Một số giải pháp đấy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế VKTTĐPN trong thời kỳ hội nhập WTO
Trang 1MỤC LỤC i
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG
1.1.1 Lý luận chung về kinh tế vùng và phân vùng kinh tế ở Việt Nam hiện
1.1.2 Cơ cấu kinh tế vùng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng 15
1.1.3 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chuyển dịch cơ cấu đầu
1.1.3.1 Mối quan hệ giữa mô thức đầu tư và chuyển dịch cơ cấu 18
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chuyển dịch cơ
1.1.3.3 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với trình độ khoa học –
1.2 Ảnh hưởng của hội nhập WTO lên cơ cấu kinh tế và chuyển dịch
1.2.1.4 Tiếp thu công nghệ, kỹ năng quản lý, quản trị kinh doanh, tiếp thị,
1.2.2.2 Nguy cơ bị thu hẹp sản xuất, chuyển đổi sang lĩnh vực khác 33
CHƯƠNG 2: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VKTTĐPN DƯỚI ẢNH
2.2 Đánh giá hiện trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
36
2.2.3.1 Chuyển dịch cơ cấu thương mại – dịch vụ 46
2.2.3.2 Chuyển dịch cơ cấu du lịch – nhà hàng – khách sạn 47
Trang 22.2.4 Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp 49
2.3.2.2 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 57
2.5 Đánh giá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng trong thời gian qua 63
2.6 Phân tích lợi thế so sánh của VKTTĐPN trong hội nhập WTO 66
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN, GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VKTTĐPN TRONG THỜI KỲ HỘI
3.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển đến 2015 và tầm nhìn đến 2020 81
3.2 Phương hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lựa chọn các
3.2.2 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, thành phần kinh tế
3.3 Chính sách, giải pháp và cơ chế thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 33.3.1 Hoàn thiện các cơ chế phát triển 87
3.3.1.1 Đối với công tác quy hoạch KT-XH và quy hoạch chung của toàn
3.3.2 Nhóm giải pháp nâng cao khả năng phối hợp, hợp tác, điều phối, và thực
3.3.4.4 Công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản và thực phẩm 92
3.3.5 Giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu khu vực thương mại - dịch vụ 96
3.3.6 Nhóm giải pháp đẩy mạnh phát triển nông - lâm - ngư nghiệp 103
Biểu 1: Cơ cấu GDP của các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía
Biểu 2: Cơ cấu GDP của các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía
Biểu 3: Cơ cấu GDP của các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía
Trang 4Biểu 4: Cơ cấu giá trị SX CN của các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chia theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000-2008 (giá cố
Biểu 8: Cơ cấu vốn đầu tư của các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng
Biểu 9: Cơ cấu vốn đầu tư của các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng
Biểu 10: Vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của các tỉnh, thành trong vùng kinh
Biểu 11: Cơ cấu tổng mức hàng hóa bán lẻ của các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm PN chia theo thành phần KT và ngành kinh tế giai đoạn
Biểu 12: Cơ cấu giá trị SX NN của các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chia theo ngành nông nghiệp giai đoạn 2000-2008 (giá cố
Trang 5Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN, sau đây gọi tắt là Vùng),theo quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ số 44/1998/QĐ-TTg, ngày23/2/1998 bao gồm TP.HCM và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa – VũngTàu Trong Hội nghị các tỉnh VKTTĐPN ngày 20-21/6/2003, Thủ tướng Chính phủ
đã quyết định mở rộng ranh giới VKTTĐPN, sau đó Văn phòng Chính phủ đã rathông báo số 99/TB-VPCP này 2/7/2003 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ,trong đó quyết định bổ sung vào VKTTĐPN thêm 3 tỉnh: Tây Ninh, Bình Phước,Long An Năm 2005, VKTTĐPN được mở rộng tới Tiền Giang (tại Thông báo số4973/VPCP-ĐP ngày 03/9/2005) Đến nay VKTTĐPN bao gồm 8 tỉnh, thành phố:Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa –Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang với diện tích gần 30 nghìn km2, dân số năm 2005
có khoảng 14,7 triệu người, chiếm 9,2% diện tích tự nhiên và khoảng 17,7% dân số
so với cả nước Tỷ lệ đô thị hóa của vùng đạt 48%, bằng 1,8 lần trung bình cả nước
VKTTĐPN có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triểnkinh tế - xã hội của cả nước; là vùng duy nhất hiện nay hội đủ các điều kiện và lợithế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa; đặc biệt phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học,công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ dulịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển khaikhoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao…Bộ Chính trị đã cóNghị quyết số 53/NQ-TW ngày 29/8/2005 và Thủ tướng Chính phủ đã có Quyếtđịnh số 146/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 đối với VKTTĐPN Để góp phần thực hiệnmục tiêu chung của cả nước về tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng của VKTTĐPN giaiđoạn 2005-2010 gấp 1,2 lần, giai đoạn 2011-2020 gấp 1,1 lần mức bình quân của cảnước Tỷ trọng đóng góp trong GDP cả nước tăng từ 36% năm 2005 lên khoảng 40-41% năm 2010 và 43-44% năm 2020; tăng mức đóng góp của Vùng trong thu ngânsách của cả nước từ 33,9% năm 2005 lên 38,7% năm 2010 và 40,5% năm 2020
GDP của vùng năm 2005 khoảng 328 nghìn tỷ đồng, chiến 1/3 GDP cả nước;GDP bình quân đầu người đạt khoảng 20-22 triệu đồng, cao gấp 2,4 lần so với trungbình cả nước Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001-2005 của vùng đạt8,3%, cao hơn gấp 1,15 lần so với mức trung bình của cả nước Kim ngạch xuấtkhẩu của toàn Vùng tăng bình quân 21,4% Năm 2005, giá trị xuất khẩu ước đạt xấp
xỉ 3 tỷ USD, chiếm 3,19% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, kim ngạch xuất khẩubình quân đầu người đạt 214 USD Các ngành công nghiệp, du lịch, dịch vụ, kết cấu
hạ tầng, và các lĩnh vực khác có những thay đổi đáng kể Trong điều kiện kinh tế vàcông nghiệp phát triển nhanh, cơ cấu ngành kinh tế trong VKTTĐPN đã có sựchuyển biến nhất định theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảmtương đối tỷ trọng nông nghiệp
Trang 6Mấy năm gần đây, khu vực dịch vụ sau một thời gian tăng nhanh đã chữnglại và tăng chậm hơn nhịp độ tăng trưởng chung của GDP, làm giảm khả năng lantỏa tác động tích cực của VKTTĐPN Tốc độ tăng bình quân khu vực dịch vụ 1997– 2002 của vùng đạt 7,69% (trong khi tốc độ tăng GDP là 10,74%).
Tỷ trọng khu vực dịch vụ của VKTTĐPN có xu hướng giảm là điều rất đángquan tâm Qua số liệu tính toán cho thấy tỷ lệ dịch vụ của VKTTĐPN giảm từ44,4% (1996) xuống 36,07% (2002), trong đó ở TP.HCM tỷ lệ này giảm từ 57,0%xuống 51,65%, tỉnh Ðồng Nai từ 27,75% giảm xuống 25,4%, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàugiảm từ 19,11% xuống 10,56% và tỉnh Bình Dương giảm từ 28,35% xuống 26,0%
Sự giảm sút tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu GDP do sự tăng trưởng cácngành dịch vụ không tương ứng với tốc độ tăng trưởng công nghiệp, là dấu hiệu bấthợp lý trong cơ cấu kinh tế VKTTĐPN Nếu xu thế này không được điều chỉnh kịpthời trên cơ sở các chính sách ưu tiên đầu tư thúc đẩy phát triển mạnh thương mại,dịch vụ, du lịch, dịch vụ tài chính ngân hàng, dịch vụ vận tải, bưu điện thì các yếu
tố bất lợi cho phát triển kinh tế của vùng sẽ nảy sinh tiếp tục làm giảm tốc độ tăngtrưởng công nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung của vùng Bên cạnh đó, kể từ đầunăm 2007, nền kinh tế nước ta chính thức trở thành một nền kinh tế thành viên của
Tổ Chức Thương mại Thế giới (WTO) Điều này đem đến những cơ hội và tháchthức đan xen nhau đối với cơ cấu kinh tế Vùng và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tếVùng Cụ thể, hội nhập WTO có thể tác động đến chuyển dịch cơ cấu trên các nộidung sau:
- Việt Nam có cơ hội tham gia ngày càng sâu hơn và rộng hơn vào phân cônglao động và hợp tác kinh tế quốc tế trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh Điều này sẽảnh hưởng sâu sắc đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Hội nhập WTO tạo áp lực thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước, đáng chú ý
là cải cách về thể chế kinh tế cho phù hợp với luật chơi quốc tế và trình độ pháttriển của nền kinh tế, cải cách về cơ chế quản lý kinh tế cho phù hợp với cơ cấukinh tế đang chịu áp lực thay đổi dưới tác động của hội nhập WTO
- Hội nhập WTO tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam thu hút vốn đầu tư trựctiếp của nước ngoài, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý Những điều này cótác động mạnh đến cơ cấu nguồn lực đầu vào của quá trình tăng trưởng và phát triểnkinh tế
Vì thế, có thể thấy rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ hội nhậpWTO càng trở nên vô cùng quan trọng và mang tính thời sự trong quá trình pháttriển kinh tế Vùng hướng đến mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh, hiệuquả và bền vững
Với ý nghĩa đó, đề tài “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong thời kỳ hội nhập WTO” trở nên cấp thiết hơn bao giờ
hết
Mục tiêu chung của đề tài là xây dựng những luận cứ khoa học, căn cứ thựctiễn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế của VKTTĐPN trong tăng trưởng và phát triểnkinh tế, về ảnh hưởng của WTO đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng, và
Trang 7về những vấn đề mấu chốt đặt ra cần giải quyết trong chuyển dịch cơ cấu kinh tếVùng Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng và giải phápgiải quyết các vấn đề nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng trong thời
kỳ hội nhập WTO
Để đạt được mục tiêu chung, đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiêncứu cụ thể sau:
- Hệ thống lý luận về cơ cấu kinh tế, kinh tế vùng lãnh thổ và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong tăng trưởng và phát triển kinh tế; lý luận về ảnh hưởng củaWTO đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Phân tích cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu, cũng như ảnh hưởng của nó
đến tăng trưởng và phát triển kinh tế VKTTĐPN trong thời gian gần đây, đặcbiệt là hai năm 2007 và 2008
- Xác định các vấn đề mấu chốt đang đặt ra trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Vùng dưới ảnh hưởng của hội nhập WTO
- Xác định quan điểm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam trong thời kỳ hội nhập WTO
- Đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Vùng trong thời kỳ hội nhập WTO
Để đạt các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định, đề tài tập trung cácnội dung nghiên cứu sau:
Nội dung thứ nhất: Nội dung lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế; lý luận về tác động của hội nhập WTO đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng
Nội dung thứ hai: Tình hình cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế VKTTĐPN trong những năm gần đây, đặc biệt trong hai năm 2007 và 2008 khi Việt Nam đã gia nhập WTO
Nội dung thứ ba: Đánh giá ảnh hưởng có thể có của hội nhập WTO lên cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế VKTTĐPN và các vấn đề mấu chốt đang đặt ra trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế VKTTĐPN dưới ảnh hưởng của hội nhập WTO
Nội dung thứ tư: Xây dựng quan điểm, đề xuất phương hướng, giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng trong thời kỳ hội nhập WTO
Để đạt mục tiêu nghiên cứu đặt ra, đề tài xây dựng khung phân tích vấn đề và
sử dụng các phương pháp nghiên cứu tương ứng đối với các vấn đề cụ thể
Khung phân tích vấn đề
Đề tài sử dụng cách tiếp cận hệ thống, triển khai theo nguyên tắc từ hệ thốngchung đến các bộ phận Trước hết, đề tài phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế dưới tác động của hội nhậpWTO Kế đến, đề tài phân tích mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu các đầu vào
Trang 8với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũng như mối quan hệ giữa chuyển dịch cơcấu nội bộ ngành với tăng trưởng kinh tế dưới tác động của hội nhập WTO Cụ thểtrong Hình 1 dưới đây:
Hình 1: Khung phân tích của đề tài
Vốn tự nhiên
Vốn vật chất
Vốn con người
Thị trường hàng hóa, dịch vụ
Tăng trưởng kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu đầu vào (vốn, lao động, tiến bộ công nghệ)
CD cơ cấu ngành kinh tế và nội ngành
Môi trường, thể chế kinh tế - chính trị
WTO
Tiến bộ công nghệ
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích thống kê, phươngpháp chuyên gia, và phương pháp phỏng vấn sâu Trong đó, phương pháp nghiêncứu chủ yếu là phân tích thống kê và phương pháp chuyên gia
a Phân tích thống kê: Sử dụng các số liệu thống kê để so sánhtìm ra các kết luận khoa học
Trang 9b Phương pháp chuyên gia: Tổ chức hội thảo trong quá trình thựchiện nhằm tìm kiếm sự thống nhất trong các phân tích, đánh giá cũng như đề xuấtcác giải pháp, kiến nghị Chuyên gia là các cán bộ chỉ đạo thực tiễn của tỉnh và một
số nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh
c Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành một số cuộc phỏng vấnsâu một số cán bộ chủ chốt của các tỉnh trong Vùng
d Phương pháp nghiên cứu chọn điểm kết hợp nghiên cứu theodiện rộng: Thực hiện các nghiên cứu theo một số địa phương trọng điểm với các nộidung có liên quan song song với nghiên cứu Vùng trong một thể thống nhất Cụ thể:Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu công nghiệp và dịch vụ của Thành phố Hồ ChíMinh, công nghiệp của Đồng Nai, Bình Dương, nông nghiệp của Tiền Giang, TâyNinh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của Thành phố Hồ Chí Minh trong hội nhậpWTO
Kết cấu của báo cáo tổng kết
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục bảng,các nội dung nghiên cứu của đề tài được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng trong thời kỳ hội nhập
WTO
Chương 2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng trong quá trình tăng trưởng và
phát triển kinh tế của VKTTĐPN dưới tác động của hội nhập WTO
Chương 3: Quan điểm, phương hướng, giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế VKTTĐPN trong thời kỳ hội nhập WTO
Trang 10CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ VÙNG TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP WTO
1.1. Lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng
1.1.1 Lý luận chung về kinh tế vùng và phân vùng kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Vùng là khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội ở các quốc gia Xét về mặt địa lý, Vùng là một phần của bề mặt trái đất,
có những đặc trưng riêng về thỗ nhưỡng, khí hậu, kinh tế, xã hội, lợi thế phát triển,
… Xét về mặt quản lý, Vùng được xem là cấp trung gian giữa quốc gia và tỉnh,vùng bao gồm một số tỉnh và mỗi một quốc gia có một số vùng (trong một sốtrường hợp nhất định người ta thường dùng Miền như miền Bắc, miền trung, miềnNam) Tùy vào mục đích nghiên cứu khác nhau, các nhà khoa học quan niệm khácnhau về Vùng Tuy nhiên, xét trên tổng thể, Vùng có những đặc trưng cơ bản sau:
- Vùng được xác định bởi không gian nhất định, đó là không gian về tựnhiên, không gian về kinh tế, không gian về xã hội, không gian về văn hóa,…
- Các yếu tố cấu thành nên vùng có sự đồng nhất tương đối với nhau (khônghoàn toàn giống nhau), có sự khác biệt tương đối, chính sự khác biệt này hình thànhnên lợi thế, bổ trợ lẫn nhau của các địa phương trong vùng trong quá trình pháttriển
- Có hình thức kết cấu hệ thống nhất định, tính phân cấp, phân tầng, từ đóhình thành các mối liên kết theo chiều dọc, chiều ngang Trong vùng có các tiểuvùng là các bộ phận hợp thành vùng lớn hơn
Vùng kinh tế là một bộ phận hợp thành hệ thống nền kinh tế quốc dân, vớinhững đặc trưng như: chuyên môn hóa những chức năng kinh tế quốc dân cơ bản;tính tổng hợp trong phát huy lợi thế phát triển của các địa phương thông qua cácmối quan hệ liên kết; tính thống nhất, vùng kinh tế được coi như một hệ thống toànvẹn, có hệ thống quản lý riêng nằm trong hệ thống quản lý nền kinh tế quốc dân
Cơ sở hình thành và phát triển vùng là các yếu tố tạo vùng, trong đó yếu tốtiền đề là phân công lao động theo lãnh thổ Sự phân công lao động theo ngành làmxuất hiện quá trình phân công lao động theo lãnh thổ Phân công lao động theo lãnhthổ đã hình thành nên các vùng kinh tế Vùng kinh tế là một bộ phận cấu thành nên
hệ thống nền kinh tế quốc dân, trên phạm vi lãnh thổ có nhiều vùng kinh tế từ đóhình thành nên cơ cấu vùng kinh tế của nền kinh tế quốc dân
Phân vùng là việc chia lãnh thổ đất nước ra những đơn vị đồng cấp, phục vụcho mục đích nhất định trong một khoảng thời gian nhất định, nên khó có thể cómột sự phân vùng khách quan “tuyệt đối và vĩnh viễn” Nếu chúng ta hiểu vùng làmột thực thể khách quan thì phân vùng là sản phẩm của tư duy khoa học dựa trênmột số chỉ tiêu và phương pháp mà người nghiên cứu, người quản lý lựa chọn đểphân định vùng
Trang 11Khi tiến hành phân vùng kinh tế, người ta thường nghiên cứu sự xuất hiện vàquy luật vận động của các yếu tố tạo vùng khách quan Từ đó, xác định nhữngnguyên tắc, quan điểm nhất định để đưa ra hệ thống các vùng với cơ cấu sản xuất và
cơ cấu lãnh thổ nhất định Trong thực tế có nhiều cách phân vùng khác nhau, cácvùng được phân chia theo tiêu chí kinh tế như nguồn lực kinh tế, tổng hợp thể kinh
tế, tổ chức các ngành/các hoạt động, chức năng và năng lực kinh tế,… thành vùngkinh tế ngành và cùng kinh tế tổng hợp
Vùng kinh tế ngành là một vùng mà trong giới hạn của nó phân bổ tập trungmột ngành sản xuất nhất định, chẳng hạn như vùng nông nghiệp, vùng công nghiệp,
…Vùng kinh tế ngành cũng có tính chất tổng hợp của nó Trong vùng kinh tế ngànhkhông chỉ có các ngành sản xuất chuyên môn hóa của nó, mà còn có cả một cơ cấuphát triển tổng hợp tồn tại song song với các ngành sản xuất chuyên sâu - đóng vaitrò then chốt trong quá trình phát triển của vùng
Sự hình thành và phát triển của vùng kinh tế ngành cũng là một quá trìnhphát triển khách quan dựa trên cơ sở phân công lao động xã hội theo lãnh thổ Lựclượng sản xuất càng phát triển, cơ cấu kinh tế càng phức tạp thì vùng kinh tế ngành
sẽ xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới, đan xen lẫn nhau dẫn đến sự mất ổn địnhcủa vùng kinh tế ngành sản xuất chuyên môn hóa, hình thành nên vùng kinh tếngành tổng hợp phức tạp với đa dạng hóa sản phẩm Nếu căn cứ vào các yếu tố tựnhiên - kinh tế - kỹ thuật và yêu cầu phát triển của mỗi ngành trong quá trình pháttriển chung của nền kinh tế quốc dân, các ngành sẽ xác định hệ thống vùng kinh tếngành của mình để tiến hành xây dựng các kịch bản tổ chức lãnh thổ cho ngành saocho hợp lý nhất Như vậy, vùng kinh tế ngành thực chất là một hệ thống các vùngkinh tế của quốc gia được chia theo quan điểm ngành Ở Việt Nam, kinh tế du lịchđược chia thành 4 vùng: Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và Nam bộ; về quanđiểm sinh thái nông nghiệp chia thành 7 vùng kinh tế nông nghiệp: Miền núi vàtrung du phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ,Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long Ngành thủy sản lại chiathành 5 vùng sinh thái thủy sản: Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Duyên hảiNam Trung bộ, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Theo quan điểm pháttriển ngành công nghiệp trên cơ sở phát huy tiề năng lợi thế của các vùng, người tachia thành 6 vùng công nghiệp: Miền núi và Trung du phía Bắc, Đồng bằng sôngHồng, Duyên Hải Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Đồng bằng sông CửuLong
Các vùng kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược phát triển củaquốc gia trong từng thời kỳ, từng chính sách phát triển trên cơ sở phân bổ hợp lýcác nguồn lực sản xuất của từng ngành, từ đó cho phép phát huy tối đa lợi thế trongphát triển ngành
Vùng kinh tế tổng hợp là những vùng kinh tế đa ngành, có cơ cấu ngànhphức tạp, cơ cấu và quy mô hàng hóa lớn và phong phú Các vùng kinh tế tổng hợp
là những lãnh thổ được lựa chọn theo quan điểm tổng thể của tất cả các ngành, cáclĩnh vực hoạt động có trên lãnh thổ trong mối quan hệ ảnh hưởng và phụ thuộc lẫnnhau giữa chúng và quan hệ với các điều kiện phát triển của các vùng, quan hệ với
Trang 12các lãnh thổ khác cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vùng kinh tế tổng hợp làmột bộ phận quan trọng cấu thành nên cơ cấu kinh tế nền kinh tế quốc dân Sựchuyên môn hóa của các vùng được quy định bởi các vùng kinh tế ngành tồn tạitrong vùng kinh tế tổng hợp mà sự chuyên môn hóa của nó có ý nghĩa quan trọngđối với quá trình phát triển vùng kinh tế tổng hợp khác (tính liên vùng) Khi lựclượng sản xuất càng phát triển, phân công lao động theo lãnh thổ ngành càng sâusắc sẽ làm cho cơ cấu kinh tế của vùng kinh tế tổng hợp trở thành sự chuyên mônhóa của nhiều ngành kinh tế trong vùng Số ngành chuyên môn hóa trong vùng kinh
tế tổng hợp tăng lên không đồng nghĩa với trình độ chuyên môn hóa của từng ngànhgiảm xuống, bởi vì trong quá trình phát triển của vùng kinh tế tổng hợp làm xuấthiện mối liên kết trong sản xuất của các ngành trong nội vùng cũng như đối với cácvùng kinh tế khác Vùng kinh tế tổng hợp gồm 2 loại cơ bản:
Thứ nhất, Vùng kinh tế cơ bản: là vùng kinh tế có diện tích rộng, bao gồm
nhiều vùng kinh tế - hành chính cấp tỉnh Vùng kinh tế cơ bản có thể có nhiềungành sản xuất chuyên môn hóa và sự phát triển tổng hợp của vùng cũng phức tạphơn so với vùng kinh tế hành chính Vùng kinh tế cơ bản chỉ có ý nghĩa và chứcnăng kinh tế Tác dụng chủ yếu của vùng kinh tế cơ bản là giúp cho việc nghiên cứulập các chương trình kế hoạch dài hạn về phát triển kinh tế - xã hội, từ đó phân bổhợp lý lực lượng sản xuất trên phạm vi cả nước và giữa các vùng, hình thành nênmối liên kết vùng, tạo nên sự cộng hưởng về lợi thế, cùng phát triển nhằm khai tháchiệu quả tiềm năng của từng vùng và cả nước, góp phần phát triển cân đối lãnh thổ
và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc phân vùng kinh tế cơ bản là nhằm hoạch định chiến lược, xây dựng các
kế hoạch phát triển, xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách vĩ mô thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân Các vùng kinh tế cơ bảnthường bao gồm nhiều đơn vị hành chính (các tỉnh, thành phố), nhưng bản thânvùng kinh tế cơ bản lại không thành lập bộ máy quản lý hành chính mà đây lànhững vùng trực thuộc Chính phủ Trung ương
Thứ hai, Vùng kinh tế - hành chính, là đơn vị nằm trong vùng kinh tế - xã hội
lớn, không những có chức năng kinh tế, mà còn có chức năng hành chính Vùngkinh tế - hành chính là kết quả của sự thống nhất giữa quản lý kinh tế với quản lýhành chính được xây dựng trên nguyên tắc kinh tế, ranh giới hành chính và kinh tếthống nhất với nhau Vùng kinh tế - hành chính thực hiện đồng thời chức năng quản
lý kinh tế và quản lý hành chính, có bộ máy quản lý riêng, có ngân sách và thịtrường địa phương
Văn kiện Đại hội IX xác định 6 vùng kinh tế - xã hội gắn với 3 vùng kinh tếtrọng điểm với nội dung phát triển từng vùng cụ thể như sau:
1- Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đưa nhiều lao độngnông nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ và đi lập nghiệp nơi khác Phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng Cùng với lương thực, đưa vụ đông thànhmột thế mạnh, hình thành các vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, thịt, hoa; mở rộng
Trang 13nuôi, trồng thuỷ sản Phát triển mạnh công nghiệp chế biến và cơ khí phục vụ nôngnghiệp, các cụm, điểm công nghiệp, dịch vụ và làng nghề ở nông thôn
Trong vùng kinh tế trọng điểm, phát triển các khu công nghiệp, khu côngnghệ cao, công nghiệp xuất khẩu, công nghiệp điện tử, thông tin và một số cơ sở cơkhí đóng tàu, luyện kim, phân bón; các dịch vụ có hàm lượng tri thức cao; các trungtâm mạnh của vùng và cả nước về đào tạo, khoa học và công nghệ, thương mại, y
tế, văn hoá, du lịch Hoàn thiện và nâng cấp kết cấu hạ tầng, trước hết là các tuyếntrục quốc lộ, các cảng khu vực Hải Phòng, Cái Lân, các sân bay
2- Miền Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Hình thành và phát huy vai trò các trung tâm thương mại, xuất khẩu, viễnthông, du lịch, tài chính, ngân hàng, khoa học và công nghệ, văn hoá, đào tạo đốivới khu vực phía Nam và cả nước Đẩy mạnh công nghiệp khai thác dầu khí; sảnxuất điện, phân bón và hoá chất từ dầu khí Hoàn chỉnh và nâng cấp các khu côngnghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao Mở mang công nghiệp ở các tỉnh, khôngtập trung quá mức vào các đô thị lớn
Phát triển mạnh cây công nghiệp (cao su, cà phê, điều, mía đường, bông ),cây ăn quả, chăn nuôi công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, hình thành các vùngchuyên canh tập trung gắn với công nghiệp chế biến, tạo điều kiện thu hút thêm laođộng từ Đồng bằng sông Cửu Long
Nâng cấp các tuyến quốc lộ nối với các vùng và quốc tế; nâng cấp và xâydựng mới một số cảng biển, sân bay Xây dựng đô thị trên các trục phát triển gắnvới khu công nghiệp Giải quyết tốt hệ thống giao thông đô thị, cấp và thoát nước,khắc phục ô nhiễm môi trường
3- Bắc Trung bộ, Duyên hải Trung bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Phát huy lợi thế biển và ven biển, khai thác có hiệu quả các tuyến đường trụcBắc - Nam, các tuyến đường ngang, các tuyến đường Xuyên Á, các cảng biển Hìnhthành các KCN ven biển, các khu công nghiệp - thương mại tổng hợp và phát triểnkinh tế trên các cửa khẩu và hành lang dọc các tuyến đường Phát triển các ngànhcông nghiệp lọc, hoá dầu, vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến và chế tạo khác,các loại hình dịch vụ Xây dựng theo quy hoạch một số cảng nước sâu với tiến độhợp lý Đẩy nhanh việc xây dựng khu kinh tế Dung Quất - Chu Lai Phát triển mạnh
du lịch biển và ven biển, gắn liền với các khu di tích, danh lam thắng cảnh của cảvùng, đặc biệt là trên tuyến Huế - Đà Nẵng - Hội An - Nha Trang
Phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, tăngnhanh sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, kết hợp với côngnghiệp chế biến, đẩy mạnh trồng rừng Có giải pháp hạn chế tác hại của thiên tai lũlụt, hạn hán nặng, kết hợp với bố trí lại sản xuất và dân cư Phát triển kinh tế - xãhội gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường toàn dải ven biển Khai thác có hiệu quảvùng đất phía Tây, chú ý xây dựng các hồ chứa nước chống lũ và làm thủy điện.Từng bước tạo điều kiện để vùng Bắc Trung bộ, Duyên hải Trung bộ liên kết với
Trang 14Tây Nguyên tham gia có hiệu quả việc hợp tác kinh tế với Lào, Campuchia, nhất làcác tỉnh biên giới
4- Trung du và miền núi Bắc bộ (Tây bắc và Đông bắc)
Phát triển mạnh cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây đặc sản,chăn nuôi đại gia súc gắn với chế biến Tạo các vùng rừng phòng hộ đầu nguồnsông Đà, rừng nguyên liệu công nghiệp, gỗ trụ mỏ
Xúc tiến nghiên cứu và xây dựng thủy điện Sơn La Phát triển công nghiệpkhai thác, chế biến khoáng sản, nông sản, lâm sản, chú trọng chế biến xuất khẩu.Hình thành một số cơ sở công nghiệp lớn theo tuyến đường 18 gắn với vùng kinh tếtrọng điểm Bắc bộ Phát triển nhanh các loại dịch vụ, chú trọng thương mại Nângcấp các tuyến đường trục từ Hà Nội đi các tỉnh biên giới, hoàn thành các tuyếnđường vành đai biên giới và các đường nhánh Phát triển thủy lợi nhỏ gắn với thủyđiện nhỏ, giải quyết việc cấp nước sinh hoạt và điện cho đồng bào vùng cao Pháttriển các đô thị trung tâm, các đô thị gắn với khu công nghiệp Nâng cấp các cửakhẩu và phát triển kinh tế cửa khẩu Thực hiện tốt chính sách dân tộc, định canh,định cư vững chắc, ổn định và cải thiện đời sống cho đồng bào dân tộc
5- Tây Nguyên
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước cả về kinh tế - xãhội và quốc phòng - an ninh, có lợi thế để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp sảnxuất hàng hoá lớn kết hợp với công nghiệp chế biến, phát triển công nghiệp nănglượng và công nghiệp khai thác khoáng sản Có chiến lược và quy hoạch xây dựngTây Nguyên giàu về kinh tế, vững mạnh về quốc phòng, an ninh, tiến tới thànhvùng kinh tế động lực
Phát triển nhanh theo hướng thâm canh là chính đối với các cây công nghiệpgắn với thị trường xuất khẩu (cà phê, cao su, chè, bông ), chăn nuôi đại gia súc,trồng và bảo vệ rừng, cây dược liệu, cây đặc sản và công nghiệp chế biến nông, lâmsản Phát triển thủy điện lớn và vừa, các hồ chứa nước cho thủy lợi Khai thác vàchế biến quặng bôxít Phát triển công nghiệp giấy Nâng cấp, khai thác tốt các tuyếnđường trục và đường ngang nối xuống vùng Duyên hải Phát triển sự hợp tác liênkết kinh tế - thương mại - dịch vụ với các nước láng giềng Lào, Campuchia Cóchính sách thu hút vốn đầu tư, bố trí dân cư và lao động và đất đai theo quy hoạch,nâng cao dân trí và trình độ công nghệ Thực hiện tốt chính sách dân tộc, thật sự cảithiện đời sống vật chất và văn hoá của đồng bào dân tộc
6- Đồng bằng sông Cửu Long
Tiếp tục phát huy vai trò của vùng lúa và nông sản, thủy sản xuất khẩu lớnnhất cả nước; đẩy mạnh sản xuất và nâng cao chất lượng lương thực, rau quả, chănnuôi, thủy sản hàng hoá Phát triển công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nôngnghiệp, các ngành, nghề tiểu, thủ công nghiệp và các dịch vụ Triển khai xây dựngcác cụm công nghiệp sử dụng khí Tây Nam Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, tăng
tỷ trọng lao động công nghiệp, dịch vụ
Trang 15Hoàn chỉnh mạng lưới đường bộ và mạng giao thông thủy Nâng cấp và mởrộng quốc lộ 1A, mở thêm một số tuyến trục để phát triển giao thông phía Tây Nam.Nâng cấp các quốc lộ đến các tỉnh lỵ Xây dựng cầu qua sông Hậu và có đủ cầu trêncác tuyến này Phát triển mạng đường liên huyện và giao thông nông thôn, xây cầukiên cố thay "cầu khỉ" Hoàn chỉnh các cảng sông, nâng cấp các sân bay Quy hoạch
và xây dựng khu dân cư, kết cấu hạ tầng phù hợp với điều kiện chống lũ hàng năm
và ngăn mặn Tiếp tục thực hiện các định hướng phát triển vùng của Chiến lược 10năm 2001 - 2010 và các nghị quyết của Bộ Chính trị khoá IX về phát triển các vùng,Văn kiện Đại hội X nhấn mạnh:
Thứ nhất, xây dựng các chính sách thích hợp tạo điều kiện cho tất cả các
vùng trong cả nước phát triển nhanh hơn trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, hìnhthành cơ cấu kinh tế hợp lý mỗi vùng và liên vùng; đồng thời, tạo ra sự liên kết giữacác vùng nhằm đem lại hiệu quả cao, phát triển nhanh và ổn định, có sức cạnhtranh; khắc phục tình trạng chia cắt, khép kín theo địa giới hành chính
Thứ hai, tiếp tục xây dựng ba vùng kinh tế trọng điểm thành ba trung tâm
công nghiệp lớn có công nghệ cao, trung tâm tài chính, ngân hàng, viễn thông, đàotạo và y tế chất lượng cao, trung tâm dịch vụ vận tải và giao thương quốc tế
1.1.2 Cơ cấu kinh tế vùng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm cơ cấu kinh tế Theo quanđiểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống, có thể hiểu cơ cấu kinh tế là mộttổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố của nền kinh tế quốc dân; giữa chúng có nhữngmối liên hệ hữu cơ, tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong nhữngkhông gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, được vận động hướng vào những mụctiêu nhất định Hay nói một cách khác, cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh
tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhautrong những không gian, thời gian và điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, phù hợpvới mục tiêu đã được xác định của nền kinh tế và hướng vào việc thực hiện các mụctiêu đó
Cơ cấu kinh tế thường gồm 03 phương diện sau hợp thành:
- Cơ cấu kinh tế ngành
- Cơ cấu thành phần kinh tế
- Cơ cấu vùng lãnh thổ
+ Cơ cấu kinh tế ngành là tổ hợp các ngành kinh tế hợp thành các tương quan
tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân Cơ cấu kinh
tế ngành phần nào phản ánh trình độ phân công lao động xã hội của nền kinh tế vàtrình độ phát triển lực lượng sản xuất của một quốc gia
+ Cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sảnxuất theo không gian địa lý của một quốc gia, gắn liền với cơ cấu ngành và thốngnhất trong vùng kinh tế Trong cơ cấu lãnh thổ có sự biểu hiện của cơ cấu ngànhtrong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ
Trang 16+ Cơ cấu thành phần kinh tế biểu hiện hệ thống tổ chức kinh tế với các hìnhthức sở hữu khác nhau, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của LLSX, thúc đẩy phâncông lao động xã hội Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến
cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ
Ba bộ phận trên hợp thành cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân, có quan
hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu kinh tế ngành có vai trò quan trọng chi phốicác bộ phận khác trong tổng thể cơ cấu kinh tế quốc dân
Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợpthành cơ cấu kinh tế không cố định Đó là sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc
sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng lảnh thổ, các thành phần kinh
tế do sự xuất hiện hay biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trưởng của các yếu
tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không đồng đều
Sự thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợpvới môi trường phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nội dung của chuyểndịch cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơcấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ xung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành một
cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế về thựcchất là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của cơ cấu kinh tế nhằm hướng sựphát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định chotừng thới kỳ phát triển Về mặt lý thuyết, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mộtquốc gia vừa là tiêu chí đánh giá chất lựong tăng trưởng kinh tế vừa phản ánh bảnchất của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Xu thế phát triển chung của cơ cấu kinh tế thế giới hiện nay là tỷ trọng cácsản phẩm ngành dịch vụ gia tăng trong khi tỷ trọng các sản phẩm nông nghiệp vàcông nghiệp giảm dần Sự gia tăng tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ, một ngànhđược coi là thị trừong chính của các sản phẩm công nghệ cao, đựoc coi là hệ quảcủa sự bùng nổ trong lĩnh vực công nghệ thông tin từ những năm 80 của thế kỷtrước Trong các nền kinh tế hiện đại, các hoạt động dịch vụ thừong đóng góp phầnlớn trong tổng giá trị gia tăng của sản phẩm (đóng gói, phân phối, dịch vụ sau bánhàng…) Vì thế, các nền kinh tế phát triển thường đặc trưng bởi một tỷ trọng đónggóp lớn của ngành dịch vụ
Nền kinh tế Việt Nam kể từ khi đổi mới đã đạt được những thành tựu đáng
kể, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng cơ cấu kinh tế còn xa mới đạt đượctrình độ của các nước phát triển Một trong những mục tiêu trung và dài hạn của nềnkinh tế Việt Nam là dịch chuyển nền kinh tế hướng tới công nghiệp hóa, hiện đạihóa được đặc trưng bởi tỹ lệ hàm lượng công nghệ cao, chất xám trong sản phẩmlớn, có giá trị gia tăng cao, được thể hiện bởi tỷ trọng các sản phẩm dịch vụ và côngnghiệp cao
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và những thành tựu kỳ diệu củacông nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho những nước kém và đang phát triển nhưViệt Nam có thể tìm thấy cơ hội của mình nhờ vào việc tạo điều kiện và môi trường
để việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế xảy ra nhanh hơn, hiệu quả hơn theo hướng phù
Trang 17hợp với mục tiêu phát triển và những cơ hội mới do thời đại mang lại Quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện phản ứng linh hoạt của nền kinh tế trong việctiếp thu công nghệ hiện đại, nhờ đó một số ngành sẽ nâng cao năng suất lao độnghơn các ngành khác Sự dịch chuyển các yếu tố đầu vào sang các ngành có năngsuất cao sẽ cải thiện chất lựong của sự tăng trưởng do việc sử dụng hiệu quả các yếu
tố đầu vào Do vậy, sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành hặoc cơ cấu vùng…về thựcchất là sự điều chỉnh phương thức phân bổ và sử dụng các nguồn lực Điều này tạo
cơ hội cho các nước như Việt Nam tăng trưởng và phát triển
Quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế thường gắn liền và có quan hệhữu cơ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự gia tăng các yếu tố đầu vào, tăng năngsuất lao động ở các ngành, các lĩnh vực kinh tế trong quá trình tăng trưởng và pháttriển là không như nhau Điều đó tác động làm cho tốc độ tăng trưởng ở các ngànhkinh tế không như nhau, làm thay đổi tỷ trọng của các ngành trong nền kinh tế, tạo
ra cơ cấu kinh tế mới phù hợp vơpí sự phát triển mới Đồng thời, một chiến lượcchuyển dịch cơn cấu kinh tế phù hợp để điều chỉnh đầu tư hợp lý các yếu tố đầu vàocho các ngành kinh tế có thể tạo ra sự tăng trưởng đáng kể và phát triển bền vữngcho nền kinh tế Có thể nói, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tấtyếu gắn liền với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, đồng thời, nhịp độ tăng trưởng,tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng và phát triển lại phụ thuộc vào khảnăng chuểy dịch cơ cấu kinh tế linh hoạt, phù hợp với nội của nền kinh tế, vớinhững điều kiện bên ngoài và những lợi thế bên trong của đất nước Đây là mốiquan hệ biện chứng không thể tách rời
Nói đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, người ta thường quantâm đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, sự gia tăng các nguồn lực sản xuấttheo thời gian và cách thức phân phối sản phẩm và thu nhập cho các nhân tố sảnxuất Còn khi nói đến cơ cấu kinh tế, người ta thường quan tâm đến các thành phần
có ý nghĩa cơ bản, tồn tại lâu dài, làm cơ sở cho những biến động thường xuyêntrong đời sống kinh tế Cách thức thay đổi cơ cấu kinh tế sao cho phù hợp với quátrình phát triển là một vấn đề hết sức quan trọng bởi nó có thệ tạo ra những động lựcmới thúc đẩy quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể tạo ra những tiền đề cho sự pháttriển và hoàn thiện các loại thị trường của các yếu tố sản xuất và chính sự hoànthiện, phát triển các loại thị trường này sẽ thúc đẩy quá trình tăng trưởng và pháttriển kinh tế và quá đó lại làm sâu sắc thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Các thị trường như: thị trường lao động, thị trường tài chính, khoa học công nghệvới các yếu tố như lao động, vốn, tiến bộ cong nghệ có sự liên hệ chặt chẽ với quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Không thể có được một chiến lược chuyển dịch cơcấu kinh tế hiệu quả nếu không có các điều kiện hỗ trợ cần thiết về các nguồn lựctài chính, công nghệ và con người…Việc phát triển thị trường lao động cả về sốlượng và chất lượng là yếu tố không thể thiếu được cho cả quá trình tăng trưởng vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế; không có sự phát triển của nguồn nhân lực thì quá trìnhtăng trưởng và phát triển không thể bền vững Tương tự, việc thiếu vắng một thị
Trang 18trường tài chính sẽ không thể tạo ra một sự di chuyển vốn hiệu quả giữa cácngành…
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối quan hệ mật thiết với các nguồnlực của nền kinh tế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý cũng sẽ góp phần nângcao hiệu quả sử dụng các nguồn lực này và do đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng và pháttriển kinh tế Đồng thời việc phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế một cách hợp lý
sẽ tác động đến hiệu quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợinhất để có được một cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu trong từng thời kỳ pháttriển
1.1.3 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chuyển dịch cơ cấu đầu vào
1.1.3.1 Mối quan hệ giữa mô thức đầu tư và chuyển dịch cơ cấu
Trước hết, đầu tư là cốt yếu cho phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế bởi
nó là kênh chính cho thay đổi công nghệ và gia tăng năng suất Nó cũng đóng vaitrò cốt lõi trong phát triển kết cấu hạ tầng và xây dựng của các trung tâm đô thị nơicông nghiệp và dịch vụ tập trung cao Cùng với các yếu tố khác, tích lũy vốn cũngkhởi xướng quá trình thay đổi cấu trúc Chuyển đổi kinh tế đòi hỏi thay đổi trong
mô thức tích tụ bởi khi đó các nguồn lực mới được đầu tư vào trong các ngành củanền kinh tế, và như vậy gia tăng đóng góp của nó vào sản lượng đầu ra
Tăng trưởng kinh tế cao và sự hội tụ có liên quan chặt với sự gia tăng đầu tưtheo đầu người, mặc dù mối quan hệ không phải là một với một Ví dụ: Các nềnkinh tế mới công nghiệp hóa thế hệ thứ nhất và Trung Quốc với sự thay đổi cơ cấunăng động nhất cho thấy một sự gia tăng lớn nhất về đầu tư (so với các nước đangphát triển và các vùng khác trên thế giới)
Kết quả tăng trưởng kém hơn đi đôi với không chỉ thay đổi cấu trúc ít hơn vàđầu tư thấp hơn, mà còn với dao động đầu tư cao hơn Khi đo lường bằng hệ số củaphương sai (độ lệch chuẩn chia cho trung bình của thời kỳ), dao động đầu tư chothấy giá trị cao hơn ở các nước có tăng trưởng thu nhập thấp và thấp hơn ở các nước
có kết quả tăng trưởng mạnh mẽ Hệ số tương quan của hai biến số này đạt tới 71%(UN, 2006) Mất ổn định kinh tế và không chắc chắn trong đầu tư không nghi ngờ
gì nữa là trở lực cho tăng trưởng kinh tế dài hạn
Tích lũy vốn là tác nhân của quá trình chuyển dịch cơ cấu Kinh nghiệm chothấy tích lũy vốn gia tăng nhanh chóng ở các nước châu Á thành công và hướng vềcác ngành công nghiệp Như chúng ta đều biết, công nghiệp đóng góp chính vào giatăng năng suất lao động đem lại do thay đổi công nghệ và phát triển các hoạt độngsản xuất mới thông qua đầu tư mới
Cơ cấu đầu tư cũng ảnh hưởng đến kết quả tăng trưởng Tóm tắt các côngtrình nghiên cứu thực nghiệm của UNCTAD (2003) cho thấy đầu tư vào máy móc
và thiết bị đóng góp lớn hơn vào tăng trưởng so với đầu tư vào xây dựng Cấu thànhđầu tư tối ưu phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế, và đầu tư vào cơ sở
hạ tầng sản sinh tác động đáng kể đến tăng trưởng ở mức thu nhập khá thấp Nghĩa
Trang 19là: ở giai đoạn phát triển thấp, các nước cần bố trí đầu tư vào xây dựng một tỷ lệtương đối lớn.
Ở giai đoạn cao của sự phát triển, các nền kinh tế đang phát triển có xuhướng đầu tư vào ngành công nghiệp (có trình độ công nghệ tiên tiến), ngành tàichính và ngành dịch vụ hướng về kinh doanh Ví dụ: ở các nước phát triển như Hoa
Kỳ, Nhật Bản, dịch vụ chiếm trên 60% sản lượng, đa số đầu tư hướng vào ngànhdịch vụ Số liệu Hàn Quốc cho thấy, qua thời gian, đầu tư của nền kinh tế nước nàychuyển từ ngành sơ cấp như nông nghiệp, sang ngành công nghiệp và các hoạt độngkinh tế co giá trị gia tăng cao hơn Tỷ trọng vốn đầu tư vào nông nghiệp giảm từ14% trong tổng vốn cố định gộp năm 1972 xuống còn 2% vào năm 2003, trong khi
tỷ lệ của vốn cho công nghiệp tăng từ 16% năm 1970 lên 24% năm 2003 Tỷ lệ củangành dịch vụ tương đối ổn định qua từng ấy năm Tuy nhiên, cần ghi chú rằng từđầu những năm 1970, các trung gian tài chính, bất động sản và dịch vụ kinh doanh
là các lĩnh vực có tỷ lệ đầu tư đáng kể Những điều này cho thấy tầm quan trọng củaphát triển cả dịch vụ kinh doanh và tài chính không chỉ ở giai đoạn cao của pháttriển mà ngay từ lúc bắt đầu của quá trình tăng trưởng bền vững
1.2.3 Việc làm, năng suất và chuyển dịch cơ cấu
Đối với nền kinh tế nó chung, tăng trưởng năng suất lao động đến từ tiến bộcông nghệ và bởi di chuyển nguồn lực từ ngành có năng suất thấp sang ngành cónăng suất cao Như đề cập ở trên, dạng tăng trưởng năng suất thứ hai rất quan trọngđối với các nước đang phát triển Việc giới thiệu công nghệ mới và dịch chuyển cơcấu của nền kinh tế có thể tạo ra thất nghiệp nều sản lượng không tăng (vì, theođịnh nghĩa, ngành có năng suất cao hơn dùng ít lao động trên đơn vị đầu ra hơn) Vìthế, ngành có năng suất cao cần phải tăng trưởng sao đó để đáp ứng quá trình thayđổi cơ cấu nếu mong đợi rằng công việc tốt hơn được tạo ra cho tất cả công nhân vàkhông hề có thất nghiệp
Theo số liệu của Maddison (2001), quá trình tăng trưởng ở các nước pháttriển cũng đã tạo ra thay đổi ngoạn mục trong cơ cấu lao động, bao gồm việc dịchchuyển từ khu vực sơ cấp sang công nghiệp và sau đó, sang dịch vụ Tuy nhiên,những dịch chuyển lao động này xảy ra chậm hơn so với thay đổi cơ cấu trong sảnlượng vì năng suất lao động trong nông nghiệp và các ngành sơ cấp khác có xuhướng tăng trưởng chậm hơn so với trong ngành công nghiệp, đặc biệt ở giai đoạnđầu của sự phát triển
Ở những nước không có thặng dư lao động và khi ngành nông nghiệp tiếpcận ngay với vốn và tri thức công nghệ, độ trễ trong tăng trưởng năng suất giữanông nghiệp và công nghiệp không có Ví dụ: Argentina, Canada, và New Zealand
Ở các nước đang phát triển khác, sự gia tăng tương đối chậm của năng suất lao độngphản ánh tốc độ tăng dân số cao và thiếu vắng những cơ hội việc làm ở nông thôn
Cả hai vấn đề này đưa đến thiểu dụng lao động trong khu vực nông thôn
Vậy thì, ngành nào của nền kinh tế đóng góp nhiều nhất vào năng suất vàviệc làm? Nghiên cứu của UN (2006) cho thấy trong nhiều trường hợp, ngành côngnghiệp là động lực chính của tăng trưởng năng suất lao động Phân bố lao động
Trang 20trong các ngành, đo lường mức độ theo đó sự di chuyển lao động trực tiếp sangngành có năng suất cao hơn đóng góp vào tăng trưởng năng suất chung, là quantrọng trong một số trường hợp (Đông Nam Á, và các nước bán công nghiệp), nhưnglại khá khiêm tốn ở các trường hợp khác Điều này được giải thích rằng trong nhiềunước tăng trưởng chậm, tái phân bổ lao động bị chi phối bởi vấn đề lao động ở khuvực đô thị Ở những nước này, sự thiếu năng động của ngành công nghiệp và dịch
vụ hiện đại đã đẩy lao động dôi dư sang khu vực phi chính thức, giảm sút tăngtrưởng năng suất, đặc biệt trong ngành dịch vụ
Có thể nói rằng, ở những nền kinh tế tăng trưởng chậm, hiệu ứng phân bố nộingành chi phối hiệu ứng phân bố liên ngành và điều này được phản ánh thông quatốc độ tăng (hoặc giảm) năng suất trong ngành dịch vụ vốn được quyết định bởiliệu việc làm được tạo ra trong ngành dịch vụ năng suất cao hay là thấp Ngành dịch
vụ trong những trường hợp này hoàn toàn không đóng góp một cách năng động vàotăng trưởng năng suất
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chuyển dịch cơ cấu
lao động
Các nguồn lực và lợi thế của đất nước là cơ sở quan trọng để hình thành vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hiệu quả và bền vững Trong đó, lao độngđược xem là nguồn lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng và phát triển bởi conngười là yếu tố quyết định trong lực lượng sản xuất cùa xã hội, là chủ thể của mọiquá trình lao động sáng tạo Mọi chiến lược phát triển của đất nước đều phải căn cứtrước hết vào nguồn nhân lực hiện hữu cả về số lượng và chất lượng
Một cơ cấu kinh tế hợp lý khi nó có thể khai thác hiệu quả nhất mọi nguồnlực và lợi thế của đất nước trong đó có nguồn lực về lao động Chính vì vậy, cơ cấucủa nguồn lao động có ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành và chuyển dịch cơ cấukinh tế của đất nước trong từng giai đoạn nhất định Sự tác động của nhân tố này lênquá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế được xem xét trên các mặt chủyếu sau:
- Số lượng lao động, khả năng, kỹ năng, chất lượng của nguồn lao động lànhững cơ sở quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển các ngành kinh tế trongtừng giai đoạn, phù hợp với mục tiêu của từng thời kỳ Nguồn lao động có chấtlượng cao, có khả năng tiếp thu khoa học công nghệ mới là những tiền đề quantrọng để xây dựng kế hoạch phát triển những ngành công nghiệp kỹ thuật cao vànâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các ngành đang hoạt động, thúc đẩytiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân
- Qui mô, kết cấu nguồn lao động, thu nhập của người lao động có ảnhhưởng lớn đến qui mô và cơ cấu của nhu cầu thị trường Đó là cơ sở để phát triểncác ngành công nghiệp và dịch vụ phục vụ tiêu dùng
- Sự phát triển các ngành nghề truyền thống trong công nghiệp cũng nhưtrong các ngành kinh tế khác thường gắn liền với tập quán, truyền thống, phong tụccủa một địa phương, một cộng đồng người Sự phát triển và chuyển hóa các nghềnày gắn chặt với đội ngũ các nghệ nhân Điều này có ảnh hưởng lớn tới việc qui
Trang 21hoạch phát triển các ngành nghề truyền thống trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốcgia.
Tất cả các yếu tố trên đều là những căn cứ quan trọng để xây dựng chiếnlược phát triển kinh tế và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý Tuy nhiên,quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng có những tác động nhất địnhlàm thay đổi những yếu tố này và qua đó làm chuyển dịch cơ cấu lao động trongnền kinh tế Sự phát triển không đồng đều của các ngành kinh tế, các khu vực kinh
tế sẽ tạo ra những lực hút khác nhau đối với nguồn lao động Do vậy, cùng với quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì cơ cấu lao động trong các ngành, chất lượng laođộng trong nền kinh tế cũng có sự chuyển dịch, thay đổi đáng kể, phù hợp với quátrình phát triển đó
Nhìn chung giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động luôn có mối quan hệ tácđộng ảnh hưởng lẫn nhau Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo sự dịch chuyển
cơ cấu lao động Ngược lại, cơ cấu lao động cũng ảnh hưởng rất lớn tới quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế Hiện nay, nguồn lao động ở Việt Nam rất dồi dào,nhưng có rất nhiều doanh nghiệp ở các ngành kinh tế lại khó tuyển dụng được laođộng do cơ cấu lao động, chất lượng lao động chưa đáp ứng dược với yêu cầu pháttriển mới của nền kinh tế Một số ngành đang có cơ hội phát triển như tài chính,ngân hàng, công nghệ thông tin, các ngành công nghiệp công nghệ cao nhưng lạigặp khó khăn trong việc tuyển dụng nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầuphát triển Mặc dù nguồn lao động của Việt nam rất dồi dào nhưng đã có dấu hiệukhủng hoảng trong cơ cấu nguồn lao động Sự phát triển của nền kinh tế đang đặt ranhu cầu về lao động chất lượng cao, nhưng thị trường lao động lại chưa đáp ứng kịp
do nguồn cung lao động chưa thích ứng kịp với quá trình phát triển và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, do cơ cấu đào tạo lao động chưa hợp lý…Điều này đang gây trở ngạicho quá trình chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế theo hướng phát triển các ngànhdịch vụ và công nghệ cao của nước ta Vấn đề này đang đặt ra yêu cầu cấp bách đốivới quá trình đào tạo nguồn nhân lực trong việc thay đổi phương thức và cơ cấu đàotạo cho phù hợp với yêu cầu phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nướctrong giai đoạn mới
Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, cơ cấu và trình độ lao động có ýnghĩa rất quan trọng trong thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế Vì vậy cần chú trọngnâng cao cấht lượng đào tạo lao động, xây dựng và hoàn thiện hệ thống đào tạonghề cả về phương pháp lẫn nội dung đào tạo, cơ cấu đào tạo cần bám sát nhu cầucủa thị trường và mục tiêu của nền kinh tế trong từng giai đoạn
Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động có quan hệ tác độngrất bền chặt, Để đáp ứng nhu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, việc pháttriển nguồn lao động cần chú ý:
- Chuyển dịch cơ cấu lao động phải gắn bó hữu cơ và phục vụ mục tiêuchuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu lao động hợp lý là cơ sở vững chắc để chuyểndịch thành công cơ cấu kinh tế, đãm bảo tăng trửong nhanh và phát triển bền vững
Trang 22- Chuyển dịch cơ cấu nguồn lao động phải vừa đảm bảo yêu cầu phát triểncủa các ngành, các lĩnh vực (cơ cấu ngành nghề), yêu cầu lao động kỹ thuật (cơ cấutrình độ), tạo điều kiện phân bổ và sử dụng lao động hợp lý.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động phải nhằm nâng cao chất lượng lao động, chấtlượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tếhiệu quả…
1.1.3.3 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với trình độ khoa học – công nghệ
Khoa học công nghệ hiện nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạonên những tác động to lớn cho sự phát triển, đúng như dự báo của C.Mác cách đâygần 1,5 thế kỷ Cuộc cách mạng khoa học công nghệ những năm cuối thế kỷ XX,đầu thế kỷ XXI đã và đang làm cho thế giới có những biến đổi khó lường Tiến bộkhoa học công nghệ không chỉ tạo ra những khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc
độ phát triển ở một số ngành, tăng nhanh tỷ trọng của chúng trong toàn bộ nền kinh
tế, tạo ra những nhu cầu mới, đòi hỏi sự xuất hiện của một số ngành công nghiệpmới, công nghệ hiện đại…Điều này đang mở ra cơ hội cho nhiều nước tái cấu trúclại nền kinh tế theo hướng có lợi nhất, xây dựng lại một cơ cấu kinh tế mới nhằm cóthể phát huy được những lợi thế mới do những thành tựu của cuộc cách mạng khoahọc công nghệ tạo ra Nói một cách khác, khoa học – tri thức – công nghệ chính lànhững yếu tố quyết định sự phồn vinh của một quốc gia, dân tộc Ngày nay, trên thếgiới không phải những quốc gia chiếm giữ nhiều đất đai, khoáng sản mà chính lànhững nước chiếm giữ nhiều tri thức mới trở thành các quốc gia phát triển hàngđầu Quyền lực về công nghệ quyết định vị trí thứ bậc phát triển của các quốc gia
Trong điều kiện mở cửa và hội nhập, tiến bộ khoa học công nghệ cho phéptạo ra những sản phẩm mới, chất lượng cao, chi phí thấp do vậy sẽ có sức cạnhtranh cao trên thị trường trong nước và thế giới Sự chuyển giao công nghệ trongquá trình hội nhập và toàn cầu hóa sẽ cho phép các nền kinh tế kém và đang pháttriển như Việt Nam có thể rút ngắn thời gian CNH – HĐH, đầu tư mở rộng, pháttriển đón đầu những ngành công nghệ cao, nâng cao năng suất lao động xã hội tạođiều kiện để có thể tái cấu trúc lại nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng tăng tỷ trọng các ngành công nghệ cao, có lợi thế, có sức cạnh tranh cao trênthị trường, tạo đà để đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tuy nhiên, ảnh hưởng của khoa học công nghệ tới tăng trưởng và phát triểntới cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chính sách pháttriển khoa học công nghệ, nguồn lực con người có thể tiếp nhận những thành tựumới của khoa học công nghệ hay không? Khả năng, tầm nhìn của các chủ thể doanhnghiệp cũng như tiềm lực về tài chính của họ trong việc đánh giá, thẩm định, đầu tư
áp dụng công nghệ mới…Ở Việt Nam, vai trò của khoa học công nghệ đối vớichuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố sau:
- Chính sách phát triển khoa học, công nghệ của Đảng và Nhà nước;
- Trình độ của hệ thống kỹ thuật – công nghệ đang sử dụng trong các ngànhcủa nền kinh tế quốc dân;
Trang 23- Khả năng về vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ.
Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển đất nước luôn khẳng định đẩymạnh phát triển khoa học kỹ thuật, lấy đó làm cơ sở để thực hiện chiến lược đi tắtđón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa nước ta và các nước trong khu vực vàthế giới Phù hợp với xu thế phát triển chung và hiện thực hoá Nghị quyết củaĐảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 123/QĐ-TTg ngày29/05/2006 và Quyết định số 191/QĐ-TTg ngày 17/8/2006 với chủ trương chiếnlược tập trung phát triển khoa học - công nghệ trong đó đặc biệt chú trọng đếnnghiên cứu khoa học (khoa học và công nghệ) bao gồm các hình thức như nghiêncứu lý thuyết (R) với các sản phẩm là các lý thuyết cơ bản, nghiên cứu phát triển(R&D) với các sản phẩm là các “bán thành phẩm” công nghệ và nghiên cứu sảnxuất (R&P) với sản phẩm là công nghệ; tập trung phát triển nguồn nhân lực và cơ
sở hạ tầng phục vụ phát triển khoa học công nghệ với trụ cột là hệ thống các khucông nghệ cao trong các vùng kinh tế trọng điểm gồm 21 tỉnh thành như Hà Nội, Tp
Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thừa Thiên - Huế, Bà Rịa – Vũng Tàu…đây là những tỉnh nắm giữ hầu hết tiềm lực về khoa học công nghệ Tuy nhiên, quátrình phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay chưa phát huy tác dụngđối với quá trình tăng trưởng và phát triển, hiệu quả của khoa học và công nghệ đốivới phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH, pháttriển các ngành công nghệ cao… là chưa nhiều thậm chí còn nhiều hạn chế Có rấtnhiều nguyên nhân, có thể kể đến một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Ở Việt Nam hiện nay đang chú trọng đầu tư phát triển nghiên cứu lý thuyết(R) và R & D Đây là các hình thức nghiên cứu mà kết quả của chúng chỉ là lýthuyết và “tiền công nghệ”, tức là chỉ có thể gián tiếp phục vụ sản xuất Đây cũng làhai hình thức nghiên cứu đòi hỏi phải tập trung nhiều kinh phí và nhiều nhà khoahọc có tài Việt Nam đều chưa có đủ tiềm lực đối với hai yếu tố này Để thúc đẩysản xuất, đối với các nước nghèo và đang phát triển như Việt Nam, hình thứcnghiên cứu khoa học cần được chú trọng nhất phải là nghiên cứu sản xuất (R&P)
- Chưa có sự gắn kết giữa cung và cầu về công nghệ Ở Việt Nam chủ thểcủa công nghệ thường được coi là các viện, các trường chứ không phải là các doanhnghiệp Chính vì thế, loại hình R&P mà kết quả được dùng trực tiếp phục vụ sảnxuất và phù hợp với điều kiện Việt Nam ít được chú trọng và không được coi lànghiên cứu khoa học (chỉ được coi là sáng kiến cải tiến kỹ thuật…)
- Nguồn lực dành cho phát triển khoa học công nghệ còn thấp (2% tổng chingân sách nhà nước)
- Việc chuyển giao công nghệ trong quá trình đầu tư sản xuất còn nhiều hạnchế do trình độ thẩm định công nghệ chưa cao…
Những lý do trên phần nào lý giải việc chúng ta rất chú trọng đến phát triển ,nhưng khoa học công nghệ Việt Nam vẫn chaư thực sự là động lực trực tiếp của sựphát triển kinh tế đất nước
Rõ ràng là chỉ có phát triển khoa học, đổi mới công nghệ mới có thể làm chomột nước phát triển bứt phá và bền vững Với nguồn lực còn hạn hẹp như hiện nay,
Trang 24Việt Nam phải tận dụng cơ hội toàn cầu hoá, mở cửa hội nhập với thế giới để có thểxúc tiến đầu tư, đổi mới công nghệ, bên cạnh việc đầu tư cho nghiên cứu phát triểnkhoa học công nghệ trong nước Việc đầu tư đổi mới công nghệ luôn gắn liền vớichiến lược phát triển kinh tế, định hướng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế.
1.2 Ảnh hưởng của hội nhập WTO lên cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế
1.2.1 Thuận lợi và cơ hội
1.2.1.1 Làm sâu sắc hơn cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu
a Tăng số lượng thị trường xuất khẩu hàng hoá cho doanh nghiệp:
Nhờ tư cách thành viên của WTO, doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩuvào toàn bộ 148 nước thành viên của WTO với mức thuế ưu đãi, thay vì chỉ có một
số thị trường truyền thống (Nga, Ðông Âu) và một số thị trường mới khai thác (Mỹ,Nhật Bản, EU) Nếu nhớ lại rằng, giá trị xuất khẩu của Việt Nam hiện chiếm 60%GDP thì sẽ thấy rõ lợi ích to lớn của việc mở rộng không gian thương mại, mở rộngthị trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam Một khi quy mô sản xuấthàng xuất khẩu phát triển lên đến một mức nào đó, nếu không giải quyết được bàitoán đầu ra, doanh nghiệp khó lòng phát triển, chứ chưa nói đến phát triển bềnvững
b Tăng số lượng hàng hoá xuất khẩu ra các nước:
Nhờ thành quả đàm phán cắt giảm thuế quan và loại bỏ dần các hàng rào phithuế quan trong lịch sử 50 năm qua của WTO đến nay, doanh nghiệp Việt Nam sẽđược hưởng lợi từ việc xuất khẩu vào các thị trường các nước thành viên của WTOvới mức thuế đánh vào hàng nhập khẩu thấp Nếu không là thành viên WTO, chắcchắn doanh nghiệp Việt Nam không thể xuất khẩu nhiều hàng hoá sang các nướcđang là thành viên WTO Bởi lẽ, các nước này trước hết cần ưu tiên, hay nói đúnghơn, thực hiện quy chế đãi ngộ tối huệ quốc với các nước thành viên WTO; còntrong khi đó họ có thể phân biệt đối xử với hàng hoá của Việt Nam thể hiện quaviệc họ có thể đánh thuế cao vào hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam hoặc sử dụngcác biện pháp phi thuế quan để ngăn trở hàng hoá của Việt Nam Do vậy, nếu đượchưởng mức thuế suất nhập khẩu thấp, sẽ tạo điều kiện cho hàng hoá của doanhnghiệp Việt Nam có mức giá cạnh tranh được với hàng hoá tương tự của các nướckhác Vì thế, có thể khẳng định, đồng thời với việc mở rộng không gian thương mại,
mở rộng thị trường xuất khẩu, mức thuế nhập khẩu thấp cũng sẽ giúp doanh nghiệp
có cơ hội thúc đẩy sự xâm nhập hàng hoá của mình vào thị trường các nước thànhviên WTO
Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng cơ hội từ những quy địnhcủa WTO về ưu đãi cho các nước đang phát triển để tăng lượng xuất khẩu, chẳnghạn, các mặt hàng sơ chế khi xuất khẩu sang các nước phát triển sẽ được hưởngmức thuế đánh vào hàng nhập khẩu thấp, hoặc không có thuế, hoặc hưởng chế độcủa hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) Khi tham gia WTO, doanh nghiệp
Trang 25Việt Nam cũng được hưởng lợi từ quy chế miễn trừ quy định cấm trợ cấp xuất khẩuđối với các nước đang phát triển có thu nhập dưới 1.000 USD/người/năm.
c Tạo cơ hội sản xuất và xuất khẩu cho các doanh nghiệp thuộc các ngành mà ViệtNam có ưu thế cạnh tranh:
Doanh nghiệp Việt Nam được hưởng cơ hội này từ hai bình diện:
+ Một là do những quy định của WTO
+ Hai là do ưu thế cạnh tranh về giá cả, chi phí đem lại
- Ðối với những cơ hội do quy định của WTO đem lại:
Hàng nông sản:
Vốn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của các nước đang phát triển, nơi màcông nghiệp chế biến chưa phát triển, trình độ chế biến thấp Ở những nước này, tỷtrọng hàng nông sản xuất khẩu còn chiếm ở mức cao, do đó, nếu bị đánh thuế cao,
số lượng xuất khẩu sẽ không được nhiều, chắc chắn ảnh hưởng đến tổng sản lượngxuất khẩu, làm giảm doanh thu xuất khẩu Nhưng khi vào WTO, các nước đangphát triển, trong đó có Việt Nam, sẽ được hưởng những thành quả nhờ những vòngđàm phán đa phương trước đó của WTO về nông nghiệp Chẳng hạn, tại Vòng đàmphán Doha, các nước thành viên WTO cam kết đàm phán toàn diện về tất cả vấn đềcủa Hiệp định nông nghiệp, bao gồm việc tăng cường tiếp cận thị trường (mở rộnghạn ngạch thuế quan và giảm leo thang thuế quan đối với sản phẩm chế biến), giảm
và loại bỏ mọi dạng trợ cấp xuất khẩu, giảm đáng kể hỗ trợ trong nước Tuy nhiên,WTO cũng quy định: các nước đang phát triển không phải đưa ra các cam kết vềgiảm trợ cấp xuất khẩu (các nước công nghiệp phát triển phải cắt giảm 36% nguồnngân sách dành cho trợ cấp xuất khẩu nông phẩm trong vòng 6 năm, các nước đangphát triển nói chung phải cắt giảm 24% trong vòng 10 năm) Việt Nam cũng khôngphải cắt giảm hỗ trợ trong nước đối với nông dân (các nước công nghiệp phát triểnphải cắt giảm 20% mức hỗ trợ trong nước trong thời gian 6 năm, các nước đangphát triển khác là 13,3% trong vòng 10 năm) Theo Hiệp định nông nghiệp, các hạnchế về số lượng trong đó có gạo, nông sản khác sẽ được chuyển thành thuế quan vàcắt giảm dần Do đó, nếu trở thành thành viên WTO, Việt Nam sẽ có khả năng mởrộng xuất khẩu gạo và các mặt hàng nông sản khác sang các thị trường mới Mặtkhác, các sản phẩm nông sản xuất khẩu của các nước không phải là thành viên sẽphải chịu thuế suất cao do việc thuế quan hoá của các nước thành viên
Hàng dệt may
Việt Nam cũng sẽ được hưởng lợi từ cơ chế mới của WTO Tại Vòng đàmphán Uruguay, Hiệp định về hàng dệt - may được ký kết, thay thế cho Hiệp định đasợi Thực chất của Hiệp định đa sợi là các nước phát triển, nhất là Mỹ và EU đặt ra
cơ chế hạn ngạch nhằm bảo hộ công nghiệp trong nước, theo đó, hàng xuất khẩucủa các nước đang phát triển vào các nước này phải chịu 15 - 30% thuế suất, đặcbiệt là phải chịu hạn ngạch xuất khẩu Hiệp định dệt may đã quy định rõ chươngtrình nhất thể hoá các sản phẩm dệt may vào hệ thống thương mại đa biên Khi cácsản phẩm đã được nhất thể hoá thì không phải chịu sự hạn chế về số lượng nữa Do
Trang 26đó, khi trở thành thành viên của WTO, hàng dệt may của Việt Nam sẽ không phảichịu hạn ngạch hoặc được hưởng sự nới lỏng các hạn chế về số lượng đối với cácsản phẩm còn hạn ngạch Từ 1/1/2005, trong khuôn khổ WTO, đã bãi bỏ toàn bộhạn ngạch đối với nhập khẩu hàng dệt may từ các nước thành viên WTO Theo sốliệu của WTO, ngành dệt may có tổng doanh thu trung bình hàng năm khoảng 350
tỷ USD
- Ðối với những cơ hội do ưu thế cạnh tranh về giá cả, chi phí đem lại:
Khi tham gia vào WTO, doanh nghiệp Việt Nam sẽ tham gia vào sự phâncông lao động, sản xuất trong một thị trường mang tính toàn cầu Doanh nghiệpViệt Nam sẽ có ưu thế do giá cả rẻ, chi phí thấp (do lương nhân công thấp) Chẳnghạn, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều ưu thế về các mặt hàng sử dụng tay nghềtruyền thống, sử dụng lao động rẻ (ví dụ lao động nông nhàn, lao động học vấn thấpnên lương công nhân thấp), nguyên liệu sẵn có trong nước như hàng mây tre, thủcông mỹ nghệ, đồ gỗ ; hoặc các mặt hàng tận dụng được ưu đãi của thiên nhiên(mặt nước, biển, sông, hồ, ao, đầm để nuôi thuỷ hải sản ); khí hậu nhiệt đới chophép trồng được những loại cây cà phê, hạt tiêu, cao su, thanh long, dừa ; hoặc cácmặt hàng mang tính truyền thống, là đặc sản của địa phương, vùng miền (phở, mỳtôm, nước chấm, gia vị, khô mực, khô cá ) Một số mặt hàng tuy sử dụng nguyênliệu nhập khẩu như dệt may, da giày song cũng có thể tận dụng ưu thế chi phí laođộng rẻ, tiền lương thấp Ðồng thời, đây cũng là những mặt hàng mà đến nay nhiềunước phát triển không tập trung sản xuất nữa
1.2.1.2 Hưởng lợi từ các chính sách cải cách trong nước
a Nhờ việc Việt Nam tham gia vào WTO, thực thi chính sách mở cửa thịtrường, tự do hoá thương mại, nền kinh tế trong nước sẽ phải cải cách, mở cửa, tái
cơ cấu Nền hành chính sẽ được cải cách nhằm đáp ứng các yêu cầu công khai,minh bạch, dễ dự đoán của “luật chơi quốc tế", bộ máy quản lý hành chính nhànước sẽ trở nên gần dân hơn, trở thành một nền hành chính phục vụ dân, phục vụdoanh nghiệp, làm cho môi trường kinh doanh thông thoáng, tạo thuận lợi tối đa chodoanh nghiệp, đồng thời giảm thiểu các chi phí tốn kém của doanh nghiệp trong quátrình gia nhập, tiếp cận và tham gia thị trường
b Một khi các cam kết khi gia nhập WTO được thực hiện, một mặt quá trình
mở cửa, tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại, đầu tư minh bạch hoá chính sách sẽdần đáp ứng yêu cầu của luật chơi quốc tế, mặt khác tạo điều kiện cho chúng ta bổsung những nguồn lực mà trong nước còn thiếu, còn yếu như vốn, công nghệ, kỹnăng quản lý Các nhà sản xuất, kinh doanh trong nước sẽ được đặt trong môitrường cạnh tranh, năng động hơn; tiếp cận với công nghệ, trình độ, chất lượngquốc tế
Kết quả trên sẽ tạo ra động lực quan trọng giải phóng sức sản xuất trongnước, thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn tiềm năng sẵn có của chúng
ta như tài nguyên, lao động, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
1.2.1.3 Tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Trang 27a Về khía cạnh thị trường:
Khi tham gia vào hệ thống phân công lao động toàn cầu, tham gia vào thịtrường toàn cầu rộng lớn, Việt Nam trở thành địa điểm hấp dẫn các nhà đầu tư nướcngoài muốn tận dụng cơ hội đầu tư vào các ngành, lĩnh vực tạo ra hàng hoá để xuấtkhẩu hoặc phục vụ các nhà xuất khẩu Ðồng thời, khi các nhà đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam, sẽ tạo ra thị trường tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp trong nướcsản xuất ra (mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mua để làm nguyên liệucủa họ); tạo ra thị trường làm thuê, nhận gia công, chế tác, cung cấp linh kiện, cungcấp lao động cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tạo việc làm cho cácdoanh nghiệp trong nước
b Về khía cạnh pháp lý:
Khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và tham gia WTO nói riêng,thực chất Việt Nam đã chấp nhận thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thịtrường, thực hiện thuận lợi hoá, tự do hoá thương mại và đầu tư giữa các quốc gia.Việc thực hiện các cam kết này cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam (hoặc bất cứmột quốc gia nào muốn gia nhập WTO) cần phải có một hệ thống luật pháp minhbạch, phù hợp với thông lệ của WTO, bao gồm cả về thương mại hàng hoá, thươngmại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Hệ thống luật pháp và hệ thống cơ chế chínhsách minh bạch, tiên liệu được sẽ làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, môitrường kinh doanh của Việt Nam, làm cho nhà đầu tư yên tâm hơn khi tiến hành đầu
tư, kinh doanh ở Việt Nam
1.2.1.4 Tiếp thu công nghệ, kỹ năng quản lý, quản trị kinh doanh, tiếp thị, xây dựng thương hiệu của nước ngoài
Khi tham gia WTO, tham gia thị trường toàn cầu, các luồng vốn đầu tư khoahọc công nghệ, nguồn nhân lực trong nước có cơ hội giao lưu, tham gia vào sự phâncông lao động toàn cầu Trong sự giao lưu và phân công, phân công lại mang tínhthị tưường như vậy, tất yếu thị trường trong nước được tiếp nhận những yếu tố tiêntiến, vượt trội về khoa học công nghệ, khoa học quản lý, tiếp thị, đồng thời nguồnnhân lực trong nước được đào tạo, được cọ xát, học hỏi tiếp thu những thành quả,tinh hoa của các nền kinh tế phát triển hơn
Trực tiếp hơn, thông qua quá trình đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài (khi
họ đem theo vốn, đem theo bí quyết, công nghệ sản xuất mới, phương thức tổ chứccác kênh phân phối, tiếp thị, cách thức xây dựng thương hiệu, quảng bá nhãn hiệuhàng hoá, sản phẩm vào Việt Nam), các doanh nghiệp trong nước nói chung vàđội ngũ lãnh đạo, quản lý, nhân viên nói riêng có thể học hỏi, rút tỉa, mô phỏng cáccông nghệ sản xuất, dịch vụ của nước ngoài; đồng thời rèn luyện, học hỏi được kỹnăng, kỹ xảo, bí quyết về quản trị doanh nghiệp, về tiếp thị, xây dựng và quảng báthương hiệu
1.2.2 Khó khăn và thách thức
1.2.2.1 Nguy cơ bị mất thị phần, mất thị trường
Trang 28Việc gia nhập WTO không chỉ đem lại thuận lợi, cơ hội cho các doanhnghiệp Việt Nam mà còn đưa lại những thách thức, khó khăn rất lớn đối với cácdoanh nghiệp Những cơ hội, những điều kiện có thể đem lại thuận lợi cho cácdoanh nghiệp Việt Nam thì ngược lại cũng có thể đem lại những cơ hội, điều kiệncho các doanh nghiệp nước ngoài, từ đó tạo ra những khó khăn, thách thức đối vớicác doanh nghiệp Việt Nam Cụ thể:
Thứ nhất, khi Việt Nam gia nhập WTO, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội để
thúc đẩy bán hàng, tăng doanh số xuất khẩu vào thị trường các nước thành viênWTO: nhờ tư cách thành viên của WTO, thị trường xuất khẩu được mở rộng, khônggian thương mại được mở rộng Ngược lại, khi Việt Nam gia nhập WTO, đươngnhiên các thành viên WTO cũng có thêm một thị trường mới và các thành viên nàycũng có cơ hội thúc đẩy bán hàng, xuất khẩu hàng hoá của họ vào Việt Nam
Thứ hai, khi gia nhập WTO, việc đầu tiên Việt Nam (cũng như bất kỳ quốc
gia hay vùng lãnh thổ nào muốn gia nhập WTO) phải làm chính là đàm phán vớicác thành viên của WTO về cắt giảm thuế quan, loại bỏ các hàng rào phi thuế quannhằm tạo điều kiện cho hàng hoá của các thành viên WTO thâm nhập vào Ðể thựchiện các cam kết khi đàm phán gia nhập WTO, hàng rào thuế quan phải hạ thấpxuống, đồng thời các biện pháp phi thuế như cấm nhập, hạn chế số lượng nhậpkhẩu, quy định phải có giấy phép cũng không được áp dụng nữa Lúc này, thịtrường được "mở cửa", doanh nghiệp nước ngoài được tự do tham gia buôn bán,cung cấp hàng hoá như doanh nghiệp trong nước mà không bị phân biệt đối xử.Hàng hoá từ các nước khác sẽ vào Việt Nam dễ dàng Trong bối cảnh này, cácdoanh nghiệp trong nước sẽ lâm vào tình trạng bị cạnh tranh bởi thị trường sẽ cóthêm nhiều người cung cấp hàng hoá, dịch vụ
Song điều đáng nói ở đây chính là những nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụnước ngoài thường có tiềm lực tài chính mạnh hơn, có hàng hoá chất lượng tốt hơn,mẫu mã đẹp hơn, có công nghệ phân phối, tiếp thị tốt hơn Do đó, trong cuộc cạnhtranh để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng, doanh nghiệp nước ngoài
có sức mạnh hơn sẽ dễ "thắng" được các doanh nghiệp trong nước Từ đó, nguy cơ
bị mất thị phần, mất thị trường trong nước, "thua" ngay trên "sân nhà" là nguy cơ cóthật Tình trạng này xảy ra sớm hay muộn, xảy ra phỗ biến hay không tuỳ thuộc vàonăng lực cạnh tranh, chống đỡ của doanh nghiệp trong nước
Trong cuộc cạnh tranh giành thị phần, thị trường, dự đoán khu vực dịch vụ sẽquyết liệt hơn Nguyên nhân là hiện nhiều lĩnh vực sản xuất mà các doanh nghiệpViệt Nam có ưu thế như dệt may, da giày, cơ khí nhỏ thì các nước công nghiệpphát triển không tập trung sản xuất nữa, do đó, họ không đặt ra mục tiêu chiếm lĩnh
và cạnh tranh trên thị trường nội địa về nhóm sản phẩm này Một số sản phẩm tronglĩnh vực sản xuất như ô tô, đồ gia dụng, điện điện tử, điện lạnh hiện cũng đã đượcsản xuất, lắp ráp ở trong nước rồi Do vậy, đích ngắm trong thời gian tới của cácnhà đầu tư nước ngoài muốn chiếm lĩnh và cạnh tranh giành giật thị trường nội địachính là các lĩnh vực dịch vụ mà hiện nay nhà nước còn nắm giữ, chưa mở cửanhiều hoặc các lĩnh vực dịch vụ còn nhiều tính chất độc quyền như ngân hàng, viễnthông Ðây cũng là những lĩnh vực mà thị trường nội địa còn nhiều tiềm năng phát
Trang 29triển, đem lại lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời cũng là cáclĩnh vực mà các doanh nghiệp nước ngoài có ưu thế cạnh tranh
Hiện nay sự đóng góp của ngành dịch vụ trong nền kinh tế của các nước trênthế giới nói chung và các nước thành viên WTO ngày càng lớn do đó khi tiến hànhđàm phán và đi đến thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) các nước thànhviên đã dành sự quan tâm rất lớn đến lĩnh vực dịch vụ và kết quả là kể từ khi WTOđược thành lập, khái niệm thương mại truyền thống đã không chỉ còn bao hàmthương mại hàng hoá mà đã chuyển sang bao hàm cả thương mại dịch vụ và mộtphần liên quan đến đầu tư, sở hữu trí tuệ Tỷ trọng đóng góp của dịch vụ trong GDP
ở Uganda là 40%, Zambia là 50%, ở Hàn Quốc, Brazil là hơn 60%, ở Mỹ là 80%.Bình quân chung của thế giới là 68% ở Việt Nam, tính đến đầu năm 2005, tỷ trọngdịch vụ trong nền kinh tế mới đạt 38%
Trong số các loại hình dịch vụ theo phân loại của WTO (như dịch vụ tàichính - ngân hàng, dịch vụ viễn thông, dịch vụ phân phối, dịch vụ kinh doanh (nhưdịch vụ kế toán và kiểm toán; dịch vụ pháp lý; dịch vụ máy tính và các dịch vụ liênquan ), dịch vụ vận tải ), các ngành dịch vụ bị tác động mạnh nhất khi Việt Namthực hiện các cam kết quốc tế và gia nhập WTO là dịch vụ ngân hàng, viễn thông,phân phối
Tác động đối với dịch vụ ngân hàng:
Nguy cơ và thách thức đối với lĩnh vực dịch vụ ngân hàng Việt Nam khi gianhập WTO thể hiện ở hai khía cạnh chủ yếu: Gián tiếp và trực tiếp
- Gián tiếp:
Gia nhập WTO đòi hỏi Việt Nam phải mở cửa thị trường, mở cửa thươngmại hàng hoá, đầu tư Quá trình cắt giảm thuế, mở cửa thị trường và thực thi cáccam kết về đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia sẽ làm cho các doanh nghiệp, nhất
là các tổng công ty nhà nước kinh doanh về phân bón, sắt thép, đường, giấy chịutác động rất mạnh Hiện đây cũng là những khách hàng lớn của các ngân hàng,chiếm tỷ trọng lớn trong dư nợ tín dụng của các ngân hàng Vì vậy, khi các kháchhàng này gặp khó khăn, thua lỗ, phá sản sẽ kéo theo sự thua lỗ, phá sản của cácngân hàng
- Trực tiếp: Thách thức trực tiếp đối với các ngân hàng Việt Nam thể hiện ởnhững khía cạnh:
+ Việc mở cửa thị trường theo các quy định của WTO làm tăng số lượng cácngân hàng nước ngoài hoạt động ở thị trường nội địa và tạo ra áp lực cạnh tranh trựctiếp về số lượng đối thủ trên thị trường Ðặc biệt, sự cạnh tranh của các đối thủ nướcngoài sẽ khác với các đối thủ trong nước ỏ chỗ: tiềm lực tài chính của các ngânhàng nước ngoài mạnh (vốn lớn), trình độ quản trị kinh doanh ngân hàng bài bản vàcao hơn hẳn, trình độ công nghệ về dịch vụ tiên tiến hơn nhiều
Hiện nay ở Việt Nam có 4 ngân hàng liên doanh và 27 chi nhánh ngân hàngnước ngoài Theo lộ trình cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ,ngay từ năm 2006 trở đi, Việt Nam bắt đầu phải gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham
Trang 30gia cổ phần của các tổ chức tài chính của Hoa Kỳ (Xem thêm phần tìm hiểu cam kếtcủa Việt Nam trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ); theo lộ trình camkết trong Hiệp định khung về hợp tác thương mại dịch vụ giữa các nước ASEAN(AFAS), đến năm 2008 Việt Nam sẽ phải dỡ bỏ các hạn chế về tỷ lệ tham gia vốn,
bỏ các khống chế về giá trị giao dịch, dịch vụ của các ngân hàng ASEAN Ðến năm
2010, các ngân hàng Hoa Kỳ được phép thành lập ngân hàng con 100% vốn Hoa
Kỳ ở Việt Nam, tức là các ngân hàng Mỹ được đối xử tương tự như các ngân hàngtrong nước Ðồng thời, từ năm 2006 trở đi, Việt Nam cũng bắt đầu thực hiện cáccam kết về mở cửa thị trường theo các cam kết khi gia nhập WTO đối với các thànhviên WTO Nói cách khác, chỉ trong vòng 5 năm tới, số lượng ngân hàng nướcngoài hoạt động tại Việt Nam sẽ tăng lên nhanh chóng Việc xuất hiện các ngânhàng nước ngoài sẽ làm thay đổi mạnh bức tranh thị phần, thị trường tiền tệ
+ Khi hội nhập, mở cửa thị trường, thực thi các cam kết trong khuôn khổWTO, các ngân hàng Việt Nam gặp nhiều bất lợi do những yếu kém của bản thâncác ngân hàng: năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam thấp do khả năngtài chính yếu kém, chất lượng và hiệu quả kinh doanh kém, trình độ quản trị chưachuyên nghiệp, công nghệ lạc hậu, chủng loại dịch vụ, sản phẩm nghèo nàn, trình
độ và chất lượng nguồn nhân lực còn bất cập so với yêu cầu
Về quy mô, hiện nay các ngân hàng lớn nhất Việt Nam (là Ngân hàng Đầu tư
và phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoạithương, Ngân hàng Công thương) có vốn tương đương với một ngân hàng cỡ trungbình của khu vực và một ngân hàng nhỏ ở các nước tiên tiến Mức vốn điều lệ trungbình của các doanh nghiệp ngân hàng Việt Nam này tính đến năm 2005 đạt khoảng5.000 tỷ đồng, hay khoảng 300 triệu USD Quy mô của các ngân hàng cổ phần tưnhân lớn nhất Việt Nam vào khoảng 300 tỷ đồng hay gần 20 triệu USD
Về năng lực tài chính và chất lượng tài sản của các ngân hàng trong nước,hiện nợ xấu của các ngân hàng quốc doanh trong nước giảm từ 14,9% xuống còn từ2,9 - 7,8%; nợ xấu của các ngân hàng cổ phần giảm từ 20% xuống còn 2,5% - 4,5%
Hệ số an toàn vốn tối thiểu mới đạt 4 - 5% so với chuẩn quốc tế là 8% Tỷ lệ sinhlời bình quân trên vốn tự có đạt khoảng 6% so với mức 13-15% của các ngân hàngcác nước trong khu vực
Về sản phẩm, dịch vụ, các ngân hàng trong nước hiện chủ yếu vẫn trong tìnhtrạng "độc canh" dịch vụ tín dụng trong khi tỷ trọng dịch vụ phi tín dụng ở các ngânhàng nước ngoài thường chiếm đến 40 - 50% Các dịch vụ ngân hàng hiện đại nhưngân hàng điện tử, môi giới kinh doanh, đầu tư chưa phát triển hoặc thậm chí mới
sơ khai Trong khi đó, các ngân hàng nước ngoài có ưu thế mạnh về các dịch vụ nhưgiao dịch thanh toán và chuyển tiền, dịch vụ tư vấn, môi giới kinh doanh tiền tệ,phát triển doanh nghiệp
Dự báo, trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng phục vụ công ty (tức dịch vụ tíndụng của ngân hàng với các doanh nghiệp), các ngân hàng nước ngoài sẽ cạnh tranhchủ yếu ở khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp tư nhân chứkhông phải là khu vực các DNNN Nguyên nhân là về lâu dài, số lượng các DNNN
Trang 31ngày càng giảm đi do cổ phần hoá, trong khi số lượng các doanh nghiệp, công ty tưnhân ngày càng phát triển Hơn nữa, các DNNN, nhất là các tổng công ty thườngđược ưu đãi trong vay vốn ngân hàng, hoạt động lâu trong môi trường bao cấp lâunên không có sức cạnh tranh, dễ phát sinh nợ đọng, nợ xấu
Các dịch vụ ngân hàng phục vụ cá nhân, dịch vụ ngân hàng bán lẻ cũng sẽ làlĩnh vực cạnh tranh khốc liệt vì trong tương lai, đây là những lĩnh vực rất phát triển,đồng thời cũng là các lĩnh vực mà các ngân hàng nước ngoài cũng có nhiều kinhnghiệm hơn, nhiều loại hình sản phẩm hơn, trình độ công nghệ tiên tiến hơn trongkhi lại là lĩnh vực yếu của các ngân hàng nội địa (vốn hoạt động tín dụng, cho vay
là chủ yếu), chẳng hạn như dịch vụ banking home; thẻ ATM Khi các ràng buộc vềviệc nhận tiền gửi VND, phát hành thẻ tín dụng, đặt máy rút tiền tự động (ATM)được nới lỏng, dỡ bỏ sẽ tạo áp lực cạnh tranh rõ rệt, mạnh mẽ, khi đó thị phần củacác ngân hàng trong nước sẽ bị thu hẹp dần Số liệu khảo sát do UNDP Việt Namphối hợp với Bộ Kế hoạch và đầu tư tiến hành và công bố hồi tháng 8/2005 cho hay,42% doanh nghiệp và 50% người dân được hỏi cho biết, khi mở cửa thị trường tàichính, họ sẽ lựa chọn vay tiền tại các ngân hàng nước ngoài chứ không phải là ngânhàng nội địa Ngay cả dịch vụ gửi tiền tiết kiệm vốn là "đặc sản" và là dịch vụ chủyếu của các ngân hàng nội địa hiện nay thì kết quả khảo sát cũng cho hay, 50%doanh nghiệp và 62% người dân được hỏi cho rằng họ sẽ lựa chọn ngân hàng nướcngoài để gửi tiền tiết kiệm
Về công nghệ, trình độ công nghệ ngân hàng trong nước còn thấp, hệ thốngthanh toán nội bộ yếu, hệ thống kế toán còn thiếu minh bạch, chưa xác định đượcchính xác tình trạng chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh doanh Hệ thống quản lý tậptrung, hệ thống quản lý rủi ro, thanh tra, giám sát theo chuẩn mực quốc tế chưađược thiết lập Thanh toán với khách hàng và thanh toán liên ngân hàng thường kéodài, thủ tục rườm rà, phiền hà khiến người dân, doanh nghiệp thường sử dụng tiềnmặt để thanh toán Thủ tục gửi, rút tiền còn phiền toái, chậm chạp
Về chất lượng nguồn nhân lực, đội ngũ lao động ngành ngân hàng đông vềlượng nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ thấp, nhất là cán bộ quản lý
Tác động đối với dịch vụ viễn thông:
Thách thức đối với các doanh nghiệp viễn thông khi Việt Nam gia nhậpWTO thể hiện ở một số khía cạnh sau:
a Về thị trường:
Thị phần của các doanh nghiệp viễn thông sẽ bị chia sẻ đáng kể khi các tậpđoàn viễn thông lớn xâm nhập vào Việt Nam Số lượng các nhà kinh doanh dịch vụviễn thông nước ngoài có mặt tại Việt Nam sẽ tăng lên dần theo lộ trình cam kết mởcửa thị trường mà Việt Nam đã ký với Hoa Kỳ và trong đàm phán gia nhập WTO
b Về năng lực cạnh tranh:
Mặc dù trong hơn 10 năm qua, ngành viễn thông Việt Nam có tốc độ pháttriển nhanh song so với các nước tiên tiến, trình độ công nghệ, vốn, kinh nghiệmquản lý của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam vẫn còn khá lạc hậu trong khi
Trang 32đó yêu cầu về mở cửa thị trường viễn thông chủ yếu là do các nước công nghiệpphát triển (vốn có tiềm lực và kinh nghiệm cạnh tranh quốc tế) yêu cầu
c Về nguồn nhân lực:
Hiện nay lực lượng lao động trong các doanh nghiệp viễn thông, nhất là cácDNNN còn khá đông, năng suất lao động thấp, trình độ cán bộ quản lý còn hạn chế.Nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp viễn thông, đặc biệt là trong các doanhnghiệp hoạt động kinh doanh, sản xuất phần mềm, đòi hỏi kỹ năng, trình độ chuyênmôn cao, nhiều chất xám Tuy nhiên, với cơ chế đào tạo, tuyển dụng, đãi ngộ nhưhiện nay các doanh nghiệp nhà nước khó có thể thu hút và duy trì đội ngũ cán bộ có
đủ năng lực để cạnh tranh với các tập đoàn viễn thông lớn của nước ngoài
Dự đoán, cạnh tranh trong dịch vụ viễn thông chủ yếu diễn ra ở dịch vụ điệnthoại di động và các dịch vụ giá trị gia tăng khác Một số dịch vụ bưu chính hiện đạicũng sẽ tiếp tục có áp lực cạnh tranh như dịch vụ chuyển phát nhanh Hiện nay,mặc dù theo lộ trình cam kết, các doanh nghiệp Mỹ đã được phép thành lập công tyliên doanh với vốn góp 50% để kinh doanh dịch vụ internet song đến thời điểm nàyvẫn chưa có nhà đầu tư Mỹ nào tham gia thị trường này Nguyên nhân là do nhu cầuthị trường và mức tiêu thụ dịch vụ này ở Việt Nam còn chưa cao và đặc biệt là do
cơ sở hạ tầng viễn thông (đường truyền internet tốc độ cao) còn yếu Trong tươnglai gần, dự đoán khi đường truyền tốc độ cao phát triển mạnh, các dịch vụ giá trị giatăng như gameonline và các loại hình giải trí trực tuyến như âm nhạc, xổ số quamạng sẽ phát triển mạnh, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường.Các dịch vụ thương mại khác dựa trên nền tảng viễn thông để tiến hành dịch vụthương mại điện tử như dịch vụ đào tạo trực tuyến, phân phối qua mạng, bán lẻ quamạng cũng sẽ nhanh chóng được du nhập và phát triển
Tác động đối với dịch vụ phân phối:
Lĩnh vực phân phối theo định nghĩa của WTO bao gồm bốn (4) nhóm dịch
vụ chính là:
+ dịch vụ đại lý uỷ quyền;
+ dịch vụ bán buôn;
+ dịch vụ bán lẻ;
+ nhượng quyền (franchising)
Riêng nhóm dịch vụ nhượng quyền ở Việt Nam còn được gọi là "nhượngquyền thương mại"
Cam kết quốc tế về mở cửa thị trường trong lĩnh vực phân phối của ViệtNam bao gồm các cam kết trong khuôn khổ các hiệp định thương mại song phương,trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và ASEAN cộng(ASEAN với các đối tác) và trong khuôn khổ đàm phán gia nhập WTO
Theo các cam kết hiện nay của Việt Nam, dịch vụ phân phối đã được mở cửacho các doanh nghiệp Mỹ, Nhật Bản (theo các cam kết trong Hiệp định thương mạiViệt Nam - Hoa Kỳ và Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt Nam - Nhật Bản)
Trang 33Trong khuôn khổ đàm phán gia nhập WTO, dịch vụ phân phối sẽ được tiếp tục mởcửa cho các nước thành viên khác của WTO khi Việt Nam gia nhập WTO Trong
số 10 công ty bán lẻ lớn nhất thế giới xếp theo doanh số có 3 công ty của Mỹ, 5công ty của Ðức, 2 công ty của Nhật Bản, trong đó đứng đầu là Wal -Mart (Mỹ),thứ hai là Metro Int (Ðức) Hiện nay, Bộ Kế hoạch và đầu tư đã cấp phép cho 3 tậpđoàn kinh doanh siêu thị nước ngoài là Metro Cash & Carry (Ðức); Big C (Pháp);Parkson (Malaysia) Metro đã được cấp phép bán buôn, chưa được cấp phép bán lẻ.Big C đã được cấp phép bán lẻ
Thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh dịch vụphân phối hiện nay chính là thời gian cho các doanh nghiệp thích nghi với điều kiệncạnh tranh quốc tế và mở cửa thị trường không còn nhiều Hơn nữa, các loại hìnhphân phối hiện đại là thế mạnh của các doanh nghiệp nước ngoài Dự đoán, lĩnh vựcphân phối sẽ hứng chịu nhiều tác động và cạnh tranh khốc liệt từ phía các doanhnghiệp nước ngoài Có thể nói sự cạnh tranh với các tập đoàn kinh doanh phân phốinước ngoài là cuộc đua không cân sức của các doanh nghiệp Việt Nam do cácdoanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh, tích luỹ được nhiều kinhnghiệm quản lý, kinh doanh, có quan hệ bạn hàng tốt và trực tiếp với nhiều nhà sảnxuất hàng tiêu dùng lớn trên thế giới Việc xuất hiện các trung tâm siêu thị lớn củacác tập đoàn siêu thị nước ngoài có thể dẫn tới việc phá sản hàng loạt các doanhnghiệp kinh doanh siêu thị trong nước cũng như hàng triệu hộ kinh doanh bán lẻnhỏ
Việc kinh doanh của các tập đoàn siêu thị lớn của nước ngoài trên thị trườngViệt Nam cũng sẽ dẫn đến sự chi phối, khống chế của các doanh nghiệp này đối vớimột số các doanh nghiệp sản xuất trong nước, dẫn đến sự lệ thuộc về mẫu mã(thông qua các đơn đặt hàng), về nguồn nguyên liệu, về tài chính, về đầu ra Sự lệthuộc này có thể dẫn đến các nguy cơ thôn tính, mua lại cơ sở sản xuất của các tậpđoàn siêu thị đối với các doanh nghiệp trong nước sản xuất hàng tiêu dùng, đồ giadụng, trang trí nội thất, may mặc
1.2.2.2 Nguy cơ bị thu hẹp sản xuất, chuyển đổi sang lĩnh vực khác
Từ chỗ bị cạnh tranh bởi hàng ngoại nhập, các doanh nghiệp trong nước sẽbuộc phải sắp xếp lại, tổ chức lại sản xuất, thay đổi nhân sự để làm sao hàng hoásản xuất ra có giá cả, chất lượng, mẫu mã tốt hơn, rẻ hơn trước để cạnh tranh đượcvới hàng hoá nhập khẩu
Trong trường hợp đã tổ chức lại sản xuất, nhân sự nhưng hàng hoá sản xuất
ra vẫn không cạnh tranh được, thị phần ngày càng giảm đi, hàng hoá sản xuất rakhông có thị trường tiêu thụ thì đương nhiên doanh nghiệp buộc phải thu hẹp sảnxuất, phải tính toán lại chiến lược sản xuất, kinh doanh, có thể phải chuyển sang sảnxuất mặt hàng khác, thậm chí nếu hàng hoá, dịch vụ sản xuất ra không tiêu thụđược, không trả được vốn vay ngân hàng thì doanh nghiệp có thể bị thua lỗ, phásản
Nguy cơ này cũng rất rõ ràng bởi vì các doanh nghiệp trong nước thường yếukém hơn so với các doanh nghiệp nước ngoài hoặc có yếu tố nước ngoài như doanh
Trang 34nghiệp liên doanh, doanh nghiệp thuê chuyên gia nước ngoài quản lý về năng lựcquản trị, trình độ tiếp thị Nguy cơ này cũng xuất phát từ chỗ bản thân hàng hoá,dịch vụ của doanh nghiệp trong nước kém chất lượng hơn so với các doanh nghiệpnước ngoài về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã, về tên tuổi, thương hiệu
Trang 35CHƯƠNG 2: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VKTTĐPN
DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA HỘI NHẬP WTO
2.1. Tổng quan về vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Ðông Nam Bộ (ÐNB) là vùng đất mới, song có tốc độ tăng trưởng kinh tếcao, phát triển toàn diện so với nhiều vùng khác của đất nước
Từ thế kỷ 19 về trước, vùng này còn hoang sơ, kinh tế và dân cư tập trungchủ yếu ở phía Ðông Giao thông đối ngoại chủ yếu qua cảng "Cù lao phố" Cuốithế kỷ 19, sau khi Pháp xâm chiếm Việt Nam, mở rộng thương cảng Sài Gòn, dân
cư và kinh tế phát triển mạnh về hướng Tây, hình thành Sài Gòn là trung tâm kinh
tế, đầu mối và cửa ngõ giao thương với bên ngoài, chủ yếu là xuất khẩu gạo và nông
- thủy sản Từ đầu thế kỷ 20 sản xuất hàng hóa phát triển mạnh, đã hình thành rõ nétnhững chức năng đặc trưng của vùng Nam Bộ: miền Tây sản xuất lúa gạo và thựcphẩm, miền Ðông - cây công nghiệp và từng bước phát triển công nghiệp (CN) SàiGòn trở thành trung tâm nhiều chức năng bao gồm: thương mại - dịch vụ (TM -DV) và công nghiệp, cửa ngõ và đầu mối giao thương, khoa học kỹ thuật, giáo dụcđào tạo, thủ phủ hành chính - chính trị, có quan hệ hữu cơ với các tỉnh miền Nam,ảnh hưởng mạnh đến cả phía Nam Ðông Dương
Từ quá trình lịch sử phát triển, từ thực tiễn diễn biến trong những năm gầnđây và qua các công trình điều tra, nghiên cứu khu vực ÐNB nói riêng, toàn vùngNam Bộ nói chung cho thấy nổi lên một địa bàn kinh tế quan trọng, bao gồm các đôthị và trung tâm công nghiệp chủ yếu của Nam Bộ như TP.HCM, Bình Dương,Ðồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu Các thành phố, thị xã, các khu công nghiệp gắn kếtvới nhau về tổ chức lãnh thổ và phân bố dân cư, về kết cấu hạ tầng, về cơ cấu kinh
tế Sự xuất hiện một vùng kinh tế đặc thù là điều tất yếu và đã đến độ chín mùi Ðây
là vùng có những tiềm năng, lợi thế to lớn và đang có thời cơ, cùng với vị trí địa lýkinh tế độc đáo đang mở ra triển vọng mới cho sự tăng trưởng nhanh, phát triểntoàn diện, làm động lực cho sự phát triển khu vực phía Nam và góp phần thúc đẩyphát triển kinh tế cả nước, với những hạt nhân tạo vùng là TP.HCM, Biên Hòa, ThủDầu Một và Thành phố Vũng Tàu
Ðể tạo điều kiện cho sự phát triển năng động, có định hướng trong chiến
lược chung của đất nước, Chính phủ đã quyết định cho xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, hình
thành chương trình và danh mục các dự án ưu tiên đầu tư, làm căn cứ để thu hút vốnđầu tư trong và ngoài nước Theo phương hướng phát triển kinh tế - xã hội toàn
diện, đồng bộ, trọng điểm quy hoạch của vùng này là phát triển công nghiệp, đô thị
Trang 36cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội - đô thị và nguồn nhân lực thích ứng, đủ sức đảm nhận vai trò động lực thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.2. Đánh giá hiện trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.2.1 Đánh giá chung
Trong điều kiện kinh tế và công nghiệp phát triển nhanh, cơ cấu ngành kinh
tế trong vùng ÐNB và VKTTĐPN đã có sự chuyển biến nhất định theo hướng tăngnhanh tỷ trọng công nghiệp, giảm tương đối tỷ trọng nông nghiệp theo xu hướngchung của quy hoạch
Tất cả các tỉnh, thành phố trong vùng đều coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế làvấn đề chiến lược của mình để thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ phát triển vùng vàđặc thù phát triển các tỉnh trong vùng Thời kỳ 2000 - 2008 cơ cấu kinh tế của vùng
có sự chuyển dịch khá nhanh Các tỉnh trong vùng đều chú trọng phát triển nôngnghiệp và nông thôn trong quá trình thực hiện chính sách công nghiệp hóa, hiện đạihóa Ðã xuất hiện một số vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn, có mốiliên kết với công nghiệp chế biến và xuất khẩu Mặc dù nông nghiệp trong vùng vẫntăng khá, bảo đảm cung cấp hàng nông sản cho công nghiệp và xuất khẩu, nhưng docông nghiệp và dịch vụ tăng nhanh nên tỷ trọng tương đối của nông nghiệp trongGDP trên địa bàn đã giảm bớt và đây là xu hướng lành mạnh Năm 2000 tỷ trọngnông lâm ngư trong GDP của vùng VKTTĐPN còn chiếm tới 12,5% đến năm 2008chỉ còn 8,17%
Một trong những thành công đáng kể của tất cả các địa phương trong vùng làtrong nhiều năm qua tỷ trọng công nghiệp đã tăng đáng kể, một lực lượng lớn laođộng đã được thu hút vào khu vực phát triển công nghiệp và dịch vụ tạo nhân tốthúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế Việc đẩy mạnh thực hiện các chủ trươngphát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng trong các quy hoạch các địa phương vàtrong quy hoạch công nghiệp và kết cấu hạ tầng được thông qua từ sau 2000 đãvạch ra định hướng đúng trong phát triển, đặc biệt là sự khởi sắc của nhiều khucông nghiệp trong vùng
Khu vực dịch vụ vẫn tăng nhanh hơn nhịp độ tăng trưởng chung của GDP,góp phần gia tăng khả năng lan toả tác động tích cực của VKTTĐPN Tốc độ tăngbình quân khu vực dịch vụ 2000 - 2008 của vùng đạt 19,5 (trong khi tốc độ tăngGDP là 18,93%)
Tuy vậy, tỷ trọng khu vực dịch vụ của VKTTĐPN có xu hướng bình ổn làđiều rất đáng băn khoăn Qua số liệu tính toán cho thấy tỷ lệ dịch vụ củaVKTTĐPN năm 2000 là 37,84%, năm 2008 là 38,53%, trong đó ở TP.HCM tỷ lệ
Trang 37này là 53,62% và 53,62% tương ứng, Ðồng Nai là 23,62% và 24,55%, và BìnhDương là 23,69% và 24,67% Ở đây có vấn đề phải xem xét lại về phương phápthống kê mảng dịch vụ trong hệ thống tài khoản SNA Tuy nhiên, sự khá bình ổn tỷtrọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu GDP do sự tăng trưởng các ngành dịch vụkhông tương ứng với tốc độ tăng trưởng công nghiệp, là dấu hiệu bất hợp lý trong
cơ cấu kinh tế VKTTĐPN Nếu xu thế này không được điều chỉnh kịp thời trên cơ
sở các chính sách ưu tiên đầu tư thúc đẩy phát triển mạnh thương mại, dịch vụ, dulịch, dịch vụ tài chính ngân hàng, dịch vụ vận tải, bưu điện thì các yếu tố bất lợicho phát triển kinh tế của vùng sẽ nảy sinh tiếp tục làm trì hoãn tốc độ tăng trưởngcông nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung của vùng
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp
2.2.2.1 Tăng trưởng công nghiệp
Năm 2008, GTSX công nghiệp trên địa bàn VKTTĐPN đạt 433225 tỷ đồng(giá so sánh 1994) Trong giai đoạn 2005 - 2008, khu vực công nghiệp trên địa bànVKTTĐPN đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất khá cao, bình quân 17,67%/năm,cao hơn so với tốc độ tăng chung của công nghiệp cả nước trong cùng giai đoạn là14,07%
Trong các thành phần kinh tế trên địa bàn, khu vực kinh tế trong nước ngoàinhà nước đạt được tốc độ tăng trưởng GTSX công nghiệp cao nhất: bình quân giaiđoạn 2005 - 2008, kinh tế tập thể đạt tốc độ tăng 44,39%, kinh tế tư nhân là26,42%; kế đến là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 19,37%; khu vực cótốc độ tăng thấp nhất là khu vực kinh tế nhà nước, chỉ đạt tốc độ tăng 2,83%, thấphơn mức tăng trưởng của kinh tế cá thể (9,93%/năm)
Trong giai đoạn 2000 - 2008, cả 3 ngành công nghiệp lớn trên địa bàn làcông nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến; và sản xuất, phân phối điện, nước đềuđạt được tốc độ tăng trưởng GTSX cao hơn so với cả nước Trong đó, trong 3 năm
2005 – 2008, công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước đạt được tốc độ tăngtrưởng GTSX bình quân là 9,79%; công nghiệp chế biến đạt được tốc độ tăngtrưởng GTSX bình quân là 19,41% và công nghiệp khai thác có tốc độ tăng trưởngthấp hơn cả, 7,89%
2.2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp
Với tốc độ tăng trưởng khá cao trong các khu vực kinh tế, quy mô lớn, tỷtrọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong cơ cấu GTSX côngnghiệp trên địa bàn Vùng đã tăng từ mức 41,76% năm 2000 lên 50,62% năm 2008;
tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước cũng tăng từ mức 24,13% lên 28,43%;
Trang 38trong khi đó, tỷ trọng của khu vực kinh tế nhà nước liên tục giảm sút, từ mức34,11% xuống còn 18,63% trong cùng thời điểm.
Do có tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong các ngành công nghiệp trên địa bàn,
tỷ trọng của công nghiệp khai thác trong tổng GTSX công nghiệp của Vùng đã
giảm từ mức 19,49% năm 2000 xuống còn 8,58% năm 2008 Tuy nhiên, tỷ trọngGTSX của ngành này trong Vùng vẫn cao hơn nhiều so với tỷ trọng của ngànhtrong cả nước
Ngành công nghiệp chế biến, với tốc độ tăng trưởng GTSX cao hơn so với
tốc độ tăng GTSX công nghiệp chung trên địa bàn nên cũng gia tăng về tỷ trọng: từchổ chiếm 75,49% tổng GTSX công nghiệp trên địa bàn Vùng năm 2000 thì năm
2008 đã chiếm 86,76% Trên bình diện cả nước, tỷ trọng GTSX công nghiệp chếbiến của VKTTĐPN so với GTSX công nghiệp chế biến cả nước cũng tăng khámạnh từ mức 57,43% năm 2000 lên 65,15% năm 2008
Nếu xét về giá trị sản lượng trong cơ cấu công nghiệp thì 15 ngành côngnghiệp cấp 1 (theo phân ngành của thống kê) có vị trí được xếp theo thứ tự sau đây:
1 Chiếm tỷ trọng cao nhất trong GTSX công nghiệp chế biến trong
VKTTĐPN là ngành chế biến thực phẩm, đồ uống Năm 2008, ngành chiếm
17,39% GTSX công nghiệp chế biến trên địa bàn và chiếm 52,79% GTSX củangành trong cả nước Tuy nhiên, trên địa bàn Vùng, ngành này đang có xu hướnggiảm về tỷ trọng (năm 2000 chiếm 19,29% GTSX công nghiệp chế biến trên địabàn
Công nghiệp sản xuất rượu, bia, nước giải khát được phát triển rộng rãi ở tất
cả các tỉnh nên đang có tình trạng khó tiêu thụ sản phẩm Tổng công suất các nhàmáy bia của VKTTĐPN đạt trên 380 triệu lít/năm (chiếm 37,2% tổng công suất cácnhà máy bia trong cả nước) với các doanh nghiệp lớn như công ty bia Sài Gòn côngsuất 160 triệu lít/năm; cty bia Việt Nam 150 triệu lít/năm; ngoài ra còn có cty biaÐồng Nai, Vũng Tàu Sản lượng bia đạt khoảng hơn 250 triệu lít (chiếm 38,6% sảnlượng bia của cả nước) và mới phát huy có 65,8% công suất do khả năng sản xuấtvượt nhu cầu của thị trường Trong một vài năm tới chưa nên xây dựng thêm nhà máybia mới để bảo đảm sử dụng hết công suất các nhà máy đã có
Công nghiệp nước giải khát đã được chú ý phát triển và chủ yếu là sản xuất
nước ngọt pha chế, nước khoáng và nước tinh lọc, tập trung lớn nhất là cty nước ngọtChương Dương, năng lực sản xuất trên 100 triệu lít/năm Năng lực sản xuất đã vượtquá nhu cầu, nên thời gian tới chưa nên xây dựng thêm mới các nhà máy nước giảikhát, trừ các nhà máy chế biến nước giải khát từ trái cây
Trang 39Công nghiệp chế biến thịt và hải sản đang gặp khó khăn vì thiếu nguyên liệu
đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và biến động của thị trường xuất khẩu Ngoài raVKTTĐPN cũng là nơi tập trung lớn công suất các nhà máy chế biến dầu thực vật vàcác nhà máy chế biến sữa như nhà máy dầu Tân Bình công suất 75 tấn/ngày; nhà máydầu Trường An công suất 75 tấn/ngày; các nhà máy sữa Trường Thọ, Thống Nhất,nhà máy sữa bột Dielac, Tổng năng lực sản xuất của các nhà máy sữa củaVKTTĐPN đến nay đạt 275 triệu hộp (chiếm 78,6% năng lực sản xuất của cả nước)
và sản lượng sữa sản xuất đạt gần 200 triệu hộp (chiếm hơn 85% sản lượng sữa của
cả nước)
2 Xếp vị tri thứ hai là ngành cơ khí (bao gồm các ngành sản xuất kim loại;
sản phẩm từ kim loại; sản xuất máy móc thiết bị; sản xuất dụng cụ y tế, đồng hồ; sản xuất xe có động cơ và sản xuất các phương tiện vận tải khác) Ngành hiện
chiếm 16,5% GTSX công nghiệp chế biến trên địa bàn và chiếm 46,0% GTSXngành trên cả nước năm 2008 Trong giai đoạn 2000-2008, ngành đạt được một tốc
độ tăng trưởng GTSX bình quân khá cao: 19,94% (cao hơn mức tăng của cả nướctrong cùng giai đoạn là 19,2%) Chính vì vậy, ngành có xu hướng gia tăng tỷ trọngtrong GTSX công nghiệp chế biến trên địa bàn và tỷ trọng trong GTSX ngành trên
cả nước (năm 2000, tỷ trọng này lần lượt là 11,6% và 44,3% thấp hơn năm 2008)
Sản xuất thép, theo quy hoạch vào năm 2010 có sản lượng khoảng 2 - 2,5 triệu
tấn Ðến nay, tổng công suất thiết kế các nhà máy thép của VKTTĐPN đã có 84,9vạn tấn/năm (chiếm 42,5% công suất thiết kế của cả nước) và sản lượng thép củavùng (chủ yếu là thép xây dựng) đạt khoảng 58 vạn tấn (chiếm 44,6%) sản lượng thépcủa cả nước Vấn đề quan trọng là sản xuất thép có chất lượng cao phục vụ côngnghiệp chế tạo chưa được đầu tư, trong khi đó năng lực sản xuất thép xây dựng lạiquá dư thừa Vấn đề này có liên quan cả với quy hoạch chung của toàn ngành thép
Công nghiệp cơ khí lắp ráp ô tô, xe máy chưa có quy hoạch rõ ràng về phát
triển ngành cơ khí lắp ráp ô tô, xe máy Tính đến nay trên lãnh thổ của VKTTĐPN đã
có 7 cơ sở liên doanh lắp ráp và sản xuất các linh kiện phục vụ lắp ráp ô tô, xe máy,trong đó có những cơ sở liên doanh lớn như: Cty ô tô ISUZU - Việt Nam lắp ráp vàsản xuất ô tô buýt, xe tải có tổng vốn đầu tư 50 triệu USD, đã thực hiện đầu tư được35,9 triệu USD; Cty Mercedes-Benz Việt Nam vốn đầu tư đăng ký 70 triệu USD, đãthực hiện 22,5 triệu USD; Cty liên doanh Việt Nam - SUZUKI tổng vốn đăng ký 34,2triệu USD, đã thực hiện 17,2 triệu USD và liên doanh sản xuất ô tô Ngôi sao, lắp ráp
ô tô với Mitsubishi có vốn đầu tư 53 triệu USD, đã thực hiện 51,5 triệu USD Cácliên doanh lắp ráp ô tô mới huy động được khoảng 5% công suất và các công ty lắpráp xe máy mới huy động được khoảng 15 - 16% công suất Trong vài năm tới các xí
Trang 40nghiệp đã được xây dựng khó có thể phát huy hết công suất vì chưa có thị trường Do
đó không nên phát triển tiếp các cơ sở sản xuất ô tô, xe máy ở vùng này nữa
Nhìn chung, công nghiệp cơ khí vẫn gặp nhiều khó khăn Ðịnh hướng quy
hoạch là tập trung phát triển cơ khí chế tạo thiết bị phục vụ sản xuất nông lâm ngưnhư: động cơ đốt trong loại 6 - 50 CV mỗi năm 20 - 25 ngàn cái; động cơ loại 50 CVkhoảng 500 - 800 cái; chế tạo thiết bị và khí cụ phục vụ điện cao thế, hạ thế cho lắpráp các loại biến thế; các loại động cơ điện; cơ khí phục vụ khai thác tài nguyênkhoáng sản, dầu khí; cơ khí sản xuất hàng tiêu dùng; cơ khí vận tải; cơ khí đóng tàu,thuyền Tình trạng đầu tư cho ngành cơ khí còn thiếu tập trung; năng lực sản xuấtcác ngành máy động lực, sản xuất động cơ, máy công tác, thiết bị lẻ và phụ tùng thaythế, cơ khí tiêu dùng, thiết bị đồng bộ cho chế biến nông lâm hải sản chưa có sựtăng đáng kể cả về quy mô sản xuất và chất lượng sản phẩm Trên thị trường nội địa,nhiều sản phẩm cơ khí như các loại động cơ nhỏ không cạnh tranh nổi với hàngTrung Quốc Nguyên nhân là do nhiều sản phẩm định hướng và chính sách pháttriển chưa rõ; năng lực thiết bị và lực lượng công nhân lành nghề có hạn và giảm sútnhiều Cơ khí chế tạo động cơ và đóng mới, sửa chữa tàu có vị trí quan trọng nhưngphát triển chưa mạnh
3 Đứng ở vị trí thứ ba là ngành công nghiệp hóa chất và các sản phẩm từ
hóa chất: năm 2008, ngành này chiếm 7% GTSX công nghiệp chế biến của Vùng,
và chiếm 81,53% GTSX ngành trong cả nước Do có tốc độ tăng trưởng GTSX bìnhquân giai đoạn 2000 - 2008 khá cao: 20,15% (cao hơn tốc độ của cả nước 15,1%)nên tỷ trọng ngành trong GTSX công nghiệp chế biến trên địa bàn và so với GTSXngành trong cả nước có xu hướng gia tăng (năm 2000, tỷ trọng này mới là 8,5% và62,9% năm 2008)
Phát triển công nghiệp hóa chất: VKTTĐPN tập trung khá nhiều công nghiệp
hóa chất với nhiều loại sản phẩm phong phú như: đạm, lân, xút (NaOH), soda, khícông nghiệp, acquy, chất tẩy rửa, săm lốp Dựa vào nguồn khí thiên nhiên, năm
2005 đã xây dựng nhà máy phân đạm từ khí tại Phú Mỹ; sau năm 2005 sẽ xây dựngthêm 1 - 2 nhà máy có công suất 1.350 - 1.750 tấn NH3/ngày, dành lượng amoniackhoảng 300 - 350 ngàn tấn để sản xuất NPK công suất 300 tấn/năm; nhà máy nhựaPVC 100 ngàn tấn/năm và nhà máy điện đạm Phú Mỹ 3 công suất 680 MW và 600ngàn tấn urê đang được đầu tư Các sản phẩm từ cao su như săm lốp ô tô, xe máy,dây curoa các loại, đệm mút phát triển nhanh, đáp ứng được phần lớn nhu cầu thịtrường trong nước, một phần crếp cao su được chế biến xuất khẩu
Năng lực công nghiệp hóa chất tiêu dùng của các cơ sở hiện có đã được tậndụng, đổi mới trang thiết bị, một số cơ sở đã được đưa ra ngoài các khu vực đô thị