; Đất thổ cư 3,4% Tổng diện tích hiện đang sử dụng vào các mục đích là 93,8%, còn lại 6,2% diện tích tự nhiên chưa sử dụng
2.4.5 Về tài nguyên - khoáng sản
Diện tích đất lâm nghiệp 28.020 ha, trong đó rừng tự nhiên là 16.022 ha và rừng trồng từ 3 năm trở lên là 11.000 ha Chủ yếu là rừng phòng hộ, diện tích rừng kinh doanh không còn hoặc còn rất ít vì những năm trước đây đã bị khai thác bừa bãi và tàn phá để làm nương rẫy
Tài nguyên khoáng sản Đại Từ được thiên nhiên ưu đãi phân bổ trên địa bàn nhiều tài nguyên khoáng sản nhất Tỉnh, 15/31 xã, thị trấn có mỏ và điểm quặng
• Hệ thống cung cấp điện Huyện Đại Từ có mạng lưới điện Quốc gia kéo đến 31 xã, thị trấn
• Giao thông Đại Từ có mật độ đường giao thông khá cao so với các Huyện trong Tỉnh Tổng chiều dài đường bộ trên địa bàn khoảng gần 600km
• Thông tin liên lạc Toàn Huyện đã được phủ sóng truyền thanh, truyền hình, 31/31 xã, thị trấn có điện thoại; Hệ thống giao thông thuận tiện là điều kiện thuận lợi cho Bưu điện phục vụ các thông tin, báo trí đến các xã, xóm trong kịp thời trong ngày
Dân số Đại Từ hiện có 158.721 nhân khẩu (Trong đó dân số nông nghiệp chiếm 94%; Thành thị: 6%) Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 56,5%.Lao động làm trong các Ngành nghề kinh tế chiếm 90,8%