Sinh thời, C.Mác đã đưa ra cách tiếp cận duy vật lịch sử về bản chất của tha hóa: tha hóa là một hiện tượng xã hội, xuất phát từ con người, từ xã hội loài người; là lao động bị tha hóa; dẫn đến hệ quả con người mất dần tính loài; con người đã trở thành không phải chính mình, quay trở lại chi phối, nô dịch con người và xã hội loài người. Từ cách tiếp cận của C.Mác về tha hóa, tác giả cho rằng, ở Việt Nam hiện nay, tha hóa là một hiện tượng xã hội khá phổ biến, đang tồn tại ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, cụ thể: tha hóa về hành vi sản xuất (tức hình thái lao động) và sản phẩm lao động; tha hóa về các quan hệ xã hội; tha hóa các hệ giá trị xã hội; quyền lực bị tha hóa; tha hóa về hành vi tín ngưỡng và niềm tin tôn giáo. 1. Khi bắt đầu sự nghiệp triết học của mình, C.Mác đã chịu ảnh hưởng rất lớn của triết học Hêghen. Cũng giống như các môn đệ khác của phái Hêghen trẻ, C.Mác bắt đầu nghiên cứu về phạm trù tha hóa một phạm trù triết học nổi bật nhất, trung tâm nhất của triết học Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, C.Mác phát hiện ra rằng, xuất phát điểm của phạm trù tha hóa của Hêghen có cái gì đó không ổn, không hợp lý. Để nghiên cứu rõ hơn về vấn đề này, nhóm nghiên cứu quyết định chọn đề tài “Phân tích hiện tượng tha hóa của con người. Vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác – Lênin. Tha hóa về quyền lực với tính cách là nguyên nhân phát sinh nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay.”
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I KHÁI QUÁT VỀ KHÁI NIỆM CON NGƯỜI THEO QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN 3
1.1 Một số quan điểm khác nhau về con người trong triết học trước Mác 3
a Quan niệm về con người trong triết học phương Đông 3
b Quan niệm về con người trong triết học phương Tây 4
1.2 Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người 5
II CÁC PHƯƠNG DIỆN TIẾP CẬN NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI 6
2.1 Sự hình thành, phát triển con người là một quá trình gắn liền với lịch sử sản xuất vật chất 6
2.2 Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa các mặt sinh học và mặt xã hội 7
2.3 Con người tồn tại phát triển trong môi tường cư trú xã hội - hành tinh - vũ trụ 8 2.4 Con người là một thực thế cá nhân, xã hội 9
2.5 Sự thống nhất biện chứng giữa con người giai cấp và con người nhân loại 11
2.6 Con người thống nhất biện chứng giữa tất yếu và tự do: 11
III YÊU CẦU, NHIỆM VỤ TẬP TRUNG THỰC HIỆN MỤC TIÊU “XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TỔ CHỨC, ĐẠO ĐỨC” TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 12
3.1 Yêu cầu, nhiệm vụ thực hiện mục tiêu 12
3.2 Giải pháp thực hiện mục tiêu 13
KẾT LUẬN 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
1
Trang 2Từ cách tiếp cận của C.Mác về tha hóa, tác giả cho rằng, ở Việt Nam hiện nay,tha hóa là một hiện tượng xã hội khá phổ biến, đang tồn tại ở nhiều lĩnh vực củađời sống xã hội, cụ thể: tha hóa về hành vi sản xuất (tức hình thái lao động) và sảnphẩm lao động; tha hóa về các quan hệ xã hội; tha hóa các hệ giá trị xã hội; quyềnlực bị tha hóa; tha hóa về hành vi tín ngưỡng và niềm tin tôn giáo 1 Khi bắt đầu sựnghiệp triết học của mình, C.Mác đã chịu ảnh hưởng rất lớn của triết học Hêghen.Cũng giống như các môn đệ khác của phái Hêghen trẻ, C.Mác bắt đầu nghiên cứu
về phạm trù tha hóa - một phạm trù triết học nổi bật nhất, trung tâm nhất của triếthọc Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, C.Mácphát hiện ra rằng, xuất phát điểm của phạm trù tha hóa của Hêghen có cái gì đókhông ổn, không hợp lý Để nghiên cứu rõ hơn về vấn đề này, nhóm nghiên cứu
quyết định chọn đề tài “Phân tích hiện tượng tha hóa của con người Vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác – Lênin Tha hóa về quyền lực với tính cách là nguyên nhân phát sinh nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay.”
Trang 3NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT VỀ KHÁI NIỆM CON NGƯỜI THEO QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
1.1 Một số quan điểm khác nhau về con người trong triết học trước Mác
a Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
Trong lịch sử triết học của nhân loại, vấn đề con người luôn là đề tài được
quan tâm sôi nổi các nhà khoa học đều cố lý giải đi tìm những câu trả lời để lý giải
về bản chất con người, quan hệ của con người với thế giới xung quanh Khôngnhững thế ở các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, triết học, y học, xã hội học…cũngtìm đến và không ngừng nghiên cứu về nó và mỗi lĩnh vực nghiên cứu đều có ýnghĩa riêng đối với con người
Từ thời cổ đại trong triết học phương Đông “con người được xem như là một
vũ trụ thu nhỏ.” Các mối quan hệ giữa người với người, con người với thế giới đềuđược các nhà thông thái thời đó cập nhật và luận giải sâu sắc sự hài hòa đã khiếnnhững triết lý trở thành bản sắc của con người phương Đông ở tôn giáo phươngĐông như Phật giáo, Hồi giáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giớiquan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận với sự chi phối bởi thế giới quan duytâm hoặc duy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo, Lão giáo, quanniệm về bản chất con người cũng thể hiện một cách phong phú
Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất
và tinh thần) Đời sống con người trên trần thế chỉ là ảo giác, hư vô Triết học Tuân
Tử lại cho rằng bản chất con người khi sinh ra là ác, nhưng có thể cải biến được,phải chống lại cái ác ấy thì con người mới tốt được
Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phươngĐông biểu hiện tính da dạng và phong phú, thiên về vấn đề con người trong mốiquan hệ chính trị, đạo đức Nhìn chung, con người trong triết học phương Đông
3
Trang 4biểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy vật chất phác ngây thơ trongmối quan hệ với tự nhiên và xã hội.
b Quan niệm về con người trong triết học phương Tây
Ở lịch sử triết học phương Tây, vấn đề về con người luôn được tranh luận từ
cổ đại hy lạp trải qua giai đoạn trung cổ, phục hưng đến cận đại ngày nay
Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi đầu của tưduy triết học Con người và thế giới xung quanh là tấm gương phản chiếu lẫnnhau Quan niệm của Arixtốt (384 – 322 TCN) về con người, cho rằng chỉ có linhhồn, tư duy, trí nhớ, ý trí, năng khiếu nghệ thuật là làm cho con người nổi bật lên,con người là thang bậc cao nhất của vũ trụ Nhà tư tưởng này cũng đã phân biệt conngười khác với con vật ở chỗ, con người là “động vật chính trị”
Đến thời kỳ trung cổ, ở thời kỳ này quan niệm về con người bị chi phối bởiquan điểm duy tâm của tôn giáo Theo giáo lý Kito, con người do chúa sáng tạo ra,con người có thể xác và linh hồn, thể xác mất đi nhưng linh hồn vẫn sẽ ở lại nhàthần học Augustine cho rằng Chúa là lực lượng siêu tự nhiên, định đoạt mọi sốphận của con người, ban phước hoặc trừng phạt con người do vậy ở thời đại này,triết học chỉ là đầy tớ của thần học
Sang thời Phục Hưng – cận đại, đây là giai đoạn bước ngoặt đã có nhận thứcmới về nguồn gốc và bản chất của con người thông qua những vấn đề do khoa học,
kĩ thuật đặt ra đề cao được vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xem con người làmột thực thể có trí tuệ Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhằm giải thoátcon người khỏi mọi gông cuồng chật hẹp mà chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã ápđặt cho con người
Những tư tưởng về con người vẫn tiếp tục phát triển bừng sáng trong triết học
cổ điển Đức quan niệm được phát triển mạnh mẽ ở cả hai khuynh hướng duy vật
và duy tâm Nhà duy tâm Hêghen là người trình bày một cách có hệ thống về cácquy luật của quá trình tư duy của con người, làm rõ cơ chế của đời sống tinh thần
Trang 5cá nhân trong mọi hoạt động của con người, khẳng định vai trò chủ thể của conngười đối với lịch sử mặt khác, Nhà duy vật Phoiơbắc đã vượt qua những hạn chếtrong triết học Hêghen để hy vọng tìm đến bản chất con người một cách đích thực.Phoiơbắc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bản chất conngười trong triết học Hêghen, đồng thời khẳng định con người do sự vận động củathế giới vật chất tạo nên Con người là kết quả của sự phát triển của thế giới tựnhiên Con người và tự nhiên là thống nhất, không thể tách rời.
Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học trước Mác,
dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm hoặc duy vật siêu hình, đều phảnánh chưa đầy đủ về bản chất con người Và những hạn chế đó đã được khắc phục
và vượt qua bởi quan niệm duy vật biện chứng của triết học Mác-Lenin về conngười
1.2 Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người
Triết học Mác – Lênin trên cơ sở duy vật biện chứng mang đến quan điểmhoàn chỉnh về con người Theo quan điểm chung nhất, con người là thực thể sinhhọc xã hội, con người là một sinh vật có tính xã hội, vừa là sản phẩm cao nhất trongquá trình tiến hóa của tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọi thànhtựu văn hóa trên trái đất
Triết học đã chỉ ra hai yếu tố cấu thành con người là sinh học và xã hội conngười có mặt tự nhiên, vật chất, tộc loại…đồng thời con người có mặt xã hội, tinhthần, ngôn ngữ, lao động…hai mặt hợp thành biến đổi và cùng phát triển bên cạnh
đó, con người vốn là một sinh vật mang đặc tính đầy đủ những đặc trưng của sinhvật, song con vật có nhiều đặc điểm khác để phân biệt với sinh vật
Luận điểm nổi tiếng về con người được C Mác viết trong Luận cương vềPhoi-ơ-bắc (1845): “Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cốhữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổnghoà những quan hệ xã hội” 1
1 C.Mác - Ph Ăngghen (1955), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
5
Trang 6Với quan niệm đó, C Mác chỉ ra rằng bản chất con người không phải là trừutượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử Con người là một thựcthể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới làbản chất đích thực của con người Ở đây, cá nhân được hiểu với tư cách là những
cá nhân sống, là người sáng tạo các quan hệ xã hội; sự phong phú của mỗi cá nhântuỳ thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ xã hội của nó Hơn thế, mỗi cánhân là sự tổng hợp không chỉ của các quan hệ hiện có, mà còn là lịch sử của cácquan hệ đó
Như vậy, triết học Mác – Lênin nhìn nhận về con người một cách toàn diện,
cụ thể, xem xét bản chất con người không chung chung, trừu tượng mà đi sâu vàocốt lõi, hiện thực, cụ thể trong quá trình phát triển của nó
II CÁC PHƯƠNG DIỆN TIẾP CẬN NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI
2.1 Sự hình thành, phát triển con người là một quá trình gắn liền với lịch sử sản xuất vật chất
Triết học Mác – Lênin tiếp cận sự hình thành, phát triển con người trong lịch
sử sản xuất vật chất và từ đó khẳng định lao động là điều kiện chủ yếu quyết định
sự hình thành và phát triển của con người Con người phải tìm kiếm mọi điều kiệncần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhhiên như thức ăn, nước uống, hangđộng để ở Đó là quá trình con người đấu tranh với tự nhiên, với thú dữ để sinh tồn.Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người, điều đó
đã chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đácuyn
Về mặt sinh học, triết học Mác khẳng định thông qua lịch sử sản xuất vật chất,nhờ lao động mà một loài sinh vật mới ra đời đó là Homo Sapiens – con người có
lý tính, mang bản chất xã hội Loa động đã biến đổi bản chất của tự nhiên loàingười, cải tạo khả năng sinh học của con người, bắt bản năng phục tùng lý trí, pháttriển bản năng con người về trạng thái mới về chất khi lao động sẽ hình thành tất
Trang 7yếu quan hệ xã hội, thông qua hoạt động giao tiếp hình thành lên ngôn ngữ, tìnhcảm, suy nghĩ tư duy…
C.Mác và Ph.Ănghen đã phân tích như sau: “Có thể phân biệt con người vớisúc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được bảnthân con người bắt đầu bằng việc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắtđầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếpsản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”2
2.2 Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa các mặt sinh học và mặt xã hội
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồngthời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố
xã hội
Con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tựnhiên Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người trải qua từ sinh thành, pháttriển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con người Như vậy, conngười trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con ngườisống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của nó đối với tự nhiên.Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm - sinh lý, các giai đoạnphát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề conngười một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, màtrước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò lao động sản xuất của con người:
“Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằngbất cứ cái gì cũng được”3 Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sảnxuất vật chất Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của
2 C.Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1955, tập 3, tr 29
3 C.Mác và Ph Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1955, tập 3, tr 29
7
Trang 8cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngônngữ tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hìnhthành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trongcộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển củacon người luôn bị quy định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau nhưng thống nhấtvới nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môitrường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hoá quy địnhphương diện sinh học của con người Hệ thống các quy luật tâm lý - ý thức hìnhthành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm,khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hộigiữa người với người
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnhtrong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mối quan hệ sinhhọc và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xãhội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản suất xã hội;nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị tinh thần
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữamặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗicon người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, cònmặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinhhọc phải được nhân hoá để mang giá trị văn minh của con người, và đến lượt nó,nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trênthống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, conngười tự nhiên - xã hội
Trang 92.3 Con người tồn tại phát triển trong môi tường cư trú xã hội - hành tinh - vũ trụ
Con người tồn tại và phát triển luôn luôn ở trong một hệ thống môi trường xácđịnh Đó là toàn bộ điều kiện tự nhiên, xã hội, hay cả điều kiện vật chất lẫn tinhthần có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của con người và xã hội.Trong triết học Mác - Lênin, con người được tiếp cận trong hệ thống con người –môi trường cư trú, từ trái đất đến vũ trụ
Ở môi trường tự nhiên, con người là một bộ phận của giới tự nhiên, giao tiếpvới tự nhiên và phụ thuộc vào tự nhiên Thu nhận và sử dụng các nguồn lực củagiới tự nhiên để cái biến chúng cho hợp với chính mình Mặt khác, con người thuộc
về giới tự nhiên, con người phải tuân theo các quy luật tự nhiên, phụ thuộc vào cácquá trình cơ, lý, hóa, sinh của hành tinh Khoa học tự nhiên phát hiện được sựtương tác giữa “nhịp điệu vũ trụ” với “nhịp điệu sinh học” từ đó cho thấy rằng conngười mang thuộc tính xã hội – hành tinh – vũ trụ và phụ thuộc vào môi trường cưtrú
Khác với môi trường tự nhiên thì môi trường xã hội con người trở thành mộtthực thể xã hội và mang bản chất xã hội Thực chất môi trường xã hội ảnh hưởngtrực tiếp và quyết định đến con người, sự tác động của môi trường tự nhiên đếntừng cá nhân con người thường phải thông qua môi trường xã hội và chịu ảnhhưởng sâu sắc đến xã hội
C.Mac khẳng định: “Chừng nào loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ vàlịch sử tự nhiên quy luật lẫn nhau”4 Như vậy, bản chất con người là tổng thể hàihòa giữa các thuộc tính tự nhiên – sinh học – xã hội
4 C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1955, tập 1, tr 267
9
Trang 102.4 Con người là một thực thế cá nhân, xã hội
Trong triết học Mác - Lênin, quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có ýnghĩa lớn được đề cập một cách toàn diện và sâu sắc trên cơ sở của chủ nghĩa duyvật lịch sử Mác nói rằng: “Con người là một thực thể xã hội mang tính cá nhân”5
Cá nhân là khái niệm chỉ con người cụ thể trong một xã hội nhất định với tưcách là một cá thể, một thành viên của xã hội ấy do những đặc điểm riêng biệt củamình mà phân biệt với những thành viên khác của xã hội Xã hội được biểu hiện ởnhiều cấp độ khác nhau, cao nhất là xã hội loài người (toàn thể nhân loại), thấp hơn
là những hệ thống xã hội như quốc gia, dân tộc, giai cấp, chủng tộc
Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội có những nội dung thống nhất với quan hệgiữa cá nhân và tập thể, chúng đều dựa trên cơ sở lợi ích, biểu hiện mối quan hệgiữa cái bộ phận và cái toàn thể, đồng thời thể hiện tính biện chứng vừa thống nhất,vừa mâu thuẫn
Trong bất cứ giai đoạn nào, cá nhân cũng không tách rời khỏi xã hội Là mộthiện tượng lịch sử, quan hệ cá nhân - xã hội luôn luôn vận động, biến đổi và pháttriển, trong đó, sự thay đổi về chất chỉ diễn ra khi có sự thay thế hình thái kinh tế -
xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác Trong giai đoạn cộng sản nguyênthuỷ, không có sự đối lập giữa cá nhân và xã hội Lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
là thống nhất Khi xã hội phân chia giai cấp, quan hệ cá nhân và xã hội vừa cóthống nhất vừa có mâu thuẫn Những người bị bóc lột không có tư cách và điềukiện để trở thành cá nhân thực sự Những thành viên thuộc giai cấp bóc lột có đặcquyền, đặc lợi, được khẳng định tư cách cá nhân đặc trưng cho mỗi thời đại như cánhân phong kiến, cá nhân tư sản Các kiểu cá nhân này đối lập về lợi ích với quầnchúng nhân dân lao động trong xã hội Trong chủ nghĩa xã hội, những điều kiệncủa xã hội mới tạo tiền đề cho cá nhân, để mỗi cá nhân phát huy năng lực và bảnsắc riêng của mình, phù hợp với lợi ích và mục tiêu của xã hội mới Vì vậy, xã hội