ĐẶT VẤN ĐỀ 1 DẪN LUẬN 1 1 Tính cấp thiết của đề tài Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, do có những đặc thù về mặt địa lý, đồng thời chịu những ảnh hưởng về điều kiện chính trị, xã hội c.
Trang 11 DẪN LUẬN
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, do có những đặc thù về mặt địa lý,đồng thời chịu những ảnh hưởng về điều kiện chính trị, xã hội của khu vực và quốc tế,cho nên Việt Nam là nơi diễn ra sự đan xen, giao thoa giữa các nền văn hóa, tộc người;trong đó nhân tố người Hoa nổi lên thường xuyên và có ảnh hưởng lớn Từ rất sớm,người Hoa đã có mặt ở Việt Nam với số lượng khá đông đảo Từ cuối thế kỷ XVII, nhữngnhóm lưu dân người Hoa đã đến Đàng Trong và dần dần trở thành một bộ phận của cưdân Việt Nam Trước những khó khăn, thách thức phải đối mặt ở vùng đất mới, cộngđồng người Hoa ra đời để hỗ trợ, giúp đỡ nhau, đồng thời qua đó tăng thêm sự cấu kết lẫnnhau trong cộng đồng Có thể thấy rằng, ở thời điểm nào hình ảnh và vai trò, vị trí củangười Hoa cũng khá nổi bật
Việc nghiên cứu về người Hoa trên thế giới được nhiều nơi tiến hành khá qui mô
Cả ở Trung Quốc và Đài Loan, hàng loạt công trình nhiên cứu đã được tiến hành trên cácphương diện: lịch sử di cư, các tiềm năng phát triển, các tổ chức xã hội với các khuynhhướng chính trị, quá trình và viễn cảnh hội nhập bản địa Các nước Âu, Mỹ cũng rấtquan tâm nghiên cứu về người Hoa Trên mạng internet, tổ chức "Overseas ChineseStudy" đã lập ra được một thư mục chuyên về người Hoa trên thế giới với 437 tên đầusách, công trình khoa học và tài liệu liên quan đã được xuất bản, nghiên cứu về tất cả cácmặt đời sống của người Hoa ở hầu hết các nước trên hành tinh Điều đó cho thấy việcnghiên cứu về người Hoa được nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế tham gia, số lượngcông trình xuất bản đã có nhiều
Các nghiên cứu về người Hoa sống ở các nước Đông Nam Á cũng được quan tâmvới nhiều công trình quan trọng đã được xuất bản Tổ chức Asian Study đã tập hợp đượcmột thư mục trên 200 tài liệu chọn lọc nghiên cứu về người Hoa ở Đông Nam Á, trong
đó có người Hoa ở Việt Nam, Lào, Campuchia, có tên cả những công trình nghiên cứu vềngười Hoa của các nhà khoa học Việt Nam Trong số này có hai công trình tiêu biểunghiên cứu về người Hoa ở Đông Nam Á rất đáng quan tâm là The Chinese in theSoutheast Asia của Victor Purcell, xuất bản từ những năm 60 của thế kỷ trước và TheEncyclopedia of the Chinese Overseas, do Lynn Pan chủ biên, xuất bản gần đây ởSingapore Trong hai công trình này, các cộng đồng người Hoa ở các nước Đông Nam Á
đã được khảo sát trên nhiều mặt với nhiều số liệu thống kê và những tư liệu lịch sử liênquan
Trang 2Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài người Hoa xoayquanh vấn đề định cư, tôn giáo, tín ngưỡng, chùa chiền, các lĩnh vực sinh hoạt kinh tế,thương mại, chính sách của các chính quyền…, nhưng chưa có một công trình riêng biệt,chuyên sâu nào nghiên cứu tổng quan về người Hoa ở Nam Bộ dưới chính quyền thuộcPháp Vì vậy, việc chúng tôi nghiên cứu người Hoa ở Nam Bộ dưới chính quyền thuộc
Pháp với một cách nhìn toàn diện, hệ thống là việc làm có ý nghĩa thiết thực, đóng góp
vào cơ sở khoa học và thực tiễn
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tổng quan về người Hoa và chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Bộ Việt Nam” để nghiên cứu chuyên đề Tiến sĩ, chuyên
ngành Lịch sử Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu hệ thống các công trình nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam trước năm
1945 đến nay
Làm rõ quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ dưới chính quyềnthuộc địa Pháp
Khái quát sự ra đời và tổ chức của chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Bộ
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu người Hoa ở Nam Bộ Việt Nam dưới chính quyền thuộc Pháp
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: ở Nam Bộ (hay thời Pháp thuộc còn gọi là Nam Kì)
Về thời gian: Từ trước năm 1945 đến nay
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tổng thể là dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nhà nước CHXHCN Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu cụ thể là kết hợp hai phương pháp cơ bản của sử họcMácxít là phương pháp lịch sử và phương pháp Logic Phương pháp lịch sử dùng để xemxét và trình bày quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ và khái quát sự rađời của chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Bộ (sự ra đời và tổ chức chính quyền thuộcđịa Pháp ở Nam Bộ) từ trước năm 1945 Phương pháp Logic được sử dụng khi rút ra đặcđiểm, bản chất của người Hoa ở Nam Bộ của chính quyền thực dân Pháp Từ đó, gópphần tìm hiểu bản chất chính sách đối nội và đối ngoại của chính quyền thực dân Pháp
Trang 3Phương pháp điều tra dân tộc học: Sử dụng phương pháp này để xem xét quá trình
ra đời và vận động của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử củadân tộc như phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo còn được lưu giữ trong các giađình người Hoa, ở từ đường, Hội quán, trường học, bệnh viện, nghĩa trang…
Phương pháp đối chiếu, so sánh: Được sử dụng để so sánh, đối chiếu chính sách củachính quyền sở tại đối với cộng đồng người Hoa ở Việt Nam thời kỳ thuộc Pháp
1.5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Đề tài cung cấp các cứ liệu ở cấp độ vĩ mô, góp phần bổ sung tri thức khoa học vềcộng đồng người Hoa ở Nam Bộ thời kỳ thuộc Pháp
Trong bối cảnh hiện nay, đề tài sẽ góp phần bổ sung lý luận và thực tiễn để xâydựng chính sách phát triển bền vững cộng đồng người Hoa ở Việt Nam
2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam trước năm 1945
Tác phẩm Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ của Đào Trinh Nhất, xuất
bản năm 1924.Theo tác giả, xứ Nam Kỳ là một vùng trù phú, một thị trường rộng lớn màlại bị người Hoa thao túng và tác giả cũng đề cập đến mối nguy hại của việc người Hoalàm chủ và thao túng toàn bộ thị trường Nam kỳ Tác giả đề ra giải pháp để giảm bớt sựthao túng của người Hoa là cần phải thực hiện di dân vào Nam Kỳ, để “kháng cái thựclực của Hoa kiều” Tác phẩm có nhiều tư liệu về phần kinh tế của người Hoa ở Nam Kìvào đầu thế kỉ XX
Tác giả Khuông Việt trong bài viết “Lược khảo về lịch sử người Tàu ở Nam Kỳ”
đăng trên Đại Việt tập chí số 4 năm 1942 đã đề cập đến lịch sử, kinh tế và vấn đề cai trị,
tư pháp của người Hoa Bài viết kể ra những chỉ dụ, nghị định, châu tri của nhà cầmquyền và ảnh hưởng của nó đối với người Hoa ở Việt Nam Cùng một tác giả, còn có bài
viết Lược khảo về chế độ cai trị người Minh Hương ở Nam Kỳ được đăng trên Đại Việt tập chí số 9 năm 1943 Trong bài viết này tác giả chỉ ra hai chữ “Minh Hương” lần đầu
tiên được dùng trong đề nghị đề ngày ler Novembre của Quan thủy sư đô đốc De LaGrandière là để đặt thuế thân cho người Hoa, mà bố hoặc mẹ là Trung Hoa lấy mẹ hoặc
bố người Việt (con lai) Một số di tích của người Minh Hương ở Chợ Lớn được tác giảnghiên cứu trên cả nguồn tư liệu thư tịch và tư liệu dân gian khá phong phú
2.2 Tình hình nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975
Năm 1961, Tân Việt Điểu với bài viết “Lịch sử người Hoa kiều tại Việt Nam”
đăng trên Văn hóa nguyệt san số 62 và số 65 năm 1961 đã trình bày sơ lược về tình hình
Trang 4Hoa kiều dưới chế độ Pháp thuộc (tổ chức xã hội Hoa kiều, hoạt động kinh tế, văn hóa,
xã hội) và dưới thời Việt Nam Cộng hòa (quốc tịch, kinh tế, văn hóa - xã hội)
Năm 1968, Tsai Maw Kuey, một học giả người Hoa nghiên cứu về Người Hoa ở miền Nam Việt Nam Công trình có nhiều tư liệu quý về tình hình người Hoa, đặc biệt là
những tư liệu về kinh tế của người Hoa ở miền Nam Việt Nam trước năm 1955 Tác giả
đã đưa ra một số thống kê từ Phòng thương mại Hoa kiều ở Chợ Lớn và các ngân hàngcủa người Hoa
Năm 1970, tác giả Khương Hữu Điểu có bài viết “Người Việt gốc Hoa và nền kinh
tế Việt Nam” đăng trên Tạp chí Cấp Tiến Bài viết đã phân tích vai trò của người Hoa
trong hoạt động kinh tế ở miền Nam Việt Nam
Trong giai đoạn này còn có nghiên cứu của các học viên Cao học Học viện Quốcgia Hành chính:
Lưu Trường Khương với luận văn Vấn đề Hoa kiều tại Việt Nam, bảo vệ năm
1968, do Trần Văn Đĩnh hướng dẫn Tác giả đưa ra 3 lý do khiến cho người Trung Hoalưu lại Việt Nam đó là: lý do chiến tranh, lý do kinh tế và lý do chính trị Thời Phápthuộc, nhằm khuyến khích sự di dân từ Trung Hoa sang Việt Nam để bổ sung cho sựthiếu hụt nhân công hoặc lơ là dễ dãi đối với những vụ nhập cảnh lén lút Tác giả đi sâunghiên cứu xã hội người Hoa thời Pháp thuộc với những ảnh hưởng sâu rộng của họ đếntoàn bộ xã hội Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả trình bày chính sách đối với Hoa kiều tạiViệt Nam qua các thời kì: quân chủ, thuộc Pháp và từ năm 1954 đến năm 1963 Đây làluận văn nghiên cứu về vấn đề Hoa kiều ở Việt Nam nghiêm túc và có nhiều tư liệu quý.Hạn chế của luận văn là không đi sâu vào nghiên cứu chính sách của chính quyền thựcdân Pháp đối với người Hoa ở miền Nam Việt Nam, tác giả đi sâu trình bày thực trạngvấn đề Hoa kiều ở Việt Nam, giải thích nguyên nhân và đưa ra giải pháp cho vấn đề Hoakiều ở Việt Nam
Trần Thanh Long với luận văn Sự đóng góp của người Việt gốc Hoa trong sinh hoạt xã hội Việt Nam, bảo vệ năm 1972 Luận văn nghiên cứu về “người Việt gốc Hoa”
trong thời điểm chính quyền không còn sự phân biệt về mặt pháp lý nên thiếu những tưliệu giấy tờ của các cơ quan
Tóm lại, những luận văn này có đặc điểm chung là nghiên cứu vấn đề người Hoa ởViệt Nam Trong bối cảnh lúc bấy giờ, việc tiếp xúc được với những tư liệu liên quan đếnchính sách của chính quyền thực dân Pháp đối với người Hoa lúc bấy giờ rất khó khăn
Trang 5Vì vậy, hầu hết các luận văn chỉ dừng lại nghiên cứu ở các lĩnh vực kinh tế, sinh hoạt củangười Hoa ở miền Nam Việt Nam
2.3 Tình hình nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay
Từ những năm 1980 trở đi, đề tài người Hoa ở Việt Nam bắt đầu được nghiên cứutoàn diện:
Tiểu ban Hoa vận TPHCM, nghiên cứu đề tài Người Hoa thành phố Hồ Chí Minh, đăng trên Chuyên san Ngày hội các dân tộc Việt Nam xuất bản năm 1987 là công trình
nghiên cứu toàn diện về người Hoa ở TPHCM
Năm 1987, tác phẩm Truyền thống cách mạng của đồng bào Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh của Nghị Đoàn (Nguyên Thành Ủy viên Thành ủy SàiGòn - Chợ Lớn - Gia
Định, Trưởng Ban công tác người Hoa TPHCM) là một chuyên khảo nghiên cứu về hoạtđộng cách mạng của người Hoa mà tác giả đã tập hợp được từ những năm tháng tham giaxây dựng và tổ chức lực lượng người Hoa ở khu giải phóng tại TPHCM Tác phẩm trìnhbày truyền thống cách mạng của đồng bào Hoa ở TPHCM dưới sự lãnh đạo của Đảngcộng sản Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 Trên cơ sở đó, tác giả đúc kết những bài họckinh nghiệm trong công tác Hoa vận: Luôn luôn xuất phát từ lập trường giai cấp côngnhân và quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lê nin để giải quyết vấn đề vận động cách mạngtrong cộng đồng người Hoa; Phát huy truyền thống cách mạng, tin tưởng quần chúng vàdựa vào quần chúng là quan điểm cơ bản của Đảng ta; Đoàn kết là yếu tố quan trọng đểthành công; Nhận diện đúng kẻ thù chính và có sách lược mềm dẻo; Đảng vững mạnh,đổi mới công tác của Đảng là yếu tố quyết định Tác giả nhận định: dưới thời Pháp thuộc
và thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tạo ra những lực cản nặng nề đối với quátrình hòa nhập một cách tự nhiên của người Hoa vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam.Năm 1990, tập thể tác giả Phan An, Trần Hồng Liên, Phan Thị Yến Tuyết, Phan
Ngọc Nghĩa xuất bản tác phẩm Chùa Hoa thành phố Hồ Chí Minh, trình bày chi tiết về
quá trình hình thành các cơ sở tín ngưỡng - tôn giáo của cộng đồng người Hoa cùng với
mô thức kiến trúc, nghệ thuật, trang trí, điêu khắc, thờ tự và sinh hoạt tín ngưỡng tại các
cơ sở thờ tự này
Năm 1990, công trình Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long của tập thể tác
giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường đã miêu tả văn hóa tinh thần của cácdân tộc, trong đó có dân tộc Hoa ở Nam bộ, với những nội dung đề cập đến các cơ sở thờ
tự của người Hoa trong gia đình cũng như các cơ sở tín ngưỡng
Trang 6Năm 1993, tác phẩm Người Hoa tại Việt Nam của Nguyễn Văn Huy xuất bản ở Pari.
Tác phẩm trình bày hệ thống về quá trình hình thành cộng đồng, tình hình kinh tế, vănhóa, xã hội của người Hoa tại Việt Nam từ thời quân chủ cho đến trước năm 1975 Côngtrình có nhiều tư liệu về kinh tế của người Hoa ở miền Nam Việt Nam
Tiếp đến là những công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á vềngười Hoa ở Việt Nam
Luận án Tìm hiểu sự hình thành các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam trong bối cảnh lịch sử Đông Nam Á của Châu Thị Hải Luận án được xuất bản thành sách với nhan đề Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam xuất bản năm 1992 Công trình đưa
ra khái niệm về người Hoa bao gồm tất cả những người di cư từ đất nước Trung Hoa đếncác nước trong khu vực và khái niệm đó thuộc phạm trù biến đổi và mang ý nghĩa củamột thực thể chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Năm 1994, Báo cáo khoa học đề tài KX.04.12 về chính sách của Đảng và Nhà nước
về chính sách dân tộc, trong đó có dân tộc Hoa Đây là một tập hợp nghiên cứu về ngườiHoa trên phương diện lý luận và thực tiễn
Trong đó có các báo cáo của Phan An: Định hướng cho một chính sách đối với người Hoa ở Việt Nam, của Ban Dân vận Tỉnh Ủy Cần Thơ: Một số vấn đề về chính sách đối với người Hoa (Qua thực tiễn ở Cần Thơ), của Ban Dân Vận Tỉnh Ủy Quảng Nam -
Đà Nẵng: Nhìn lại chặng đường lịch sử Kiều dân Trung Quốc đến công dân Việt Nam của người Hoa ở Quảng Nam - Đà Nẵng, của Ban Dân vận Tỉnh Ủy Sông Bé: Một số khái quát về người Hoa ở Tỉnh Sống Bé, của Phan Xuân Biên: Người Hoa ở Việt Nam, đổi mới chính sách đối với người Hoa hiện nay, của Nguyễn Tấn Đắc: Vấn đề Hoa kiều
và người Hoa qua một số tư liệu Trung Quốc, của Đinh Văn Liên: Vấn đề hội đoàn của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, của Đỗ Tiến Sâm: Những điều chỉnh quan trọng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong chính sách đối với Hoa kiều và người Hoa ở nước ngoài, của Lâm Nghĩa Sỹ: Vài ý kiến về người Hoa và chính sách đối với người Hoa (Qua thực tiễn ở Kiên Giang), của Trần Đình Thụy: Về vị trí của người Hoa trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam (Qua thực tế người Hoa ở Đồng Nai), của Trần Đại Tân: Góp phần vào sự nhận diện người Hoa ở Việt Nam, của Vương Hoàng Trù: Một số vấn
đề về văn hóa văn nghệ của người Hoa ở Nam bộ… Những báo cáo trên đóng góp rất
quan trọng cho việc nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam trên phương diện tư liệu, lýluận, thực tiễn
Trang 7Năm 1994, Mạc Đường thuộc Viện Nghiên cứu Khoa học xã hội miền Nam Bộ cho
xuất bản công trình Xã hội người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975 Công
trình được tổng kết từ 10 báo cáo nghiên cứu cụ thể và được đánh giá cao về mặt thựctiễn Công trình có nêu vấn đề tên gọi của người Hoa ở Việt Nam Vấn đề tên gọi hết sứcquan trọng và nhạy cảm, nó ảnh hưởng đến mọi vấn đề liên quan đến người Hoa, và làvấn đề tồn tại dai dẳng và chưa thống nhất trong giới nghiên cứu về người Hoa ở ViệtNam Việc phân biệt, đưa ra được các mốc thời gian, và chỉ ra được xuất xứ của các têngọi: “người Việt gốc Hoa”, “người Hoa (Hán)”, “cộng đồng người Hoa kiều hải ngoại”,
“người Hoa”, “dân tộc Hoa”, “đồng bào Hoa”, “Hoa kiều” là một trong những đóng góp
có giá trị của công trình
Năm 1997, Châu Thị Hải trong bài viết Triều Nguyễn với các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam thế kỷ XIX, được đăng trong Những vấn đề lịch sử và văn chương triều Nguyễn, đã trình bày hệ thống chính sách của triều Nguyễn đối với người Hoa trên
các lĩnh vực nhập cảnh, cư trú, chuyển quốc tịch, vấn đề thuế khóa, an ninh trật tự và vấn
đề xã hội Ngoài ra, Châu Thị Hải còn công bố một số công trình liên quan đến nghiên
cứu về người Hoa, đáng kể nhất là Người Hoa Việt Nam và Đông Nam Á: hình ảnh hôm qua và vị thế hôm nay Công trình được Phạm Đức Dương đánh giá là một công trình có
chiều sâu lịch sử, có chiều rộng của bối cảnh quốc tế hiện đại Qua công trình, tác giả chỉ
ra lối ứng xử hai mặt: vừa thích nghi vừa bảo lưu, vừa hòa nhập vừa cách biệt trên mọiphương diện của cộng đồng người Hoa “Loại hình văn hóa Hoa thương” là một kháiniệm mới được tác giả trình bày, xem xét trên nhiều phương diện và ảnh hưởng của loạihình văn hóa này trong hoạt động kinh tế của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam cũng như
ở Đông Nam Á Từ đó, tác giả kết luận rằng trong hoạt động kinh tế người Hoa cũng cóhai mặt: một mặt tăng trưởng kinh tế bề nổi nhưng thật bền vững, mặt khác là nguy cơ tưbản chạy ra nước ngoài mỗi khi nước sở tại có những bất ổn về chính trị và xã hội Ngoài
ra, tác giả còn trình bày chi tiết mối quan hệ kinh tế của người Hoa ở Đông Nam Á vớiCHND Trung Hoa và Đài Loan và xu thế liên kết khu vực trong bối cảnh toàn cầu hóacủa người Hoa Đây là công trình thiên về nghiên cứu hoạt động kinh tế của người Hoa ởViệt Nam và Đông Nam Á
Năm 1998, công trình Bia chữ Hán trong Hội quán người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm Nghiên cứu Hán Nôm và các cộng tác viên của Trung tâm hợp
tác với Li Ta Na, giảng viên Khoa Sử trường Đại học Wollongong (Australia) đã tập hợp,
xử lý các số liệu liên quan đến cộng đồng người Hoa Công trình gồm hai phần: phần
Trang 8nghiên cứu (3 bài viết) và phần văn bản Bài Dẫn nhập của Li Ta Na cho biết một cáchkhái quát tình hình người Hoa ở hải ngoại, việc nghiên cứu người Hoa ở các nước trongkhu vực Đông Nam Á và đi sâu hơn vào một số vấn đề chung quanh Hội quán như “Hộiquán và chùa chiền”, “Công ty và Hội”, “Bang trưởng và thủ lãnh”…; Bài “Hội quán củangười Hoa ở TPHCM” của Nguyễn Cẩm Thúy cho biết quá trình di dân và định cư củangười Hoa trên đất Nam Bộ, lịch sử hình thành các Hội quán; “Bia chữ Hán trong Hộiquán người Hoa tại TPHCM” của Cao Tự Thanh đi sâu hơn vào chức năng của Hội quán.
Công trình Người Hoa trong xã hội Việt Nam: thời Pháp thuộc và dưới chế độ Sài Gòn của Trần Khánh thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam Á Việt Nam, xuất bản năm 2002.
Tác phẩm gồm ba phần với chín chương, trình bày hệ thống về hoạt, đời sống xã hội củangười Hoa ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và chính sách của các chính thể cầm quyền
ở Việt Nam (của nhà nước phong kiến, của thực dân Pháp và chính quyền Sài Gòn) đốivới người Hoa và địa vị xã hội của họ Công trình này thiên về nghiên cứu hoạt độngkinh tế của người Hoa thời Pháp thuộc Phần tìm hiểu chính sách của chính quyền thựcdân Pháp đối với người Hoa ở miền Nam Việt Nam tác giả chưa đề cập đến nhiều
Năm 2005, tác giả Huỳnh Ngọc Đáng đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ nhan đề
Chính sách của các vương triều Việt Nam đối với người Hoa Công trình tập hợp được
nhiều tư liệu, đưa ra được nhiều nhận định và các khái niệm liên quan đến người Hoa giaiđoạn cổ, trung đại Đây là nghiên cứu toàn diện chính sách của chính quyền phong kiếntrong lịch sử Việt Nam đối với người Hoa ở Việt Nam Công trình trình bày hệ thống nộidung chính sách đối với người Hoa của các vương triều Việt Nam như: Ngô, Đinh, TiềnLê…Lý, Trần đến Nguyễn từ sau Bắc thuộc đến năm 1884
Năm 2008, Luận án Tiến sĩ Tổ chức xã hội của người Hoa của Nguyễn Đệ bảo vệ
tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM Luận án tập trung nghiên cứuquá trình định cư của người Hoa ở Việt Nam, Nam Bộ nói riêng là quá trình hội nhập vềkinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội vào Việt Nam Trong quá trình ấy, tùy theo mục đích,nhu cầu… mà trước hết là việc đảm bảo cho sự sống, phát huy tinh thần đoàn kết tươngtrợ, giúp nhau ổn định cuộc sống và phát triển trên vùng đất Nam Bộ, những di dân Hoa
đã liên kết lại thành những tập hợp người dựa trên những mối quan hệ nhất định với têngọi, qui chế hoạt động riêng, đó là những tổ chức xã hội, thường được gọi chung là hộiđoàn
Luận án Tiến sĩ Người Hoa trong xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX của Dương
Văn Huy, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội tháng 1 năm 2011 tại Hà Nội Luận án đã
Trang 9phân tích hoạt động kinh tế của người Hoa và vị trí của Hoa thương trong nền kinh tế củaViệt Nam thời kì khoảng nữa đầu thế kỷ XIX Công trình đã cung cấp một cái nhìn toàndiện về người Hoa trong xã hội Việt Nam thời kì khoảng nữa đầu thế kỷ XIX, phục vụccho những nghiên cứu về người Hoa ở những giai đoạn sau.
Năm 2014, Luận án Tiến sĩ Chính sách của chính quyền Sài Gòn đối với người Hoa
ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975 của Trịnh Thị Mai Linh, bảo vệ tại trường
Đại học sư phạm TP.HCM Luận án tập trung nghiên cứu chính sách của chính quyền SàiGòn đối với người Hoa ở miền Nam Việt Việt Nam giai đoạn 1955-1975 nhưng cũng cókhái quát về cộng đồng người Hoa ở Việt Nam trước năm 1955 (từ trang 28 đến trang38)
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về người Hoa ở trong và ngoài nước ngày càngkhởi sắc, những nghiên cứu ngày càng đa dạng và chuyên sâu Tuy nhiên, xét về phạm vithời gian, không gian nghiên cứu, nội dung tiếp cận, phần lớn các nghiên cứu này chưatrình bày một cách chuyên sâu về người Hoa ở Nam Bộ dưới thời Pháp thuộc Chính vìvậy, việc tiếp tục nghiên cứu các vấn đề về hoạt động của người Hoa như hoạt động kinh
tế, xã hội, chính sách của chính quyền thực dân Pháp đối với người Hoa nhằm tiếp bướcnhững nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam dưới các chính quyền đã tồn tại ở trong lịch
sử Việt Nam
3 CƠ SỞ LÝ LUẬN
3.1 Một số khái niệm cơ bản về người Hoa ở Việt Nam
3.1.1 Khái niệm người Hoa
Ở Việt Nam, khái niệm “Người Hoa" được hình thành khá sớm, cùng với cộng sựcủa người Hoa ở Việt Nam Danh xưng “Người Hoa dùng để chỉ một nhóm người của đấtnước Trung Hoa di cư đến Việt Nam, sinh sống và định cư nhiều đời trên đất nước ViệtNam Cùng với lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Việt Nam là tên gọi NgườiHoa” ra đời và phát triển Thời phong kiến cũng có nhiều cách gọi khác nhau về ngườiTrung Hoa di trú Dưới thời Lý - Trần (1009-1400), người Việt thường gọi người di trú từVương quốc trung tâm là người Mãn (người Phúc Kiên), người Hàn hay người Tống.Đến thời Hậu Lê (1428-1590) có rất nhiều người ngoại quốc chủ yếu là người TrungQuốc đến Việt Nam buôn bán bằng tàu thuyền Chính vì vậy lần đầu tiên ở Việt Nam sửdụng danh từ Ngoại kiểu để chỉ các thương nhân Trung Hoa đến Việt Nam buôn bán,không có ý định định cư lâu dài tại Việt Nam Từ thời chúa Trịnh cầm quyền Đàng Ngoài
và chúa Nguyễn ở Đàng Trong, nhất là từ đầu thế kỷ XX khi vương triều Nguyên được
Trang 10thiết lập, thuật ngữ người Minh, người Thanh, người Đường cũ, người Đường mới, kháchngoại quốc hay khách trú được sử dụng khá rộng rãi nhằm chỉ những người Trung Hoanhập cư Từ đó, những thuật ngữ mới chỉ những quần thể dân cư Trung Hoa di trú xuấthiện như Minh Hương xã, Thanh Hà xã, Phố khách tại Phố Hiến, Hội An, Huế và sau đótại Biên Hòa, Gia Định và nhiều nơi khác ở Việt Nam trong những thế kỷ XVII-XIX Khái niệm “Người Hoa” đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến trongnhiều nhiều công trình nghiên cứu với các góc độ khác nhau Hầu hết các tác giả khinghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam đều đề cập đến vấn đề tên gọi của người Hoa ở ViệtNam Tuy nhiên, tùy vào cách tiếp cận nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của cáccông trình mà tên gọi người Hoa được bản đến với nội hàm và ngoại diện của khái niệmhướng vào việc phục vụ hướng nghiên cứu của đề tài cụ thể.
Trong công trình The Encyclopedia of the Chinese Overseas các tác giả đã đưa vàkhái niệm người Hoa ( Overseas Chinese hay Chinese Overseas) bao gồm những người
có huyết thống Trung Hoa xuất phát từ Trung Hoa lục địa, từ Đài Loan, từ Hong Kong, ranước ngoài vì lý do kinh tế, chính trị, bằng con đường du học, xuất khẩu lao động…hiệnđang sống ổn định ở nước ngoài nhưng không có quốc tịch Trung Quốc Cũng trong côngtrình nghiên cứu này, tác giả Li Tana có bài viết chuyên đề về người Hoa ở Việt Nam đãchú ý đến hai tên gọi “Chú Khách” (Uncle Guest) và người “Tàu” (Tau people) Tuynhiên khái niệm này chỉ liên hệ đến phương tiện đi lại của di dân hoặc là phương tiệnhoạt động cướp bóc của bọn cướp biển, không chứa đựng đầy đủ đặc điểm, tính chất củangười Hoa ở Việt Nam do vậy đây không phải là một khái niệm đáng lưu ý
Người Trung Quốc cư trú ở nước ngoài được gọi là "Overseas Chinese" trong cáctài liệu tiếng Anh hay “Resident Chinois” hoặc “Resortissants Chinois trong các tài liệutiếng Pháp Còn các học giả Trung Quốc thường sử dụng thuật ngữ “Hoa kiều” để gọingười Trung Quốc đang cư trú ở hải ngoại, dù đã nhập hay chưa gia nhập quốc tịch nước
sở tại Theo Châu Hải thì cách gọi nảy "thể hiện rõ quan điểm, lập trường của TrungQuốc luôn luôn coi những kiều dân Trung Hoa cư trú ở nước ngoài là bộ phận cư dân của
họ và mãi mãi chỉ là kiều cư, chứ không thể trở thành cư dân nước họ tới cư trú” [43,tr.281 Tác giả Châu Hải cho rằng: "Thuật ngữ người Hoa hoàn toàn không mang ý nghĩatộc người mà chỉ có ý nghĩa đại diện cho một nền văn hóa hay văn minh Và mặc dùmang tính thông lệ, thuật ngữ người Hoa do nhân dân sở tại gọi họ khác với từ Hoa mà
họ tự gọi mình” [43, tr.31] Trên cơ sở đó, Châu Hải nêu khái niệm “Người Hoa bao gồmtất cả những người di cư từ đất nước Trung Hoa (kể cả Trung Hoa hải đảo) và khái niệm
Trang 11đó thuộc phạm trù biến đổi chứ không phải phạm trù ổn định Cùng với nó, những hìnhthức liên kết cộng đồng cũng biến đổi theo và mang ý nghĩa của một thực thể chính trị,kinh tế, văn hóa và xã hội” [43, tr.33] Ý kiến này của tác giả Châu Hải rất đáng lưu ýtrong phương pháp tiếp cận, nghiên cứu về người Hoa và chính sách đối với người Hoa ởViệt Nam.
Tác giả Trần Khánh trong công trình Người Hoa trong xã hội Việt Nam thời Phápthuộc và dưới chế độ Sài Gòn nêu nội dung khái niệm “Người Hoa”: “Người Hoa lànhững người gốc Hán hay bị Hán hóa, sống tương đối ổn định, thường xuyên tại các quốcgia Đông Nam Á, đã nhập tịch nước sở tại, còn giữ được những nét đặc trưng của nềnvăn hóa Trung Hoa và tự nhận mình là người Hoa Họ là những cộng đồng dân nhập cư
có nguồn gốc Trung Hoa ít hoặc chưa bị đồng hóa, là những nhóm tộc người đang trongquá trình liên kết hóa dân tộc, một bộ phận dân cư, dân tộc của các quốc gia Đông Nam
Á, đang từng bước điều chỉnh, hội nhập vào các thể chế kinh tế - xã hội chính trị và vănhóa của từng quốc gia - dân tộc, khu vực và quốc tế ”[78, tr.35]
Tác giả Mạc Đường nêu cụm từ tộc danh Hoa khi nói về người Hoa ở Việt Nam.Theo tác giả, tên gọi “Người Hoa” đã trở thành tộc danh tự chọn và là niềm tự hào dântộc khi gọi tộc danh này [83, tr.15] Do đó, Mạc Đường khẳng định “chỉ có tên gọi NgườiHoa là tên gọi được thừa nhận về mặt tự giác dân tộc cũng như về mặt công pháp hiệnnay” [83, tr.15]
Còn với Huỳnh Ngọc Đáng, khi nghiên cứu chính sách của các vương triều phongkiến Việt Nam đối với người Hoa ở Việt Nam đã khu biệt khái niệm người Hoa trongnghiên cứu của mình như sau: “1 Những người có gốc Hán (hoặc đã Hán hóa); đến từTrung Quốc và từ các cộng đồng người Hoa hải ngoại hoặc sinh đẻ tại Việt Nam; sống ổnđịnh và thường xuyên ở Việt Nam, đã được ghi tên vào sổ bộ nhân khẩu Việt Nam hay sổ
bộ của các Bang, là thần dân hay chưa là thần dân của các vương triều Việt Nam nhưng
có những quyền lợi và nghĩa vụ nhất định do chính quyền sở tại quy định; về cơ bản vẫncòn giữ văn hóa Trung Hoa và tự nhận mình là người Hoa; 2 Những người sống ở ViệtNam có tên là Minh Hương và những người có nguồn gốc Hoa trong các đơn vị hànhchính, tổ chức có tên Minh Hương, Thanh Hà, Đại Minh khách phố của Việt Nam trongkhoảng thời gian từ thế kỷ XVII đến giữa cuối thế kỷ XIX; 3 Bao gồm cả những nhómngười Hoa vì nhiều lý do chạy sang Việt Nam hoạt động như những toán thổ phỉ ở vùngthượng du miền Bắc; cả những khách thương người Hoa do công việc làm ăn buôn bán
Trang 12phải thường xuyên trú ngụ dài ngày ở Việt Nam, những người Hoa đi biển gặp nạn, phảilên bờ và sông dài ngày hay ngắn ngày, thậm chí ở lại, sống lâu dài ở Việt Nam ”.
Khái niệm “Người Hoa” được đề cập trong Chỉ thị 62-CT/TW ngày 8-11-1995 củaBan Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Người Hoa bao gồmnhững người có gốc Hán và những người thuộc dân tộc ít người của Trung Quốc đã Hánhóa di cư sang Việt Nam và con cháu của họ sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, đã nhậpquốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn còn giữ những đặc trưng văn hóa, chủ yếu là ngôn ngữ,phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận mình là người Hoa”
Như vậy, để thống nhất trong thuật ngữ, trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôikhông đưa ra khái niệm mới mà sử dụng thuật ngữ “người Hoa” trong Chỉ thị 62-CT/TW ngày 8-11-1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
3.1.2 Khái niệm về chính sách đối với người Hoa ở Việt Nam
Theo Nguyễn Văn Tiệp: “Trong quá trình lãnh đạo và quản lí đất nước giai cấp cầmquyền phải thông qua bộ máy nhà nước để đề ra chính sách trên tất cả các lĩnh vực màyêu cầu thực tiễn đòi hỏi nhằm giải quyết, đáp ứng các hoạt động theo nhu cầu kháchquan Sự tồn tại và phát triển của các quốc gia là điều kiện để giai cấp cầm quyền hoạchđịnh các chủ trương, đề ra các kế hoạch cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu của từng giaiđoạn đặt ra Với cách hiểu như vậy, khái niệm chính sách chung trong quá trình quản líquốc gia trong từng giai đoạn nhất định là: sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt mộtmục đích nhất định dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”[136, tr.26]
Chính sách đối với người Hoa ở Việt Nam là một khái niệm đặc thù, khái niệm rađời cùng với quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, tên gọi người Hoa ởViệt Nam Chính sách đối với người Hoa ở Việt Nam gồm một hệ thống các biện pháptrên các lĩnh vực hộ tịch, kinh tế, văn hóa - xã hội nhằm quản lí người Hoa ở Việt Nam.Hầu hết các chính quyền trong lịch sử Việt Nam đều có những biện pháp nhằm quản língười Hoa ở Việt Nam chặt chẽ và hữu hiệu
3.1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam về người Hoa ở Việt Nam
Ngay từ thời kỳ đầu đấu tranh giành độc lập dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đãchú ý đến lực lượng người Hoa ở Việt Nam Trong Nghị quyết của Ban Thường vụ Trungương Đảng Cộng sản Đông Dương họp từ ngày 25 đến ngày 282-1943, khi bàn về Phongtrào cách mạng Đông Dương có chú ý đến việc vận động Hoa kiều: “Hơn năm mươi vạn
Trang 13Hoa kiều ở Đông Dương là một lực lượng không phải nhỏ Đảng phải có uỷ ban vậnđộng hoa Kiều đang giúp Hoa kiều tổ chức ra Việt nam Hoa Kiều cửu vong hội và phảivận động Hoa Kiều cùng nhân dân Đông Dương tranh đấu chống Nhật, Pháp và lũ Việtgian, Hán gian” [193, tr.302] Chính sách vận động Hoa kiều nằm trong chính sách vậnđộng các giới (Công vận, Nông vận, Binh vận, Thanh vận, Phụ vận, Vận động phú hào,Vận động văn hóa, Vận động dân tộc thiểu số) chuẩn bị khởi nghĩa.
Để giành được độc lập cho dân tộc Việt Nam, sự đoàn kết của các tộc người trênlãnh thổ Việt Nam là một trong những thành tố làm nên thành công Để ghi nhớ sự đoànkết ấy, ngày 2-9-1945, trong Thư gửi anh em Hoa kiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôixin thay mặt Chính phủ Nhân dân Lâm thời Việt Nam và toàn dân Việt Nam đưa bàn taynồng nhiệt hoan nghênh anh em Hoa kiều sinh sống trên đất nước ta, mong rằng anh emhai nước chúng ta thân mật đoàn kết, có việc gì thì giải quyết với nhau theo nguyên tắchợp pháp, hợp lý với thái độ kính trọng nhường nhịn lẫn nhau, không được vì những việctranh chấp nhỏ của cá nhân mà gây điều bất hạnh ngăn cách giữa hai dân tộc Trước đâynếu có chỗ hiểu lầm hoặc bất hoà thì cũng mong từ nay về sau mỗi bên đều vứt bỏ thànhkiến mà chân thành hợp tác thân thiện với nhau Trung Quốc – Việt Nam vốn là ngườimột nhà” [89, tr.5]
Sau đó, quyền lợi chính trị của người Hoa ở Việt Nam được Thông tri của Ban Chấphành Trung ương, số 10B TT/TW, ngày 21 tháng 2 năm 1952 minh định: “Mọi Hoa kiềusống trên đất Việt Nam, tuân theo pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đềuđược sống bình đẳng như người Việt Nam, có quyền tự do thân thể, quyền đi lại, cư trú,quyền làm ăn ” [194, tr.33], nghĩa là Hoa kiều được hưởng cả chính quyền, tài quyền vànhân quyền như người Việt Nam
- Sau khi thống nhất Tổ quốc, bàn về công tác đối với người Hoa ở Việt Nam, Chỉthị 256/CP/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 11-10-1986 khẳng định:
“Người Hoa là công dân của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được hưởngmọi quyền và thực hiện mọi nghĩa vụ của công dân Việt Nam theo Hiến pháp và các luật
lệ khác của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đoàn kết người Hoa trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam cùng làm chủ tập thể dễ bảo vệ và xây dựng Tổ quốcViệt Nam Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” [84, tr.175]
Nhìn chung, dù trong hoàn cảnh nào, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nướcCHXHCN Việt Nam đều có sự lưu tâm về công tác người Hoa, đoàn kết người Hoa cùngvới các tộc người khác trên lãnh thổ Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
Trang 143.1 Lý thuyết tiếp cận vấn đề nghiên cứu
3.1.1 Thuyết xung đột tộc người
Theo tác giả Nghiêm Văn Thái, khái niệm “xung đột tộc người” trên thực tế baotrùm một phạm vi rất rộng Xung đột dân tộc/tộc người có nhiều hình thức: “1 Nhữnghành vi cá nhân thực hiện để bác bỏ, tẩy chay hay chống đối; 2 Quan hệ giữa các cá nhân
bị chi phối bởi những thành kiến, sự cố chấp và những thái độ phân biệt đối xử; 3 Nhữngchính sách, biện pháp ở cấp thể chế Nhà nước; 4 Những phong trào li khai; 4 Các cuộcđối đầu dữ dội có thể mang hình thức của một cuộc nổi dậy, một cuộc tàn sát, một cuộcdiệt chủng, một cuộc khởi nghĩa, một cuộc chống đối, một cuộc cách mạng, những hành
vi khủng bố, một cuộc nội chiến, một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc hay nhữngxung đột vũ trang giữa các quốc gia ” Do đó, “xung đột tộc người – bên cạnh các cuộcxung đột giai cấp, chính trị - là một dạng xung đột xã hội, tức là xung đột giữa các tậpđoàn người trong đó các bên đấu tranh chống nhau giữa hai cộng đồng tộc người hoặcmột bộ phận nhất định của nó” [160, tr.45]
Xung đột tộc người có xuất hiện trong trường hợp của VNCH, khi mà chính quyềnVNCH cho thi hành chính sách Việt Nam hóa khối ngoại kiều, mà chủ yếu là Hoa kiềusinh sống trên lãnh thổ VNCH Lịch sử đấu tranh chống yếu tố bên ngoài của Việt Namcho thấy những xung đột này là thường trực Dưới thời chính quyền Thực dân Pháp,nhằm tạo ưu thế và điều kiện dễ dàng cho khối ngoại kiều nói chung và khối Hoa kiềunói riêng với mục đích chèn ép quyền lợi chính đáng của dân bản xứ, xung đột giữangười Việt và người Hoa có xảy ra Sự xung đột này rơi vào hình thức thứ nhất của xungđột tộc người (hình thức của cá nhân bác bỏ, tây chay, chống đối) Đến khi chính quyềnVNCH cho thi hành chính sách Việt Nam hóa tức khắc tộc người Hoa ở Việt Nam giaiđoạn 1955 – 1975 thì xung đột tộc người Hoa – tộc người Việt biến thể sang hình thứcxung đột giữa nhà cầm quyền, tức chính quyền Sài Gòn – tộc người Hoa Xung đột nàybất lợi cho chính quyền Sài Gòn bởi nó dẫn đến sự đổ vỡ trong mối quan hệ giữa chínhquyền Sài Gòn và tộc người Hoa, nhưng xung đột này có lợi cho chính quyền Cách mạng
ở miền Nam Việt Nam
3.1.2 Các thuyết chức năng
Thuyết tiếp biến văn hóa
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, mỗi tộc người có một nền văn hóa mang nétđặc thù riêng Trải qua quá trình định cư và sinh sống lâu dài trên một vùng lãnh thổ, sự
Trang 15tiếp xúc văn hóa giữa các tộc người đương nhiên xảy ra Cần phân biệt hai loại tiếp biếnvăn hóa:
Loại thứ nhất diễn ra khi hai nền văn hóa thường xuyên tiếp xúc với nhau mà nềnvăn hóa này không thống trị nền văn hóa kia Trong quá trình gọi là sáp nhập này, mỗimột nền văn hóa tự do vay mượn của nền văn hóa kia, những nét mà nó sẽ thay đổi đi, đểhòa nhập chúng Quá trình đó được đặc trưng bởi sự ổn định ở cơ sở của các nền văn hóa
có liên quan và bởi sự làm phong phú lẫn nhau giữa chúng
Loại thứ hai diễn ra khi một nền văn hóa này gặp gỡ một nền văn hóa kia tiếp theosau một cuộc chinh phục quân sự hay thống trị chính trị Loại này bề ngoài có vẻ đơngiản hơn loại kia, nhưng lại có những hậu quả phức tạp hơn, và thường thường nhữngxung đột tộc người bắt đầu từ đây [161, tr.29]
Thuyết đa nguyên
Thuyết đa nguyên văn hóa giải thích sự tồn tại khác biệt của các tộc người do khácbiệt về nguồn gốc và văn hóa Khái niệm đa văn hóa hay thuyết đa văn hóa là một kháiniệm mang tính triết học: chấp nhận sự tồn tại của nhiều nền văn hóa khác nhau Cónhiều định nghĩa về khái niệm “đa văn hóa”, tuy nhiên, có một định nghĩa được dùng kháphổ biến đó là: “Chủ nghĩa đa văn hóa dùng để chỉ một xã hội li tưởng nơi mà các cộngđồng cùng tồn tại một cách hòa hợp, được tự do bảo vệ tôn giáo, ngôn ngữ và phong tụctập quán riêng của mình và bình đẳng về các quyền lợi trong xã hội, quyền dân sự, quyềnlực về chính trị Các cộng đồng này được chia sẻ với các cộng đồng khác trong xã hộinhững mối quan tâm đặc biệt có ý nghĩa quốc gia Thông qua sự chia sẻ ấy sẽ có những
dị biệt, sự bình đẳng và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cộng đồng” [160, tr.39]
Chủ nghĩa đa văn hóa được thể hiện qua ba phương diện: “1 Đặc trưng văn hóa:quyền lợi cho mọi người được bộc lộ chia sẻ di sản văn hóa của mình bao gồm di sảnngôn ngữ và tôn giáo; 2 Sự công bằng xã hội: quyền cho mọi người được hưởng những
cơ hội như nhau và được đối xử như nhau Bên cạnh đó là việc xóa bỏ những ngăn cách,trở ngại do sự khác biệt về chủng tộc, dân tộc, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính haynơi sinh trưởng gây ra; 3 Hiệu quả kinh tế: sự cần thiết phải giữ gìn, phát triển và sửdụng một cách có hiệu quả các kỹ xảo và tài năng của mọi người không phân biệt nguồngốc; 4 Song song với các quyền lực được ban hành và các nghĩa vụ bắt buộc: một khingười ta có quyền bộc lộ văn hóa và tín ngưỡng của mình thì phải chấp nhận quyền củangười khác để bộc lộ những quan điểm cũng như các giá trị của họ” [160, tr.40]
4 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI HOA
Trang 164.1 Quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ trước năm 1945
Việt Nam và Trung Quốc có chung một đường biên giới, cho nên từ lâu đời đã có sựgiao lưu, tiếp xúc giữa các bộ phận cư dân sinh sống ở hai quốc gia Người Hoa đã sanglưu trú ở Việt Nam từ rất sớm Quá trình này diễn ra rất phức tạp, lâu dài, liên tục và gắnliền với nhiều đợt, nhiều hình thức trong lịch sử, từ lẻ tẻ, tự phát đến dồn dập, ồ ạt, và quy
mô Trong tiến trình lịch sử, do mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc có nhữngthăng trầm, cho nên việc di dân của người Hoa đến Việt Nam cũng liên tục biến thiên.Tuy có nhiều người Hoa thuộc các giai tầng khác nhau di cư đến nước ta, nhưng đôngđảo hơn cả vẫn là những người lao động nghèo từ các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, HảiNam, gồm các nhóm ngôn ngữ như: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam vàHẹ
4.1.1 Những làn sóng di dân của người đến Nam Bộ trước thế kỷ XVII
Thật khó xác định chính xác mốc thời gian những người Hoa đầu tiên đã đến ViệtNam, nhưng sự hiện diện của họ trên mảnh đất này đã được ghi nhận trên hai ngàn năm.Những thư tịch cổ của Trung Quốc và Việt Nam như: Sử ký Tư Mã Thiên, Hậu Hán thư,Hoài Nam Tử, Tam quốc chí, Ngô Việt xuân thu, Minh thực lục, Ức trai thi tập, Đại Việt
sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, An Nam chí lược, Đại Nam thực lục tiềnbiên, Phủ biên tạp lục… cũng ghi lại các đợt di dân của người Hoa sang Việt Nam
Cuộc di dân lớn đầu tiên của người Hoa xuống phương Nam được bắt đầu từ chínhsách Nam tiến của các triều đại phong kiến Trung Quốc
Năm thứ 33 (214 trước Công nguyên) Tần Thủy Hoàng sai tất cả bọn lang thang, vôthừa nhận, bọn ăn không ngồi rồi, bọn con buôn đi chiếm đất Lục Lương Ông lập ra cácquận Quế Lâm (Quảng Tây), Nam Hải (Quảng Đông) và Quận Tượng (An Nam) và đẩynhững kẻ có tội đến ở đó để giữ
Khi Tần Thủy Hoàng đã thôn tính thiên hạ và dẹp yên Dương Việt thì lập ra cácquận Quế Lâm, Nam Hải và Quận Tượng Trong mười ba năm, ông bắt bọn côn đồ tù tộiđem đến các nơi ở với dân Việt
Hai đoạn trích dẫn trên (của Sử ký Tư Mã Thiên) cho thấy đoàn quân viễn chinhnày không phải chỉ có nhiệm vụ đánh chiếm đất mà với thành phần cấu tạo của nó, nhànước phong kiến Trung Quốc đã có ý định cho họ ở lại lâu dài trên vùng đất mới chiếm[100, tr.4] Ở các triều đại Trung Hoa tiếp theo cũng đã có những đợt di dân xuống phíaNam Qua nhiều thế hệ, những người di dân này đã lấy vợ, gả chồng với người bản địa vàtrở thành người địa phương thực thụ Thế nhưng, còn một bộ phận không nhỏ là lớp
Trang 17người gốc Hán, chủ yếu là lính đồn trú và quan cai trị Theo các tư liệu lịch sử thì sốngười có nguồn gốc Hán cư trú trên đất Việt Nam lúc đó lên đến hàng chục vạn người[147, tr.39] Để dễ bề cai trị và đề phòng bất trắc có thể làm tổn hại đến an ninh quốc gia,Ngô Quyền sau khi giành được nền độc lập dân tộc (thế kỷ X) đã đưa trở lại Trung Hoatới 87.000 người Hán với phần lớn là quan cai trị, binh lính và gia đình của họ [148,tr.39] Mặc dù vậy, ở Việt Nam lúc đó còn có rất nhiều người Trung Hoa tự nguyện ở lạiViệt Nam sinh sống Những người này được ghi vào sổ đinh như những người Việt Namkhác và họ có xu hướng hòa nhập vào xã hội của người Việt.
Từ thế kỷ X trở đi, dòng người Trung Hoa tiếp tục nhập cư vào Việt Nam Giốngnhư trước đó, dòng người Trung Hoa di cư rất đa dạng về thành phần xã hội Nhưng khácvới giai đoạn Bắc thuộc, từ thế kỷ X, khi đất nước Trung Hoa trải qua những biến độnglớn thì làn sóng di dân lớn lần thứ hai cũng diễn ra Các bộ tộc Mông Cổ ở phía Bắc nhânthời cơ rối loạn của nội bộ Trung Quốc đã tấn công xâm lược, lật đổ nhà Nam Tống vàtiến hành tàn sát dã man những người Tống yêu nước, thiết lập triều Mông - Nguyên.Vào năm 1257, khi quân Mông - Nguyên tiến vào Nam Tống, nhiều quan lại và binh línhTrung Hoa bỏ chạy sang nước Đại Việt, trong số đó có Hoàng Vĩnh Mạc (một quan caocấp của Nam Tống) Tương tự, vào năm 1276, khi Hoàng Châu (kinh đô của Nam Tống)thất thủ thì làn sóng di cư của người Hoa ra nước ngoài càng tăng cao hơn Một số thầndân nhà Tống đã đem 30 chiếc thuyền biển chở đầy đủ của cải và vợ con vượt biển bỏchạy sang các nước Đông Nam Á, trong đó có nhiều tàu thuyền đến nước ta xin tỵ nạn.Trong số họ có những viên tướng của nhà Tống như Triệu Trung, Đỗ Tôn, Trọng Trung,Tăng Uyên Tử… cùng với những binh lính của họ xin gia nhập quân đội kháng chiếnchống Mông - Nguyên của vua tôi nhà Trần Vua Đại Việt lúc đó là Trần Thánh Tông đãcho phép những người tị nạn này định cư tại Thăng Long Trong suốt thời gian nhàNguyên thống trị Trung Quốc còn có nhiều thương gia Trung Quốc đã đến buôn bán ởcác nước Đông Nam Á và Việt Nam Những người tị nạn Trung Hoa xuất thân từ thànhphần quan lại, những người có học thức, được chính quyền nhà Trần đối đãi tử tế, nhiềungười trong số họ được trọng dụng, làm quan trong triều Yếu tố này đã làm cho một bộphận người Trung Hoa di trú có điều kiện để hòa nhập hoàn toàn vào xã hội Việt Nam.Cuộc chiến tranh do nhà Minh phát động xâm lược nhà nước Đại Việt và sự thốngtrị của họ tại nước ta trong những năm 1408 – 1428 đã tạo ra đợt di cư mới của ngườiTrung Hoa Cũng giống như các cuộc hành quân cướp bóc và thôn tính trước đây, quânđồn trú Trung Hoa được triển khai rất đông đảo ở những nơi chúng chiếm được và thực
Trang 18hiện chính sách đồng hóa cao độ, trong đó có việc tiêu hủy các di sản văn hóa của ViệtNam, gia tăng truyền bá văn hóa Hán và khuyến khích binh lính lấy vợ với người địaphương Trong thời kỳ này, người Hoa đã tràn vào Việt Nam với nhiều thành phần vàmục đích khác nhau Ngoài những quan lại cai trị và binh lính còn có những người sangViệt Nam chỉ vì mục đích kinh tế Dựa vào thế lực nhà Minh, những người Hoa đã nắmgiữ một số vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, chẳng hạn ở miền Bắc họ mở cáccông trường khai thác than và đồng, lập trang trại và buôn bán Sử sách ghi lại rằng sauthắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn có rất nhiều binh lính Trung Hoa bị bắt làm tùbinh không muốn về nước, xin ở lại Việt Nam sinh sống Lê Thái Tổ và sau đó là LêThánh Tông với mong muốn củng cố nền độc lập chính trị với Trung Quốc, ngăn ngừa sựphá hoại từ bên trong và củng cố bản sắc quốc gia – dân tộc Đại Việt nên đã đề ra chínhsách kiểm duyệt gắt gao đối với người Trung Hoa di cư vào Việt Nam, làm chậm quátrình hình thành cộng đồng người Trung Hoa di trú như một thực thể tương đối ổn định,thường xuyên trong cơ cấu xã hội Việt Nam.
Từ giữa XVI trở đi, lãnh thổ Đại Việt mở rộng hơn về phía Nam Sự kiện năm 1558chúa Nguyễn Hoàng tới Thuận Hoá và sau đó là năm 1570 ông cai quản luôn xứ ThuậnQuảng được xem là dấu mốc quan trọng cho quá trình “Nam tiến” trong lịch sử dân tộc.Tuy nhiên, trong thế kỷ XVI, đất đai của họ Nguyễn còn hẹp, lợi tức thu được chưa nhiềunên việc phát triển về kinh tế, quốc phòng để đối phó với họ Trịnh vẫn chưa được đẩymạnh Ở những vùng đất mới khai phá, ngoài người Việt là thành phần cư dân chủ thểcòn có những thành phần dân cư khác, trong đó có người Hoa
Vào cuối thế kỷ XVI, nhiều thương nhân Trung Quốc đã đến Đàng Trong để traođổi buôn bán Sau người Nhật Bản khoảng 20 năm, các nhà buôn Trung Quốc đã đến tụ
cư, lập phố ở Hội An vì nơi đây hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi cho công việc của họ Mộtnguyên nhân khách quan là các thương vụ ở thị trường Hội An chỉ diễn ra trong 6 thángđầu và đến cuối hè, các thuyền căng buồm để gió nồm đưa về đất Bắc Do đó, chủ tàuthường để lại người của mình làm trung gian mua bán hàng Tại đây, chúa Nguyễn đã chophép người Trung Quốc và người Nhật Bản làm nhà cửa, dựng lên phố thị Đô thị này gọi
là Faifo, gồm phố của người Trung Quốc và phố của người Nhật Bản, họ sống riêng biệt,
có chế độ quản lý riêng và theo phong tục tập quán của mỗi nước “Vì tiện cho việc hộichợ, chúa Nguyễn đã cho phép người Trung Quốc và Nhật Bản làm nhà cửa theo tỉ lệ với
số người của họ để dựng lên một đô thị Đô thị này gọi là Faifo và nó khá lớn Chúng tôi
có thể nói có hai thành phố, một của người Trung Quốc và một của người Nhật Họ sống
Trang 19riêng biệt đặt quan cai trị riêng và theo phong tục tập quán mỗi nước” [149, tr.54] Từchính sách cởi mở của chúa Nguyễn, tổ chức Minh Hương xã ở Hội An đã được thành lậpvào năm 1640 Minh Hương (明 明) đầu tiên có nghĩa là những người thừa tự, hương hỏacho nhà Minh Xã Minh Hương ở Hội An là một cộng đồng gồm nhiều tộc họ, gồm 83 họvới số lượng dân đinh ngày càng tăng.
Như vậy, từ đầu công nguyên đến thế kỷ XVI, những dòng người Hoa tuy di chuyểnliên tục trong lịch sử nhưng cơ sở kinh tế của họ còn yếu Do đó, trừ Hội An, ở những nơicòn lại của xứ Đàng Trong người Hoa chưa đủ điều kiện để tạo thành những nhóm cộngđồng riêng biệt, chủ yếu họ vẫn sống xen kẽ với cộng đồng dân cư sở tại
4.1.2 Quá trình người Hoa di cư đến Nam Bộ từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX
Sự di cư của cộng đồng người Hoa đến vùng đất Nam Bộ từ cuối thế kỷ XVII đếngiữa thế kỷ XX có thể chia làm hai nhóm như sau:
Một là, các nhóm người Hoa “Phản Thanh phục Minh” Hai là, các nhóm người Hoa
nhập cư muộn
Các nhóm người Hoa “Phản Thanh phục Minh”
Đàng Trong, chúa Nguyễn thi hành chính sách khuyến khích ngoại thương và cóchính sách bảo vệ thương khách nhằm lôi cuốn thương khách nước ngoài, tăng thêm lợitức thu nhập Vào năm 1682, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền) (1620 –1687), một thương thuyền Quảng Đông đã bị bọn cướp biển cướp mất thuyền và hànghoá, chúa đã lệnh tìm cách lấy lại thuyền trả cho thương khách về nước Một sự kiệnkhác là vào năm 1683, thuyền chủ Lâm Tô trên đường từ Nagasaki đi về phía Nam đãgặp tai nạn ở quần đảo Nam Sa, 76 thương khách và thuỷ thủ đoàn thoát hiểm tới QuảngNam Họ được chúa Nguyễn Phúc Tần ban cho 10 quan bạc, giúp mua thuyền mới, triệutập thương khách khởi hành sang Nhật Bản [151, tr.9] Do vậy, từ thế kỷ XVII thương
nhân Trung Quốc đến buôn bán ở các hải cảng xứ Đàng Trong ngày càng nhiều, “Xứ Thuận Hoá, đường thuỷ, đường bộ liên tiếp với xứ Quảng Nam, phía hữu xứ Quảng Nam
Trang 20lại thông với các nước phiên Về đường biển thì xứ Thuận Hoá và Quảng Nam cách tỉnh Phúc Kiến, tỉnh Quảng Đông không đến 3, 4 ngày đường, nên các tàu buôn của Trung Quốc từ xưa đến nay thường tập trung ở hải phận Thuận Hoá và Quảng Nam” [152,
tr.236]
Người Trung Quốc vốn tự hào về truyền thống văn hóa tổ tiên của họ Do vậy, mỗikhi có một dòng văn hóa “dị chủng” tràn vào, đe dọa dòng văn hóa bản địa thì lập tức cónhững cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ của những người trung thành với triều đại cũ nổi lênchống lại Khi thất bại thì họ đồng loạt bỏ xứ ra nghiên cứu ngoài, tụ tập thành nhữngcộng đồng nhỏ để vừa làm ăn sinh sống, vừa bảo tồn văn hóa của mình (gọi là giữ đạotrung hiếu) Ngay khi sinh sống ở vùng đất mới, họ vẫn luôn tự hào về quê hương củamình: gọi là người Quảng (Quảng Đông), người Tiều (Triều Châu), Khách gia (tức người
Hẹ “Khách” ở đây là khách ngay tại vùng Hoa Nam vì tổ tiên của họ vốn ở phía BắcTrung Quốc)…
Vào thế kỷ XVII, có một đợt nhập cư lớn của di dân người Hoa vào xứ Đàng Trong
Sự kiện này gắn liền với những biến động lớn trong cục diện chính trị của Trung Quốc.Sau khi đánh bại vương triều Minh, ngay lập tức, nhà Thanh thi hành chính sách phânbiệt, đối xử rất tàn bạo với những người thuộc triều Minh cũ Chính sách bắt buộc thayđổi y phục và cạo đầu dóc tóc vào năm 1645 của nhà Thanh khiến cho bao nhiêu ngườiTrung Quốc phải lưu vong ra hải ngoại
Trong khoảng thời gian 1643 – 1683, từ khi quân Mãn Thanh chiếm Bắc Kinh cho
đến khi ngọn cờ “Phản Thanh phục Minh” cuối cùng ở đảo Đài Loan do tướng Trịnh
Thành Công chỉ huy thất bại, có rất nhiều người dân Hoa Nam đã bỏ chạy ra các nướcĐông Nam Á và Việt Nam là một địa điểm hấp dẫn để họ đến định cư Trong số nhữngngười Hoa đến Nam Bộ giai đoạn này đáng chú ý là nhóm Trần Thượng Xuyên – DươngNgạn Địch và nhóm Mạc Cửu
Đại Nam nhất thống chí ghi rằng:“Năm Kỷ Mùi, năm thứ 32 đời Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng Đế (1679), Trấn thủ nhà Minh là bọn Cao Lôi Liêm và Dương Ngạn Địch đến qui phụ, vua để cho ở đất Đông Phố của nước Cao Man, mở đất đai, lập phố xá” [153, tr.1629]; còn theo Đại Nam thực lục tiền biên cũng ghi chép như sau:
Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần, vào tháng giêng năm Kỷ Mùi (1679), có “tướng
cũ của nhà Minh là Long môn Tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến, Cao Lôi Liêm Tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình đem hơn 3.000 quân và hơn 50 chiếc thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng, tự trần là bô thần
Trang 21nhà Minh, nghĩa là không chịu làm tôi nhà Thanh, nên đến để xin làm tôi tớ” Chúa Nguyễn cho phép “binh thuyền của Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa Lôi Lạp (Gia Định), đến đóng ở Bàn Lân (Biên Hòa) Họ vỡ đất hoang, dựng phố xá” [154, tr.91]
Một nhóm người Hoa sinh sống tại các làng xã dọc bờ biển miền Trung cũng dầndần xin gia nhập vào hai binh đoàn của Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên vào táiđịnh cưở miền Đông Từ đó, hai đoàn quân Minh triều cũ cùng với người Minh Hương đãkhai khẩn, phá rừng, đào kênh, xây nhà, lập chợ, định cư Sau hai nhóm quan binh là cựuthần nhà Minh thì những di dân Trung Hoa tiếp tục đến với Biên Hòa, Mỹ Tho, GiaĐịnh… Nhiều người trong số họ là thương nhân, nhất là thời Thanh Thánh Tổ (1662 –1722) cho phép người dân được vượt biển đi các nước buôn bán Dương Ngạn Địch vàTrần Thượng Xuyên thay mặt chúa Nguyễn thu thuế (gạo, cá khô, lâm hải sản…) rồi chở
ra Phú Xuân nộp cho triều đình Về sau, hai vị tướng gốc Hoa này được lệnh phụ giúpNặc Ông Nộn bình định đất đai tại Thủy Chân Lạp
Những di dân Trung Hoa, nhất là lực lượng thương nhân từ những thế hệ đầu tiên đãsớm biết kết hợp lợi thế tự nhiên với thế mạnh của mình để biến nơi đây thành một phốthị hoạt động buôn bán sầm uất vào bậc nhất trên đất Nam Bộ thời bấy giờ Đại Nam nhất
thống chí miêu tả: Ở Phố lớn Nông Nại, “Trần Thượng Xuyên chiêu nạp người buôn nhà Thanh xây dựng phố chợ đường sá, nhà ngói lâu đài san sát ở trên bờ sông, nối liền năm dặm, chia thành ra ba đường phố Đường phố lớn, giữa phố lát đá trắng, đường ngang lát đá ong, đường nhỏ lát đá xanh Đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển ghe sông đến đậu neo chen lấn lẫn nhau, còn những nhà buôn bán to lớn ở đây là nhiều hơn hết, làm thành một chốn đại đô hội [155; tr.238], [156, tr.1648]
Sau khi Trần Thượng Xuyên mất (1720), ông được chúa Nguyễn phong tặng
“Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt” (họ Nguyễn làm vương,
họ Trần làm tướng, công khanh đời đời không dứt) và được vua Minh Mạng, Thiệu Trịphong “thượng đẳng thần”
Trong khi đó, đến Mỹ Tho, nhóm của Dương Ngạn Địch chủ yếu cũng hoạt động
buôn bán, chung sức cùng người Việt xây dựng cuộc sống mới “Phía Nam lỵ sở (tức Trấn Định Tường) là chợ phố lớn Mỹ Tho, mái ngói cột chạm phủ, đình cao, nha thự rộng, thuyền bè sông biển ra vào, buồm thuyền trông như mắc cửi, thật là nơi đô hội lớn phồn hoa huyên náo.” [155; tr.241]
Sau nhóm Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch một năm (tức vào năm 1680),Mạc Cửu vốn người Lôi Châu, Quảng Đông, không chịu gọt tóc theo lệnh của nhà
Trang 22Thanh, đã để tóc dài chạy qua phương Nam Theo Đại Nam nhất thống chí, có“người Quảng Đông nhà Thanh là Mạc Cửu đến ngụ ở Cao Man, thấy đất Man Khảm có người buôn bán ở các nước đến tụ tập, liền chiêu tập dân các xứ Phú Quốc, Hương Úc, Rạch Giá, Cà Mao, lập ra bảy xã, ông tự quản hạt để làm chỗ ở” [156, tr.1775-1776] Sau đó, Mạc Cửu được chúa Nguyễn Phúc Chú cho làm Tổng binh trấn Hà Tiên và phong tước là Cửu Ngọc Hầu (năm 1708) [155, tr.159] “Tuy Mạc Cửu là người khai sáng đất Hà Tiên, nhưng người mở mang trấn này lại chính là con ông, Mạc Thiên Tứ” [155, tr.252] Từ năm 1736, Mạc Thiên Tứ được kế tập, sau đó thăng làm Khâm sai Đô đốc, phong tước
Tông Đức hầu [155, tr.160, 252] Mạc Thiên Tứ chiêu tập văn nhân tài nghệ các xứ đến
Hà Tiên, lập Tao đàn Chiêu anh các, mua sách vở, thường ngày cùng nhau giảng luận,xướng hoạ Trong số những văn nhân đến vùng đất này có thể kể đến Châu Phát, TrầnMinh Hạ, Châu Cảnh dương, Ngô Chi Hàn, Lý Nhơn Trưởng, Trần Duy Đức, Trần DượcUyên, Trần Tự Nam, Từ Hoằng, Lâm Duy Tác, Tạ Chương, Đơn Bỉnh Ngự, Lương Đắc
Lộ, Từ Hiệp Phỉ, Từ Đăng Cơ vốn người tỉnh Phúc Kiến; ngoài ra còn có nhóm người ởtỉnh Quảng Đông như Lâm Kỳ Nhiên, Tôn Thiên Thuỵ, Lương Hoa Phong, Tôn thiênTrân, Lệ Phùng Cát, Thang Ngọc Sùng, Dư Tích Thuần, Trần Thuỵ Phụng, Dư TriệuDinh, Trần Thiệp Tứ, Vương Húc, Hoàng Kỳ Trấn, Trần Bá Phát…
Như vậy, vùng đất Hà Tiên dưới sự tổ chức, cai quản trực tiếp của họ Mạc, nhất làthời của Mạc Cửu (1655–1736) và Mạc Thiên Tứ (1706–1780) trở thành một thươngcảng quan trọng từ cuối thế kỷ XVII:
“Chợ trấn trông về đông là bến hồ, ở đó có trại cá, phía bắc công khố là miếu Hội Đồng, phía bắc miếu có xưởng sửa thuyền, chia khu ngang dọc, lấy đường lớn làm ranh; phía tả miếu Quan Thánh là phố Điếu Kiều, đầu bến có bắc cầu ván thông ra biển tiếp với hòn Đại Kim, phía đông phố Điếu Kiều là phố chợ cũ, qua phía đông chợ này là phố chợ Tổ Sư, kế nữa là phố lớn, tất cả đều do ông Mạc Tông gầy dựng từ trước Đường sá giao nhau, phố xa nối liền giữa người Việt, người Tàu, người Cao Miên, người Chà Và đều họp nhau sinh sống, ghe thuyền ở sông biển qua lại nơi đây như mắc cửi, thật là một đại đô hội ở nơi dọi biển vậy” [155, tr.246].
Từ chính sách cởi mở của các chúa Nguyễn, sau đó là các vua Nguyễn, người Hoasinh sống tại Việt Nam đến đời thứ hai đã được xem như là người Việt Khi khảo sát đềnthờ và lăng mộ của họ Mạc tại núi Bình San (hay còn gọi là núi Lăng) thuộc vùng đất HàTiên, chúng tôi nhận thấy trên đầu bia mộ của Mạc Thiên Tích ghi rõ hai hàng chữ
“Hoàng Việt”, chứng tỏ Mạc Thiên Tích đã được xem như người Việt [157, tr.105]