Điều khiển máy công cụ được định nghĩa là sự tác động lên các cơ cấu của máy để thực hiện quá trình công nghệ gia công chi tiết đạt các chỉ tiêu kỹ thuật, năng suất và chi phí [7].. Với
Trang 1§µo V¨n HiÖp
§iÒu khiÓn sè m¸y c«ng cô
(Bµi gi¶ng)
Hµ Néi, 8-2009
Trang 2Mục lục
Chương 1: Nhập môn điều khiển số máy công cụ 1
1.1 Khái quát về điều khiển quá trình công nghệ 1
1.1.1 Điều khiển quá trình công nghệ với máy công cụ truyền thống 3
1.3.2 Điều khiển quá trình công nghệ với máy tự động 3
1.3.3 Điều khiển thích nghi quá trình công nghệ 4
1.2 Các dạng điều khiển tự động máy công cụ 4
1.2.1 Điều khiển bằng cam 6
1.2.2 Điều khiển theo mẫu 6
1.2.3 Điều khiển nhờ bảng cắm 7
1.2.4 Điều khiển theo chương trình số 8
1.3 Điều khiển số máy công cụ 8
1.3.1 Khái niệm điều khiển số 8
1.3.2 NC và CNC 13
1.3.4 Trung tâm gia công CNC 17
1.3.5 Điều khiển số trực tiếp 20
1.4 Lịch sử phát triển của máy NC 22
1.4.1 Sự ra đời và phát triển của máy NC 22
1.4.2 Các giai đoạn phát triển 25
1.5 Các ưu, nhược điểm của máy CNC 26
1.5.1 Các ưu điểm của máy CNC 27
1.5.2 Các nhược điểm của CNC 32
1.6 Hướng sử dụng và phát triển máy CNC 33
1.6.1 Lựa chọn và sử dụng hợp lý máy CNC 33
1.6.2 Điều khiển thích nghi máy CNC 36
1.6.3 Máy có cấu hình thay đổi được 41
Chương 2: Đặc điểm kết cấu và điều khiển máy CNC 45
2.1 Nguyên tắc điều khiển CNC 45
2.1.1 Các phương pháp nội suy 46
2.1.2 Các kiểu điều khiển 48
2.3 Đặc điểm kết cấu và điều khiển các hệ thống 50
2.3.1 Hệ thống điều khiển trục chính 50
2.3.2 Hệ thống điều khiển chạy dao 51
2.3.3 Thiết bị gá kẹp chi tiết 54
2.3.4 Hệ thống thay dao tự động 55
Chương 3: Cơ sở lập trình gia công trên máy CNC 59
3.1 Các chế độ làm việc của máy CNC 59
3.2 Cơ sở hình học của việc lập trình NC 60
3.2.1 Các hệ toạ độ 60
3.2.2 Phương pháp nhập toạ độ 61
3.2.3 Quy định gốc toạ độ phôi (zero phôi) 61
Trang 33.2.4 Bù thông số dao 64
3.3 Cơ sở công nghệ của việc lập trình NC 66
3.3.1 Cơ sở công nghệ tiện 66
3.3.2 Cơ sở công nghệ phay 66
3.4 Những vấn đề chung về lập trình NC 68
3.4.1 Cấu trúc của chương trình NC 68
3.4.2 Các phương pháp lập trình 69
3.4.3 Các loại ngôn ngữ lập trình 73
Tài liệu tham khảo 78
Trang 4Chương 1: Nhập môn điều khiển số máy công cụ
Máy NC (Numerical Control Machine Tools) nếu được dịch một cách đầy đủ phải là máy công cụ điều khiển theo chương trình số, nhưng thường được gọi tắt là máy công cụ
điều khiển số hoặc máy NC Tuy cũng là một loại máy tự động như nhiều thế hệ máy tự
động trước, máy NC có những tiến bộ về nền tảng công nghệ và tính năng Để giúp bạn
đọc hiểu sâu sắc hơn về bản chất của NC, những ưu điểm và ứng dụng của máy NC, chúng tôi điểm qua về vấn đề tự động hoá quá trình công nghệ và về máy tự động nói chung trước khi đi vào những vấn đề cụ thể của máy NC
1.1 Khái quát về điều khiển quá trình công nghệ
Để đạt được kết quả gia công mong muốn, quá trình công nghệ (gia công trên máy
công cụ) cần phải được điều khiển Có thể nói lịch sử phát triển của khoa học công nghệ chế tạo máy gắn liền với lịch sử phát triển của kỹ thuật điều khiển máy công cụ Điều khiển máy công cụ được định nghĩa là sự tác động lên các cơ cấu của máy để thực hiện quá trình công nghệ gia công chi tiết đạt các chỉ tiêu kỹ thuật, năng suất và chi phí [7]
Điều khiển máy công cụ có thể "bằng tay" (do con người thực hiện) hoặc "tự động", nghĩa
là không có sự can thiệp trực tiếp của con người Tương ứng với 2 phương pháp điều khiển
là 2 loại máy: máy thông thường và máy tự động
Máy thông thường (Conventional Machine Tools), đôi khi còn được gọi một cách
không thật rõ ràng là máy vạn năng (Universal Machine Tools hoặc General Purpose Machine Tools), là các máy công cụ không được tự động hoá hoặc tự động hoá ở mức rất
thấp Mặc dù đã có những tiến bộ vượt bậc về kết cấu; có thể đạt độ chính xác gia công cao (đến àm); tốc độ làm việc cao (3000 ữ 4000v/ph) và khả năng công nghệ cao (gia công được nhiều dạng bề mặt khác nhau); các tiện ích sử dụng được cải thiện (ví dụ đo, hiển thị toạ độ và chu trình gia công dạng số), nhưng về nguyên lý làm việc và kết cấu cơ bản thì các máy hiện đại (hình 1.1) không có gì khác so với máy cổ điển (hình 1.2) Về bản chất, chúng đều được người điều khiển trực tiếp Người thợ đứng máy phải trực tiếp thực hiện hầu hết các công việc, từ khi gá phôi cho đến khi hoàn thành nguyên công và tháo chi tiết khỏi máy Đó là chuỗi các công việc: gá phôi, chọn dao, đặt chế độ cắt, dịch chuyển dao, giám sát quá trình và kiểm tra kết quả gia công, tháo chi tiết khỏi máy
Trên máy tự động (Automated Machine Tools), một số chức năng được điều khiển tự
động Từ máy thông thường thành máy tự động điều khiển số hiện đại, máy công cụ trải qua nhiều giai đoạn TĐH Trước hết người ta ưu tiên TĐH hệ thống chuyển động tạo hình, sau đó là TĐH các hệ thống phụ trợ
Trang 5Hình 1 1: Kết cấu của máy tiện hiện đại
Hình 1 2: Kết cấu của máy tiện cổ điển
Trang 61.1.1 Điều khiển quá trình công nghệ với máy công cụ truyền thống
Máy công cụ truyền thống được điều khiển bằng tay (hình 1.3) Quá trình công nghệ chứa đựng tương tác cơ, lý, hoá giữa các yếu tố của hệ thống và các yếu tố nhiễu loạn
Thông số đầu vào của hệ thống là chế độ công nghệ (tốc độ cắt S và lượng chạy dao F), các thông số đầu ra Y thể hiện phản ứng của hệ thống (kích thước, độ nhám bề mặt, lực
cắt, nhiệt độ vùng cắt, rung động, mòn dao, ) Chức năng điều khiển hoàn toàn do con người (công nhân) thực hiện Con người căn cứ yêu cầu công nghệ, tính toán các thông số
công nghệ X, đặt chúng vào máy, giám sát đầu ra Y của quá trình để thực hiện các hiệu
chỉnh cần thiết Trong hệ thống này hoàn toàn không có yếu tố tự động điều khiển Về
nguyên tắc, đây là hệ điều khiển quá trình Với cấu trúc này của hệ thống, quá trình công
nghệ nằm trong vòng điều khiển nên mặc dù không đạt được độ chính xác và độ nhạy cần thiết (do con người thực hiện), hệ thống có khả năng thích ứng với biến động của qúa trình Do các đặc điểm nói trên mà máy công cụ thông thường được gọi là hệ thống điều
khiển thích nghi bằng tay (Manual Adaptive Control)
Hình 1 3: Sơ đồ điều khiển quá trình theo công nghệ truyền thống
1.3.2 Điều khiển quá trình công nghệ với máy tự động
Khi thực hiện quá trình công nghệ trên máy tự động (hình 1.4), việc tính toán các chế độ công nghệ vẫn do con người thực hiện Bộ điều khiển thay thế con người đưa các
thông số công nghệ (S, F) vào máy và điều khiển máy hoạt động theo các giá trị đã ấn
định Nó chỉ giúp tự động hoá khâu nhận, đọc, giải mã chương trình, tính toán và điều
khiển hệ thống thực hiện đúng trình tự và thông số công nghệ quy định sẵn Chính vì vậy,
điều khiển máy công cụ là điều khiển theo chương trình
Hình 1 4: Sơ đồ điều khiển quá trình với máy tự động
Trang 7Mục tiêu điều khiển tự động trên các máy công cụ hiện nay là đảm bảo các cơ cấu công tác hoạt động theo đúng trình tự và các chế độ công nghệ (S, F) ghi trong chương trình chứ không phải là các thông số ra (Y) của quá trình Chất lượng của quá trình hoàn
toàn phụ thuộc vào tính đúng đắn của phép tính thông số công nghệ ban đầu Quá trình công nghệ nằm ngoài vòng giám sát của bộ điều khiển nên nó không thể nhận biết và không thể phản ứng trước các biến động (nhiễu loạn) trong xảy ra trong quá trình công
nghệ và những biến động của thông số ra Y Vì vậy, bộ điều khiển này được gọi là bộ điều khiển tĩnh (Fixed Controller)
1.3.3 Điều khiển thích nghi quá trình công nghệ
Muốn tự động kiểm soát kết quả gia công, bộ điều khiển phải có khả năng nhận biết
những thay đổi của các thông số ra Y hoặc các thông số môi trường đặc trưng, có khả năng
bù trừ hoặc hạn chế biến động của chúng, nhằm duy trì sự làm việc bình thường hoặc đảm bảo hiệu quả cao nhất cho quá trình Hệ thống điều khiển như vậy được gọi là hệ điều khiển thích nghi (ĐKTN) Sơ đồ ĐKTN máy công cụ được thể hiện trong hình 1.5 Trong
hệ thống này, con người chỉ phải tính chế độ gia công Bộ điều khiển (thường là CNC) vẫn giữ chức năng nhận và duy trì thông số công nghệ đã định Bộ ĐKTN giám sát thông số ra hoặc thông số môi trường, ra quyết định điều khiển và lệnh cho bộ CNC thực hiện các hiệu chỉnh cần thiết Việc giám sát và hiệu chỉnh chế độ công nghệ được thực hiện trong
thời gian thực, khiến máy công cụ làm việc với chế độ gia công S 2 , F 2 khác với chế độ gia
công tính toán S 1 , F 1, đảm bảo giá trị hợp lý nhất của thông số ra
Hình 1 5: Sơ đồ điều khiển thích nghi quá trình công nghệ
Về cấu trúc logic, sơ đồ ĐKTN trong hình 1.5 tương tự như sơ đồ điều khiển bằng tay trong hình 1.3, nhưng ĐKTN do máy móc thực hiện nên đảm bảo được độ chính xác
và độ nhạy cao Khác về bản chất so với điều khiển thông thường, ĐKTN mang tính tích cực, động và thông minh
1.2 Các dạng điều khiển tự động máy công cụ
Từ máy thông thường đến máy CNC hiện đại, máy công cụ trải qua nhiều giai đoạn phát triển Đó là quá trình tự động hoá từng phần, từng hệ thống của máy với sự ứng dụng
Trang 8các kỹ thuật tiên tiến nhất của mỗi thời kỳ Trước hết, người ta ưu tiên TĐH hệ thống chuyển động tạo hình, sau đó TĐH các hệ thống phụ trợ Về kỹ thuật, tất cả các dạng TĐH dùng tín hiệu tương tự và tín hiệu số đã được lần lượt sử dụng
Để đảm bảo các thông số hình học và chất lượng gia công, hệ thống chuyển động tạo
hình phải làm việc theo một chương trình lập trước Chương trình gia công được biểu hiện dưới các dạng khác nhau và được ghi lên một phương tiện thích hợp, được gọi là vật mang tin Căn cứ vào dạng biểu diễn chương trình và vật mang tin (phần tô xám trong hình 1.6),
có thể phân biệt 4 dạng điều khiển Đó là dạng điều khiển bằng cam (I), điều khiển theo mẫu (II), điều khiển nhờ bảng cắm (III) và điều khiển theo chương trình số (IV)
Hình 1 6: Các dạng điều khiển máy công cụ
Trang 91.2.1 Điều khiển bằng cam
Trong hệ thống điều khiển bằng cam
(Cam Control), khoảng và tốc độ dịch chuyển
của các cơ cấu được điều khiển nhờ biên dạng
của cam Sự phối hợp giữa các cơ cấu được
thực hiện nhờ vị trí tương đối của các cam với
nhau trên trục phân phối Trên hình 1.7 là sơ
đồ cơ cấu chạy dao của máy tự động revolver
Khoảng dịch chuyển của các dao phụ thuộc
biên dạng của các cam tương ứng Tốc độ ăn
dao phụ thuộc vào tốc độ của trục phân phối
và đồng bộ với tốc độ trục chính Các dao hoạt
động đồng bộ theo chu trình, phụ thuộc vào vị
trí lắp ráp của các cam trên trục Như vậy,
trong dạng điều khiển này, chương trình gia
công được thể hiện qua hình học vị trí của các
cam, có dạng tương tự và hệ thống cam - trục
phân phối là vật mang tin Hình 1 7: Hệ thống điều khiển bằng cam
1.2.2 Điều khiển theo mẫu
Hệ thống điều khiển theo mẫu
(Tracer Control) còn được gọi là hệ
thống chép hình, trong đó quỹ đạo
của dao (tạo nên biên dạng của chi
tiết gia công) được sao chép từ biên
dạng của mẫu (hình 1.8) Tuỳ theo
cơ cấu truyền chuyển động từ đầu dò
Trang 101.2.3 Điều khiển nhờ bảng cắm
điện, điện tử như tiếp
điểm, rơle, diode, bộ
đếm, định thời, ) để
điều khiển một chuỗi
công việc nhất định
(hình 1.9) Hình 1 9: Bảng cắm là vật mang tin
Như vậy trong trường hợp này, bảng cắm chính là vật mang tin Mỗi hàng trong
bảng tương ứng với một lệnh trong chương trình, nên số hàng trên bảng cắm (thường là 24) giới hạn số lệnh điều khiển Trên mỗi hàng có các lỗ (thường là 34) cách đều nhau Khi mỗi lỗ được cắm thì một chức năng được kích hoạt (ví dụ dịch chuyển theo chiều +X) Khi mỗi lệnh (hàng) được hoàn thành thì các công tắc hành trình sẽ tác động, cho phép chuyển sang lệnh ghi trong hàng kế tiếp Khi một lỗ được cắm thì chức năng tương ứng được kích hoạt liên tục cho đến khi chuyển sang lệnh mới Vì vậy, điều khiển dùng
bảng cắm thuộc dạng điều khiển nối cứng (Hard-Wired Control)
Một bộ điều khiển có thể dùng kết hợp nhiều bảng cắm, mỗi bảng chứa một modul chương trình theo chức năng nhất định Trên một số máy công cụ còn dùng 2 loại bảng cắm: bảng cắm cơ khí chứa các dưỡng, vấu để điều khiển quỹ đạo và toạ độ dịch chuyển của cơ cấu công tác Bảng cắm điện điều khiển các chức năng phụ trợ (như bật tắt, đảo chiều động cơ, thay dao, tưới dung dịch, ) Tín hiệu điều khiển dùng với bảng cắm có thể
là liên tục hoặc rời rạc, tuỳ theo phần tử được dùng
Có thể nói, điều khiển bằng bảng cắm chưa phải là điều khiển theo chương trình số, nhưng nó gợi ra ý tưởng mang tính cách mạng trong lĩnh vực điều khiển máy công cụ:
điều khiển theo chương trình số
Trang 111.2.4 Điều khiển theo chương trình số
Điều khiển theo chương trình số là dạng điều khiển theo chương trình cho trước,
được sản sinh và lưu trữ dưới dạng các ký tự (chữ số, chữ cái hoặc các ký tự khác) Nhờ sử dụng chương trình dạng ký tự mà việc sản sinh, sửa đổi chương trình dễ dàng hơn; thiết bị lưu trữ và đọc chương trình đa dạng và đơn giản hơn, nhất là khi máy tính được sử dụng với tư cách bộ điều khiển Vì điều khiển số máy công cụ là nội dung cơ bản, xuyên suốt của tài liệu này nên từng vấn đề: khái niệm, kết cấu, vận hành, lập trình cho máy công cụ
điều khiển số sẽ được trình bày kỹ hơn, theo từng chương riêng
Đặc điểm của các dạng điều khiển nói trên được tóm tắt trong bảng sau
Vật mang tin Dạng điều
khiển Nhiệm vụ Hình học Chức năng phụ trợ
Nơi sản sinh chương trìnhBằng cam định vị, dịch chuyển cam (đĩa, thùng, mặt đầu) phòng thiết kếBằng mẫu định vị, dịch chuyển mẫu, dưỡng phòng thiết kếBảng cắm định vị, dịch chuyển vấu, mẫu bảng cắm tại máy
phòng công nghệ
CNC
định vị, dịch chuyển chính xác với dạng hình học phức tạp
băng đục lỗ, băng từ, đĩa từ, bộ nhớ trong
phòng công nghệ hoặc tại máy
1.3 Điều khiển số máy công cụ
1.3.1 Khái niệm điều khiển số
Hiện có nhiều định nghĩa về điều khiển theo chương trình số(*)
Theo Hiệp hội công nghiệp điện tử Mỹ [3] (U S Electronic Industries Association - EIA), thiết bị điều khiển số là một hệ thống, hoạt động của nó được điều khiển bằng dữ liệu số Hệ thống phải dịch tự động ít nhất một phần của dữ liệu này
Theo Britannica Concise Encyclopedia, điều khiển số là điều khiển một hệ thống hay thiết bị bằng cách nhập trực tiếp dữ liệu dưới dạng chữ số, chữ cái, ký hiệu, từ hoặc tổ hợp các dạng trên
(*) Thuật ngữ "điều khiển số" được dịch trực tiếp từ "Numerical Control" Tuy nhiên, trong tiếng Việt, "điều khiển số" còn có nghĩa là điều khiển dùng tín hiệu số "Digital Control" Trong nhiều trường hợp, cần phân biệt để tránh nhầm lẫn Trong tài liệu này, trừ những chỗ có ghi chú, thuật ngữ "điều khiển số" cần được hiểu một cách chính xác là "điều khiển theo chương trình số" (như trong tiếng Nga:
"числовое программое управление")
Trang 12Theo ГОСТ 20523-80 [7], điều khiển theo chương trình số máy công cụ là điều khiển quá trình gia công theo chương trình, trong đó các dữ liệu được cho dưới dạng chữ số
Chương trình gia công (Part Program) là bản hướng dẫn gia công, trong đó chứa
các thông tin hình học (mô tả quỹ đạo chuyển động tương đối giữa dao và phôi) và thông tin công nghệ (tốc độ trục chính, lượng chạy dao, ) Các lệnh và từ trong chương trình
được tập hợp theo một quy tắc và trình tự quy định và được biểu diễn theo một hệ mã tiêu chuẩn (ví dụ ISO) mà bộ điều khiển có thể hiểu và xử lý được Nhờ mã hoá mà các thông tin được biểu diễn dưới dạng số Bộ điều khiển phải dịch chương trình ra mã máy để xử lý
Mã hoá ở đây là sự chuyển đổi thông tin các dạng khác nhau (ngôn ngữ nói, số)
sang dạng số (ký tự) Ví dụ lệnh "Chạy dao theo đường thẳng từ vị trí hiện tại đến toạ độ X=100, Y=150 với tốc độ 300mm/ph" được mã hoá như sau: G01 X100 Y150 F300; "Khởi
động trục chính theo chiều kim đồng hồ" được mã hoá thành M03 Nhờ thông tin được số
hoá (thoát ly bản chất vật lý) mà nó có thể được ghi vào các thiết bị lưu trữ văn bản Thiết
bị lưu trữ (vật mang tin) dùng cho máy NC rất đa dạng và thay đổi không ngừng theo sự tiến bộ của phương tiện truyền và lưu trữ thông tin: băng đục lỗ, bìa đục lỗ, băng từ, đĩa từ, các thiết bị điện tử (như RAM, Memory Card, USB Flash Drive) Chương trình NC còn có thể được truyền từng qua cáp (RS 232, RS 485) hoặc truyền file qua mạng máy tính, như mạng cục bộ (LAN) hoặc Internet
Tuy các phương tiện lưu trữ và truyền thông tin khác nhau về bản chất vật lý, nhưng nguyên tắc mã hoá vẫn giống như ở băng đục lỗ
Theo nguyên tắc máy tính số, mọi thông tin được số hoá và được biểu diễn theo mã nhị phân, trong đó chỉ dùng 2 ký tự, là "0" và "1" Trong máy NC, "1" tương ứng trạng thái có tín hiệu (xung), "0" tương ứng trạng thái không có xung Trong máy CNC (bộ điều khiển là máy tính số) trạng thái "1" hoặc "0" được chứa trong 1 bit thông tin Nhờ sử dụng kết hợp các bit theo một quy tắc nhất định, ta có thể biểu diễn bất cứ ký tự nào
Do hạn chế về kích thước, các băng đục lỗ chỉ có 8 rãnh (Track), nên hệ mã nhị phân
thuần tuý chỉ biểu diễn được 258 ký tự, không thể biểu diễn được các số lớn và các số thập
phân nhiều chữ số Để khắc phục điều đó, người ta đã đưa ra hệ mã thập-nhị phân Coded Decimal Code), gọi tắt là BCD Code Trong hệ BCD, chỉ các chữ số từ 0-9 là được
(Binary-biểu diễn dưới dạng nhị phân, còn phần thập phân được (Binary-biểu diễn dưới dạng thập phân Với 1 băng đục lỗ 8 rãnh, ta có thể biểu diễn bất cứ ký tự nào và lượng thông tin là không hạn chế Hình 1.10 mô tả một đoạn băng đục lỗ theo hệ mã BCD, chuẩn ISO Băng gồm 8
rãnh (Track) chứa thông tin (đánh số từ 1-8) chạy dọc suốt chiều dài của băng và 1 hàng
lỗ (nhỏ) ăn khớp với răng của cơ cấu dịch chuyển Mỗi hàng (vuông góc với phương chuyển động) biểu diễn 1 ký tự Vị trí có lỗ biểu thị giá trị 1, vị trí không có lỗ - giá trị 0
Trang 13Quy tắc kết hợp các bit đ−ợc gọi là hệ mã (Code System) Ta lấy 2 hệ mã thông dụng
để làm ví dụ về cách mã hoá thông tin Đó là hệ EIA của Hiệp hội công nghiệp điện tử Mỹ
và hệ ISO của tổ chức tiêu chuẩn thế giới Quy −ớc về các rãnh theo các hệ mã nh− sau:
Hệ EIA: - rãnh 1-4 biểu diễn các chữ số 1-9 theo mã nhị phân;
- rãnh 5 chứa mã kiểm tra;
- rãnh 6 số 0;
- rãnh 6 và 7 kết hợp với các rãnh 1-4 biểu diễn các chữ cái và ký hiệu;
- rãnh 8 kết thúc dòng lệnh
Hệ ISO (DIN 66024):
- rãnh 1-4 kết hợp với rãnh 5, 6 biểu diễn các chữ số 0-9;
- rãnh 1-5 kết hợp với rãnh 7 biểu diễn các chữ cái A-Z;
- rãnh 8 chứa mã kiểm tra;
- rãnh 1-4 kết hợp với rãnh 6 biểu diễn các ký hiệu
Mã kiểm tra (Parity Check) dùng để kiểm tra lỗi Hệ EIA đòi hỏi số lỗ trên mỗi hàng
phải lẻ Nếu số lỗ mang thông tin là số chẵn thì máy đục lỗ phải tự động đục thêm lỗ vào rãnh 5 để tạo thành số lỗ lẻ Khi đọc thông tin để gia công, nếu gặp hàng có số lỗ chẵn thì
bộ điều khiển (NC) coi đó là lỗi Hệ ISO yêu cầu số chẵn và mã kiểm tra ở rãnh 8
Hình 1 10: Biểu diễn thông tin trên băng đục lỗ 8 rãnh nhờ BCD code
Hình 1.11 cho tóm tắt về quy −ớc biểu diễn thông tin theo hệ mã EIA và hệ mã ISO
Theo hệ mã ISO thì đoạn băng trên hình 1.10 biểu thị lệnh G01 X25Y4
Trang 14H×nh 1 11: Quy −íc
vÒ biÓu diÔn th«ng
tin theo hÖ m· EIA
vµ hÖ m· ISO
Trang 15Càng ngày máy tính trên máy NC càng gần với máy tính thông dụng Vì vậy mọi phương tiện lưu trữ và truyền thông của máy NC cũng được dùng chung với các loại máy
tính khác Ngoài hệ mã BCD đã nói ở trên, mã ASCII (Ameriacan Standard Code for Information Interchange), một hệ mã dùng chung cho máy tính, đang dần dần được dùng
phổ biến cho các bộ điều khiển công nghiệp trên nền máy tính số, trong đó có máy NC Trên màn hình của các bộ điều khiển (CNC) ra đời trong khoảng thập niên gần đây,
chương trình NC được hiển thị như file văn bản (text file), người dùng có thể sửa chữa, lưu trữ, sao chép Hầu hết các bộ CNC hiện đại có thể đọc trực tiếp hoặc chuyển đổi (Import, Export) các chương trình NC được soạn thảo bởi các bộ soạn thảo văn bản (Text Editor)
thông dụng Trên thực tế, người vận hành các máy CNC hiện đại không phải bận tâm đến
hệ mã nào đang được sử dụng Việc soạn thảo, sửa chữa và xử lý các chương trình NC
được thực hiện như các file văn bản thông thường
Hình 1 12: Sơ đồ cấu trúc của máy CNC
Trang 16Bộ điều khiển (Machine Control Unit - MCU) và máy công cụ là 2 bộ phận cấu thành
chính của máy NC (hình 1.12) MCU thực hiện mọi chức năng điều khiển, cung cấp tín hiệu cho các thiết bị chấp hành trên máy công cụ Về phần mình, MCU có 2 modul: bộ xử lý dữ
liệu (Data Processing Unit - DPU) và các mạch điều khiển (Control Loops Unit - CLU) DPU có nhiệm vụ đọc và giải mã chương trình, tính toán lượng và tốc độ dịch chuyển của
các trục chạy dao (nội suy) và cung cấp số liệu cho CLU Số liệu đó gồm toạ độ điểm cần tới, chiều và vận tốc chuyển động của mỗi trục chạy dao; các thông tin phụ trợ (chiều quay trục chính, dung dịch bôi trơn, ) CLU cấp tín hiệu chuyển động cho các thiết bị chấp hành
và nhận tín hiệu phản hồi về vị trí và vận tốc của cơ cấu công tác Như vậy, chỉ khi nào CLU xác nhận lệnh trước đã hoàn thành thì DPU mới cung cấp thông tin tiếp theo
Quan niệm đó không sai, nhưng chưa đủ thể hiện sự tiến bộ chất của CNC so với NC
Việc sử dụng máy tính số làm bộ điều khiển làm thay đổi căn bản cấu trúc và tính năng của
toàn hệ thống
Về cấu trúc, quá trình chuyển hoá từ NC sang CNC trước hết là quá trình chuyển dần
các chức năng từ phần cứng sang phần mềm Điều khiển NC thường được gọi là điều khiển nối cứng (Hard-Wired Control), nghĩa là các chức năng đều được thực hiện bởi phần cứng
Cho đến cuối thập kỷ 196x, khi minicomputer xuất hiện (vào năm 1969) thì một số chức năng
được chuyển từ phần cứng sang phần mềm Tuy nhiên, vào thời đó, minicomputer còn đắt so với giá của máy công cụ Cho đến cuối thập kỷ 197x và thập kỷ 198x, microcomputer mới
được ứng dụng rộng rãi trong NC nhờ tính năng tốt mà kích thước nhỏ gọn và rẻ tiền Các bộ CNC dựa trên microcomputer được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp cho đến bây giờ Vai
trò của phần mềm trong CNC ngày càng chiếm ưu thế và ngày nay CNC được quan niệm là
điều khiển nối mềm (Soft-Wired Control), trong đó các quá trình thu nhận, xử lý và truyền dữ
liệu (từ điều khiển vào/ra, nội suy, quản trị dữ liệu, tạo lệnh điều khiển, giám sát hệ thống, )
đều do máy tính với phần mềm thích hợp thực hiện Ví dụ, bộ NC được chế tạo năm 1968
chứa 400 bảng mạch gồm, trong khi các bộ CNC hiện đại với cùng chức năng chỉ có 1 bảng mạch Hình 1.13 minh hoạ sự chuyển các chức năng điều khiển từ phần cứng sang phần mềm
Về cơ bản, trên các máy NC, cả DPU và CLU đều có cấu trúc phần cứng Trên máy CNC, chức năng DPU do máy tính đảm nhiệm, còn CLU vẫn giữ cấu trúc phần cứng
Trang 17Hình 1 13: Sự chuyển các chức năng điều khiển từ phần cứng sang phần mềm
- Tín hiệu điều khiển sử dụng trong các hệ điều khiển nối cứng là xung điện áp Mỗi
xung điện áp tạo nên dịch chuyển bằng 1 đơn vị chiều dài cơ sở (Base Length Unit - BLU)
của trục được điều khiển Số lượng các xung đặt lên trục xác định khoảng cách cần dịch chuyển, tần cấp số xung xác định vận tốc dịch chuyển Ngược lại, tín hiệu điều khiển trong
hệ CNC có dạng số nhị phân Mỗi từ (word) chứa số bit nhất định (thường là 8, 16 hoặc 32 bit tuỳ theo bộ vi xử lý) Mỗi bit dữ liệu tạo ra dịch chuyển bằng 1 BLU cho trục điều khiển
Trang 18Về tính năng, CNC có nhiều ưu việt nhờ việc sử dụng máy tính số với phần mềm
tích hợp trong điều khiển Hình 1.14 cho thấy sự khác nhau giữa NC và CNC
Hình 1 14: So sánh tính năng của NC và CNC
- Máy tính CNC có đầy đủ các dạng phần mềm cơ bản(*): hệ điều hành, các phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng Vì vậy, CNC thực hiện được đủ các chức năng của máy tính: quản lý và điều hành file, quản lý bộ nhớ, điều khiển màn hình, bàn phím, mạng truyền thong, soạn thảo chương trình, mô phỏng đồ hoạ, truyền thông, ) Các bộ CNC
trên nền PC (PC Based CNC) dùng các hệ điều hành thông dụng, như Windows, Unix, tạo
cho người dùng môi trường làm việc thuận lợi và quen thuộc
(*) Các loại phần mềm có hệ điều hành (Operating System - OS), thực hiện chức năng giao diện người dùng, quản trị bộ nhớ, quản trị file, ; phần mềm hệ thống (System Software) - quản trị, phối hợp đồng bộ
và điều khiển toàn bộ phần cứng của hệ thống, như truyền dữ liệu, ghi file vào bộ nhớ, hiển thị thông tin
lên màn hình, và phần mềm ứng dụng (Application Software) - thực hiện các chức năng chuyên biệt, như
soạn thảo chương trình, mô phỏng đồ hoạ, thu nhận tín hiệu, điều khiển các cơ cấu,
Trang 19- Giao diện người dùng của máy CNC hấp dẫn và tiện lợi: màn hình đồ hoạ màu để trợ giúp lập trình và mô phỏng kiểm tra chương trình, thông báo trạng thái và cảnh báo lỗi, hướng dẫn vận hành, )
- Máy tính tạo nên tính linh hoạt, dễ biến đổi và nâng cấp bộ điều khiển Chỉ bằng cách thay đổi phần mềm, có thể tạo ra các bộ điều khiển khác nhau mà không phải hoặc phải thay đổi rất ít về phần cứng Ví dụ, chỉ cần cài lại phần mềm, người dùng có thể nhận
được hệ điều khiển Fanuc, Siemens, Heidenhian, trên cùng một hệ thống máy tính và phần cứng Thông qua phần mềm có thể quy định cấu hình của máy: số trục điều khiển,
định giới hạn vùng làm việc (Software Limit Switch), chiều và tốc độ chuyển động, thêm
bớt các thiết bị phụ trợ, ) Các bộ CNC hiện đại thường được thiết kế với cấu hình chuẩn Cấu hình cụ thể được khai báo theo phần cứng của máy công cụ
- Khả năng bảo mật hệ thống được tăng cường Phần mềm không chỉ giúp nhà sản
xuất giữ được bản quyền và bí quyết công nghệ (Know-how) mà còn cho phép người dùng
bảo vệ các khai báo cấu hình hệ thống, chương trình điều khiển; ngăn chặn sự truy cập,
sao chép, sửa đổi trái phép vô tình hay cố ý Phần mềm cũng cho phép sao lưu (Back-up)
hệ thống và chương trình để khi cần thì khôi phục lại (Restore)
Do giữ vai trò ngày càng quan trọng nên giá trị của phần mềm ngày càng tăng so với phần cứng (hình 1.15) Đầu tiên, các bộ điều khiển đơn giản với các CPU chuyên dùng được tạo ra Sau đó, chúng được thay bằng các CPU thông dụng với phần mềm chuyên dùng
Ngày nay nhiều bộ điều khiển được tạo ra hoàn toàn nhờ phần mềm chạy trên PC (PC based CNC) với hệ điều hành thông dụng (Windows hoặc Unix) Từ thập kỷ 198x, các bộ
NC dựa trên phần cứng không được sản xuất và hiện nay, NC mặc nhiên được hiểu là CNC
Hình 1 15: Giá trị phần mềm ngày càng tăng so với phần cứng
Trang 20Bảng sau cho phép so sánh một cách tóm tắt các đặc điểm của NC và CNC
So sánh NC và CNC
Đặc tính so sánh Điều khiển NC Điều khiển CNC
Thời gian xuất hiện 1954 - đầu thập kỷ 197x Khoảng 1970 - nay
Thực hiện các chức
năng điều khiển
Mạch phần cứng điện tử Máy tính với các chương trình điều
khiển máy công cụ Dạng tín hiệu điều
Dùng mọi thiết bị lưu trữ thông dụng (bàn phím, bộ nhớ trong, bộ nhớ ngoài, các giao diện truyền thông, mạng cục bộ, Internet, )
Đọc 1 lần nhiều block, ghi vào bộ nhớ đệm và sử dụng dần
Khả năng Giới hạn các chức năng cơ
bản: nội suy, nhận định dạng băng từ, vị trí tuyệt
đối và tương đối, nhận mã
ký tự
Bao gồm các chức năng cơ bản như NC và mở rộng: thêm dạng nội suy (parabol, xoắn ốc), soạn thảo, truyền thông, bộ nhớ, hiển thị, giao tiếp vào/ra,
Cấu trúc phần cứng
điều khiển
Phức tạp, bởi vì các chức năng điều khiển được thực hiện bởi các mạch điện tử
Không có bộ nhớ trong Có bộ nhớ trong Sử dụng các thiết
bị lưu trữ thông dụng (băng từ, đĩa
từ, USB flash drive, )
1.3.4 Trung tâm gia công CNC
Trung tâm gia công (Machining Center) CNC khác máy CNC thông thường ở chỗ,
có khả năng thực hiện nhiều nguyên công công nghệ khác nhau, như tiện, phay, doa, gia công ren, mài, mà bình thường phải dùng một số máy CNC thông thường Do yêu cầu về tập trung nguyên công mà các trung tâm gia công (TTGC) có những đặc điểm kết cấu sau:
- Có nhiều trục điều khiển (4 đến 5 trục hoặc hơn);
- Có hệ thống thay dao tự động;
- Có cơ cấu cấp phôi, kẹp phôi tự động
- Có khả năng giao tiếp với các thiết bị sản xuất khác, như robot, băng tải,
Trang 21Nhờ có khả năng tập trung nguyên công cao mà các TTGC cho phép tăng năng suất, tăng độ chính xác gia công
Thường có 2 loại TTGC, là TTGC ngang và TTGC đứng TTGC ngang dựa trên cơ sở máy tiện, còn TTGC đứng dựa trên máy phay
Ngoài 2 trục X, Z như máy tiện, TTGC ngang thường có thêm các trục Y, C Kho
chứa dao trên trung tâm ngang thường có dạng revolver (Turret), trên đó các dao có thể
được dẫn động (Driven Tool) Một số TTGC ngang có tới 2 trục chính, 2 đài dao, nên có
thể gia công hoàn chỉnh các chi tiết có hình dạng phức tạp, như các rãnh, lỗ lệch tâm hoặc hướng kính; có thể gia công các mặt profile theo phương pháp bao hình, Trong hình 1.16
là hình ảnh một TTGC ngang và các dạng chi tiết được gia công trên đó
Trang 22Hình 1 17: Trung tâm gia công đứng 6 trục
TTGC như trong hình 1.18 có 5 trục (X, Y, Z, B, U), có kho chứa dao dạng xích Hệ
thống cấp phôi tự động (Automatic Pallet Changer) như trong hình 1.18 thường được dùng nhiều trong sản xuất linh hoạt Các phiến gá (Pallet) có tác dụng như đồ gá Phôi
được lắp lên đó trước khi gia công và được gia công ngay trên khay Sau khi gia công xong, cả phôi và khay có thể được chuyển đến nguyên công sau Việc gá, tháo phôi được thực hiện bên ngoài máy, trong khi gia công chi tiết khác nên không chiếm thời gian máy
Hình 1 18: Trung tâm gia công đứng 5 trục
Trang 231.3.5 Điều khiển số trực tiếp
Điều khiển số trực tiếp (Direct Numerical Control) hay điều khiển số phân bố
(Distributed Numerical Control), đều được viết tắt là DNC là giải pháp nối mạng các máy
CNC để có thể dùng chung các thiết bị nhập, lưu trữ chương trình và các tiện ích khác (ví dụ phần mềm CAD/CAM) Bình thường, mỗi máy CNC độc lập cần có thiết bị nhập (bàn phím, thiết bị đọc) và lưu trữ riêng Điều đó không chỉ bất lợi về mặt kinh tế, gây phiền phức khi
sử dụng (ví dụ, bộ nhớ của máy không đủ lưu trữ trọn vẹn các chương trình lớn, gây gián
đoạn quá trình gia công) mà còn gây khó khăn cho việc quản lý thống nhất dữ liệu và chương trình Có DNC, các máy CNC riêng lẻ không cần hoặc chỉ cần bộ nhớ chương trình
rất nhỏ Các chương trình lớn được truyền trực tiếp từng block từ máy tính DNC tới máy CNC để thực hiện, hoặc các chương trình được phân bố cho các máy CNC theo nhiệm vụ
Về kết cấu, hệ DNC (hình 1.19) là mạng máy tính nên gồm có:
Hình 1 19: Giải pháp DNC
Trang 241 Máy tính trung tâm (DNC Computer) Máy tính DNC có nhiệm vụ đọc chương
trình, lưu trữ và phân phối cho các máy CNC theo yêu cầu Vì vậy, nó phải có cấu hình đủ mạnh, đặc biệt bộ nhớ dung lượng lớn, được cài các phần mềm chuyên dùng (phần mềm DNC) phục vụ quản lý, phân phối chương trình và hệ điều hành mạng và trang bị các thiết
bị đọc chuyên dùng Máy tính DNC cũng nhận dữ liệu phản hồi từ các máy công cụ để phục vụ cho việc cung cấp chương trình và phục vụ cho công tác điều hành, quản lý (thống kê và lập báo cáo số lượng sản phẩm, thời gian gia công, sự cố, ) Để đáp ứng nhu cầu gia công của các máy CNC và nhận thông tin phản hồi ngay lập tức, hệ thống thông tin 2 chiều này hoạt động theo thời gian thực
2 Thiết bị mạng (gồm các đường cáp, giao diện, chuyển mạch) để liên kết các thiết
bị trong hệ thống
3 Các máy CNC - đối tượng phục vụ
Tương tự như các mạng máy tính thông thường, mạng DNC cũng được nối theo vòng tròn (hình 1.20) và theo hình sao hay hướng tâm (hình 1.21)
cụ, hoặc một số ít máy công cụ
- Máy tính DNC thường được đặt ở xa các máy công cụ Máy tính ở điều khiển CNC
được đặt liền máy công cụ
- Phần mềm DNC được phát triển không chỉ để điều khiển từng bộ phận của thiết bị sản xuất mà còn phục vụ như là một phần của hệ thống quản lý thông tin trong hệ thống
Trang 25sản xuất của công ty Phần mềm DNC được có thể bổ sung (tăng cường) các khả năng của máy CNC đặc biệt
Những ưu điểm chính của DNC:
- Điều khiển nhiều máy bởi máy tính (Time Sharing)
- Khả năng lưu trữ và tính toán lớn
- Vị trí của máy tính được đặt ở xa khu vực sản xuất nên dễ đảm bảo về môi trường
- Loại bỏ được băng từ và thiết bị đọc băng từ ở máy công cụ để nâng cao độ tin cậy
- Loại bỏ bộ điều khiển nối cứng (Hardwired Controller) trên một số hệ thống
- Cho phép dùng chung các phần mềm đắt tiền (CAD/CAM, Post-Procesor) và giảm
dung lượng lưu trữ Ví dụ các chương trình được lưu trữ dưới dạng chung (CL Data), khi cần chuyển cho máy nào thì mới dịch (Post-processed) theo mã và cấu hình tương ứng
1.4 Lịch sử phát triển của máy NC
1.4.1 Sự ra đời và phát triển của máy NC
Mẫu đầu tiên của máy công cụ điều khiển số (gọi là máy NC - Numerical Control) do
Viện công nghệ Massachusetts (MIT) - Mỹ thiết kế và chế tạo vào năm 1949, theo đặt hàng của Không lực Hoa kỳ, để sản xuất các chi tiết phức tạp và chính xác của máy bay
Trước đó, các chi tiết máy hoặc các khuôn mẫu phức tạp thường được chia thành các phần đơn giản hơn Sau khi gia công xong, chúng mới được ghép lại với nhau thành chi tiết hoàn chỉnh bằng phương pháp hàn, tán, Công nghệ đó đắt và không đảm bảo được độ chính xác về kích thước và hình học mong muốn cũng như sự đồng đều về cơ tính vật liệu Sau này, nhờ phương pháp chép hình, người ta đã chế tạo được các chi tiết phức tạp hơn Tuy vậy, công nghệ gia công trên máy chép hình vẫn còn nhiều nhược điểm, như độ chính xác không cao (do quán tính của hệ thống lớn, do sai số truyền động cơ khí, do sai số của mẫu, ); năng suất thấp (do phải hạn chế tốc độ trượt của đầu dò trên mẫu); đắt và kém linh hoạt (vì các dưỡng mẫu là các chi tiết cơ khí chính xác, dùng vật liệu đặc biệt nên khó chế tạo) ý tưởng áp dụng điều khiển số vào máy công cụ đã gây nên cuộc cách mạng trong công nghệ chế tạo cơ khí Có thể hình dung máy công cụ điều khiển số là một máy chép hình, nhưng các dưỡng, mẫu, cam, cơ khí được thay bằng chương trình máy tính Chương trình không bị mòn như các dưỡng mẫu, mang đi mang lại dễ dàng Việc soạn thảo, sửa đổi chương trình lại dễ, nhanh và rẻ hơn nhiều so với chế tạo cam, dưỡng, nên máy NC nhanh chóng được hoan nghênh
Ngay sau đó, một phương án chế tạo máy NC công nghiệp được đề nghị với 3 nguyên tắc sau:
Trang 26- Sử dụng máy tính(*) để tính toán quỹ đạo chạy dao và lưu dữ liệu vào bìa đục lỗ
- Dùng thiết bị đọc tại máy để tự động đọc dữ liệu từ bìa đục lỗ
- Hệ thống điều khiển có nhiệm vụ xử lý và liên tục đưa ra thông tin điều khiển các
động cơ được gắn lên trục vít me
Năm 1952, chiếc máy phay đứng 3 trục điều khiển số của hãng Cincinnati Hydrotel
được trưng bày tại MIT Như vậy, ý tưởng dùng nguyên lý điều khiển số vào máy công cụ xuất hiện do nhu cầu của quân đội Mãi khoảng giữa thập kỷ 60, máy NC mới được sản xuất
và sử dụng trong công nghiệp Tuy nhiên các bộ điều khiển số đầu tiên dùng đèn điện tử nên tốc độ xử lý chậm, cồng kềnh và tiêu tốn nhiều năng lượng Việc sử dụng chúng cũng rất khó khăn, như chương trình được chứa trong các băng và bìa đục lỗ, khó hiểu và không sửa chữa được Giao tiếp giữa người và máy rất khó khăn vì không có màn hình, bàn phím Sau khi các linh kiện bán dẫn được sử dụng phổ biến trong công nghiệp (khoảng năm 1960) thì máy gọn hơn, tốc độ xử lý cao hơn, tiêu tốn ít năng lượng hơn, Các băng đục lỗ sau này
được thay bằng băng hoặc đĩa từ, Nhưng nói chung, tính năng sử dụng của các máy NC
vẫn chưa được cải thiện đáng kể, cho đến khi máy tính được ứng dụng vào đây
Sự xuất hiện IC (1959), LSI (1965), vi xử lý (1974) và các tiến bộ kỹ thuật về lưu trữ
và xử lý số liệu đã làm nên cuộc cách mạng trong kỹ thuật điều khiển số máy công cụ Các bộ điều khiển số trên máy công cụ được tích hợp máy máy tính và thuật ngữ CNC
(viết tắt của Computer Numerical Control) được sử dụng từ đầu thập kỷ 70 Máy CNC ưu
việt hơn máy NC thông thường về nhiều mặt, như tốc độ xử lý cao, kết cấu gọn, nhưng
ưu điểm quan trọng nhất của chúng là ở tính năng sử dụng, giao diện với người dùng và các thiết bị ngoại vi khác Các máy CNC ngày nay có màn hình, bàn phím và nhiều thiết
bị khác để trao đổi thông tin với người dùng Nhờ màn hình, người dùng được thông báo thường xuyên về tình trạng của máy, cảnh báo báo lỗi và nguy hiểm có thể xảy ra, có thể mô phỏng để kiểm tra trước quá trình gia công, Máy CNC có thể làm việc đồng bộ với các thiết bị sản xuất khác như robot, băng tải, thiết bị đo, trong hệ thống sản xuất Chúng có thể trao đổi thông tin trong mạng máy tính các loại, từ mạng cục bộ (LAN) đến mạng diện rộng và Internet
Ngoài kỹ thuật điều khiển tự động, sự phát triển của máy CNC và công nghệ gia công trên chúng còn gắn liền với một lĩnh vực khác của công nghệ thông tin: thiết kế và sản xuất có trợ giúp của máy tính mà chúng ta quen gọi là CAD/CAM Đó là lĩnh vực ứng dụng máy tính vào công tác thiết kế, tính toán kết cấu, chuẩn bị công nghệ, tổ chức sản
(*) Chiếc máy tính điện tử đầu tiên mang tên ENIAC (Electronic Numerical Integrator and
Computer) do Mauchly và Eckert chế tạo vào năm 1943
Trang 27xuất, hạch toán kinh tế, Một hệ thống sản xuất tự động, có khả năng tự thích ứng với sự
thay đổi đối tượng sản xuất được gọi là hệ thống sản xuất linh hoạt (Flexible
Manufacturing System - FMS) FMS gồm máy các máy hoặc trung tâm gia công CNC,
robot, các thiết bị vận chuyển, thiết bị kiểm tra, đo lường, làm việc dưới sự điều khiển của một mạng máy tính Sự tích hợp mọi hệ thống thiết bị sản xuất và tích hợp mọi quá trình thiết kế - sản xuất - quản trị kinh doanh nhờ mạng máy tính với các phần mềm trợ
giúp công tác thiết kế và công nghệ, kinh doanh, tạo nên hệ thống sản xuất tích hợp
nhờ máy tính (Computer Integrated Manufacturing - CIM)
CAD/CAM là lĩnh vực có liên quan mật thiết với kỹ thuật điều khiển số các thiết bị
sản xuất CAD (Computer Aided Design), được dịch là "thiết kế có trợ giúp của máy
tính", là một lĩnh vực ứng dụng của CNTT vào thiết kế Nó trợ giúp cho các nhà thiết kế
trong việc mô hình hoá, lập và xuất các tài liệu thiết kế dựa trên kỹ thuật đồ hoạ CAM
(Computer Aided Manufacturing), được dịch là "sản xuất có trợ giúp của máy tính",
xuất hiện do nhu cầu lập trình cho các thiết bị điều khiển số (máy CNC, robot, thiết bị vận chuyển, kho tàng, kiểm tra) và điều khiển chúng Chúng vốn xuất hiện độc lập với nhau, nhưng ngày càng xích lại gần nhau CAD/CAM là thuật ngữ ghép, dùng để chỉ một môi
trường thiết kế - sản xuất với sự trợ giúp của máy tính
Quá trình xuất hiện, phát trển của máy CNC và các lĩnh vực liên quan, là CAD/CAM, CIM được tóm tắt trong hình 1.22 Chúng ta thấy vào cuối thế kỷ XX, CAD/CAM, CNC
đang trong thời kỳ phát triển mạnh và kỷ nguyên của CIM được khởi đầu
Hình 1 22: Lịch sử phát triển của CNC và các lĩnh vực liên quan
Trang 281.4.2 C¸c giai ®o¹n ph¸t triÓn
***
1950s-1970s
Programs had to be walked to NC controls, generally on paper tape NC controls had paper tape readers precisely for this purpose Many companies were still punching programs on paper tape well into the 1980s, more than twenty-five years after its elimination in the computer industry
be responsible for tracking and authorising NC program modifications Depending on program size, for the first time operators had the opportunity to modify programs at the DNC terminal No time was lost due to broken tapes, and if the software was correctly used, an operator running incorrect or out of date programs became a thing of the past
Older controls frequently had no port capable of receiving programs such as an RS232 or
RS422 connector In these cases, a device known as a Behind The Reader or BTR card was used The connection between the control's tape reader and the internal processor was interrupted by a microprocessor based device which emulated the paper tape reader's signals, but which had a serial port connected to the DNC system As far as the control was concerned, it was receiving from the paper tape unit as it always had; in fact it was the BTR or Reader Emulation card which was transmitting A switch was frequently added to permit the paper tape reader to be used as a backup
1990s and beyond
The PC explosion in the late 1980s and early 1990s signalled the end of the road for proprietary DNC terminals With some exceptions, CNC manufacturers began migrating to PC-based controls running DOS, Windows or OS/2 which could be linked in to existing networks using standard protocols Customers began migrating away from expensive minicomputer and workstation based CAD/CAM toward more cost-effective PC-based solutions Users began to demand more from their DNC systems than secure upload/download and editing PC-based systems which could accomplish these tasks based on standard networks began to be available at minimal or no cost In some cases, users no longer needed a DNC "expert" to implement shop
Trang 29floor networking, and could do it themselves However, the task can still be a challenge based on the CNC Control wiring requirements, parameters and NC program format
To remain competitive, therefore, DNC companies moved their offerings upmarket into DNC Networking, Shop Floor Control or SFC, Manufacturing Execution Systems or MES These terms encompass concepts such as real-time Machine Monitoring, Graphics, Tool Management, Traveler Management and Scheduling Instead of merely acting as a repository for programs, DNC systems aim to give operators at the machine an integrated view of all the information (both textual and graphical) they require in order to carry out a manufacturing operation, and give management timely information as to the progress of each step DNC systems are frequently directly integrated with corporate CAD/CAM, ERP and Process Planning systems
Special Protocols
A challenge when interfacing into machine tools is that in some cases special protocols are used Two well-known examples are Mazatrol and Heidenhain Many DNC systems offer support for these protocols Another protocol is DNC2 or LSV2 which is found on Fanuc controls DNC2 allows advanced interchange of data with the control, such as tooling offsets, tool life information and machine status as well as automated transfer without operator intervention
Machine Monitoring
One of the issues involved in machine monitoring is whether or not it can be accomplished automatically In the 1980s monitoring was typically done by having a menu on the DNC terminal where the operator had to manually indicate what was being done by selecting from a menu, which has obvious drawbacks There have been advances in passive monitoring systems where the machine condition can be determined by hardware attached in such a way as not to interfere with machine operations (and potentially void warranties) Many modern controls allow external applications to query their status using a special protocol
1.5 Các ưu, nhược điểm của máy CNC
Về bản chất vật lý, quá trình gia công trên máy thông thường và máy CNC hoàn toàn như nhau: kích thước và chất lượng bề mặt của chi tiết gia công được hình thành và điều khiển bởi sự tương tác cơ, lý, hoá giữa dụng cụ và chi tiết gia công Nền tảng lý thuyết cắt gọt kim loại được nghiên cứu và ứng dụng hàng trăm năm nay dựa trên máy truyền thống vẫn đúng cho máy CNC Hiệu quả do điều khiển số mang lại, thực chất là cho phép thực hiện hợp lý hơn các chế độ gia công, phát huy năng lực của máy ở mức độ cao hơn mà trên máy thông thường, do hạn chế của điều khiển thủ công, không thực hiện được Sự tích hợp giữa kỹ thuật cơ khí, điều khiển tự động và công nghệ thông tin đã tạo ra cho máy CNC các tính năng mới, vượt trội so với máy thông thường Việc chuyển vai trò điều
Trang 30khiển của con người cho máy móc tạo nên sự chính xác, linh hoạt, nhanh nhạy, bền vững của hệ thống công nghệ Nhờ các tính năng ngày càng ưu việt của hệ thống tích hợp cơ khí
- điều khiển tự động - công nghệ thông tin mà máy CNC có rất nhiều ưu điểm
1.5.1 Các ưu điểm của máy CNC
Hiệu quả kinh tế - xã hội của việc sử dụng máy CNC được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
Năng suất gia công cao
Tổng thời gian gia công một loạt chi tiết T gồm 3 thành phần:
T = Tc + Tp + Tck, trong đó, Tc - thời gian chính (trực tiếp cắt gọt); Tp - thời gian phụ (thời gian chạy không, thay dao, thay đổi chế độ cắt, kiểm tra, ); Tck - thời gian chuẩn bị - kết thúc loạt gia công (chuẩn bị dao cụ, đồ gá, dụng cụ đo, phôi liệu, )
Về lý thuyết, điều khiển số không làm giảm thời gian chính mà chỉ giảm 2 thành phần thời gian còn lại Tuy nhiên, trên thực tế máy CNC cho phép giảm cả 3 loại thời gian
so với máy công cụ truyền thống
- Thời gian chính Tc được cải thiện nhờ phát huy tối đa công suất gia công của máy, trong khi trên máy thông thường, do hạn chế về tay nghề hoặc tình trạng tâm sinh lý của công nhân điều đó không đạt được Ví dụ, tốc độ trục chính trên máy tiện CNC có thể tới hàng vạn vòng/phút, còn khi làm việc trên máy thông thường, công nhân chỉ có thể chạy tới vài ngàn vòng/phút Máy CNC có kết cấu cơ khí cứng vững, ổn định về cơ, nhiệt nên tốc độ và công suất gia công có thể phát huy tối đa Chế độ công nghệ trên máy CNC dường như chỉ phụ thuộc vào độ bền, độ cứng vững của hệ thống công nghệ và yêu cầu kỹ
thuật của chi tiết gia công Công nghệ cắt cao tốc (High Speed Cutting) chỉ phát huy được
hiệu quả cao trên máy CNC Việc gia công bằng nhiều dao, nhiều vị trí đồng thời cũng làm giảm đáng kể thời gian chính
- Thời gian phụ Tp giảm trước hết nhờ tăng tốc độ chạy không và giảm thời gian định
vị Các máy CNC hiện đại cho phép tăng tốc độ chạy không lên tới vài chục mét/phút mà không gây va chạm và định vị vẫn chính xác Trên các máy có hệ thống thay dao tự động, thời gian thay dao chỉ tính bằng giây Chế độ công nghệ được thay đổi từ chương trình, công nhân không mất thời gian gạt số Việc dừng máy để kiểm tra kích thước trong các nguyên công hầu như được loại bỏ do khả năng điều khiển chính xác vị trí và quỹ đạo của máy CNC rất cao Các trung tâm gia công thường có hệ thống cấp phôi, kẹp nhả phôi, lấy chi tiết tự động nên thời gian gá kẹp phôi rất ngắn Khi làm việc với máy CNC, công nhân chỉ đóng vai trò giám sát chứ không tham gia trực tiếp vào quá trình gia công nên máy có thể làm việc cả khi vắng mặt công nhân và một công nhân có thể trông coi nhiều máy
Trang 31- Việc chuẩn bị máy CNC để gia công một loại sản phẩm mới rất nhẹ nhàng: nạp chương trình gia công và chuẩn lại các toạ độ Toàn bộ thời gian trên chỉ cần không quá 30 phút Trong khi đó, nếu chi tiết đòi hỏi thiết kế và chế tạo đồ gá thì thời gian trên có thể kéo dài hàng tuần Khả năng điều khiển và phối hợp chính xác các trục theo chương trình cho phép loại bỏ các đồ gá và dao định hình phức tạp Nhờ vậy không những giảm được thời gian lắp đặt, căn chỉnh đồ gá mà còn loại bỏ các sai số truyền động do chế tạo và hao mòn cơ khí, tăng độ chính xác gia công Việc lập chương trình mới có thể tiến hành ngoài máy (trên máy tính độc lập) hoặc thực hiện ngay trong khi máy gia công nên chiếm thời gian máy không đáng kể
- Các máy và các trung tâm gia công CNC cho phép tập trung nguyên công cao độ Trên một máy có thể gia công nhiều bề mặt, bằng các phương pháp công nghệ khác nhau;
có thể gia công thô và tinh trên cùng một máy, trong cùng một lần gá, bằng nhiều dao, nhiều trục đồng thời Điều đó giảm bớt việc vận chuyển, gá đặt nên không những làm tăng năng suất mà còn giảm sai số gia công
Người ta đã tổng kết rằng, thời gian trực tiếp gia công (Tc) trên máy thông thường chỉ chiếm không quá 10% trong tổng số thời gian gia công (T) Trên máy CNC thời gian
đó lên tới 70%
Năng suất gia công trên máy CNC hầu như không phụ thuộc vào tay nghề và trạng thái tâm, sinh lý của công nhân
Chất lượng gia công cao
Chất lượng gia công (độ chính xác kích thước, hình dáng và chất lượng bề mặt gia công) suy đến cùng phụ thuộc 3 yếu tố: nguyên vật liệu, thiết bị và công nhân
Yếu tố nguyên vật liệu giả thiết là không thay đổi So sánh về thiết bị thì máy CNC
đảm bảo độ chính xác cao và đồng đều nhờ hệ thống điều khiển - đo lường rất chính xác (cỡ 0,01 - 0,001 mm), hệ thống cơ khí cứng vững và ổn định, quá trình cắt được điều khiển hoàn toàn nhờ chương trình nên loại trừ được các sai số do chế tạo và hao mòn các cữ, dưỡng Các máy CNC hiện đại đều có khả năng bù kích thước và mòn dao, bù khe hở
và biến dạng nhiệt cơ khí Trên máy thông thường, tay nghề và tình trạng tâm, sinh lý của người thợ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng gia công Khi gia công trên máy CNC, công nhân chỉ có nhiệm vụ nạp chương trình, giám sát việc gá phôi, thay dao và tình trạng làm việc của máy Vì vậy tâm sinh lý, tay nghề của công nhân hoàn toàn không ảnh hưởng đến chất lượng gia công
Trong số các thông số kỹ thuật của máy CNC, có 2 thông số ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng gia công Đó là độ chính xác định vị (Accuracy hay Positioning Accuracy) và
độ chính xác lặp lại (Repeatability)
Trang 32Độ chính xác định vị (ĐCXĐV) liên quan tới thuật ngữ độ phân giải điều khiển
(Control Resolution) Độ phân giải điều khiển (ĐPGĐK) nói lên khả năng của MCU, có
thể chia khoảng dịch chuyển của bàn máy thành những đoạn nhỏ mà bộ điều khiển có thể
nhận biết được Nói cách khác, đó là khoảng dịch chuyển nhỏ nhất của bàn máy mà bộ
điều khiển có thể điều khiển được Nếu khoảng dịch chuyển nhỏ hơn ĐPGĐK thì bộ điều khiển không thể nhận biết được và ta sẽ mắc một sai số điều khiển ĐPGĐK phụ thuộc
nhiều yếu tố, như năng lực xử lý (số bit) của bộ NC, bộ điều khiển truyền động (ví dụ số bước/vòng của động cơ bước), độ phân giải của hệ thống đo (ví dụ số xung phát ra trong 1 vòng quay của encoder) Với một hệ phức hợp, ĐPGĐK sẽ là ĐPG thấp nhất của các yếu
tố thành phần Để làm ví dụ, ta lấy trường hợp số bit của NC là yếu tố quyết định Nếu gọi
n là số bit của mỗi trục thì số khoảng chia (số điểm điều khiển) trên trục sẽ là
Số điểm điều khiển = 2n
ĐPGĐK là khoảng cách giữa 2 điểm điều khiển kề nhau:
n
2
chuyển dịch
ng Khoả
K PGĐ
=
2
K PGĐ
Đ V CXĐ
Trang 33Hình 1 23: Biểu diễn ĐCXĐV và ĐCXLL của máy NC
Định nghĩa về ĐPGĐK, ĐCXĐV, ĐCXLL được minh hoạ trong hình 1 23
Ví dụ, một bộ NC điều khiển máy tiện theo 2 trục với số bit là 16 (gọi là bộ điều khiển 16 bit) Khoảng dịch chuyển của trục Z là 800 mm, trục X là 300 mm Sai số cơ khí tuân theo luật phân bố chuẩn với phương sai σ = 0.0075 mm Ta thử tính ĐPGĐK,
ĐCXĐV và ĐCXLL của hệ thống Ta sẽ giải bài toán trên cho bộ điều khiển 8 bit và 32 bit để so sánh kết quả
Vì 2 trục có khoảng dịch chuyển khác nhau nên phải xác định ĐPGĐK và ĐCXĐV cho từng trục Ta có thể lập một bảng tính Excel như sau để tính luôn cho cả 3 trường hợp:
bộ điều khiển 8, 16 và 32 bit
Số điểm ĐK 2n = 256 65 536 4 294 967 296 Cả 2 trục 3*sigma = 0.0225 ĐCXLL = 6*sigma = 0.0450
Trục Z Khoảng dịch Z 800
ĐPGĐK (mm) Z/2n 3.125 0.0122 0.000000186
ĐCXĐV (mm) ĐPGĐK/2 + 3*sigma 1.585 0.0286 0.022500093 Trục X Khoảng dịch X 300
- Năng lực của máy tính (số bit) càng lớn thì độ chính xác định vị càng cao Các bộ
điều khiển mới dùng máy tính 32 bit nên có thể đạt độ chính xác định vị rất cao
Trang 34- Khi ĐPGĐK thấp thì sai số định vị phụ thuộc nhiều vào sai số điều khiển Khi nâng cao ĐPGĐK thì sai số cơ khí chiếm vị trí quan trọng
- Với cùng một bộ điều khiển, muốn tăng khoảng dịch chuyển (khoảng điều khiển) của bàn máy thì phải hy sinh độ chính xác định vị
Tính linh hoạt cao
Máy CNC hơn hẳn máy thông thường ở tính linh hoạt Điều đó biểu hiện ở hai khía cạnh Thứ nhất, trên một máy CNC có thể thực hiện nhiều chức năng công nghệ khác nhau
và việc chuyển đổi giữa các chức năng rất dễ dàng Ví dụ, trên máy phay CNC có thể thực hiện các nguyên công khoan, khoét, doa, gia công mặt phẳng, định hình, răng, ren, gia công các rãnh, hốc phức tạp như hốc tròn, chữ nhật, elip, Các mặt cong không gian, như mặt cầu, mặt xoắn ốc, cũng có thể gia công trên máy phay 3 trục Các máy phay 4-5 trục cải thiện đáng kể năng suất và chất lượng gia công và có thể gia công các sản phẩm nghệ thuật, như tạc tượng Máy tiện CNC, ngoài các chức năng như máy thường, có thể gia công ren với bước thay đổi, ren trên mặt côn Điều quan trọng là các mặt cong định hình
có thể gia công trên máy CNC một cách dễ dàng, dùng đồ gá và dao thông thường chứ không cần đồ gá và dao chuyên dùng Trên các trung tâm gia công có thể thực hiện các công việc phay, khoan, doa, tiện, mài, đồng thời Chính vì vậy mà máy CNC có khả năng tập trung nguyên công cao để gia công các chi tiết phức tạp Biểu hiện thứ hai của tính linh hoạt là việc thay đổi đối tượng gia công trên máy CNC rất dễ dàng, gần như chỉ thay đổi chương trình chứ không cần thay đồ gá, dao cụ phiền phức như trên máy thông thường Nhờ có khả năng thích ứng linh hoạt với đối tượng gia công mà máy CNC là thiết
bị cơ bản của các hệ thống sản xuất linh hoạt
Nhờ tính linh hoạt cao của mình mà máy CNC được sử dụng phổ biến không chỉ trên các dây chuyền, trong các tế bào sản xuất tự động mà còn được sử dụng riêng lẻ trong loại hình sản xuất đơn chiếc, loạt nhỏ, thậm chí cả chế thử
Chi phí gia công giảm
Chi phí gia công một loạt N chi tiết có thể được biểu diễn qua công thức sau:
C = Ccb + Ctx(1 + p)N trong đó, C - chi phí tổng cộng; Ccb - chi phí cơ bản, gồm khấu hao thiết bị, nhà xưởng;
Ctx - chi phí thường xuyên cho một chi tiết gồm lương công nhân, nguyên vật liệu, năng lượng chạy máy, ; p - tỷ lệ phế phẩm trung bình; N - số lượng chi tiết trong loạt
Trang 35Máy CNC có năng suất
cao, không đòi hỏi công nhân
bậc cao, ít sinh phế phẩm nên
cho phép giảm chi phí thường
xuyên Tuy nhiên, chi phí mua
sắm, bảo trì, lập trình, đảm bảo
môi trường cho máy CNC lớn
hơn nhiều lần so với máy thông
thường Ngược lại, máy chi phí
ban đầu để mua sắm máy thông
- Máy CNC, đặc biệt là các trung tâm gia công rất đắt tiền Giá của chúng từ vài
chục ngàn đến hàng triệu đô la Mỹ, gấp từ 5 đến hàng chục lần giá máy thông thường cùng cỡ
- Máy CNC là thiết bị công nghệ cao, có hệ thống cơ khí chính xác và hệ thống điều
khiển, đo lường tinh vi, phức tạp Để bảo đảm độ chính xác, chúng cần điều kiện bảo quản
và làm việc khắt khe Các yêu cầu về dụng cụ, vật tư bảo quản, bảo dưỡng máy CNC cũng
cao và tốn kém hơn máy thường
- Máy CNC đòi hỏi đội ngũ cán bộ kỹ thuật được đào tạo chuyên sâu Máy CNC tuy
không đòi hỏi người vận hành có thay nghề cao nhưng lại đòi hỏi một đội ngũ cán bộ kỹ thuật đồng bộ và được đào tạo chuyên sâu Lập trình viên phải có kiến thức vững về công nghệ gia công cơ khí, hiểu biết về cấu hình máy, thành thạo ngôn ngữ và công cụ lập trình (CAD/CAM) Thợ vận hành phải nắm chắc kết cấu, tính năng, chế độ vận hành máy, chế
độ bảo quản bảo dưỡng và khắc phục các sự cố thông thường; đồng thời có khả năng lập trình cơ bản Cán bộ kỹ thuật bảo trì, sửa chữa cần hiểu biết sâu kết cấu chung và kết cấu từng hệ thống của máy; có khả năng chẩn đoán tình trạng hoạt động và phân tích, khắc phục sự cố của máy Trong nhiều trường hợp, cần liên hệ với nhà sản xuất để nhận trợ
Trang 36giúp kỹ thuật Nói chung, đội ngũ cán bộ kỹ thuật làm việc với máy CNC gồm các kỹ sư
cơ điện tử, được đào tạo chuyên sâu về lập trình, vận hành, bảo trì, sửa chữa các hệ thống sản xuất tự động hoá
- Máy CNC là máy có cấu hình cứng (Fixed Configuraton, Non-Configurable Machine Tools), chỉ có nhà sản xuất mới thay đổi được Nhà sản xuất luôn luôn đưa ra các cấu hình tuy chọn (Options) hấp dẫn (độ chính xác cao, nhiều trục điều khiển, tốc độ gia
công cao, nhiều chức năng tự động hoá, ) Người mua máy nếu không xuất phát từ nhu cầu và trình độ sử dụng thực tế thì sẽ bỏ tiền ra mua các máy đắt tiền với đầy đủ chức năng nhưng có nhiều chức năng thừa, rất ít dùng, dẫn đến sự lãng phí lớn
- Về bản chất, CNC là điều khiển cứng Máy CNC làm việc theo chương trình, nghĩa
là mọi hoạt động của nó tuân theo đúng trình tự và chế độ công nghệ quy định sẵn trong chương trình (xem lại mục 1.1) Bộ điều khiển không thể nhận biết được và không thể phản ứng trước những biến động trong quá trình công nghệ (sự biến động về kích thước, cơ tính vật liệu phôi; sự thay đổi khả năng cắt của dao; ) nên các chế độ công nghệ ghi trong chương trình mang tính dự phòng cao Điều đó khiến trong phần lớn thời gian, máy làm việc dưới khả năng Điều đó dẫn đến sự lãng phí về năng suất gia công
1.6 Hướng sử dụng và phát triển máy CNC
Trong phần trên, chúng ta đã phân tích các ưu, nhược điểm của máy CNC thông thường Để phát huy ưu điểm, khắc phục những nhược điểm của máy CNC cần tìm ra và
áp dụng các giải pháp về kết cấu, điều khiển và sử dụng chúng Sau đây chúng ta sẽ phân
tích một số giải pháp quan trọng nhất
1.6.1 Lựa chọn và sử dụng hợp lý máy CNC
Khi lựa chọn và sử dụng máy CNC cần phải trả lời 2 câu hỏi quan trọng:
Dùng máy vạn năng hay máy CNC?
Xu thế hiện nay là giá trị phần cứng của bộ điều khiển giảm rất nhanh, trong khi giá trị phần cơ khí và phần mềm lại tăng Vì vậy các máy CNC cỡ trung bình, bộ điều khiển
contour đơn giản trên cơ sở PC (PC Based CNC) không đắt hơn nhiều so với máy vạn
năng Nhờ trợ giúp của công nghệ CAD/CAM, máy đo hoặc đầu dò 3 chiều, việc thiết
kế và chuẩn bị chương trình cho máy CNC trở nên đơn giản Máy CNC ngày càng được sử dụng phổ biến và dần dần thay thế máy vạn năng cả trong gia công thông thường
Trang 37Hình 1.25 biểu diễn khu vực
sử dụng hiệu quả của máy thông
thường và máy CNC Theo đó,
máy vạn năng thông thường giá rẻ
nhưng độ chính xác thấp được
dùng chủ yếu trong sản xuất đơn
chiếc loạt nhỏ các chi tiết có độ
phức tạp và độ chính xác thấp
(vùng I) Khi yêu cầu độ phức tạp
và độ chính xác cao thì máy CNC
phù hợp hơn Trong điều kiện đó,
máy CNC vẫn cho hiệu quả kinh
tế cao cả khi sản xuất đơn chiếc,
loạt nhỏ và chế thử, thậm chí sản
xuất theo yêu cầu đặc biệt
Hình 1 25: Vùng hiệu quả kinh tế của máy thông
thường (I) và của máy CNC (II)
I
II Sản lượng
Độ phức tạp và độ chính xác của chi tiết
Cùng với các yếu tố công nghệ đã nói trên, hiệu quả kinh tế cần được tính toán, cân nhắc khi thay thế máy vạn năng bằng máy CNC
Dùng máy CNC với cấu hình nào?
Các máy và trung tâm gia công CNC khác nhau rất nhiều về cấu hình, tính năng và tất nhiên là giá cả và các chi phí sử dụng Vì vậy, chọn máy cho phù hợp với nhu cầu sử dụng cũng là bài toán kỹ thuật và kinh tế Các máy CNC cỡ vừa, cấu hình thấp (ví dụ máy phay 3 trục, máy tiện 2 trục) thường được sử dụng tại các xưởng máy với các chức năng gia công thông thường Các trung tâm gia công có thể dùng tại các xưởng chế thử với các chi tiết phức tạp nhưng số lượng ít Trừ dây chuyền cứng (hàng khối), các máy và trung tâm gia công CNC được ứng dụng trong mọi loại hình sản xuất (hình 1.26) Tuy nhiên, cấu hình của máy và trung tâm gia công cần thay đổi tuỳ theo ứng dụng cụ thể
Trang 38Hình 1 26: Phạm vi ứng dụng máy và trung tâm gia công CNC
Khi sản lượng thấp, sản
phẩm thay đổi thường xuyên
thì các máy hoặc trung tâm
CNC đơn lẻ được sử dụng
Trên các máy này, các chức
năng chính được ưu tiên tự
động hoá Một số chức năng
phụ trợ, như cấp phôi tự
động, giao tiếp với robot,
băng tải, không cần thiết
Khi sản lượng cao hơn,
chúng được ghép vào các tế
bào, hệ thống, dây chuyền
sản xuất linh hoạt Hình 1 27: Tính kinh tế của việc sử dụng CNC Trên các hệ thống đó, các thiết bị gia công được chuyên môn hoá ở mức độ cao hơn nên chuyển động cắt gọt không nhất thiết phải phức tạp (ví dụ dải tốc độ trục chính có thể
Trang 39hẹp hơn, số trục chạy dao không nhất thiết phải nhiều) Nhưng cùng làm việc với máy CNC còn có các robot, băng tải, máy đo toạ độ, thiết bị lưu trữ, Do đó, các máy CNC phải có giao diện phù hợp Để giảm sự can thiệp của con người (khi hệ thống làm việc nhiều ca, kể cả ban đêm, ngày nghỉ không có người giám sát và phục vụ), các hệ thống phụ trợ và phục vụ và giám sát (cấp phôi, cấp dao, đo dao, tải chi tiết, tải phoi, ) cần được
tự động hoá Hình 1.27 cho phép so sánh hiệu quả kinh tế của các loại hình sản xuất có sử dụng CNC Máy CNC đơn lẻ có thể sử dụng khi sản lượng rất thấp nhưng năng suất của chúng không cao, chi phí sản xuất (tính cho 1 chi tiết) lớn Trong các tế bào hoặc các dây chuyền sản xuất linh hoạt, máy được chuyên môn hoá, có hệ thống phục vụ đầy đủ, có năng suất cao, do đó chi phí sản xuất thấp hơn
1.6.2 Điều khiển thích nghi máy CNC
Khái niệm về điều khiển thích nghi máy công cụ
Như đã nói ở mục 1.5.2, CNC là bộ điều khiển cứng, làm việc theo chương trình lập trước Nhiệm vụ của CNC là điều khiển máy công cụ thực hiện quá trình và duy trì chế độ gia công theo đúng chương trình Trên thực tế, quá trình công nghệ thực luôn có biến động không biết trước và không theo quy luật nào nhất định Ví dụ, sự thay đổi của chiều dày và
bề rộng cắt; cơ tính vật liệu; khả năng cắt của dụng cụ; rung động của hệ thống; độ cứng vững thực tế của phôi, dao, Như đã chỉ ra trong hình 1.5, quá trình công nghệ nằm ngoài vòng điều khiển của CNC nên nó không nhận biết và xử lý được
Để đảm bảo chất lượng gia công và an
toàn của hệ thống, trong công nghệ truyền
thống, chế độ cắt được xác định theo nguyên
tắc phòng ngừa, nghĩa là theo điều kiện khó
khăn, nặng nề nhất Trên thực tế, điều kiện đó
chỉ là giả định hoặc xảy ra trong khoảnh khắc
Tromg phần lớn thời gian, máy làm việc dưới
khả năng, với năng suất thấp, chi phí cao Máy
CNC không nằm ngoài tình trạng đó
Như trên hình 1.28 lượng chạy dao trên
máy CNC (FCNC) được xác định sao cho khi
cắt với chiều sâu cắt lớn nhất (Hmax) dao
không bị mẻ Trong suốt quá trình gia công,
tuy chiều sâu cắt thực nhỏ hơn FCNC rất nhiều
nhưng hệ điều khiển vẫn duy trì giá trị đó Hình 1 28: Chế độ cắt trên máy CNC
Trang 40Nếu bằng cách nào đó, bộ điều khiển hiệu chỉnh được lượng chạy dao FAC theo chiều sâu cắt thực thì năng suất sẽ tăng lên rất nhiều
Hệ điều khiển có khả năng giám sát theo thời gian thực các biến động của môi trường và tự hiệu chỉnh chế độ làm việc sao cho đạt được tốt nhất mục tiêu điều khiển
được gọi là điều khiển thích nghi (Adaptve Control - AC)
Trong trường hợp trên, có thể thiết kế bộ AC với nhiệm vụ giám sát (trực tiếp hay gián tiếp) chiều sâu cắt và tự động hiệu chỉnh lượng chạy dao FAC, duy trì giá trị lực cắt không vượt quá ngưỡng nào đó (ví dụ, không gãy dao)
Như vậy, khác với công nghệ CNC truyền thống (thiết lập chế độ công nghệ trước
khi gia công (Off-line), theo nguyên tắc phòng ngừa, bị động), AC là giải pháp tích cực, thông minh và hiệu chỉnh chế độ công nghệ ngay trong khi gia công (On-line)
AC không phải ý tưởng mới Bộ AC đầu tiên được thực hiện tại Bendix Research Liboratories vào khoảng năm 1962-1964, dưới sự bảo trợ của Không lực Mỹ Vào khoảng
thời gian đó, hãng Cincinnati Milacron cũng xây dựng một hệ tương tự Cả hai nơi đều nhận ra rằng không thể tạo ra một hệ thống có khả năng đo trực tuyến chỉ tiêu hiệu quả
(Performance Index - PI) của quá trình Mặt khác các hệ AC này đều quá đắt để có thể
ứng dụng trong công nghiệp Sau đó, hàng loạt công trình nghiên cứu được tiến hành để tìm ra giải pháp khả thi về kỹ thuật
Các hệ AC cho máy công cụ được phân làm 3 loại:
- Hệ bù hình học thích nghi (Geometric Adaptive Compensation - GAC) nhằm nâng
cao độ chính xác gia công bằng cách giám sát và bù trực tuyến sai số hình học do sự biến
động của nhiệt độ vùng cắt, do sai số hình học của máy, do mòn dao, Tuy nhiên, do khó khăn trong việc đo trực tuyến lượng mòn dao và nhiệt độ vùng cắt nên cho đến nay chưa
có bộ GAC nào được ứng dụng thực tế [11]
- Hệ điều khiển thích nghi tối ưu (Adaptive Control Optimization - ACO) nhằm hiệu
chỉnh chế độ cắt để đạt được chỉ tiêu tối ưu nhất định, ví dụ năng suất cắt cao nhất hay chi phí gia công nhỏ nhất ACO cũng gặp phải khó khăn tương tự như GAC, không có thiết bị
đo trực tuyến mòn dao và nhiệt độ vùng cắt
- Hệ điều khiển thích nghi theo trạng thái giới hạn (Adaptive Control with Constraints - ACC), thường là đảm bảo lực cắt không vượt quá giới hạn cho phép Hiện
nay đây là hướng khả thi nhất cho AC máy công cụ
Một số hệ điều khiển thích nghi hiện có
Trong số nhiều hệ ĐKTN được nghiên cứu trên thế giới thì đã có một số hệ ACO, nhưng nhiều nhất là các hệ ACC