1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THIẾT kế CHƯƠNG TRÌNH môn TIN học THPT THEO TIẾP cận NĂNG lực đầu RA

12 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 154,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn Tin học ở trường phổ thông nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về công nghệ thông tin và vai trò của nó trong xã hội hiện đại, phương pháp giải quyết vấn đề theo quy tr

Trang 1

THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH MÔN TIN HỌC THPT

THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC ĐẦU RA

Phạm Kim Chung, Tôn Quang Cường

Khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN

1 Đặt vấn đề

Chương trình và SGK hiện hành môn Tin học theo Nghị quyết số 40/2000/QH10 đã được triển khai trong toàn quốc từ 2002 đến nay có nhiều ưu điểm, nhưng trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ và khoa học giáo dục; trước những đòi hỏi hội nhập quốc tế, CT và SGK hiện hành khó đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới

Kết quả tổng kết đánh giá CT, SGK hiện hành so với yêu cầu của Nghị quyết số 40/2000/QH10 và yêu cầu mới của Nghị quyết số 29-NQ/TW nhằm rút được những ưu điểm và hạn chế, bất cập của CT, SGK hiện hành; từ đó xác định những gì cần kế thừa, những gì cần phát triển, bổ sung, đổi mới Những nhược điểm của chương trình hiện hành là mới chú trọng việc truyền đạt kiến thức, chưa đáp ứng tốt yêu cầu về hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh; chưa coi trọng hướng nghiệp, quan điểm tích hợp và phân hoá chưa được quán triệt đầy đủ Vì vậy cần nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và quản lý phát triển CT; biên soạn và sử dụng SGK, tài liệu giáo dục… nhằm tiếp thu, học tập một cách sáng tạo kinh nghiệm của nước ngoài đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

2. Sơ lược đánh giá hiện trạng dạy học Tin học ở THPT

Môn học Tin học đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo chính thức đưa vào chương trình phân ban cho khối THPT, bắt đầu từ năm học tới (2006-2007) việc triển khai môn học này sẽ trở thành bắt buộc trên phạm vi toàn quốc Đồng thời

Bộ cũng đã thiết lập khung chương trình môn Tin học là môn học tự chọn cho các cấp Tiểu học, Tin học là môn học tự chọn (bắt buộc) ở Trung học cơ sở

Có thể coi Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông (2015) là một bản

“tổng phổ”, kết quả của sự điều chỉnh, hoàn thiện, tổ chức lại các chương trình

Trang 2

đã được ban hành trước đây, làm căn cứ cho việc quản lí, chỉ đạo và tổ chức dạy học ở tất cả các cấp học, trường học trên phạm vi cả nước Môn Tin học ở trường phổ thông nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về công nghệ thông tin và vai trò của nó trong xã hội hiện đại, phương pháp giải quyết vấn đề theo quy trình công nghệ và kĩ năng sử dụng máy tính phục vụ học tập

và cuộc sống

Về quan điểm xây dựng chương trình là cần phải trang bị cho học sinh những kiến thức và kĩ năng cơ bản để chương trình môn học không bị nhanh lạc hậu Tránh cả hai khuynh hướng khi xác định nội dung: hoặc chỉ thiên về lí thuyết mang tính hệ thống chặt chẽ hoặc chỉ thuần tuý chú ý tới việc hình thành

và phát triển kĩ năng sử dụng Xuất phát từ điều kiện thực tế của từng địa phương và đặc trưng của môn học mà tiến hành tổ chức dạy học một cách linh hoạt với những hình thức đa dạng để đảm bảo được yêu cầu chung của môn học

và nâng cao nếu có điều kiện Chương trình phải có tính “mở : có phần bắt buộc

và phần tự chọn nhằm linh hoạt khi triển khai và dễ dàng cập nhật với thực tế phát triển của ngành Tin học

Bảng 1 Bảng mạch nội dung môn Tin học ở các cấp học [2, tr.7]

Nội dung Tiểu học Trung học cơ sở

Trung học phổ thông

Một số khái niệm cơ bản

Cơ sở dữ liệu Hệ quản trị

Ghi chú: TC: nội dung tự chọn, BB: nội dung bắt buộc

Trang 3

Tuy nhiên, có thể chỉ ra được nhược điểm của chương trình hiện hành là mới chú trọng việc truyền đạt kiến thức, kĩ năng theo từng cấp học, chưa có tính

có tính phát triển theo các cấp học Việc đặt nội dung tự chọn theo từng cấp khiến các nội dung bị trùng lặp đối với học sinh đã chọn các nội dung đó ở cấp dưới, vì vậy chưa đáp ứng tốt yêu cầu về hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh

Ở cấp THPT, các nội dung đều là bắt buộc và có thể coi là hướng đến năng lực chung như các nội dung dạy học về như hệ điều hành (Windows), soạn thảo văn bản (Word), bảng tính (Excel) Tuy nhiên năng lực lập trình thì chỉ các học sinh muốn dự thi học sinh giỏi môn Tin học hoặc học sinh có hướng học tiếp ở đại học khối kỹ thuật mới cần học về lập trình (thường là ngôn ngữ lập trình Pascal trong khi thi học sinh giỏi Tin học Quốc gia và Quốc tế lại chủ yếu dùng ngôn ngữ lập trình C/C++)

Như vậy, cần phải có sự cân nhắc, điều chỉnh để phù hợp với việc phân nhánh theo định hướng nghề nghiệp: học sinh theo hướng ngành Khoa học xã hội (KHXH) không cần thiết phải học về lập trình và cơ sở dữ liệu (CSDL), hệ quản trị CSDL; trong khi các học sinh có hướng về ngành Khoa học tự nhiên (KHTN) lại học quá nhiều về Windows, Word, Excel trong khi kiến thức mà các em sẽ sử dụng trong tương lai nhiều lại là C/C++ Vì vậy, chương trình hiện hành chưa coi trọng hướng nghiệp, quan điểm tích hợp và phân hoá chưa được quán triệt đầy đủ

Từ khi có chương trình môn Tin học, đã có khá nhiều tỉnh, thành phố đã

và đang triển khai các chương trình này Tuy nhiên trên thực tế các nhà trường

và giáo viên vẫn đang rất lúng túng trong việc triển khai giảng dạy môn học này Các khó khăn phát sinh từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau: không có hoặc không đủ phòng thực hành, giáo viên giảng chay không có máy tính trình diễn, bất cập trong chương trình sách giáo khoa với thực tế, cấu hình máy tính quá thấp, chưa có kinh nghiệm trong việc giảng dạy môn học này Đồng thời, môn Tin học được coi là môn "phụ", khi chủ trương đưa Tin học trở thành môn

Trang 4

chính, hầu hết các trường THPT đều thiếu GV! Các trường "chữa cháy" bằng cách chuyển GV các môn khác như Toán, Lý, Hóa, sang dạy "kiêm nhiệm" Tin học hoặc tuyển các cử nhân Tin học của các trường ngoài Sư phạm tham gia giảng dạy Điều này dẫn đến tình trạng chung là chuyên môn và nghiệp vụ Sư phạm không đi liền nhau Làm thế nào để giải quyết thực trạng này là một câu hỏi khó! Bên cạnh đó, việc tất cả các ban học chung một giáo trình Tin học là điều bất cập cần giải quyết hiện nay

Tin học là môn học mới mẻ đối với Việt Nam và mới được đưa vào nhà trường thành môn học chính thức và phổ cập đại trà (thời điểm 2005) Máy tính mặc dù đối với xã hội phát triển nhanh chóng nên Tin học phải một môn học

“đặc biệt” theo nghĩa nó phải được giảng dạy một cách “linh hoạt”, Giáo viên dạy môn Tin học cần cập nhật kiến thức thường xuyên, không thể ngồi yên và bằng lòng với kiến thức chỉ ghi trong sách giáo khoa Ngoài ra, CNTT giúp cho giáo viên không những nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường phổ thông mà còn là công cụ, phương tiện và thiết bị để làm một cuộc “Cách mạng” trong việc đổi mới phương pháp dạy học Do vậy môn Tin học đã được

Bộ GD&ĐT đưa vào chương trình học phổ thông trong những năm gần đây và ngày càng có vai trò nhất định trong công cuộc “Đổi mới phương pháp dạy học

và nâng cao chất lượng giáo dục”

3 Tiếp cận mới trong xây dựng, phát triển chương trình nhà trường

Các xu thế quốc tế trong việc xây dựng chương trình cho cả giáo viên và học sinh nâng cao kiến thức và kỹ năng của họ trong lĩnh vực CNTT theo bốn lĩnh vực gắn liền với bốn giai đoạn của việc dạy và học:

• Phổ biến công nghệ thông tin (ICT Literacy)

Kĩ năng CNTT được dạy và học như là một môn học riêng biệt Chương trình này bao gồm việc sử dụng CNTT trong cuộc sống hàng ngày Nội dung bao gồm các khái niệm cơ bản của CNTT, sử dụng máy tính và quản lý các tập tin, xử lý văn bản, bảng tính, cơ sở dữ liệu, tạo ra các bài thuyết trình, tìm kiếm

Trang 5

thông tin và giao tiếp với máy tính, các vấn đề xã hội và đạo đức, và việc sử dụng CNTT

Ứng dụng CNTT trong các môn học (Application of ICT in Subject Areas)

Các kỹ năng CNTT hỗ trợ các môn học, các đối tượng riêng biệt Chương trình giảng dạy bao gồm các ứng dụng của các công cụ công nghệ thông tin để làm việc trong lĩnh vực chuyên môn cụ thể như ngôn ngữ, khoa học tự nhiên, toán học, khoa học xã hội và nghệ thuật, mô hình hóa và mô phỏng, thống kê,

đồ họa, thiết kế bảng tính, và thiết kế cơ sở dữ liệu

Tích hợp CNTT trong chương trình giảng dạy (Infusing ICT across the Curriculum)

CNTT được tích hợp hoặc ở tất cả các môn của chương trình Việc sử dụng CNTT ở các môn học để làm việc trên các dự án thực tế và giải quyết các vấn đề thực tế Tích hợp theo chủ đề, chẳng hạn như toán học, khoa học và nghệ thuật…

Chuyên sâu, nâng cao về CNTT (ICT Specialization)

CNTT dạy và học như là một đối tượng ứng dụng hoặc để định hướng nghề nghiệp Nội dung này của chương trình giảng dạy được thiết kế cho những học sinh có kế hoạch để đi vào các ngành nghề CNTT, kỹ thuật, kinh doanh, hoặc cho những sinh viên có định hướng học tập, nghiên cứu ở đại học theo các khối ngành KHTN và kĩ thuật Nội dung bao gồm việc sử dụng các công cụ tiên tiến và kỹ thuật cho các chuyên gia CNTT: lập trình cơ bản và nâng cao, quy hoạch hệ thống thông tin, thiết kế hệ thống điều khiển và quản lý dự án v.v

Trong một số chương trình giáo dục ICT của các nước tiên tiến trên thế

giới như Mỹ, Anh, Đức, Ba lan … có thể khái quát như sau (xem sơ đồ 1):

+ Ở cấp Tiểu học, yếu tố ICT được lồng ghép trong dạy học các môn như môn khoa học và ít thành môn riêng biệt trong các chương trình đào tạo hiện có, học sinh có thể sử dụng công nghệ thông tin và tìm kiếm thông tin trong các nguồn khác nhau, bước đầu khai khác trên mạng Internet

Trang 6

+ Ở cấp Trung học cơ sở, học sinh bước đầu nghiên cứu các môn như Vật

lý, Hóa học, Sinh học và được tích hợp theo các chủ đề như sinh thái, sức khỏe, giới truyền thông và văn hóa…đồng thời môn học như khoa học máy tính đã được đưa vào chương trình giáo dục, các nội dung như là Vi tính trong đời sống con người, làm việc với máy tính; Phần mềm tiện ích (đồ họa, soạn thảo văn bản, bảng tính, cơ sở dữ liệu); Các nguồn đa phương tiện thông tin, Các thuật toán; Mô phỏng và mô hình hóa (không bao gồm các nội dung hình thành năng lực đo lường và điều khiển tự động dựa vào việc sử dụng các cảm biến và phần mềm đặc biệt để thu thập và đánh giá các dữ liệu thực nghiệm)

+ Ở cấp Trung học phổ thông, đặc điểm chung của các chương trình giảng dạy được thêm vào việc sử dụng các phương pháp công nghệ thông tin để

mô hình hóa và phân tích kết quả thực nghiệm, sử dụng các phần mềm chuyên dụng và các ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực chuyên biệt

Sơ đồ 1 Sự hình thành và phát triển năng lực ICT cho học sinh trong chương

trình giáo dục môn Tin học ở một số nước tiên tiến

Ứng dụng CNTT

Application&Infusing

Năng lực CNTT

THCS

( secondary)

)

THPT

( upper secondary)

TH

(primary )

Phổ biến CNTT

(ICT Literacy)

Chuyên sâu

(ICT Specialization)

Lồng ghép

Làm quen

ICT

Phổ biến các ứng dụng

Học các môn học Tích hợp với các môn KH

Thuật toán

Sử dụng PM văn phòng, đồ họa.

Mô phỏng& mô hình hóa

sử dụng

phần mềm

Tìm kiếm

thông tin

ICT trong đời sống

Mô phỏng& mô hình hóa phân tích thực nghiệm

Các ứng dụng chuyên sâu

Văn hóa Học các môn học

Định hướng nghề nghiệp Ứng dụng vào cuộc sống

Trang 7

3 Xây dựng hệ thống năng lực đầu ra

Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông, định hướng xây dựng chương trình môn Tin học trong đó năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) được hình thành và phát triển thông qua tích hợp, ứng dụng ở tất cả các môn học, trong đó môn Tin học là môn cốt lõi, quan điểm này khá phù hợp với định hướng của các chương trình giáo dục phổ thông một số nước

Cụ thể, dự thảo chương trình cũng đặt ra yêu cầu môn Tin học hình thành

và phát triển các năng lực, chúng tôi rất tán thành những yêu cầu này:

 Sử dụng, quản lý các công cụ của CNTT, khai thác các ứng dụng thông dụng của CNTT;

 Nhận biết và ứng xử trong sử dụng CNTT phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa;

 Phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo với sự hỗ trợ của các công cụ CNTT kết hợp tư duy về tự động hóa và điều khiển;

 Khai thác các ứng dụng, các dịch vụ của công nghệ kỹ thuật số của môi trường CNTT để học tập có hiệu quả ở các lĩnh vực khác nhau;

 Sử dụng các công cụ và môi trường CNTT để chia sẻ thông tin, hợp tác với mọi người

Tuy nhiên, việc xác định các chuẩn đầu ra môn Tin học theo các giai đoạn giáo dục cơ bản, ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp ở chương trình dự thảo còn hạn chế trong việc xác định các nội dung, mục tiêu dạy học… một số chuẩn còn quá cao hoặc chưa phù hợp với lứa tuổi học sinh, trong giai đoạn định hướng nghề phiệp (cấp THPT) còn chưa phân hóa được theo đối tượng và nghề nghiệp mà học sinh muốn tạo dựng trong tương lai

Quan điểm của chúng tôi là cần xây dựng chương trình môn tin học ở bậc THPT cần có Cấu trúc mở, nhiều đầu ra, phù hợp phân hóa đối tượng; Tiếp cận đầu ra, tiếp cận năng lực; Nội dung dễ lồng ghép, tích hợp, gắn thực tiễn

Trang 8

+ Ở cấp tiểu học, giai đoạn phổ biến CNTT, học sinh học sử dụng các phần mềm để hỗ trợ cho việc học tập, tìm kiếm thông tin và sử dụng Internet, biết các nguyên tắc giữ gìn sức khỏe khi sử dụng thiết bị CNTT

+ Ở cấp trung học cơ sở (giai đoạn ứng dụng CNTT và tích hợp với các môn học), học sinh được sử dụng, khai thác các phần mềm phục vụ học tập và

tổ chức, quản lý dữ liệu số hóa và tra cứu, tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn thông tin và phát triển tư duy tự động hóa

+ Ở cấp THPT (giai đoạn Chuyên sâu CNTT), môn Tin học tiếp tục phát triển năng lực ứng dụng CNTT trong học tập và đời sống, phát triển năng lực cá nhân theo định hướng nghề nghiệp, sở thích, hứng thú của học sinh Nội dung các chủ đề tương ứng với hai mạch kiến thức ứng dụng CNTT trong KHXH và

KHTN; các chủ đề chuyên sâu hơn về khoa học máy tính có thể dành cho các

đối tượng đặc biệt như học sinh giỏi, học sinh chuyên Tin

Trên cơ sở quan điểm định hướng trên, dựa theo các nhóm năng lực CNTT cần hình thành ở học sinh có thể xây dựng chuẩn đầu ra môn Tin học ở

cấp THPT theo các khối lớp (Xem bảng 2).

Bảng 2 Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)

Năng lực

CNTT

Năng lực sử

dụng, quản lý

các công cụ của

ICT, khai thác

các ứng dụng

thông dụng của

ICT

Sử dụng đúng nguyên tắc của các thiết bị và phần mềm ICT thông dụng.

Tổ chức và lưu trữ

dữ liệu đảm bảo an toàn và dễ tìm kiếm.

Sử dụng đúng nguyên tắc của các thiết bị và phần mềm ICT hỗ trợ học tập.

Tổ chức lưu trữ, quản

lý dữ liệu đảm bảo an ninh và bảo mật

Sử dụng đúng nguyên tắc của các thiết bị và phần mềm ICT chuyên dụng.

Tổ chức và lưu trữ dữ liệu dưới các dạng thức khác nhau một cách an toàn và bảo mật

Năn g lực nhận

biết và ứng xử

Nhận biết được các hành vi vi phạm

Khai thác và sử dụng ICT đảm bảo quyền sở

Tôn trọng và bảo vệ quyền an toàn thông

Trang 9

trong sử dụng

ICT phù hợp

với chuẩn mực

đạo đức, luật

pháp, văn hóa

Việt Nam và

Quốc tế

chuẩn mực đạo đức, văn hóa và luật pháp Việt Nam và luật bản quyền quốc tế.

Biết bảo vệ thông tin cá nhân và quyền sở hữu trí tuệ

Biết bảo vệ sức khoẻ bản thân khi

sử dụng thiết bị ICT.

hữu trí tuệ và tránh các tác động tiêu cực tới bản thân và cộng đồng.

tin của người khác

Sử dụng được các chiến lược để bảo vệ thông tin của cá nhân

và cộng đồng;

Sử dụng các ứng dụng ICT một cách tự tin,

có trách nhiệm và sáng tạo.

Nă ng lực phát

hiện và giải

quyết vấn đề

một cách sáng

tạo với sự hỗ

trợ của các

công cụ ICT

kết hợp tư duy

về tự động hóa

và điều khiển;

Lựa chọn, xác định được độ tin cậy, thông tin; sử dụng được kỹ thuật tìm kiếm thông tin

Sử dụng được công

cụ ICT để xử lý thông tin, hình thành ý tưởng mới, lập kế hoạch trong học tập.

Lựa chọn, xác định được độ tin cậy, thông tin; sử dụng được kỹ thuật nâng cao tìm kiếm thông tin

Sử dụng được công

cụ ICT chuyên dụng

để giải quyết vấn đề trong học tập.

Biết cách tổ chức dữ liệu cơ bản và sử dụng phần mềm phù hợp để tạo được sản phẩm giải quyết vấn đề.

Lựa chọn, xác định được độ tin cậy, thông tin; sử dụng được kỹ thuật nâng cao tìm kiếm thông tin

Sử dụng được công cụ ICT để giải quyết vấn

đề trong học tập Biết cách tổ chức dữ liệu phức tạp và sử dụng phần mềm chuyên dụng để tạo được sản phẩm giải quyết vấn đề.

Nă ng lực khai

thác các ứng

dụng, các dịch

vụ của công

Sử dụng được một

số loại phần mềm

hỗ trợ học tập; sử dụng thành thạo

Sử dụng được một số phần mềm học tập chuyên dụng cho các môn học

Sử dụng được một số loại phần mềm trong lĩnh vực nghề nghiệp

và lao động sản xuất;

Trang 10

nghệ kỹ thuật

số của môi

trường ICT để

học tập có hiệu

quả ở các lĩnh

vực khác nhau;

môi trường mạng máy tính trong tìm hiểu tri thức mới;

biết lựa chọn, khai thác các dịch vụ đào tạo và kiểm tra đánh giá hiện đại trong môi trường số hoá

sử dụng được môi trường mạng máy tính

để tìm kiếm, thu thập, cập nhật và lưu trữ thông tin phù hợp với mục tiêu học tập và khai thác được các điều kiện hỗ trợ tự học.

sử dụng thành thạo môi trường mạng máy tính trong tìm hiểu tri thức mới; biết lựa chọn, khai thác các dịch vụ đào tạo và kiểm tra đánh giá hiện đại trong môi trường

số hoá

Năng lực sử

dụng các công

cụ và môi

trường ICT để

chia sẻ thông

tin, hợp tác với

mọi người.

Lựa chọn và sử dụng các công cụ ICT để chia sẻ, trao đổi thông tin, mở mang tri thức và tạo sản phẩm hữu ích;

Nhận biết các rủi ro

có thể có trong giao tiếp và hợp tác liên quan đến sử dụng môi trường ICT

Biết lựa chọn và sử dụng các công cụ ICT thông dụng để chia sẻ, trao đổi thông tin và hợp tác một cách an toàn;

Hợp tác trong ứng dụng ICT để tạo ra các sản phẩm phục vụ học tập và đời sống.

Lựa chọn và sử dụng các công cụ ICT một cách hệ thống, hiệu quả trong một số lĩnh vực lao động, sản xuất.

Trao đổi thông tin,

mở mang tri thức và tạo sản phẩm hữu ích.

4 Đề xuất phương án chương trình môn tin học cấp THPT

Căn cứ vào chuẩn đầu ra năng lực CNTT của học sinh theo các khối lớp,

chúng tôi đề xuất nội dung chương trình môn tin học bậc THPT như sau (Xem bảng 3).

Bảng 3 Đề xuất phương án chương trình môn tin học cấp THPT

Phổ biến CNTT (ICT Literacy)

Al Khái niệm cơ bản

A2 Sử dụng máy tính, hệ ĐH và quản lí File

A3 Soạn thảo văn bản

BB BB BB

Ngày đăng: 03/08/2022, 18:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w