Bởi lẽ, triết học Mác - Lênin nghiên cứu những quyluật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, nó cung cấp cho con người một cáchnhìn khoa học đối với hiện thực khách quan và khẳng đị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI THẢO LUẬNHỌC PHẦN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Giáo dục triết học Mác - Lênin trước hết là giáo dục những nguyên lý, phạm trù cơ bảncủa chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm xây dựng lập trường thế giới quan cho sinh viên Đóchính là thế giới quan duy vật biện chứng - nền tảng để sinh viên nhận thức và tiếp thunhững nguyên lý, quy luật khác Thế giới quan là toàn bộ hệ thống tri thức, nhữngquan niệm của con người về thế giới và về vị trí của chính con người trong thế giới
đó Là một hệ thống tri thức, quan niệm về thế giới nhưng thế giới quan được hiểu là
kết quả của quá trình nhận thức đặc thù của con người, chứ không phải là phép cộnggiản đơn tổng số các tri thức khoa học cụ thể
Việc giáo dục triết học Mác - Lênin trong các trường đại học có vị trí đặc biệt quantrọng đối với quá trình hình thành và phát triển thế giới quan khoa học - thế giới quanduy vật biện chứng của sinh viên Bởi lẽ, triết học Mác - Lênin nghiên cứu những quyluật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, nó cung cấp cho con người một cáchnhìn khoa học đối với hiện thực khách quan và khẳng định vai trò, vị trí của con ngườitrong hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới Từ đó, giúp họ có thái độ đúng đắn,khoa học đối với hiện thực, có phương hướng chính trị vững vàng, có khả năng nhậnbiết, phân tích và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn xã hội trên tinhthần thế giới quan Mác - Lênin
Với tư cách một hệ thống lý luận, một học thuyết, triết học Mác - Lênin đã lý giải một
cách khoa học nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó Như vậy, triết học Mác - Lênin đóng vai trò là cơ sở lý luận, là "hạt nhân" của thế giới quan Gọi là
"hạt nhân" của thế giới quan, bởi vì ngoài triết học Mác Lênin, thế giới quan Mác Lênin còn có các quan điểm về chính trị, kinh tế, đạo đức, luật pháp, thẩm mỹ Song,tất cả các quan điểm trên đều được xây dựng trên nền tảng khoa học của triết học Mác
Lênin.Việc con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không cũng là nhữngvấn đề của thế giới quan Thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà cốt lõi là chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, là hệ thống lý luận khoa học vàcách mạng; nó đã, đang và sẽ là một công cụ tư duy quan trọng nhất định hướng chotoàn Đảng, toàn dân ta nói chung và sinh viên nói riêng trong hoạt động nhận thức
cũng như trong hoạt động thực tiễn Vì vậy, xây dựng và phát triển thế giới quan Mác Lênin chính là nhân tố đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách nói chung và nhân cách sinh viên Việt Nam nói riêng.
Trang 3-MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
MỤC LỤC 3
NỘI DUNG 4
I VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN 4
1.1 Khái niệm nhận thức luận, thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức luận 4
1.1.1 Khái niệm nhận thức luận 4
1.1.2 Thực tiễn 7
1.1.3 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức luận 9
1.2 Các giai đoạn cơ bản của quá trình nhận thức luận 11
1.2.1 Nhận thức cảm tính 11
1.2.2 Nhận thức lý tính 12
1.2.3 Nhận thức trở về thực tiễn 13
1.3 Phân tích các nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng 13
1.3.1 Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan bên ngoài và độc lập với ý thức con người 13 1.3.2 Thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người 15
1.3.3 Nhận thức là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác, sáng tạo 16
1.3.4 Cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn 18
II VẬN DỤNG NHẬN THỨC LUẬN VÀO QUÁ TRÌNH HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN 21
2.1 Thực trạng sinh viên hiện nay 21
2.1.1 Thuận lợi 22
2.1.2 Khó khăn và những nguyên nhân gây nên 23
2.2 Một số giải pháp 25
Trang 4NỘI DUNG
I VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
I.1 Khái niệm nhận thức luận, thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức luận
I.1.1 Khái niệm nhận thức luận
Nhận thức luận hay lý luận nhận thức là lý luận về khả năng nhận thức của conngười, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức, về con đường và phương pháp nhậnthức và là vấn đề có tầm quan trọng trong lịch sử triết học Những quan niệm về vấn
đề nhận thức, trong lịch sử triết học từ trước đến nay đã xuất hiện nhiều quan niệmkhác nhau, hết sức phong phú và đa dạng Trong phạm vi bài tiểu luận này, chỉ phântích một số quan niệm khác nhau trong lịch sử triết học về vấn đề nhận thức luận.Đồng thời, chỉ ra rằng, trên cơ sở kế thừa những giá trị và khắc phục những hạn chếcủa các trào lưu triết học trước đó, triết học Mác - Lênin đã xây dựng những quanniệm đúng đắn, khoa học về vấn đè nhận thức Đặc biệt, với việc khẳng định nhận thức
là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, chỉ rõ con đường biện chứng củanhận thức và thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý…, triết học Mác - Lênin thực sự cónhững đóng góp quan trọng vào sự phát triển lý luận nhận thức
Để hiểu rõ hơn những lý luận về nhận thức, chúng ta cần tìm hiểu những quanniệm khác nhau về nhận thức trong lịch sử triết học
- Ở Hy Lạp cổ đại, Hêraclít thừa nhận cảm giác là điểm xuất phát của nhận thức,nhưng theo ông, nhận thức cảm tính chỉ cho ta biết cái bề ngoài, vì “giới tự nhiên thíchgiấu mình”; do đó, tư duy phải tiến lên nhận thức được cái logos của vũ trụ Đêmôcrít,đại biểu xuất sắc của trường phái nguyên tử luận, cũng thừa nhận rằng nhận thức bắtnguồn từ cảm tính, nhưng nhận thức cảm tính là “sự nhận thức mờ tối”, chỉ có nhậnthức lý tính mới cho ta biết được nguyên tử
- Ở Trung Hoa cổ đại coi cảm giác là nguồn gốc của tri thức, nhưng theo ông,cảm giác có thể sai lầm; do đó, con người phải có cái “tâm” (khái niệm “tâm” đượccác nhà duy vật hiểu là tư duy) sáng suốt thì mới đạt được tri thức đúng đắn Hàn Phi
Tử cho rằng hành động của con người, nhất là hành động chính trị, là dựa trên cơ sởnhận thức Ông nhận định, con người muốn nhận thức được sự vật, trước tiên phải dựavào giác quan và sự phán xét trong đầu Hơn nữa, trong quá trình nhận thức, phải tránh
bị tình cảm chi phối, phải bình tĩnh, khách quan: “Bỏ điều mừng, bỏ điều ghét, giữ tâm
hư không đó là nghĩa của đạo” (Hàn Phi Tử Thiên Dương quyền )
- Phật giáo Ấn Độ cổ đại lại phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính và nhậnthức lý tính; cho rằng, cả hai loại nhận thức này chỉ cho ta những mê kiến Để nhậnthức được chân lý, người tu hành phải dứt bỏ mọi ham muốn, dục vọng đời thường, để
Trang 5cho tâm hồn thật sự thanh tịnh, yên tĩnh Niết bàn (Nirvana trong tiếng Phạn có nghĩađen là sự dập tắt) là một trạng thái bên trong của tư duy khi ngọn lửa tham, sân, si đãhoàn toàn bị dập tắt Khi đó, con người mới thật sự thoát ra khỏi trạng thái vô minh (sựngu dốt, sự che lấp bởi những mê kiến) và đạt đến sự bừng sáng của tư duy (sự giácngộ), sự nhận thức trực tiếp bản chất của sự vật (sự đốn ngộ).
- Ở phương Tây, trong truyền thống Do Thái - Kitô, Kinh Thánh (Cựu ước vàTân ước) được coi là toàn bộ tri thức được Chúa Trời mặc khải cho con người thôngqua Môxe (Moses), Giêxu (Jesus) Trong sách Khải huyền (Revelation), kinh cuốicùng trong Kinh thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước, chương 22 điều 18 và 19 có viết:
“Ai mà thêm điều gì vào đó, thì Thiên Chúa sẽ thêm cho người ấy tai ương mô tả trongsách này! Ai mà bớt điều gì trong các lời ở sách sấm ngôn này, thì Thiên Chúa sẽ bớtphần người ấy được hưởng về cây Trường sinh và Thành thánh đã được mô tả trongsách này!” Đối lập với Kitô giáo, Hồi giáo lại coi Kinh Côran - ra đời vào thế kỷ thứVII là lời tiên tri cuối cùng,chính xác nhất, đầy đủ nhất do Chúa Trời mặc khải cho nhàtiên tri Môhamét (Muhammad), còn các kinh sách khác được các nhà tiên tri (nhưMôxe, Giêxu, v.v ) truyền đạt trước đó đều thiếu sót và có nhiều điều nhầm lẫn
- Suốt thời Trung cổ, các nhà thần học Kitô giáo coi niềm tin là cội nguồn caonhất của tri thức con người Con người phải có lòng tin tuyệt đối vào tất cả những tínđiều, ngay cả khi chúng trái với lý tính thông thường Ôguýtxtanh, Tômát Đacanh,…đều cho rằng, niềm tin cao hơn lý trí; triết học (theo cách hiểu lúc bấy giờ là khoa họcnói chung) phải phục tùng tôn giáo, là “đầy tớ” của tôn giáo
- Sau đêm trường Trung cổ, đến thời kỳ Phục hưng, các nhà triết học và khoa họcnhư Côpecníc, Brunô, Galilê bắt đầu tuyên chiến với niềm tin tôn giáo bằng việc đưa
ra và phát triển thuyết nhật tâm để chống lại thuyết địa tâm Đến thế kỷ XVII – XVIII,
do sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và nhu cầu của cuộc cáchmạng tư sản, các học giả của giai cấp tư sản đang lên dựa vào thành tựu của khoa họcthực nghiệm để bác bỏ con đường nhận thức bằng niềm tin Một số nhà triết học, nhưPh.Bêcơn, R.Đêcáctơ đã lấy nghi ngờ làm nguyên tắc xuất phát cho nhận thức khoahọc
- Các nhà triết học Anh, như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ, G.Lốccơ coi quan sát, thựcnghiệm khoa học và phương pháp quy nạp là con đường duy nhất để đạt được tri thứckhoa học, từ đó hình thành một truyền thống trong triết học Anh: chủ nghĩa kinhnghiệm
- Chủ nghĩa kinh nghiệm (Empiricism) có hạt nhân hợp lý của nó trong việcchống lại quan niệm cổ truyền rút tri thức từ kinh sách, hoặc từ đầu óc chủ quan thuầntúy bằng phương pháp tư biện.Tuy nhiên, chủ nghĩa kinh nghiệm có thiếu sót cơ bảnkhi coi quan sát và thực nghiệm là cơ sở, nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức, phủ
Trang 6nhận độ tin cậy của những tri thức có được bằng tư duy lý luận Chủ nghĩa kinhnghiệm thường có hệ quả là chủ nghĩa duy tâm chủ quan
- Đến triết học thời kỳ cận đại, giai đoạn phát triển rực rỡ của khoa học và sựthắng thế của các cuộc cách mạng tư sản, một đại diện tiêu biểu là Phăng-xi-Bê-cơn(Francis Bacon) cho rằng “tri thức là sức mạnh” và năng lực hành động của con người
tỷ lệ thuận với tri thức của bản thân mình, ông đã đưa ra thuyết ngẫu tượng, theo Ông
để có nhận thức đúng đắn, khoa học phải àm sạch trí tuệ con người khỏi các “ảo ảnh”(ngẫu tượng) (idola) Một đại biểu khác là R.Đêcáctơ - nhà triết học Pháp, đưa ra Chủnghĩa duy lý (rationalism) là trào lưu triết học đối lập với chủ nghĩa duy cảm, chủnghĩa kinh nghiệm Nếu chủ nghĩa kinh nghiệm tuyệt đối hóa nhận thức cảm tính thìcác nhà triết học duy lý lại khẳng định rằng, lý tính con người có thể nhận thức đượcthế giới một cách độc lập với kinh nghiệm cảm tính Họ tuyệt đối hóa vai trò của nhậnthức lý tính, coi thường kinh nghiệm cảm tính
- Cả chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý đều phạm phải sai lầm là sựphiến diện khi tuyệt đối hóa một mặt của nhận thức Vì thế, A.Anhxtanh, một nhàkhoa học lý thuyết không ủng hộ chủ nghĩa kinh nghiệm và ông cũng chỉ ra những hạnchế của chủ nghĩa duy lý Anhxtanh khẳng định: “Đúng là niềm tin cần phải dựa mộtcách tốt nhất trên kinh nghiệm và tư duy Về điểm này, ta phải đồng ý một cách khôngngần ngại với những người duy lý cực đoan Tuy nhiên, điểm yếu của quan điểm này
là ở chỗ, nhiều điều tin tưởng đóng vai trò tất yếu và quyết định hành vi ứng xử và sựphán xét của chúng ta lại không chỉ được tìm thấy bằng phương pháp khoa học cứngnhắc Bởi vì, phương pháp khoa học chỉ dạy cho chúng ta không có gì khác hơn là các
sự kiện liên hệ với nhau, quy định lẫn nhau như thế nào Tuy nhiên, cũng rõ ràng rằngtri thức về cái đang tồn tại sẽ không mở cửa trực tiếp đi đến tri thức về cái sẽ phải tồntại Một người có thể có tri thức rõ ràng nhất, hoàn chỉnh nhất về cái đang tồn tại,nhưng không thể từ đó suy diễn ra rằng cái gì sẽ là mục đích của những khát vọng củacon người chúng ta”
Trên cơ sở kế thừa những giá trị và khắc phục những hạn chế của các trào lưutriết học trong lịch sử về các vấn đề nhận thức, triết học Mác - Lênin chỉ ra rằng, nhậnthức “là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của conngười, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn” Lý luận nhận thứccủa chủ nghĩa Mác dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, ở ngoài con người, độc
lập đối với cảm giác, tư duy và ý thức của con người Hiện thực khách quan là đốitượng của nhận thức
- Hai là, thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người Về nguyên tắc
không có cái gì là không thể biết Dứt khoát là không có và không thể có đối tượng
Trang 7nào mà con người không thể biết được, chỉ có những cái hiện nay con người chưa biết,nhưng trong tương lai với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, con người sẽ biếtđược Với khẳng định trên đây, lý luận nhận thức macxít khẳng định sức mạnh của conngười trong việc nhận thức và cải tạo thế giới.
- Ba là, nhận thức là một quá trình biện chứng, tích cực, sáng tạo Quá trình nhận
thức diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duytrừu tượng đến thực tiễn Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất,
từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn
- Bốn là, cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn Thực tiễn còn
là mục đích của nhân thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức Nhận thức
là quá trình con người phản ánh một cách biện chứng, năng động sáng tạo thế giớikhách quan trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội
1.1.2 Thực tiễn
Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của
lý luận nhận thức macxít mà còn của toàn bộ triết học Mác - Lênin nói chung
Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót trong quan điểm vềthực tiễn của các nhà triết học trước C.Mác, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại mộtquan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũngnhư đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Với việc đưa phạm trù thựctiễn vào lý luận, hai ông đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luậnnói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng Lênin nhận xét: “Quan điểm về đờisống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”
“Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hộicủa con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội”
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người Nếu con vật chỉ hoạtđộng theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì conngười, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cảitạo thế giới để thoả mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực vớithế giới và để làm chủ thế giới Con người không thể thoả mãn với những gì mà tựnhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn Con người phải tiến hành lao động sảnxuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình Để lao động và lao động có hiệu quả, conngười phải chế tạo và sử dụng công cụ lao động Bằng hoạt động thực tiễn, trước hết làlao động sản xuất, con người tạo nên những vật phẩm vốn không có sẵn trong tựnhiên Không có hoạt động đó, con người và xã hội loài người không thể tồn tại vàphát triển được Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của conngười và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người
Trang 8và thế giới Thực tiễn là cái xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa sự vật với nhữngđiểu cần thiết đối với con người.
Tuy trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn có thay đổi qua các giai đoạnlịch sử khác nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động cơ bản vàphổ biến của xã hội loài người Hoạt động đó chỉ có thể được tiến hành trong các quan
hệ xã hội Thực tiễn cũng có quá trình vận động và phát triển của nó; trình độ pháttriển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục giới tự nhiên và làm chủ xã hội của conngười Do đó, về mặt nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thực tiễn có tínhlịch sử - xã hội
Các loại hình cơ bản của thực tiễn:
- Hoạt động sản xuất vật chất Đây là dạng hoạt động thực tiễn nguyên thuỷ nhất
và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyếtđịnh các dạng khác của hoạt động thực tiễn, nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thứckhác của hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại củađộng vật
- Hoạt động chính trị - xã hội là loại hình thực tiễn nhằm biến đổi các quan hệ xãhội, chế độ xã hội
- Hoạt động thực nghiệm khoa học (bao gồm cả thực nghiệm khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội), đây là dạng hoạt động thực tiễn diễn ra trong những điều kiện "nhân tạo" mà những kết quả của nó dù là thành công hay thất bại đều có ý nghĩa quantrọng vì nó rút ngắn được quá trình nhận thức nhằm làm cho hoạt động thực tiễn ngàycàng hiệu quả
1.1.3 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức luận
Thực tiễn là cơ sở, là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức
Ph Ăngghen khẳng định: “… chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ khôngphải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất vàtrực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song vớiviệc người ta đã học cải biến tự nhiên”
Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thựctiễn Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức ở conngười được hình thành và phát triển Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vàothế giới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, những tính quy luật để cho conngười nhận thức chúng Ban đầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính, sau đótiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá… để phản ánhbản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, từ đó xây dựngthành các khoa học, lý luận Như vậy, thực tiễn cung cấp những tài liệu cho nhận thức,cho lý luận Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối vơi người này hay người kia, thế
Trang 9hệ này hay thế hệ khác, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận xét đến cùng đều bắt nguồn
từ thực tiễn Trong quá trình hoạt động thực tiễn biến đổi thế giới, con người cũng biếnđổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của mình Nhờ
đó, con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thếgiới, làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới Thực tiễn còn đề ra nhucầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏiphải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự rađời và phát triển của các ngành khoa học Khoa học ra đời chính vì chúng cần thiết chohoạt động thực tiễn của con người
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức.
Nhận thức phải quay về phục vụ thực tiễn Kết quả nhận thức phải hướng dẫnchỉ đạo thực tiễn Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụngvào thực tiễn, cải tạo thực tiễn
Ngày nay, công cuộc đổi mới xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu
để đáp ứng những yêu cầu đó Chẳng hạn, đó là những vấn đề về chủ nghĩa xã hội vàcon đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; về công nghiệp hoá, hiện đại hóa; về kinh
tế thị trường; về đổi mới hệ thống chính trị, về thời đại ngày nay… Qua việc làm sáng
tỏ những vấn đề do thực tiễn đặt ra trên đây, lý luận sẽ có được vai trò quan trọng, gópphần đắc lực vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta
- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
Cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cách biện chứng; tiêuchuẩn này vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối
Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan đểkiểm nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lý.Nhưng tiêu chuẩn thực tiễn có cả tính tương đối vì thực tiễn không đứngnguyên một chỗ mà biến đổi và phát triển; thực tiễn là một quá trình và được thực hiệnbởi con người không tránh khỏi có cả yếu tố chủ quan Tiêu chuẩn thực tiễn không chophép biến những tri thức của con người thành những chân lý tuyệt đích cuối cùng.Trong quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia
và hiện nay vẫn phải thường xuyên chịu kiểm nghiệm bởi thực tiễn tiếp theo, tiếp tụcđược thực tiễn bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa và phát triển hoàn thiện hơn
Việc quán triệt tính biện chứng của tiêu chuẩn thực tiễn giúp chúng ta tránhkhỏi những cực đoan sai lầm như chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ hoặc chủ nghĩa chủquan, chủ nghĩa tương đối
Sự phân tích trên đây về vai trò thực tiễn đối với nhận thức, đối với lý luận đòihỏi chúng ta phải quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu việc nhận
Trang 10thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải
“coi trọng tổng kết thực tiễn Việt Nam” Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn,học đi đôi với hành Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan,giáo điều, máy móc, bệnh quan liêu
I.2 Các giai đoạn cơ bản của quá trình nhận thức luận
I.2.1 Nhận thức cảm tính
Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Đó là giaiđoạn con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy
Các hình thức của nhận thức cảm tính
- Cảm giác: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh các thuộc tính riêng lẻ của
các sự vật, hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của con người
Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hoánhững năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố ý thức
Lenin viết: "Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan" Nếu dừnglại ở cảm giác thì con người mới hiểu được thuộc tính cụ thể, riêng lẻ của sự vật Điều
đó chưa đủ; bởi vì, muốn hiểu biết bản chất của sự vật phải nắm được một cách tươngđối trọn vẹn sự vật Vì vậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn"
Tri giác: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối toàn vẹn sự vật
khi sự vật đó đang tác động trực tiếp vào các giác quan con người Tri giác là sự tổnghợp các cảm giác
So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức đầy đủ hơn, phong phú hơn
Trong tri giác chứa đựng cả những thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng cótính trực quan của sự vật còn nhận thức đòi hỏi phải phân biệt được đâu là thuộc tínhđặc trưng, đâu là thuộc tính không đặc trưng và phải nhận thức sự vật ngay cả khi nókhông còn trực tiếp tác động lên cơ quan cảm giác con người Do vậy nhận thức phảivươn lên hình thức nhận thức cao hơn
Biểu tượng: là hình thức nhận thức cảm tính phản ánh tương đối hoàn chỉnh sự
vật do sự hình dung lại, nhớ lại sự vật khi sự vật không còn tác động trực tiếp vào cácgiác quan
Trong biểu tượng vừa chứa đựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố giántiếp vì nó được hình thành nhờ có sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau của các giác quan và
đã có sự tham gia của yếu tố phân tích, tổng hợp nên biểu tượng phản ánh đượcnhững thuộc tính đặc trưng nổi trội của các sự vật
Đặc điểm của nhận thức cảm tính
- Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức.
Trang 11- Phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản chất và
không bản chất Giai đoạn này có thể có trong tâm lý động vật
- Hạn chế của nó là chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ bản
chất, tất yếu bên trong của sự vật Để khắc phục, nhận thức phải vươn lên giai đoạncao hơn, giai đoạn lý tính
I.2.2 Nhận thức lý tính
Nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật,
được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận
Khái niệm: Nhận thức lý tính là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản
ánh những đặc tính bản chất của sự vật Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự kháiquát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay lớp sự vật
Các hình thức của nhận thức lý tính
- Phán đoán: Là hình thức tư duy trừu tượng, liên kết các khái niệm với nhau để
khẳng định hay phủ định một đặc điểm, một thuộc tính của đối tượng
VD: "Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng" là một phán đoán vì có sự
liên kết khái niệm "dân tộc Việt Nam" với khái niệm "anh hùng" Theo trình độ pháttriển của nhận thức, phán đoán được phân chia làm ba loại là phán đoán đơn nhất (vídụ: đồng dẫn điện), phán đoán đặc thù (ví dụ: đồng là kim loại) và phán đoán phổ biến(ví dụ: mọi kim loại đều dẫn điện) Ở đây phán đoán phổ biến là hình thức thể hiện sựphản ánh bao quát rộng lớn nhất về đối tượng
- Suy luận: Là hình thức tư duy trừu tượng liên kết các phán đoán lại với nhau để
rút ra một phán đoán có tính chất kết luận tìm ra tri thức mới
VD: Nếu liên kết phán đoán "đồng dẫn điện" với phán đoán "đồng là kim loại"
ta rút ra được tri thức mới "mọi kim loại đều dẫn điện" Tùy theo sự kết hợp phán đoántheo trật tự nào giữa phán đoán đơn nhất, đặc thù với phổ biến mà người ta có đượchình thức suy luận quy nạp hay diễn dịch
Ngoài suy luận, trực giác lý tính cũng có chức năng phát hiện ra tri thức mớimột cách nhanh chóng và đúng đắn
Đặc điểm của nhận thức lý tính
- Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng.
- Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng.
- Nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính.Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật
I.2.3 Nhận thức trở về thực tiễn
Trang 12Trong thực tiễn, tri thức được kiểm nghiệm là đúng hay sai Nói cách khác, thựctiễn có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã nhận thức được Do đó, thực tiễn là tiêu chuẩncủa chân lý, là cơ sở động lực, mục đích của nhận thức Mục đích cuối cùng của nhậnthức không chỉ để giải thích thế giới mà để cải tạo thế giới Do đó, sự nhận thức ở giaiđoạn này có chức năng định hướng thực tiễn.
I.3 Phân tích các nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng
I.3.1 Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan bên ngoài và độc lập với ý thức con người
Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thểđộclập, là thực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mứccoi ýthức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất Còn các nhàtriết họcduy vật đều thừa nhận vật chất tồn tại khách quan và ý thức là sự phản ánhsự vật đó.Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi quan niệm siêu hình - máy móc nên họ đãcoi ý thức là sựphản ánh sự vật một cách thụ động, giản đơn, máy móc, mà khôngthấy được tính năngđộng sáng tạo của ý thức, tính biện chứng của quá trình phản ánh
Khác với các quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên cơ sởlýluận phản ánh: về bản chất, coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vàotrong
bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ý thức là hình ảnh chủ quan của thếgiới khách quan
Nội dung nguyên tắc
Nguyên tắc này thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan và độc lập với ýthức con người, đó chính là đối tượng của nhận thức
Theo Lê-nin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tạikháchquan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúngtachép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Với định nghĩa trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng giữa vật chất và ý thứcquanniệm rằng vật chất có trước , ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức khi thừa nhậnvật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, thì sự nhận thức thế giớiphải xuất phát
từ thế giới khách quan Như vậy, với tư cách một phạm trù triết học,vật chất không tồntại một cách trực quan, cảm tính, mà là sản phẩm khái quát củatư duy trừu tượng Dovậy, không được đồng nhất vật chất với những dạng tồn tạicụ thể của nó (vật thể) Tuynhiên, vật chất không tồn tại tách rời với các sự vật cụthể mà nó luôn hiện thân trongmuôn vàn các sự vật, hiện tượng của thế giới, từ vô cơ đến hữu cơ, từ vi mô đến vĩ mô,
từ tự nhiên đến xã hội
Vật chất là tất cả những gì tồn tại khách quan, ở bên ngoài và độc lập với ýthức, cảm giác của con người dù con người có nhận thức được hay không Đây là