1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh an giang

106 1,2K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh An Giang
Trường học Trường Đại học An Giang
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Long Xuyên
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 613 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.- Bên cạnh đó, còn một số đề tài, luận án tiến sĩ đề cập tới các vấn đề gần với đề tài này như: “Phát triển tiểu thủ công nghiệp trong nền

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khu vực nông thôn Việt Nam chiếm gần 80% dân số cả nước, trong xuthế hội nhập kinh tế, khu vực nông thôn đã đạt được những kết quả tương đốikhả quan như: đã giải quyết được cơ bản nhu cầu lương thực, thực phẩm,thu nhập của dân cư ở khu vực nông thôn tăng lên, đời sống văn hoá xã hộiđược cải thiện đáng kể Đặc biệt là đối với các địa phương đã hình thành vàphát triển các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với các làng nghề, làngnghề truyền thống và làng nghề mới, cung cấp nhiều sản phẩm cho xã hội.Hiện nay, nước ta có khoảng gần 2000 làng nghề thủ công thuộc 11 nhómngành nghề chính như: sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, giấy,tranh dân gian, gỗ, đá

Cùng với sự phát triển làng nghề truyền thống của cả nước, làng nghềcủa tỉnh An Giang cũng được chính quyền địa phương quan tâm, tạo điềukiện để phát triển, mở rộng quy mô và đa dạng ngành nghề Nhiều làng nghềnhư se nhang, lưỡi câu, bánh tráng, sản xuất bánh phồng, bó chổi bông cỏ,chầm nón, HTX rèn, mộc chạm trổ mỹ nghệ, mộc dân dụng, đóng xuồng ghe,HTX dệt Châu Giang, HTX dệt Văn Giáo, tơ lụa Tân Châu, sản xuất gạchngói, sản xuất rập chuột, … được khôi phục và phát triển; đồng thời, nhiềulàng nghề mới được xuất hiện và phát triển mạnh như đan thảm lục bình, sảnxuất lò đất, thêu rua, chế biến mắm, khô cá sặc bổi, khô cá tra phồng, sản xuấtthan đá, sản xuất võng vải, sản xuất cân treo, sản xuất đường thốt nốt, sảnxuất quạt thốt nốt, tranh thốt nốt, ốc mỹ nghệ, đá thủ công mỹ nghệ, dệt chiếu,đan giỏ … Thực hiện chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thônlàng nghề được mở rộng quy mô, đã sử dụng máy móc, công nghệ thay thếcho lao động thủ công Hiện nay, làng nghề cần được sắp xếp, quy hoạchthành những cụm làng nghề liên kết nhau để có thể tiếp nhận đầu tư nướcngoài, đầu tư công nghệ hiện đại nâng cao năng suất lao động, bảo vệ môi

Trang 2

trường tự nhiên, xây dựng môi trường xã hội văn minh, hiện đại Có như vậylàng nghề mới có thể tăng trưởng theo hướng bền vững và phát triển làng

nghề gắn với du lịch Để giải quyết vấn đề đó, tôi chọn đề tài:"Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh An Giang" làm luận văn

Thạc sĩ - chuyên ngành: Quản lý kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Có thể nêu một số công trình chủ yếu như sau:

- Luận án Tiến sĩ về “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng ven thủ đô Hà Nội” của tác giả Mai Thế

- “Tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn với việc phát triển làng nghề tại tỉnh Quảng Nam” của Thạc sĩ Trần Văn Hiến

năm 2006 Tác giả đã nghiên cứu thực trạng công tác tín dụng ngân hàngnông nghiệp của tỉnh Quảng Nam đối với sự phát triển làng nghề của tỉnh;đồng thời tác giả đã ra dự báo sự phát triển của làng nghề, của tín dụng ngânhàng nông nghiệp đến năm 2010, đưa ra cơ chế, chính sách cho vay đểkhuyến khích làng nghề phát triển

- “Giải pháp xây dựng làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh theo hướng phát triển bền vững” của Thạc sĩ Nguyễn Hữu Loan năm 2007 Tác giả

đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tổ chức quản lý, xây dựng làng nghề

Trang 3

theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

- Bên cạnh đó, còn một số đề tài, luận án tiến sĩ đề cập tới các vấn đề

gần với đề tài này như: “Phát triển tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở đô thị Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Hữu Lực hay “Một số vấn đề cơ bản về sự phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn

Hà Bắc” của Nguyễn Ty, … Các công trình này chủ yếu đề cập đến vấn đề

phát triển tiểu thủ công nghiệp là chính, còn vấn đề khôi phục và phát triểnlàng nghề truyền thống mới dừng lại ở mức định hướng cơ bản tầm vĩ mô vàmột số chủ trương lớn mà chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, đưa

ra các giải pháp khả thi cho việc đẩy mạnh phát triển làng nghề truyền thống

- Ngoài ra, còn một số luận văn lý luận chính trị cao cấp về “Phát triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường hiện nay trên địa bàn huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh” của Thạc sĩ Nguyễn Quốc Hải năm 2006

và “Nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế” của Nguyễn Trọng Tuấn cũng đều đề cập đến thực trạng làng

nghề truyền thống của các địa phương khác nhau; đồng thời cũng đưa ranhững giải pháp về quy hoạch kế hoạch phát triển nghề truyền thống và đặtvấn đề thị trường tiêu thụ, đổi mới công nghệ, chính sách, đào tạo nguồnlao động để làng nghề được phát triển trong điều kiện Việt Nam thực hiệncông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn và gia nhập Tổ chứcthương mại thế giới

Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên đã nghiên cứu những khíacạnh khác nhau của các làng nghề, làng nghề truyền thống và đưa ra những giảipháp phát triển cũng chính là giải quyết vấn đề phát triển nông nghiệp, nôngthôn và nông dân theo đúng tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp phát triển các

Trang 4

làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh An Giang

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Hệ thống hoá có bổ sung một số lý luận cơ bản về phát triển làngnghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ởnước ta hiện nay

- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển làng nghề truyền thốngtrên địa bàn tỉnh An Giang

- Nêu lên quan điểm và đề xuất các giải pháp phát triển các làng nghềtruyền thống trên địa bàn tỉnh An Giang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu là làng nghề truyền thống và các nhân tố tácđộng tới sự phát triển làng nghề truyền thống hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Do vấn đề rộng lớn và phức tạp trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ kinh

tế, chúng tôi tập trung phân tích, khảo sát một số làng nghề truyền thống trênđịa bàn tỉnh An Giang và giới hạn phân tích hai nhân tố chủ yếu là: Tác độngcủa quản lý nhà nước tới sự phát triển làng nghề truyền thống và nhân tố từ bảnthân các làng nghề

Thời gian nghiên cứu đánh giá thực trạng từ năm 2001 cho đến nay và

đề xuất giải pháp đến năm 2010 và một số giải pháp dài hạn đến năm 2020

Số liệu phỏng vấn trực tiếp các đối tượng được thực hiện trong năm 2008

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin;

tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luậtcủa Nhà nước; kế thừa có hệ thống và chọn lọc các công trình nghiên cứukhoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các tài liệu khoa học, kinh tế,

Trang 5

chính trị có nội dung liên quan hoặc đề cập đến vấn đề nghiên cứu của luận văn.

5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng các phương pháp nghiêncứu khoa học khác như: phân tích, tổng hợp, diễn giải, khảo sát, thống kê, sosánh, phương pháp kết hợp logic với lịch sử, lý luận với thực tế

6 Đóng góp mới khoa học của luận văn

Luận văn phân tích và làm rõ thực trạng các làng nghề truyền thốngtrên nhiều khía cạnh, khái quát quá trình hình thành và phát triển, đánh giá kếtquả những hạn chế tồn tại và nguyên nhân, đề xuất các quan điểm, giải phápchủ yếu nhằm phát triển bền vững các làng nghề truyền thống trong quá trìnhcông nghiệp hoá - hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh An Giang

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu ở các ngành, các cơquan nghiên cứu hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn của tỉnh An Giang

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 8 tiết

Trang 6

Chương 1

SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM

1.1.1 Quan niệm về làng nghề, làng nghề truyền thống ở nông thôn

Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đều cho thấy,làng xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất, cũng như đờisống dân cư ở nông thôn Qua thử thách của những biến động thăng trầm,những lệ làng phép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì,phát triển đến ngày nay

Làng xã Việt Nam được phát triển rất lâu đời, nó thường được gắn chặtvới nông nghiệp và kinh tế nông thôn Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng,phần lớn người dân đều làm nông nghiệp, cùng với sự phát triển, xuất hiệnnhững bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau,hình thành thêm một số tổ chức theo nghề nghiệp tạo thành các làng nghề,phường nghề, xã nghề gắn liền với địa danh của địa phương, từ đó các nghềđược lan truyền và phát triển thành làng nghề Bên cạnh những người chuyênlàm nghề, thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề (nghề phụ).Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính chất chuyên mônsâu hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng, xã) dần dần táchkhỏi nông nghiệp để chuyển sang nghề thủ công Càng về sau xu thế ngườilao động tách khỏi đồng ruộng, chuyển sang làm nghề thủ công và sống bằngnghề đó ngày càng nhiều

Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyềnthống và các sản phẩm mang nặng dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minhdân tộc Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển tiểu thủcông nghiệp ở nông thôn Thông qua lệ làng mà làng nghề định ra những quy

Trang 7

ước như: không truyền nghề cho người khác làng, không truyền nghề cho congái, hoặc uống rượu ăn thề không để lộ bí quyết nghề nghiệp … trải qua mộtthời gian dài của lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có những nghề được lưu giữ, cónhững nghề bị mai một hoặc mất hẳn và có những nghề mới ra đời, trong đó

có những nghề đạt tới trình độ công nghệ tinh xảo với kỹ thuật điêu luyện vàphân công lao động khá cao

Trong những năm đổi mới, làng nghề có nhiều cơ hội phát triển mạnh

mẽ, đồng thời cũng là lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Cho đếnnay, đã có nhiều quan niệm về làng nghề, làng nghề truyền thống khác nhau,

có thể nêu một số quan niệm được tổng hợp từ các nguồn tài liệu: [3], [21],[25],[29],[49]

- Trước hết là quan niệm về làng nghề

Quan niệm thứ nhất: làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng

đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu Nhưng với quanniệm như vậy thì làng nghề đó hiện nay không còn nhiều

Quan niệm thứ hai: làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công, ở

đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợthủ công nhiều khi cũng là người làm nghề nông Nhưng do yêu cầu chuyênmôn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyềnthống ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác Quan niệm về làng nghềnhư vậy là chưa đủ, điều đó nói lên rằng không phải bất cứ làng nào có vài ba

lò rèn hay vài ba gia đình làm nghề mộc, nghề dệt … đều là làng nghề Đểxác định đó có phải là làng nghề hay không, cần xem xét tỷ trọng lao độnghay số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỷ trọng thunhập từ ngành nghề so với tổng thu nhập của làng

Quan niệm thứ ba: làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ

các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời,

có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, theokiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề Song ở đây chưa phản

Trang 8

ánh đầy đủ tính chất của làng nghề; nó là một thực thể sản xuất kinh doanh tồntại và phát triển lâu đời trong lịch sử là một đơn vị kinh tế TTCN có tác dụng tolớn đối với đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội một cách tích cực.

Từ cách tiếp cận trên cho thấy quan niệm về làng nghề liên quan đến cácnghề thủ công cụ thể Tên gọi của làng nghề gắn liền với tên gọi của các nghềthủ công như nghề gốm sứ, đúc đồng, khảm trai, kim hoàn, dệt vải, dệt tơ lụa, …Trước đây, quan niệm làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp, ngàynay, khi mà trên thế giới khu vực dịch vụ đóng vai trò quan trọng và trở thànhlĩnh vực chiếm ưu thế về mặt tỷ trọng, thì các nghề dịch vụ trong nông thôn cũngxếp vào các làng nghề Như vậy, trong làng nghề sẽ có loại làng một nghề vàlàng nhiều nghề, tuỳ theo số lượng ngành nghề thủ công và dịch vụ có ưu thếtrong làng Làng một nghề là làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại,hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, các nghề khác chỉ có ở một vài hộkhông đáng kể Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỷtrọng các nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau Trong nông thôn ViệtNam trước đây loại làng một nghề xuất hiện và tồn tại chủ yếu, loại làng nhiềunghề gần đây mới xuất hiện và có xu hướng phát triển mạnh

Từ các quan niệm trên đây, có thể khái quát về làng nghề như sau: làngnghề là một cụm dân cư sinh sống trong một làng (thôn) có một hay một sốnghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Thu nhập

từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng

- Thứ hai là quan niệm về làng nghề truyền thống

Quan niệm thứ nhất: LNTT là một cộng đồng dân cư, được cư trú giới

hạn trong một địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nôngnghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời đểsản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi Quanniệm này mới thể hiện được yếu tố truyền thống lâu đời của làng nghề, cònnhững làng nghề mới, nhưng tuân thủ yếu tố truyền thống của vùng hay củakhu vực chưa được đề cập đến

Trang 9

Quan niệm thứ hai: LNTT là những làng nghề làm thủ công có truyền

thống lâu năm, thường là qua nhiều thế hệ Quan niệm này cũng chưa đầy đủ.Bởi vì khi nói đến LNTT ta không thể chú ý tới các mặt đơn lẻ, mà chú trọngđến nhiều mặt trong cả không gian và thời gian, nghĩa là quan tâm đến tính hệthống, toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân,sản phẩm, kỹ thuật sản xuất và thủ pháp nghệ thuật

Quan niệm thứ ba: LNTT là những làng có tuyệt đại dân số làm nghề

cổ truyền Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, đượcnối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối, hoặc ít nhấtcũng tồn tại hàng chục năm Trong làng sản xuất mang tính tập trung, cónhiều nghệ nhân tài ba và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt nhân đểphát triển nghề Đồng thời, sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo, tinhxảo, nổi tiếng và đậm nét văn hoá dân tộc Thu nhập từ nghề chiếm tỷ trọng60% trở lên trong tổng thu nhập của gia đình và giá trị sản lượng của nghềchiếm trên 50% giá trị của địa phương (thôn, làng)

Quan niệm về LNTT còn có nhiều cách hiểu khác nhau do cách tiếpcận nghiên cứu khác nhau, để làm rõ về LNTT cần có những tiêu chí sau:

- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50%trở lên so với tổng số hộ và lao động của làng

- Giá trị SX và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên50% tổng giá trị SX và thu nhập của làng trong một năm

- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hoá vàbản sắc dân tộc Việt Nam

- Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác

Từ cách tiếp cận và nghiên cứu trên có thể định nghĩa: LNTT là nhữngthôn, làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏinông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu chiếm phần chủ

Trang 10

yếu trong năm Cùng với thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thànhnghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ côngchuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trìnhcông nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó Sản phẩm làm ra có tính

mỹ nghệ và đã trở thành hàng hoá trên thị trường

1.1.2 Đặc điểm của làng nghề truyền thống Việt Nam

Làng nghề truyền thống Việt Nam có năm đặc điểm chính sau đây:

- Hoạt động làng nghề truyền thống gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp

Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, các nghề thủ công truyềnthống dần dần xuất hiện với tư cách là nghề phụ, việc phụ trong các gia đìnhnông dân và nhanh chóng phát triển ở nhiều làng quê Thời gian người laođộng ở làng quê dành cho hoạt động sản xuất nông nghiệp (do ruộng đất bìnhquân thấp, đặc điểm mùa vụ của cây trồng), năng suất lao động nông nghiệpthấp đã không đảm bảo thu nhập đủ sống cho người nông dân Vì vậy, nhucầu tạo việc làm để có thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp trở thànhcấp thiết Đồng thời, do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp đã tạo ra một

sự dư thừa lao động trong một thời gian nhất định; trong khi đó, ngay trên thịtrường địa phương có nhu cầu về sản phẩm tiểu thủ công nghiệp để phục vụcho tiêu dùng, sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nguồn nguyên liệu phục vụcho các nghề thủ công lại tương đối dồi dào … tất cả những điều đó đã thúcđẩy các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, ban đầu phục vụ nhu cầu của gia đìnhmang tính tự sản tự tiêu, sau phát triển thành hoạt động có quy mô nhiều giađình cùng tham gia và như vậy LNTT hình thành và phát triển

- Có truyền thống lâu đời

Đặc trưng của LNTT Việt Nam là có truyền thống lâu đời Theo các tưliệu lịch sử, thời Phùng Nguyên khoảng năm 3000 trước công nguyên, ngườiViệt cổ đã phát minh và sáng chế ra hầu hết các kỹ thuật chế tác một số công

Trang 11

cụ như đồ đá, đồ gốm, … thời Đông Sơn từ năm 3000 đến năm 258 trướccông nguyên, người Việt đã phát minh ra công thức luyện đồng thau, đồngthanh và đúc được trống đồng Đông Sơn, sản phẩm chứng minh cho nghềtruyền thống thời bấy giờ Sau đó đến thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ Pháp thuộccác LNTT dần dần định hình và cũng có nhiều biến động Sau ngày hoà bìnhlập lại ở miền Bắc (1954), giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1975)tới nay, LNTT nước ta chịu nhiều biến động về công nghệ, thị trường, chiếntranh, cơ chế chính sách và có nhiều bước thăng trầm nhất định, có lúc pháttriển mạnh mẽ về sản lượng, quy mô, đa dạng hoá các ngành nghề, nhưng cóthời kỳ bị tác động mạnh mẽ bởi các yếu tố và bị mai một Song vào thập niên

80, đầu thập niên 90, do nhiều nguyên nhân khác nhau sản xuất tiểu thủ côngnghiệp nói chung, sản xuất ở các LNTT nói riêng giảm sút nghiêm trọng,thậm chí một số LNTT bị tan rã Tới những năm gần đây, LNTT cả nướcđang được khôi phục và từng bước phát triển Như vậy, hầu hết các làngnghề, LNTT và các làng nghề mới hoặc các làng nghề mới được phục hồi,tính truyền thống thể hiện rất rõ

- Có bản sắc văn hoá của Việt Nam

Một đặc điểm khác hết sức quan trọng của LNTT là hàng hoá của làng,đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ mang bản sắc truyền thống, có tính khácbiệt, tính riêng, mang phong cách của mỗi nghệ nhân và nét văn hoá đặc trưngđịa phương, tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng Hàng chạm trổ trên từngchất liệu khác nhau (gỗ, đá, sừng, xương, …), hàng sơn (sơn quang, sơn thếpvàng bạc, sơn mài), hàng thêu, dệt (tơ lụa, chiếu, thảm), hàng mây tre đan, kimhoàn, đồ chơi, … ở mỗi LNTT đều có bản sắc riêng, từng nghệ nhân cũng cónhững nét riêng Những nét riêng đó được thử thách qua thời gian, qua giao lưutrao đổi được chọn lọc, được thừa nhận để tồn tại và phát triển, cùng với sự bổsung lẫn nhau, trở thành những kiểu mẫu hoàn thiện, đặc sắc cho những sảnphẩm cùng loại được sản xuất, chế tác tiếp sau thể hiện bản sắc độc đáo Việt

Trang 12

Nam Chính tính khác biệt mang dấu ấn văn hoá mang lại khả năng cạnh tranhcho sản phẩm LNTT trong quá trình phát triển thị trường ra thế giới.

- Lao động chủ yếu là thủ công

Trước đây, khi kỹ thuật công nghệ còn thô sơ, lạc hậu thì hầu hết cáccông đoạn trong quy trình sản xuất đều do lao động thủ công đảm nhận Đặctrưng cơ bản của người thợ thủ công là tự định đoạt lấy mọi công việc kể cảcung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Công việc có thể tiến hànhđộc lập hay cùng với một số người trong gia đình, dòng họ hoặc một số ngườihọc việc Công việc này đã thể hiện một tay nghề nhất định, một tài khéo léoriêng biệt, độc đáo, kết hợp với đầu óc sáng tạo và nghệ thuật thông qua laođộng bằng tay hoặc bằng máy móc công cụ cơ khí, nửa cơ khí Ngày nay,nhiều LNTT đã biết sử dụng máy móc cơ khí và động lực trong sản xuất Tuynhiên, dấu ấn lao động thủ công vẫn được giữ gìn và chính tính chất thủ côngmang lại đặc thù cho các sản phẩm LNTT

- Làng nghề truyền thống luôn gắn với tên làng (thương hiệu) và có khả năng tồn tại, phát triển lâu dài

Mỗi LNTT thường gắn liền với địa danh của làng đó để đặt tên choLNTT của mình như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Bát Tràng, làng điêu khắc

đá Ngũ Hành Sơn, làng mộc Kim Bồng, đúc đồng Phước Kiều, đan mâyChương Mỹ, tơ lụa Tân Châu, … đây chính là đặc điểm tiêu biểu để phân biệtđược sản phẩm riêng có của mỗi LNTT

Sản phẩm của LNTT không chỉ đòi hỏi lao động khéo léo của ngườithợ mà còn đòi hỏi sự tích luỹ kinh nghiệm qua nhiều thế hệ và những kinhnghiệm này trải qua thời gian đã trở thành bí quyết nghề nghiệp và uy tínthương hiệu LNTT đã tồn tại lâu dài từ đời này sang đời khác là nhờ vào đặctính này của LNTT Trong thời đại hiện nay, đây chính là thương hiệu, chỉdẫn địa lý của LNTT Việc bảo vệ thương hiệu, chỉ dẫn địa lý có ý nghĩa rấtlớn để giữ gìn danh tiếng, thị phần cho LNTT, từ đó tạo điều kiện phát triểnLNTT bền vững

Trang 13

1.1.3 Vai trò của làng nghề truyền thống trong sự phát triển kinh

tế - xã hội ở nông thôn

Phát triển nghề và LNTT có vai trò chủ yếu sau:

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đa dạng hoá kinh tế nông thôn

Quá trình phát triển các LNTT đã có vai trò tích cực góp phần tăng tỷtrọng sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọngsản phẩm nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất có thu nhập còn rất thấpsang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Như vậy, khi ngànhnghề thủ công hình thành và phát triển thì kinh tế nông thôn không chỉ cóngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh là các ngành thủ công nghiệp,thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển

Nếu xem xét trên góc độ của sự phân công lao động thì các LNTT đã

có tác động tích cực tới sản xuất nông nghiệp Chúng không chỉ cung cấp tưliệu sản xuất cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn có tác động chuyểndịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp Khi các ngành nghề chế biếnphát triển, yêu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp nhiều hơn, đa dạng hơn vàchất lượng cao hơn Do đó, trong nông nghiệp hình thành những bộ phậnnông nghiệp chuyên canh hoá, tạo ra năng suất lao động cao và nhiều sảnphẩm hàng hoá [50] Đồng thời, người nông dân trước yêu cầu tăng lên củasản xuất sẽ tự thấy nên đầu tư vào lĩnh vực nào là có lợi nhất Như vậy, quátrình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã được thực hiện dưới tácđộng của sản xuất và nhu cầu thị trường

- Giải quyết việc làm ở nông thôn, tăng thu nhập cho người lao động, giúp chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Yêu cầu phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở nông thôn, tạo việc làmnâng cao đời sống cho dân cư ở nông thôn là vấn đề quan trọng hiện nay ởnước ta Do diện tích đất bị thu hẹp do quá trình đô thị hoá, tỷ lệ thất nghiệp,

Trang 14

thiếu việc làm ở khu vực nông thôn còn chiếm tỷ lệ cao (hiện nay chiếmkhoảng 30 - 35% lao động nông thôn) nên vấn đề giải quyết việc làm cho laođộng nông thôn trở nên hết sức cấp bách, đòi hỏi sự hỗ trợ về nhiều mặt vàđồng bộ của các ngành nghề và lĩnh vực.

Theo kết quả điều tra, bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề ở các làngnghề tạo việc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao độngthời vụ, mỗi hộ chuyên làm nghề tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên

và 2-5 lao động thời vụ Đặc biệt, nghề dệt may, thêu ren mỗi cơ sở có thể thuhút khoảng 30-50 lao động, cá biệt có những cơ sở hàng trăm lao động; nhiềuLNTT thu hút trên 60% lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất [32]

- Cung cấp một khối lượng hàng hóa cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế

Khôi phục và phát triển LNTT ở nông thôn sẽ tạo điều kiện cho việchuy động một cách tối đa mọi nguồn lực sẵn có ở khu vực nông thôn nhưnguồn lực tự nhiên, nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật, tiềm năng vốn, cácnguyên liệu sẵn có ở địa phương … phục vụ vào sản xuất Do đó, sản xuấtđược đẩy mạnh và tạo ra ngày càng nhiều hàng hoá có chất lượng cao, đadạng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống Mặt khác, sản xuất trong cácLNTT thường tương đối năng động và gắn chặt chẽ với nhu cầu thị trường, vìvậy mà sản xuất của LNTT mang tính chuyên môn hoá và đa dạng hoá caohơn so với sản xuất nông nghiệp Điều này dẫn đến tỷ trọng sản phẩm hànghoá ở các LNTT thường cao hơn rất nhiều so với các làng thuần nông và khốilượng sản xuất hàng hoá sản xuất ra cũng lớn hơn nhiều

Sản phẩm của LNTT có giá trị kinh tế và xuất khẩu, nên việc pháttriển LNTT góp phần cùng sản xuất nông nghiệp làm tăng trưởng kinh tế ởnông thôn Người có trí tuệ, có vốn thì làm chủ hoặc thợ cả, người không

có vốn, trình độ thì làm những công việc giản đơn, phục vụ hoặc dịch vụ.Cho nên phát triển LNTT là thực hiện chủ trương xoá đói giảm nghèo trongnông thôn

Trang 15

- Tận dụng nguồn lực, phát huy thế mạnh nội lực của địa phương

Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng của sự pháttriển Nguồn lực của LNTT bao gồm những nghệ nhân, những người thợ thủcông và những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh Khả năng cạnh tranh, sức sốngcủa không ít sản phẩm LNTT như: tơ lụa, dệt thổ cẩm, rèn, sản xuất gạchngói, mộc dân dụng, đóng xuồng ghe chủ yếu dựa vào tài hoa, kinh nghiệm,tay nghề của người lao động

Mỗi LNTT thường có những thợ cả, nghệ nhân bậc thầy, họ giữ vai tròquan trọng trong việc giữ nghề, truyền nghề Tuy nhiên, số lượng nhữngngười giỏi nghề ngày một ít đi Trong khi đó kinh nghiệm nghề nghiệp đượccoi là bí mật, chỉ được truyền cho con cháu trong gia đình, dòng họ [9] Điềunày cản trở không nhỏ đến chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.Bên cạnh đó, các nghề thủ công cho phép khai thác triệt để hơn các nguồn lựccủa địa phương, cụ thể là nguồn lao động, tiền vốn LNTT có thể làm đượcđiều này vì nó có quy mô nhỏ và vừa dễ dàng thay đổi, chuyển hướng kinhdoanh phù hợp hơn

Một khi LNTT ở nông thôn phát triển mạnh, nó sẽ tạo ra một đội ngũlao động có tay nghề cao và lớp nghệ nhân mới Thông qua lực lượng này đểtiếp thu những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến áp dụng vào sản xuất,làm cho sản phẩm có chất lượng cao, giá thành giảm, khả năng cạnh tranhtrên thị trường lớn Như vậy, các nghề thủ công phát triển mạnh nó càng cóđiều kiện để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn Hơn nữa, khi cơ sởvật chất kỹ thuật được tăng cường và hiện đại, chính là tạo điều kiện cho độingũ lao động thích ứng với tác phong công nghiệp, nâng cao tính tổ chức, tính

kỷ luật Đồng thời, trình độ văn hoá của người lao động ngày một nâng cao, lại

là cơ sở thuận lợi cho việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào lĩnhvực sản xuất và hoạt động dịch vụ trong LNTT Bởi vậy, phát triển LNTT trongquá trình hội nhập kinh tế quốc tế tuỳ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng đội ngũnghệ nhân, thợ giỏi và việc truyền nghề cho những lao động trẻ tuổi

Trang 16

- Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống góp phần bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc của địa phương

Khai thác được tiềm năng cũng như phát huy được lợi thế so sánh, lợi thếnhờ quy mô ở từng vùng, từng địa phương góp phần thực hiện thành công sựnghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và CNH, HĐH nông thôn nói riêng

Như vậy, LNTT không chỉ là nơi sản xuất ra hàng hoá mà còn chứađựng những tiềm ẩn giá trị văn hoá tinh thần, truyền thống văn hoá của dântộc được lưu truyền bao đời nay Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tếquốc tế, thì việc phát triển LNTT còn là cơ sở để tổ chức du lịch làng nghềthu lợi nhuận cao, có khả năng thu hút đông đảo du khách tìm hiểu, chiêmngưỡng những nét văn hoá, những sản phẩm truyền thống của dân tộc

1.1.4 Sự cần thiết phải phát triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường

Trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch, tập trung bao cấp do cơ chế quản

lý, các hộ gia đình, các làng nghề không được tự do kinh doanh, sản xuất màphải gia nhập các HTX tiểu thủ công nghiệp Vì thế, LNTT không được pháttriển và có phần mai một, hệ thống HTX tiểu thủ công nghiệp hoạt động kémhiệu quả và bắt đầu tan rã dần vào thời kỳ bắt đầu đổi mới nền kinh tế

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, cá nhân, hộ gia đình được tự dođầu tư và sản xuất kinh doanh những sản phẩm mà pháp luật không cấm;được bình đẳng trước pháp luật Nhiều LNTT được khôi phục và phát triểnmạnh mẽ, trở thành một xu hướng phát triển tất yếu là do:

- Thứ nhất, môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi, cơ chế quản lý

của Nhà nước thay đổi đã cho phép mọi cá nhân, hộ gia đình tự do đầu tư sảnxuất kinh doanh, các thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật; Do

đó, các DNTN, Công ty TNHH, CTCP được ra đời và phát triển Hệ thốngpháp luật được xây dựng và hoàn thiện đã cởi trói cho cá nhân và doanhnghiệp, mở đường cho sản xuất phát triển dẫn đến LNTT ở nông thôn cũng

Trang 17

được phát triển Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng như đường giao thông, cầucống, điện nước, bưu chính viễn thông, trường học, trạm y tế … tạo điều kiệnthuận lợi trong giao lưu trao đổi hàng hoá, mở rộng các loại thị trường hànghoá, lao động, tài chính …

- Thứ hai, phát triển LNTT gắn với lợi ích, đời sống thiết thực của nông

dân Xuất phát từ lợi ích cá nhân, hộ gia đình vì mục tiêu lợi nhuận mà bảnthân LNTT tự nó phát triển Mặt khác, trong quá trình chuyển sang nền kinh

tế thị trường, Đảng và Nhà nước đã quan tâm nhiều đến sự phát triển nôngnghiệp, nông thôn trong đó có LNTT nhằm mục tiêu nhanh chóng nâng caođời sống của nông dân, giảm nhanh khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn

và thành thị Những chủ trương, đường lối, chính sách đó là động lực thúcđẩy mạnh mẽ sự phát triển, đa dạng hoá sản xuất kinh doanh, đa dạng hoá sảnphẩm của LNTT Trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, tiến bộKHCN, máy móc hiện đại được đưa vào sử dụng trong sản xuất nông nghiệp,sản xuất ngành nghề góp phần giải phóng sức lao động, nâng cao trình độ sảnxuất và năng suất lao động; Từ đó, tạo ra một bộ phận lao động, một bộ phậnthời gian dư thừa trong nông nghiệp, đòi hỏi phải giải quyết công ăn việc làmcho bộ phận dư thừa đó Phát triển sản xuất kinh doanh các ngành nghề tiểuthủ công nghiệp trong nông thôn sẽ giải quyết việc làm cho lượng lao động dưthừa và thời gian nhàn rỗi của nông dân, góp phần nâng cao đời sống củanông dân Sự phát triển của LNTT chính là sự phát triển tiểu thủ công nghiệp,

là cơ sở cho sự phát triển công nghiệp nông thôn, hình thành các khu đô thịgóp phần thay đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, từng bước chuyển nềnkinh tế nông nghiệp nước ta sang nền kinh tế chủ yếu là công nghiệp

- Thứ ba, gắn liền với việc giữ gìn thương hiệu sản phẩm, giữ gìn bản

sắc văn hoá dân tộc, bởi vì: Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử củanền văn hoá Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển làng nghề, “Mỗimột làng nghề là một địa chỉ văn hoá nó phản ánh nét văn hoá độc đáo của

Trang 18

từng địa phương, từng vùng” LNTT thể hiện những nét văn hoá độc đáo quatừng sản phẩm, qua các lễ hội và phong tục tập quán ứng xử làng nghề BởiLNTT với những sản phẩm làm bằng tay, chất liệu, hoa văn Việt Nam là biểutượng cho di sản văn hoá Việt Nam, những chất liệu, kiểu dáng và từng chitiết khéo léo tinh xảo trên các sản phẩm thủ công chính là nơi chuyển tải cácsắc thái văn hoá địa phương và góp phần làm nên bản sắc văn hoá dân tộc.LNTT là nơi tổ chức các lễ hội thường niên để tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết

ơn các vị tổ nghề, nhắc nhở thế hệ sau lòng tôn kính, tự hào với những giá trịnghề nghiệp mà cha ông ta để lại và khuyến khích sự truyền nghề kế tục.Chẳng hạn, tơ lụa Tân Châu, dệt thổ cẩm Châu Phong (huyện Tân Châu, tỉnh

An Giang), tranh Đông Hồ; Lễ hội ở Bát Tràng thường diễn ra từ 14 đến 22tháng 02 âm lịch hàng năm việc tế tự ở đình, rước lễ trên sông và quanh làng

… Các cuộc thi văn, thơ và đặc biệt là tay nghề, thử tài là sinh hoạt văn hoárất sôi động và thể hiện giá trị văn hoá truyền thống, là dấu ấn văn hoá dângian Những sản phẩm của các LNTT sản xuất ra mang tính nghệ thuật cao,mang đặc tính riêng của từng LNTT và những sản phẩm có “hàm lượng” vănhoá đậm đặc, chính những sản phẩm đó đã vượt qua giá trị văn hoá đơn thuầntrở thành những sản phẩm văn hoá mang truyền thống dân tộc

1.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

1.2.1 Tác động của quản lý nhà nước tới phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống

- Định hướng và khuyến khích phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống.

Trong quá trình CNH, HĐH nông thôn làng nghề luôn giữ một vị tríquan trọng, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cập nhiều qua các

kỳ đại hội Nghị quyết Đại hội VIII của ĐCSVN đã xác định: “Phát triển cácngành nghề, LNTT và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp sảnxuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu …” [4, tr.45]

Trang 19

Đại hội IX của ĐCSVN tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển mạnh côngnghiệp và dịch vụ nông thôn, hình thành các khu vực tập trung công nghiệp,các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề gắn với thị trường xuấtkhẩu …” [5, tr.172].

Để cụ thể hoá quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chínhsách và luật pháp có liên quan đến phát triển làng nghề, LNTT như Luật Đấtđai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư … cácchính sách tín dụng, chính sách đầu tư, đặc biệt là quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sáchkhuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã tạo động lực cho LNTT pháttriển Qua đó, cho thấy Đảng, Nhà nước đánh giá cao vai trò của làng nghề vàcoi trọng việc phát triển LNTT ở nông thôn Nội dung cụ thể sau:

+ Nhà nước cho phép chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp, lâmnghiệp để phát triển ngành nghề nông thôn

+ Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển các vùng nguyên liệu nông, lâm,thuỷ sản để đảm bảo nguồn nguyên liệu tại chỗ, ổn định cho ngành nghề nôngthôn phát triển

+ Cơ sở ngành nghề nông thôn được vay vốn của các tổ chức tín dụngdưới hình thức bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị, xã hộitheo quy định tại Điều 26 của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng

12 năm 1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng

+ Cơ sở ngành nghề nông thôn được giảm 50% trở lên về chi phí thuêdiện tích tham gia hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm trong nước Nhànước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và tài trợ một phần chi phí cho các

cơ sở ngành nghề nông thôn và nghệ nhân được tham quan, học tập, tham giahội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm và tìm hiểu thị trường ở nước ngoài

+ Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường tổ chức, chỉ đạo và dànhnguồn kinh phí cần thiết trong kế hoạch hằng năm cho việc nghiên cứu, đổimới công nghệ, cải tiến mẫu mã, sử dụng các nguồn nguyên liệu trong nước;

Trang 20

hướng dẫn việc áp dụng các loại công nghệ phù hợp để nâng cao năng suấtlao động, hạ giá thành, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao giá trị sản phẩm làngnghề; nghiên cứu và chuyển giao công nghệ xử lý chất thải, giải quyết tìnhtrạng ô nhiễm môi trường trong ngành nghề nông thôn.

+ Ưu tiên đào tạo và sử dụng lao động đối với những hộ gia đình màNhà nước thu hồi đất để phát triển ngành nghề, lao động là người địa phương.Khuyến khích các nghệ nhân, HTX, tổ chức, hiệp hội mở các lớp truyền nghề,dạy nghề cho lao động

Nghị định số 134 của Chính phủ ngày 09 tháng 6 năm 2004 về

“Khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn” (được gọi là hoạt độngKhuyến công), bao gồm những nội dung cụ thể sau:

+ Hướng dẫn, hỗ trợ tổ chức, cá nhân khởi sự doanh nghiệp lập dự ánđầu tư phát triển công nghiệp nông thôn, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, tuyểndụng, đào tạo lao động, huy động vốn, xin ưu đãi đầu tư và các thủ tục hànhchính khác theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quy hoạch pháttriển công nghiệp theo vùng, lãnh thổ và địa phương

+ Hướng dẫn, tư vấn cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn đầu tư xâydựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới và ứngdụng tiến bộ KHCN, nâng cao năng lực sản xuất, quản lý chất lượng sảnphẩm và bảo vệ môi trường

+ Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề

+ Hỗ trợ cung cấp thông tin, tiếp thị, tìm kiếm thị trường, đối tác kinhdoanh và tổ chức triển lãm, hội chợ và giới thiệu sản phẩm

+ Tổ chức các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, tham quan, khảo sát; hỗtrợ tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn liên doanh, liênkết hợp tác kinh tế, tham gia các hiệp hội ngành nghề

+ Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ vàthực hiện dịch vụ tư vấn KHCN để hỗ trợ tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuấtcông nghiệp nông thôn

Trang 21

Thông tư số 03 của Bộ Công nghiệp ngày 23 tháng 6 năm 2005 về

“Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 134/NĐ-CP của Chínhphủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn” Nội dung tóm tắt củahoạt động Khuyến công được thực hiện dưới các hình thức sau:

+ Tổ chức các lớp, khoá đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, truyền nghề.+ Tổ chức các điểm tư vấn hoặc tiến hành tư vấn trực tiếp tại cơ sở sảnxuất công nghiệp nông thôn

+ Trực tiếp hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn lập dự án khởi

sự doanh nghiệp, đầu tư mở rộng sản xuất sản phẩm mới, đổi mới và ứngdụng tiến bộ KHCN, nâng cao năng lực sản xuất, quản lý chất lượng sảnphẩm và bảo vệ môi trường

+ Hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ có kèm theo đào tạo cho cơ sởsản xuất công nghiệp nông thôn

+ Xây dựng mô hình trình diễn và tổ chức trình diễn kỹ thuật để phổ biếncông nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới và nhân rộng các mô hình tốt đã có

+ Tổ chức, hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn tham gia hộichợ, triển lãm, tham quan, khảo sát, học tập trao đổi kinh nghiệm, liên doanhliên kết, hợp tác kinh tế và tham gia các hiệp hội ngành nghề

+ Hỗ trợ cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm đối tác kinh doanh.+ Các hình thức Khuyến công khác phù hợp với các hoạt động quyđịnh tại Điều 3 Nghị định 134/2004/NĐ-CP

Nghị định số 66 của Chính phủ ngày 07 tháng 7 năm 2006 về “Pháttriển ngành nghề nông thôn”, bao gồm những nội dung sau:

+ Nhà nước xây dựng quy hoạch tổng thể và định hướng phát triểnngành nghề nông thôn dài hạn của cả nước và từng vùng kinh tế gắn liền vớiviệc thực hiện CNH, HĐH nông thôn

+ Chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch.+ Xây dựng cụm tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tập trung

+ Hỗ trợ xử lý môi trường, tiếp cận tín dụng

Trang 22

+ Thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu.+ Khuyến khích ứng dụng KHCN.

+ Hỗ trợ kinh phí đào tạo nhân lực phục vụ ngành nghề

- Cơ chế chính sách của Nhà nước

Sự phát triển LNTT một cách tự phát, không có tổ chức, quản lý củaNhà nước thì gây ô nhiễm, tàn phá môi trường, gây hậu quả nghiêm trọng vềkinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường Không có sự quản lý của Nhà nước,LNTT tự do cạnh tranh, chẳng những không phát triển mà còn kìm hãm sựphát triển, không nâng cao được năng lực cạnh tranh của LNTT với thị trườngtrong và ngoài nước Nhà nước không tổ chức, không quản lý phát triển củaLNTT sẽ không thu được thuế, không có điều kiện để phát triển cơ sở hạ tầng

Cơ chế chính sách phù hợp với thực tế sẽ thúc đẩy LNTT phát triển và ngượclại cơ chế chính sách đi ngược lại với lợi ích nhân dân sẽ kìm hãm sự pháttriển của LNTT Cơ chế là chủ trương, định hướng của Đảng, gắn liền với ýchí chủ quan của con người Chủ trương, định hướng được xác định trên cơ sởcăn cứ khoa học và thực tiễn mới tạo ra cơ chế khách quan, phù hợp quy luật

và tác động tích cực đến LNTT và ngược lại Chính sách là cụ thể hoá của cơchế nhằm hướng dẫn hoạt động của LNTT đi đúng hướng, đúng quỹ đạo

- Xây dựng kết cấu hạ tầng

Là một vấn đề hết sức quan trọng, không chỉ quan trọng đối với LNTT màcòn quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp nông thôn, đối với đầu tư củacác doanh nghiệp trong và ngoài nước Cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thôngđược mở rộng, thông tin liên lạc, điện, nước, cầu cống, trường, trạm … được đầu

tư xây dựng đầy đủ, hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho cung ứng nguyên vậtliệu, tiêu thụ sản phẩm của LNTT Yếu tố này có tác động mạnh mẽ tới yếu tốtâm lý sản xuất nhỏ của người sản xuất, tới việc phát triển LNTT

- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển làng nghề, LNTT

Quy hoạch, kế hoạch xây dựng các khu, cụm công nghiệp có cơ sởkhoa học trong tổng thể nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững, lâu dài Trên

Trang 23

cơ sở quy hoạch đó mà có kế hoạch thực hiện từng giai đoạn, từng thời kỳnhằm đảm bảo những chuẩn mực đã đặt ra Có quy hoạch, LNTT mới đủ điềukiện để phát triển, có điều kiện mở rộng quy mô, áp dụng được công nghệhiện đại vào sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh; các chính sách hỗ trợ vayvốn ưu đãi hoặc đền bù đất đai của Nhà nước phù hợp với thực tế và lợi íchcủa nhân dân thì việc xây dựng và phát triển LNTT được thực hiện nhanhchóng Mặt khác, có quy hoạch Nhà nước mới kiểm tra, kiểm soát được sựphát triển cũng như khắc phục được tình trạng sản xuất nhỏ, tự phát của cácLNTT, từ đó có chính sách điều chỉnh phù hợp

- Tổ chức gắn kết các ngành du lịch, văn hoá với các làng nghề truyền thống

Là một trong những xu hướng được quan tâm trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế Tiềm năng du lịch ở các LNTT hiện nay là rất lớn; MỗiLNTT gắn với một vùng văn hoá, hệ thống di tích và truyền thống riêng, vớicung cách sáng tạo sản phẩm riêng Việc du khảo các LNTT là để thấy rõ bảnsắc cũng như đặc trưng kinh tế, văn hoá của mỗi vùng Vì vậy, một số LNTT

đã phát triển hình thức này, coi đây là một trong những cách thức nhằm giớithiệu, quảng cáo làng nghề và sản phẩm truyền thống, qua đó tạo lập thịtrường tiêu thụ sản phẩm Dệt thổ cẩm Châu Phong, tơ lụa Tân Châu, đan đát,mộc chạm trổ mỹ nghệ, mộc dân dụng, đóng xuồng ghe, sản xuất gạch ngói,rập chuột, lưỡi câu, khô cá sặc bổi … đã thực sự thu hút khách tham quan, dulịch, tìm hiểu sản phẩm truyền thống, quy trình và phương pháp sản xuất, tìmhiểu thị trường và ký kết hợp đồng kinh tế Có thể nói rằng, phát triển tiềmnăng du lịch ở các LNTT là một xu hướng rất cần được quan tâm

- Tạo điều kiện về đầu vào, đầu ra cho sản phẩm

Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của cácLNTT Trong những giai đoạn trước đây, nguồn nguyên vật liệu được coi làmột trong những điều kiện tạo nên sự hình thành và phát triển của các LNTTbởi việc hỗ trợ tích cực của các phương tiện giao thông và phương tiện kỹ

Trang 24

thuật Tuy nhiên, vấn đề khối lượng, chất lượng, số lượng, chủng loại vàkhoảng cách của các nguồn nguyên vật liệu này vẫn có những ảnh hưởng nhấtđịnh tới chất lượng và giá thành sản phẩm Cho đến nay nguồn nguyên liệucung cấp cho một số LNTT vẫn phong phú, đặc biệt là nguyên liệu cho cácnghề chế biến lương thực, thực phẩm Nhưng đối với nhiều nghề khác thì nguồnnguyên liệu lại là một khó khăn gây nhiều cản trở tới sản xuất do nguồn nguyênvật liệu đang bị cạn dần đi không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường.

1.2.2 Phát huy các nhân tố của bản thân các làng nghề

- Nhân tố truyền thống của từng hộ gia đình

LNTT thường gắn với những kinh nghiệm truyền thống, cha truyền connối, do đó đã xuất hiện nhiều nghệ nhân tài hoa Tính truyền thống của làngnghề tạo nên uy tín lan truyền qua bao thế hệ trong phạm vi rộng lớn, do đó

nó tự phát hình thành thị trường cung ứng vật tư, lao động, tiền vốn và thịtrường tiêu thụ sản phẩm Đây là yếu tố tác động cản trở việc di chuyểnLNTT đến một địa điểm mới, một khu mới tách biệt dân cư để xây dựng môhình cụm công nghiệp làng nghề Ngày nay, một số địa phương đã hình thànhnhiều làng nghề mới, nhưng làng nghề này nằm xung quanh LNTT đóng vaitrò là vệ tinh, là nơi sản xuất gia công cho LNTT, vấn đề tiêu thụ của làngnghề này rất khó khăn

Sản xuất LNTT có nguồn gốc từ nghề tiểu thủ công nghiệp được tách

ra từ sản xuất nông nghiệp Lúc đầu người nông dân chỉ tận dụng thời gianlao động nhàn rỗi trong lao động sản xuất nông nghiệp để sản xuất sản phẩmphục vụ cuộc sống và lao động sản xuất của họ Vì thế, sản xuất LNTT mangtính chất sản xuất nhỏ, manh mún tự phát với kỹ thuật thô sơ, lạc hậu Tínhchất này đã ăn sâu trong tâm trí người nông dân và trở thành yếu tố tâm lý.Yếu tố này tác động cản trở đến việc xây dựng LNTT với quy mô, máy móchiện đại và tập trung theo hướng phát triển bền vững Yếu tố tâm lý sản xuấtnhỏ biểu hiện ở chỗ họ không muốn và không có vốn đầu tư xây dựng và sản

Trang 25

xuất, không dám vay vốn để mở rộng quy mô; không muốn rời bỏ lối sống tự

do cá nhân, tự phát để vào cụm công nghiệp LNTT, chịu sự kiểm soát củachính quyền, chịu đóng thuế Nhà nước, …

Cơ sở vật chất của các LNTT đều do cá nhân, hộ gia đình đầu tư xâydựng một cách tự phát tuỳ theo khả năng sản xuất, lao động và tiền vốn củatừng hộ gia đình Từ việc mua máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, cungứng nguyên vật liệu đến việc tổ chức tiêu thụ cũng đều do người nông dân tựphát xây dựng, không theo quy hoạch, không tính đến tác hại của nhữngngười xung quanh, chỉ miễn sao có lợi cho gia đình của họ Như vậy, tính cộngđồng trong các LNTT thường không có, nếu có là tính gia đình, dòng họ Khixây dựng cụm công nghiệp LNTT theo hướng phát triển bền vững tức là cóquy hoạch, có kế hoạch của chính quyền, của pháp luật; người nông dân phảirời bỏ, tháo dỡ cơ sở vật chất cũ của mình để xây dựng mới theo quy hoạch củaNhà nước Điều đó gặp trở ngại lớn ở chỗ người dân phải bỏ cũ, xây mới sẽkhông có đủ vốn để làm Mặt khác, trước đây gia đình tận dụng đất đai, laođộng của mình và không phải đóng thuế Nhà nước, nay phải thuê đất, thuê laođộng và phải đóng thuế sản xuất kinh doanh Đây là một một yếu tố tác độngcản trở việc xây dựng và phát triển LNTT theo hướng phát triển bền vững

- Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững

Phát triển LNTT gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, ổn định lâudài Trong nền kinh tế thị trường, bản thân LNTT tự nó phát triển nhờ cơ chếchính sách của Nhà nước và tác động của cơ chế thị trường Mặt khác, vì mụctiêu lợi ích của mình, các cá nhân, hộ gia đình đã đầu tư vốn, máy móc, thiết

bị, lao động … để mở rộng quy mô sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, đa dạnghoá mẫu mã, đa dạng hoá loại hình sản xuất nhằm tạo ra nhiều sản phẩm,giành thắng lợi trong cạnh tranh Trong giai đoạn thực hiện CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn tạo cho LNTT có những điều kiện phát triển mạnh như cơ

sở hạ tầng, KHCN, thị trường cung ứng vật tư và thị trường tiêu thụ sản phẩmđược mở rộng Đặc biệt, hiện nay Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức

Trang 26

Thương mại quốc tế (WTO) đã tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển củaLNTT, nhất là điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và ứng dụngcông nghệ vào sản xuất Trong điều kiện đó LNTT phải có năng lực cạnhtranh mới có thể phát triển được nhưng cạnh tranh phải gắn với vấn đề môitrường và xã hội Sở dĩ như vậy, vì quá trình tự do hoá thương mại và toàncầu hoá đang có xu hướng xoá dần đi các hàng rào thuế quan và phi thuế quanthông thường và thay vào đó là hàng rào quy định về môi trường và sức khoẻ.Các ngân hàng nước ngoài sẽ đầu tư vào Việt Nam 100% vốn và có xu hướngràng buộc các khoản vay với những chứng chỉ về môi trường Như vậy, đểduy trì tăng trưởng cao và ổn định của LNTT không chỉ đơn thuần là kinh tế

mà còn những vấn đề môi trường và xã hội

Phát triển LNTT gắn với mục tiêu thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội,bảo vệ và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc Việc tăng trưởng kinh tế của cácLNTT đóng góp to lớn vào gia tăng thu nhập bình quân đầu người Thu nhậptăng làm tăng nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và đời sống, dịch vụ phát triển.Việc sử dụng máy móc thiết bị vào sản xuất của các LNTT góp phần giảiquyết việc làm cho bộ phận lớn lao động nông thôn, thực hiện được việc xoáđói giảm nghèo Tăng trưởng kinh tế LNTT đã góp phần chuyển đổi cơ cấukinh tế trong nông nghiệp, nông thôn từng bước hình thành các khu đô thịLNTT Điều đó dẫn đến vấn đề quan hệ kinh tế - xã hội trong LNTT có nhữngthay đổi theo cơ chế thị trường, theo sự phát triển LNTT như quan hệ giữachủ và người làm thuê, giữa người mua, kẻ bán … điều đó tác động ảnhhưởng tới sự thay đổi văn hoá truyền thống, phong tục tập quán của LNTT.Cho nên để duy trì sự phát triển của LNTT yêu cầu sự phát triển phải gắn liềnvới sự thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và duy trì, bảo tồn và phát triển vănhoá truyền thống, phong tục tập quán của LNTT

Phát triển LNTT gắn với mục tiêu sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả vàbảo vệ tài nguyên môi trường Sản xuất trong LNTT luôn là quá trình gồm haimặt Một mặt, đó là quá trình khai thác, chế biến các nguồn tài nguyên thiên

Trang 27

nhiên để sản xuất ra sản phẩm Mặt khác, đó là quá trình phát thải, sự phátthải nảy sinh từ bản thân quá trình sản xuất của LNTT và sự tiêu dùng các sảnphẩm công nghiệp của người dân.

Việc phát triển sản xuất LNTT đòi hỏi phải cung ứng nhiều nguyên vậtliệu, nhiều sản phẩm công nghiệp Sản xuất tiểu thủ công nghiệp của LNTTphần lớn sử dụng lao động thủ công và công nghệ thô sơ, kỹ thuật lạc hậu,mang tính sản xuất nhỏ, do đó gây tốn kém, lãng phí nhiều nguyên vật liệu.Điều đó dẫn đến phải khai thác tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn, gây cạn kiệttài nguyên thiên nhiên, việc tái tạo tài nguyên thiên nhiên không kịp với khaithác, đã gây tác động to lớn đến môi trường tự nhiên và môi trường sống củacon người Mặt khác, chính lao động thủ công với công nghệ thô sơ, lạc hậu

đã tạo ra lượng phát thải rất lớn, nhưng thiếu các biện pháp thích hợp để xử lýchất thải là nguyên nhân trực tiếp gây ra ô nhiễm môi trường sống Sự pháttriển của LNTT dẫn tới sự đô thị hoá, thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, nhucầu tiêu dùng của đời sống dân cư ở nông thôn ngày càng gia tăng, song cùngvấn đề này là ý thức, nếp sống của người dân trong LNTT bị thay đổi theonền kinh tế thị trường, dẫn đến phát thải, gây ô nhiễm môi trường sống ngàycàng gia tăng Vì vậy, để phát triển bền vững LNTT cần phải gắn với việc sửdụng tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm có hiệu quả, phải gắn với việc xử lýchất thải và quản lý môi trường chặt chẽ Muốn vậy, đòi hỏi các cấp, cácngành, các địa phương phải có quy hoạch, khai thác tài nguyên, phải quyhoạch xây dựng LNTT thành những cụm công nghiệp LNTT, gắn với việc sửdụng máy móc hiện đại, xử lý chất thải hợp lý nhằm bảo vệ môi trường tựnhiên và môi trường sống Quản lý và kiểm soát môi trường LNTT phải dochính các hộ gia đình, các doanh nghiệp thực hiện, không ai có thể làm thay

và làm tốt hơn họ Vì vậy, mọi người dân phải nhận thức được và có năng lực

tự điều chỉnh và kiểm soát môi trường Điều đó, đòi hỏi các cấp chính quyềnđịa phương phải tăng cường giáo dục cho người dân nông thôn nhận thứcđược ý thức trách nhiệm trước cộng đồng; Đồng thời, phải tăng cường quản

lý, kiểm tra, kiểm soát môi trường

Trang 28

1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

1.3.1 Phát triển các làng nghề truyền thống ở một số nước

- Nhật Bản

Ở Nhật Bản, tuy CNH diễn ra nhanh và phát triển mạnh, song làngnghề vẫn tồn tại, các nghề thủ công vẫn được mở mang Họ không những chỉ duytrì và phát triển các ngành nghề cổ truyền mà còn mở ra một số nghề mới Đồngthời, Nhật Bản cũng rất chú trọng đến việc hình thành các xí nghiệp vừa và nhỏ ởthị trấn, thị tứ ở nông thôn để làm vệ tinh cho những xí nghiệp lớn ở đô thị

Ngành nghề TTCN của Nhật Bản bao gồm: chế biến lương thực, thựcphẩm, nghề đan lát, nghề dệt chiếu, nghề thủ công mỹ nghệ, nghề dệt lụa,nghề rèn nông cụ … Đầu thế kỷ thứ XX, Nhật Bản hiện còn 867 nghề thủcông cổ truyền hoạt động Năm 1992 đã có 2.640 lượt người của 62 nướctrong đó có Trung Quốc, Malaysia, Anh, Pháp tới thăm LNTT của Nhật

Trong các ngành nghề nổi lên có nghề rèn là nghề thủ công cổ truyềnphát triển ở nhiều làng nghề và thị trấn của Nhật Thị trấn Takeo tỉnh GiFu làmột trong những địa phương có nhiều nghề cổ truyền từ 700 đến 800 năm,đến nay vẫn tiếp tục hoạt động, hiện nay cả thị trấn có khoảng 200 hộ gia đìnhvới 1.000 lao động là thợ thủ công chuyên nghiệp, hằng năm sản xuất ra 9 -

10 triệu nông cụ các loại, với chất lượng cao, mẫu mã đẹp Điều đáng chú ý làcông nghệ chế tạo nông cụ của Nhật từ thủ công dần dần được HĐH với cácmáy gia công tiến bộ và kỹ thuật tiên tiến Thị trấn Takeo có trung tâm nghiêncứu mẫu mã và chất lượng công cụ với đầy đủ thiết bị đo lường hiện đại theotiêu chuẩn quốc gia Mặc dù, hiện nay Nhật Bản đã trang bị đầy đủ máy mócnông nghiệp và đạt trình độ cơ giới hoá các khâu canh tác dưới 95%, nhưngnghề sản xuất nông cụ cũng không giảm sút nhiều Nông cụ của Nhật Bản vớichất lượng tốt, mẫu mã đẹp, không chỉ tiêu thụ ở trong nước mà còn xuấtkhẩu ra nước ngoài

Vào những năm 1970 ở tỉnh Oita (miền Tây Nam Nhật Bản) đã cóphong trào “Mỗi thôn làng một sản phẩm” nhằm phát triển ngành nghề cổ

Trang 29

truyền trong nông thôn, do đích thân ông Tỉnh trưởng phát động và tổ chức.Kết quả cho thấy, ngay những năm đầu tiên họ đã sản xuất được 143 loại sảnphẩm, thu được 1,2 tỷ USD trong đó 378 triệu USD thu được từ bán rượu đặcsản Sakê của địa phương, 114 triệu USD thu từ bán các mặt hàng thủ công mỹnghệ Phong trào phát triển ngành nghề cổ truyền “Mỗi thôn làng một sảnphẩm” đã nhanh chóng lan rộng ra khắp nước Nhật.

Đi đôi với việc phát triển ngành nghề cổ truyền Nhật Bản còn nghiêncứu các chủ trương chính sách, ban hành các luật lệ, thành lập các viện nghiêncứu, viện kỹ thuật và thành lập nhiều văn phòng cố vấn khác Nhờ đó, cáchoạt động phi nông nghiệp được phát triển mạnh mẽ; thu nhập ngoài nôngnghiệp chiếm 85% tổng thu nhập của hộ Năm 1993 nghề thủ công và làngnghề đã đạt giá trị sản lượng tới 8,1 tỷ USD

- Hàn Quốc

Sau chiến tranh kết thúc Chính phủ Hàn Quốc đã chú trọng đến côngnghiệp nông thôn, trong đó có ngành nghề thủ công và LNTT Đây là mộtchiến lược quan trọng để phát triển nông thôn Các mặt hàng được tập trungsản xuất là: hàng thủ công mỹ nghệ, hàng TTCN phục vụ du lịch và xuất khẩu,đồng thời tập trung chế biến lương thực, thực phẩm theo công nghệ cổ truyền

Chương trình phát triển ngành nghề ngoài nông nghiệp ở nông thôn tạothêm việc làm cho nông dân bắt đầu từ 1967; Chương trình này tập trung vàocác nghề sử dụng lao động thủ công, công nghệ đơn giản và nguồn nguyênliệu sẵn có ở địa phương, sản xuất quy mô nhỏ, khoảng 10 hộ gia đình liên kếtvới nhau thành tổ hợp tác được ngân hàng cung cấp vốn tín dụng với lãi suấtthấp để mua nguyên liệu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Phát triển ngành nghề thủ công truyền thống cũng được triển khai rộngkhắp từ những năm 1970 đến 1980, đã xuất hiện 908 xưởng thủ công dân tộcchiếm 2,9% các xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút 23.000 lao động, hoạt độngtheo hình thức sản xuất tại gia là chính Đây là loại hình nông thôn với 79,4%dựa vào các hộ gia đình riêng biệt, sử dụng nguyên vật liệu địa phương và bí

Trang 30

quyết truyền thống Để phát triển công nghiệp thủ công truyền thống Chínhphủ đã thành lập 95 hãng thương mại về những mặt hàng này Tương lai củacác nghề thủ công truyền thống còn đầy hứa hẹn do nhu cầu về tiêu thụ sảnphẩm dân gian bắt đầu tăng Qua đây có thể đánh giá được hiệu quả lao độngcủa chương trình làng nghề thủ công truyền thống là rất thiết thực [48].

- Trung Quốc

Nghề thủ công ở Trung Quốc có từ lâu đời và nổi tiếng như đồ gốm,dệt vải, dệt tơ lụa, luyện kim, nghề làm giấy … Sang đầu thế kỷ XX TrungQuốc có khoảng 10 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp, không chuyên nghiệplàm việc trong các hộ gia đình, trong phường nghề và làng nghề Đến năm 1954

số người làm nghề TTCN được tổ chức vào HTX Sau này phát triển thành xínghiệp Hương Trấn và cho đến nay vẫn còn tồn tại ở một số địa phương

Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung của các xí nghiệp công, thươngnghiệp, xây dựng … hoạt động ở khu vực nông thôn Nó bắt đầu xuất hiệnvào năm 1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa Xí nghiệpHương Trấn phát triển mạnh mẽ đã góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộmặt nông thôn Những năm 80 các xí nghiệp cá thể và làng nghề phát triểnnhanh, đóng góp tích cực trong việc tạo ra 68% giá trị sản lượng công nghiệpnông thôn và trong số 32% sản lượng công nghiệp nông thôn do các xí nghiệp

cá thể tạo ra có phần đóng góp đáng kể từ làng nghề Trong các hàng thủ côngxuất khẩu, hàng thảm có vị trí đáng kể (chiếm 75% số lượng thảm ở thịtrường Nhật) [21]

Trang 31

khí như lò bể cải tiến, máy gia công kim loại … nhằm nâng cao năng suất laođộng và chất lượng sản phẩm Những cơ sở này đã sản xuất hàng triệu công

cụ nông nghiệp thủ công và nửa cơ khí, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng

về công cụ sản xuất của nông dân

Ấn Độ là nước có nền văn minh, văn hoá dân tộc lâu đời được thể hiệnrất rõ trên các sản phẩm thủ công truyền thống, đồng thời cũng là nơi có nhiềungành nghề và LNTT Bên cạnh nghề nông, hàng triệu người dân sinh sốngbằng các nghề TTCN với doanh thu hàng năm gần 1.000 tỷ Rupi Có nhữngngành nghề làm ra hàng tiêu dùng thủ công mỹ nghệ cao cấp như kim hoànvàng, bạc, ngọc ngà, đồ mỹ nghệ … trong số 0,03% sản lượng kim cương củathế giới mà Ấn Độ khai thác được do 75 vạn thợ chế tác kim cương lớn nhấttrên thế giới Trên thực tế, kim cương của Ấn Độ không nhiều nhưng họ đãnhập kim cương thô của Nga về chế tác để cạnh tranh với Ixraen và Hà Lan

Viện thủ công mỹ nghệ của Ấn Độ là cơ quan nghiên cứu kinh tế kỹ thuậtphục vụ yêu cầu phát triển ngành nghề cổ truyền Trong thời gian qua, ngoài việcnghiên cứu kỹ thuật, công nghệ mẫu mã, mặt hàng còn tổ chức 165 cuộc triểnlãm, hàng thủ công mỹ nghệ ở trong và nước ngoài để giới thiệu các mặt hàng đặcsắc của Ấn Độ, nghiên cứu và tìm thị trường xuất khẩu ra nước ngoài [8]

- Thái Lan

Ở Thái Lan có nhiều ngành nghề TTCN và làng nghề Các ngành nghềthủ công truyền thống như chế tác vàng, bạc, đá quý, đồ trang sức được duytrì và phát triển tạo ra nhiều hàng hoá xuất khẩu đứng vào hàng thứ hai trênthế giới Do kết hợp tay nghề của người nghệ nhân tài hoa với công nghệ kỹthuật tiên tiến, do đó sản phẩm làm ra đạt chất lượng cao, cạnh tranh đượctrên thị trường Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mỹ nghệ vàng bạc, đá quýnăm 1990 đạt gần 2 tỷ USD Nghề gốm sứ cổ truyền của Thái Lan trước đâychỉ SX để đáp ứng tiêu dùng trong nước Nhưng gần đây ngành này đã pháttriển theo hướng CNH, HĐH và trở thành mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệđứng thứ hai sau gạo Năm 1989 nghề gốm Thái Lan đã xuất khẩu được 300

Trang 32

triệu bath Hiện nay, sản phẩm gốm được thị trường Mỹ và Châu Âu ưachuộng Vùng gốm truyền thống ở Chiêng Mai đang được xây dựng thànhtrung tâm gốm quốc gia với 3 mặt hàng: gốm truyền thống, gốm công nghiệp,gốm mới được SX trong 21 xí nghiệp chính và 72 xí nghiệp lân cận Cho đếnnay 95% hàng xuất khẩu của Thái Lan là đồ dùng trang trí nội thất và quà lưuniệm Để nâng cao chất lương sản phẩm, Thái Lan đã tích cực xúc tiếnchương trình nâng cao tay nghề cho công nhân của 93 xí nghiệp gốm ChiêngMai và Lam Pang Bên cạnh đó, nghề kim hoàn chế tác ngọc, đồ gỗ vẫn tiếptục phát triển, tạo việc làm, tăng thu nhập cho dân cư ở nông thôn [7].

Kế hoạch 5 năm lần thứ ba: Chính phủ đứng ra tổ chức một số cơ quan đểquản lý, chỉ đạo hướng dẫn nghiệp vụ cung cấp vật tư thiết bị, tiêu thụ sản phẩm

Chính phủ Indonesia đã đứng ra tổ chức một số trung tâm trợ giúp côngnghiệp nhỏ, đề ra các chính sách khuyến khích hỗ trợ công nghiệp nhỏ pháttriển; trong đó chú ý đến chính sách khuyến khích về thuế và ưu tiên côngnghiệp nhỏ chế biến nông sản xuất khẩu “Hội đồng thủ công nghiệp quốcgia” được Nhà nước tổ chức và chỉ đạo nhằm thúc đẩy ngành nghề TTCNphát triển như: tổ chức thiết kế mẫu mã, hội chợ triển lãm ở nông thôn …

Sự nỗ lực của Chính phủ trong việc phát triển ngành nghề TTCN ở nôngthôn đã đem lại hiệu quả thiết thực Ở đảo Java, số liệu điều tra 10 làng nghề thủcông cho thấy 44% lao động nông thôn có tham gia ít hoặc nhiều vào hoạt độngkinh tế ngoài nông nghiệp (19% làm ở các cơ sở SX TTCN và 16% làm ở các

Trang 33

dịch vụ nông thôn) Thu nhập của nông dân ở đây từ nguồn ngoài nông nghiệptrong những năm gần đây tăng từ 12% lên 23% tổng thu nhập [13].

Các ngành nghề chế biến nông sản thực phẩm được chú ý hơn cả để tậptrung vào xuất khẩu Chẳng hạn, nghề chế biến NATA - nước dừa tinh khiết

là món ăn lâu đời của người dân Cả nước có khoảng 300 hộ gia đình chế biếnNATA cung cấp cho công ty thực phẩm Inter food để xuất khẩu Kim ngạchxuất khẩu sản phẩm cổ truyền này năm 1993 là 14 triệu USD trong đó 85%xuất khẩu sang Nhật Bản [13]

1.3.2 Những kinh nghiệm phát triển làng nghề truyền thống của các nước trên

Từ thực tiễn phát triển LNTT của các nước trên, có thể rút ra một sốkinh nghiệm sau:

- Một là, phát triển làng nghề truyền thống gắn với quá trình công nghiệp hoá nông thôn

Trong quá trình CNH, đô thị hoá, thương mại hoá ở các nước đã có lúclàm cho nét độc đáo, tinh xảo của làng nghề bị phai nhạt lu mờ Nhưng vớicách nhìn nhận mới, các nước đã chú trọng và coi làng nghề là bộ phận củaquá trình CNH nông thôn Do vậy, khi tiến hành CNH họ thường kết hợp thủcông với kỹ thuật cơ khí hiện đại tuỳ điều kiện cơ sở vật chất của mỗi nước

Trang 34

mà áp dụng công nghệ cổ truyền hay công nghệ hiện đại Đồng thời, tổ chứccác cơ sở SX gần vùng nguyên liệu và đặt tại làng xã có nghề truyền thống đểtiện cho việc phát triển SX, giao lưu hàng hoá

- Hai là, chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn

Đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn có vai trò quantrọng, đối với sự nghiệp phát triển của LNTT Vì thế, các nước đều chú ý đầu

tư giáo dục và đào tạo tay nghề cho người lao động để họ tiếp thu được kỹthuật tiên tiến Bởi vì, việc hình thành một đội ngũ lao động có tay nghề cao

là rất quan trọng Nếu thiếu yếu tố này thì việc tiếp thu KHCN sẽ không thànhcông như mong đợi Nhìn chung, các nước đều triệt để sử dụng nhữngphương pháp huấn luyện tay nghề cho người lao động như: bồi dưỡng tại chỗ,bồi dưỡng tập trung, ngắn hạn … theo phương châm thiếu gì huấn luyện nấy.Xúc tiến thành lập các trung tâm, các viện nghiên cứu để đào tạo một cách có

hệ thống mà các cơ sở sản xuất hoặc địa phương có nhu cầu Để bồi dưỡng vàđào tạo tay nghề cho người lao động các nước cũng rất chú ý đến kinh nghiệmthực tiễn, tức là mời những nhà kinh doanh, những nhà quản lý có kinhnghiệm để báo cáo một số chuyên đề tập huấn, hoặc mang sản phẩm đi triểnlãm, trao đổi … tiến hành hoạt động công nghiệp cộng đồng (gia đình, làngxóm, phường hội) để phổ biến kỹ thuật

- Ba là, đề cao vai trò của Nhà nước trong việc giúp đỡ, hỗ trợ về tài chính cho làng nghề truyền thống phát triển sản xuất kinh doanh

Trong quá trình SX kinh doanh của LNTT, từ vài thập kỷ gần đây cácNhà nước rất quan tâm và có nhiều chủ trương chính sách đề cập đến vấn đềphát triển ngành nghề thủ công truyền thống Trong đó, chủ trương hỗ trợ vềtài chính, tín dụng đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển củaLNTT Sự hỗ trợ tài chính, vốn của Nhà nước được thông qua các dự án cấpvốn, bù lãi suất cho ngân hàng hoặc bù giá đầu ra cho người SX Thông qua

sự hỗ trợ giúp đỡ này mà các làng nghề lựa chọn kỹ thuật gắn với lựa chọnhướng SX Nhà nước tạo điều kiện cho ngành nghề thủ công truyền thống đổi

Trang 35

mới công nghệ mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, nâng caosức cạnh tranh trên thị trường.

- Bốn là, Nhà nước có chính sách thuế và thị trường phù hợp để thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển

Đi đôi với việc hỗ trợ tài chính, tín dụng là chính sách thuế và thịtrường của Nhà nước để khuyến khích LNTT, ngành nghề truyền thốngphát triển Bởi vì chính sách thuế được coi như phương tiện để kích thích

sự phát triển của LNTT và đóng vai trò thúc đẩy sự tiến bộ của XH; còn thịtrường là điều kiện tốt nhất cho sự tồn tại của mỗi xí nghiệp trong mỗi làngnghề Thị trường không chỉ là nơi mua bán vật tư, nguyên liệu và sản phẩmcủa LNTT mà còn có cả những ý kiến cố vấn kỹ thuật, các dịch vụ vớinhiều thông tin quý giá

- Năm là, khuyến khích sự kết hợp giữa đại công nghiệp với tiểu thủ công nghiệp và trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống

Sự kết hợp giữa đại công nghiệp với TTCN và trung tâm công nghiệpvới LNTT là thể hiện sự phân công hợp tác lao động thông qua sự hỗ trợ giúp

đỡ lẫn nhau, nhất là các vấn đề lựa chọn kỹ thuật, lựa chọn hướng sản xuất

Để tạo dựng cho mối quan hệ này, ở hầu hết các nước đều thiết lập chươngtrình kết hợp giữa các trung tâm công nghiệp với LNTT

Ở Nhật Bản LNTT đóng vai trò làm gia công, vệ tinh của các công tylớn, khu công nghiệp tập trung và cung cấp những sản phẩm trung gian chochúng, chương trình này được thực hiện ở Inđônêxia là: các trung tâm côngnghiệp có trách nhiệm giúp đỡ LNTT nâng cao năng lực quản lý quy trình côngnghệ, marketing, cung cấp tài chính, mua nguyên liệu thô và đứng ra đảm bảocho LNTT vay vốn ngân hàng còn LNTT có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ, đồngthời làm nhiệm vụ gia công cho trung tâm công nghiệp lớn Ở Thái Lan cáctrung tâm công nghiệp đứng ra đấu thầu công việc Sau đó một phần công việcnhận thầu được đưa về cho LNTT làm gia công số chi tiết của sản phẩm

Trang 36

- Sáu là, mô hình tổ chức sản xuất ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong các làng nghề với nhiều hình thức khác nhau trong đó phổ biến là hình thức sản xuất hộ gia đình.

Hầu hết ở các nước hình thức tổ chức sản xuất trong làng nghề nôngthôn rất đa dạng: Hộ gia đình, doanh nghiệp, xí nghiệp vừa và nhỏ … nhưngtrong đó hộ gia đình là chủ yếu đóng vai trò làm gia công, vệ tinh cho cáccông ty lớn, các khu vực công nghiệp tập trung

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

* Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

An Giang có diện tích tự nhiên 3.536 km2, có 11 tuyến địa giới hànhchính bao gồm thành phố Long Xuyên, thị xã và 9 huyện, trong đó có 2 huyệnmiền núi với tổng số 154 phường, xã, thị trấn Năm 2006, dân số toàn tỉnh là2.210.271 người, mật độ dân số trung bình là 625 người/km2 Gồm các dân tộcKinh, Hoa, Chăm, Khmer; Trong đó người kinh chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo làdân tộc Khmer chiếm 3,8% dân số tỉnh sống chủ yếu ở vùng núi 2 huyện TịnhBiên và Tri Tôn; dân tộc Chăm có tỷ lệ thấp chỉ vào khoảng 0,6% dân số tỉnhsống chủ yếu ở 2 huyện Tân Châu, Phú Tân và một số ít ở huyện Châu Thành

Phía Tây Bắc giáp Campuchia dài 104 km (theo Hiệp ước hoạch địnhbiên giới Việt Nam - Campuchia ký ngày 27/12/1985), Tây Nam giáp tỉnh KiênGiang 69,789 km, Nam giáp tỉnh Cần Thơ 44,734 km, Đông giáp tỉnh ĐồngTháp 107,628 km An Giang là tỉnh đầu nguồn, tiếp nhận cùng lúc 2 nhánh sôngTiền và sông Hậu Hàng năm đón nhận nước lũ về khoảng 4 tháng và hình thànhmùa nước nổi, dòng phù sa bồi đắp tự nhiên giúp cho sự phát triển ngành trồngtrọt cây hàng năm, nhưng cũng để lại nhiều hậu quả do lũ lụt gây ra

An Giang vừa có đồng bằng phù sa, vừa có đồi núi; trong đó, có núiSam - chùa Bà Chúa Xứ, vùng thất sơn với Thiên Cấm sơn (ngọn cao nhất

710 mét), Thuỷ Đài sơn, Anh Vũ sơn …

An Giang nằm ở cửa ngõ Tây Nam trong lưu vực sông Mêkông, trêntuyến đường bộ và đường thuỷ quốc tế quan trọng nối Campuchia, Lào, TháiLan với phần Nam bộ Việt Nam và Biển Đông Tuyến đường này sẽ ngày

Trang 38

càng trở nên cần thiết cho phát triển kinh tế của các nước và An Giang sẽ làkhâu nối quan trọng trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế Việt Nam vớicác tỉnh trong và ngoài nước nhất là khu vực Đông Nam Á Theo quy hoạchchung phát triển của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long sẽ có khoảng 21,7 triệudân vào năm 2010, lượng vận chuyển qua các cửa khẩu thuộc An Giang sẽ tănggấp đôi Với vị trí địa lý trên, An Giang có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh

tế, dịch vụ, du lịch, ngân hàng, thương mại và là một tiền đề cho việc xây dựng

kế hoạch phát triển công nghiệp - TTCN của tỉnh trong tương lai

An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõrệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 nămsau Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 độ C Lượng mưa trung bìnhnăm khoảng 1.130 mm, có năm lên tới 1700 - 1800 mm Độ ẩm trung bình80% - 85% và có sự dao động theo chế độ mùa mưa Khí hậu nói chung cơbản là thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp

+ Phần lớn đất đai khá màu mỡ, bao gồm 37 loại đất khác nhau, hìnhthành 6 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa trên 151.600 ha(44,5%) và đất phù sa có phèn chiếm 93.800 ha (27,5%), đất bằng phẳng phùhợp với sinh trưởng của nhiều loại cây trồng Cơ cấu sử dụng đất và mặt nướccủa tỉnh qua các năm được trình bày tại Bảng 2.1

Bảng 2.1: Hiện trạng đất đai của tỉnh An Giang

Đơn vị tính: han v tính: haị tính: ha

Loại đất

Tổng diện tích tự nhiên 340.623 340.623 340.623 340.623 353.551 353.676 1.Đất nông nghiệp 246.687 260.446 261.575 261.575 281.970 281.416

Trang 39

Tuy nhiên, diện tích có khả năng canh tác mở thêm không nhiều (10%)nên tỉnh sẽ tiếp tục đẩy mạnh thâm canh và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăngdiện tích màu, rau, đậu … trong đó ngô, sắn được chọn ưu tiên phát triểnnhanh làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.

+ Tài nguyên thuỷ sản, An Giang có sông Tiền và sông Hậu chảy qualãnh thổ của tỉnh tạo ra nguồn lợi kinh tế thuỷ sản không nhỏ Nuôi trồng thuỷsản là một nghề truyền thống lâu đời của nhân dân địa phương và một thếmạnh kinh tế của tỉnh Tỉnh có kế hoạch đầu tư phát triển nguồn tài nguyênthuỷ sản để cung cấp ổn định nguyên liệu cho các nhà máy chế biến

+ Tài nguyên khoáng sản và các nguồn nguyên liệu hiện có rất đa dạng

và phong phú cung cấp cho các ngành công nghiệp - TTCN, truyền thống:

Nguyên liệu cung cấp cho nghề sản xuất thủ công mỹ nghệ: dâu tằmcung cấp cho ngành se tơ tằm, dệt thổ cẩm xuất khẩu (Tân Châu, Tri Tôn,Tịnh Biên, Phú Tân); tre, trúc cung cấp cho nghề làm tre mỹ nghệ (Chợ Mới,Long Xuyên); cây lục bình cung cấp cho nghề sản xuất thảm, đá điêu khắc

mỹ nghệ (Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn)

Nguyên liệu cung cấp cho nghề sản xuất mây, tre, đan, gốm sứ, kim khítập trung ở Long Xuyên, Chợ Mới, Tri Tôn

+ An Giang có nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng như Miếu BàChúa xứ, đền chùa ở Núi Sam, thắng cảnh Núi Cấm, nhiều di tích lịch sử …cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt có thể là những điểm du lịch sinh tháithu hút du khách trong và ngoài nước Tỉnh có đường giao thông thuận tiệnliên kết du lịch thuỷ, bộ với các tỉnh trong khu vực và quốc tế, nhất là cácnước ASEAN trên tuyến đường bộ

* Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang

- Về tăng trưởng kinh tế

Dịch vụ - du lịch được coi là trọng tâm phát triển của An Giang trongcác năm tới SX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởngkhá Năm 2006, giá trị SX toàn ngành công nghiệp - TTCN An Giang đạt

Trang 40

3.473 tỷ đồng, tăng 17,89% so năm trước, với giá trị tăng thêm 1.489 tỷ đồng,tăng 16,19% so năm 2005 Thông qua chương trình Khuyến công, các ngânhàng thương mại trên địa bàn tỉnh đã giải ngân cho 1.568 dự án công nghiệp -TTCN và 1.014 hộ SX TTCN vay 4.654 tỷ đồng để đổi mới thiết bị côngnghệ, đầu tư mở rộng SX, đạt 186,17% kế hoạch năm (2.500 tỷ đồng) và bằng194,78% so năm 2005.

Hoạt động Khuyến công tỉnh An Giang năm 2007 hướng về phát triểncác doanh nghiệp vừa và nhỏ, khôi phục và phát triển các làng nghề, kinh tếhợp tác với các nội dung vốn tín dụng đầu tư phát triển SX công nghiệp - tiểuthủ công nghiệp 3.500 tỷ đồng, đào tạo tập huấn dạy nghề, đầu tư đổi mớithiết bị công nghệ … Từ đầu năm 2007 đến nay, hoạt động Khuyến công tiếptục có nhiều chuyển biến, các ngân hàng thương mại đã giải ngân gần 310 dự

án và hộ SX với số tiền 673 tỷ đồng (tăng trên 16% so cùng kỳ), trong đó có 6

dự án vay trung hạn với số tiền trên 4 tỷ đồng (bằng 13%)

Trong quý I/2007, UBND tỉnh đã công nhận thêm 4 làng nghề gồm dệtVăn Giáo (Tịnh Biên), lưỡi câu, bánh tráng Mỹ Khánh, se nhang Bình Đức(TP Long Xuyên) nâng tổng số làng nghề trên địa bàn tỉnh được công nhận.Tỉnh An Giang có 18 làng nghề truyền thống, hoạt động Khuyến công năm

2007 đẩy mạnh tư vấn hỗ trợ cho các doanh nghiệp cho các làng nghề chọnlựa trang thiết bị và công nghệ phù hợp với yêu cầu SX và thị trường; hướngdẫn thực hiện các qui định của Nhà nước về tiêu chuẩn, qui phạm, định mứckinh tế kỹ thuật, chất lượng sản phẩm công nghiệp, tạo điều kiện cho các cơ

sở, doanh nghiệp, hộ SX ở các làng nghề TTCN liên kết và hỗ trợ nhau trong

SX, hình thành các mô hình công ty cổ phần, hợp tác xã, tổ hợp tác, nhằmphát huy sức mạnh nguồn lực, về nhân lực, tài chính kỹ thuật, công nghệ thịtrường … tạo nền tảng vững chắc cho hội nhập kinh tế quốc tế: In tờ bướm,giới thiệu hàng sản phẩm thủ công mỹ nghệ và hàng đặc sản các làng nghề;phối hợp với các ngành liên quan hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanhnghiệp, cơ sở SX ở các làng nghề tham gia các hội chợ triển lãm, trưng bày

Ngày đăng: 02/03/2014, 19:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cục Thống kê An Giang (2006), Niên giám thống kê 2005, Nxb Thống kê, An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2005
Tác giả: Cục Thống kê An Giang
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2006
2. Cục Thống kê An Giang (2007), Niên giám thống kê 2006, Nxb Thống kê, An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2006
Tác giả: Cục Thống kê An Giang
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
3. Nguyễn Văn Đại - Trần Văn Luận (1998), Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển LNTT, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển LNTT
Tác giả: Nguyễn Văn Đại - Trần Văn Luận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
7. Nguyễn Điền (1997), CNH nông nghiệp, nông thôn các nước Châu Á và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNH nông nghiệp, nông thôn các nước Châu Á và Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Điền
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
8. Đỗ Đức Định (1997), "Cách mạng xanh, Cách mạng trắng, CNH nông thôn và phát triển nông thôn ở Ấn Độ", Tạp chí Thông tin lý luận, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng xanh, Cách mạng trắng, CNH nông thôn và phát triển nông thôn ở Ấn Độ
Tác giả: Đỗ Đức Định
Năm: 1997
9. Mạc Đồng (1995), Làng xã ở Châu Á và ở Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã ở Châu Á và ở Việt Nam
Tác giả: Mạc Đồng
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
10. Đỗ Thái Đồng (2001), Phát triển nông thôn, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông thôn
Tác giả: Đỗ Thái Đồng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
11. Vũ Thị Hà (2002), Khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng - thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Vũ Thị Hà
Năm: 2002
12. Trần Văn Hiến (2006), Tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn với việc phát triển làng nghề tại tỉnh Quảng Nam, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn với việc phát triển làng nghề tại tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Trần Văn Hiến
Năm: 2006
13. Mai Thế Hởn (1997), "Để nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng CNH, HĐH", Tạp chí Thương mại, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng CNH, HĐH
Tác giả: Mai Thế Hởn
Năm: 1997
14. Mai Thế Hởn (1998), "Thủ công nghiệp đồng bằng sông Hồng trong quá trình CNH, HĐH", Tạp chí Thương mại, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ công nghiệp đồng bằng sông Hồng trong quá trình CNH, HĐH
Tác giả: Mai Thế Hởn
Năm: 1998
15. Mai Thế Hởn (1998), "Phát triển LNTT trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển LNTT trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Tác giả: Mai Thế Hởn
Năm: 1998
16. Mai Thế Hởn (1999), "Phát triển LNTT ở Bắc Ninh", Tạp chí Hoạt động khoa học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển LNTT ở Bắc Ninh
Tác giả: Mai Thế Hởn
Năm: 1999
17. Mai Thế Hởn (1999), "Các giải pháp chủ yếu phát triển thị trường cho LNTT ở các tỉnh ven Hà Nội", Tạp chí Kinh tế nông nghiệp, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp chủ yếu phát triển thị trường cho LNTT ở các tỉnh ven Hà Nội
Tác giả: Mai Thế Hởn
Năm: 1999
18. Mai Thế Hởn (1999), "Vấn đề môi trường trong các LNTT ở vùng ven đô Hà Nội", Tạp chí Khoa học công nghệ môi trường, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề môi trường trong các LNTT ở vùng ven đô Hà Nội
Tác giả: Mai Thế Hởn
Năm: 1999
19. Mai Thế Hởn (1999), "Tình hình phát triển làng nghề ở một số nước Châu Á và kinh nghiệm cần quan tâm đối với Việt Nam", Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình phát triển làng nghề ở một số nước Châu Á và kinh nghiệm cần quan tâm đối với Việt Nam
Tác giả: Mai Thế Hởn
Năm: 1999
20. Mai Thế Hởn (2000), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá ở vùng ven thủ đô Hà Nội, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá ở vùng ven thủ đô Hà Nội
Tác giả: Mai Thế Hởn
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

+ Phần lớn đất đai khá màu mỡ, bao gồm 37 loại đất khác nhau, hình thành 6 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa trên 151.600 ha  (44,5%) và đất phù sa có phèn chiếm 93.800 ha (27,5%), đất bằng phẳng phù  hợp với sinh trưởng của nhiều loại c - giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh an giang
h ần lớn đất đai khá màu mỡ, bao gồm 37 loại đất khác nhau, hình thành 6 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa trên 151.600 ha (44,5%) và đất phù sa có phèn chiếm 93.800 ha (27,5%), đất bằng phẳng phù hợp với sinh trưởng của nhiều loại c (Trang 38)
+ Tình hình lao động và phân bố lao động trong các ngành kinh tế quốc dân do địa phương quản lý. - giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh an giang
nh hình lao động và phân bố lao động trong các ngành kinh tế quốc dân do địa phương quản lý (Trang 41)
Trong bảng giá trị sản xuất công nghiệp-TTCN trên địa bàn tỉnh An Giang tính theo giá cố định năm 1994 (Bảng 2.4) cho thấy giá trị sản xuất của  kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế cá thể, tư nhân có xu hướng tăng nhanh - giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh an giang
rong bảng giá trị sản xuất công nghiệp-TTCN trên địa bàn tỉnh An Giang tính theo giá cố định năm 1994 (Bảng 2.4) cho thấy giá trị sản xuất của kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế cá thể, tư nhân có xu hướng tăng nhanh (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w