Do vậy để có thể tồn tại, đứng vững trên thương trường và thắng đượcđối thủ thì tất yếu doanh nghiệp phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh củamình bằng cách không ngừng nâng cao chất lượn
Trang 1TRẦN THUÝ HẰNG CQ56/62.01 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các côngtrình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm về đề tài của mình
Tác giả luận văn
Trần Thuý Hằng
Trang 3CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG
a Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường 6
Trang 41.2.2 Nội dung năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 16 1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 20
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI THUẬN
2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng và
2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Đầu tư Xây
2.2.1. Đầu tư cho cơ sở vật chất, máy móc thiết bị 41
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Đầu tư Xây
Trang 52.3.1 Thành tựu 47
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
3 1 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn
3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đầu tư xây
3.2.1. Đầu tư nâng cao năng lực bộ máy lãnh đạo 56
3.2.2. Đầu tư máy móc thiết bị hiện đại, nâng cao năng lực thi công
57
3.2.4. Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn 60
3.2.5. Tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước 63
3.2.6. Đầu tư cho hoạt động Marketing, nâng cao uy tín của doanh
3.3.2.Kiến nghị với địa phương (Tỉnh Ninh Bình – Huyện Kim Sơn) 68
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TNHH : Trách nhiệm hữu hạnTSCĐ : Tài sản cố địnhCSVC : Cơ sở vật chất
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Kinh phí đầu tư của công ty TNHH Đầu tư Xây dựng và Thương
Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán của công ty TNHH Đầu tư Xây dựng và
Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn của công ty TNHH Thuận Bảo trong giai đoạn
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay các doanh nghiệp ở Việt Nam đang phải đối mặt với môitrường kinh doanh đầy biến động và gặp nhiều rủi ro Cạnh tranh là cơ chếvận hành chủ yếu của nền kinh tế thị trường, là động lực thúc đẩy phát triểnkinh tế Đối với mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh tạo ra sức ép hoặc kíchứng khoa học, công nghệ trong sản xuất, cải tiến công nghệ, thiết bị sản xuất
và phương thức quản lí nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành vàgiá bán hàng hóa Cạnh tranh ngày càng gay gắt khi xu hướng mở cửa hợp táchội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới diễn ra mạnh mẽ Đứng trướctình hình đó thì sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp phụ thuộc rấtnhiều vào năng lực cạnh tranh của chính mình
Nâng cao năng lực cạnh tranh chính là đáp ứng yêu cầu tất yếu kháchquan, phù hợp với quy luật cạnh tranh của thương trường và cũng là phục vụlợi ích của chính doanh nghiệp Bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong nềnkinh tế thị trường đều phải đối mặt với cạnh tranh, với quy luật "mạnh đượcyếu thua", nếu né tránh thì sớm muộn gì doanh nghiệp cũng bị cạnh tranh đàothải Do vậy để có thể tồn tại, đứng vững trên thương trường và thắng đượcđối thủ thì tất yếu doanh nghiệp phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh củamình bằng cách không ngừng nâng cao chất lượng hạ giá thành, áp dụngthành tựu công nghệ tiên tiến vào trong sản xuất, sử dụng kiến thức quản lýhiện đại vào hoạt động quản trị một cách khoa học, sáng tạo Mặt khác nângcao năng lực cạnh tranh cũng chính là nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực
tế Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào biết thích nghi với thịtrường, tận dụng mọi cơ hội, phát huy được khả năng sẽ giành thắng lợi,ngược lại những doanh nghiệp yếu thế không tận dụng cơ hội, không thíchnghi với môi trường sẽ bị đào thải khỏi thị trường
Trang 9Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh là cần thiết cho sự phát triển kinh
tế, xã hội Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, do vậy mỗi tế bào
"khoẻ" thì cả nền kinh tế đó cũng có năng lực cạnh tranh cao hơn Ngược lạikhi nền kinh tế đó "khoẻ" thì nó lại tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho cácdoanh nghiệp phát huy được lợi thế của mình Chính vì vậy, em đã lựa chọn
đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Đầu tư Xây
dựng và Thương mại Thuận Bảo” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty
TNHH Đầu tư Xây dựng và Thương mại Thuận Bảo và các giải pháp nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
Mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất: Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về nâng cao năng
lực cạnh tranh của Doanh nghiệp
Thứ hai: Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH
Đầu tư Xây dựng và Thương mại Thuận Bảo, sau đó đưa nhận xét khách quannhững thành tựu đã đạt được và hạn chế
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh
của Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng và Thương mại Thuận Bảo
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp luận chung và các phươngpháp cụ thể để nghiên cứu, trong đó:
+ Phương pháp luận chung: Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biệnchứng và phương pháp duy vật lịch sử;
+ Phương pháp cụ thể bao gồm: tổng hợp, so sánh đối chiếu, liệt kê,khảo sát thực tiễn, phân tích, đánh giá, đọc tài liệu tại công ty, phương phápquan sát, phương pháp phỏng vấn,…
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu vào các nội dung liên quan đế nănglực cạnh tranh của Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng và Thương mại ThuậnBảo
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu vào năng lực cạnh tranhcủa Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng và Thương mại Thuận Bảo
- Thời gian: Kết quả đạt được trong 3 năm 2019 - 2021
5 Kết cấu khóa luận.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu làm 3 chương:
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đầu tư Xây dựng và Thương mại Thuận Bảo.
TNHH Đầu tư Xây dựng và Thương mại Thuận Bảo
Trang 11CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một thuật ngữ đã được sử dụng từ khá lâu song trongnhững năm gần đây được nhắc đến nhiều hơn, nhất là ở Việt Nam Bởi trongnền kinh tế mở hiện nay, khi xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng phổbiến thì cạnh tranh là phương thức để đứng vững và phát triển của doanhnghiệp Nhưng “cạnh tranh là gì” thì vẫn đang là một khái niệm chưa thốngnhất, các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm cạnh tranh dưới nhiều góc độkhác nhau
Theo Adam Smith – nhà kinh tế học nổi tiếng, ông cho rằng cạnh tranh
có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng, có lợi cho xã hội Theo Smith,
“nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau, thì cạnh tranh buộc mỗi cánhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác”, “cạnh tranh
và thi đua thường tạo ra sự cố gắng lớn nhất Ngược lại, chỉ có mục đích lớnlao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít cókhả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào” Adam Smith lấy chủ nghĩa
cá nhân làm cơ sở để sáng lập ra hệ thống lý luận kinh tế học theo chủ nghĩa
tự do Ông cho rằng con người chạy theo lợi ích cá nhân, nhưng lợi ích cánhân và lợi ích xã hội lại thống nhất với nhau Smith chủ trương tự do cạnhtranh, ông cho rằng thông qua cạnh tranh mà các hoạt động kinh tế có thể phốihợp một cách nhịp nhàng và thúc đẩy sự phát triển của xã hội Tự do cạnhtranh thúc đẩy con người nổ lực hơn, sang tạo, tăng năng suất lao động, làmcho quá trình của cải của quốc gia tăng lên, cạnh tranh chủ yếu diễn ra thôngqua thị trường và gía cả, do đó cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với thị trường
và tự do cạnh tranh có thể tự điều tiết các quan hệ cung - cầu, sản lượng, phâncông lao động, tạo sự cân bằng cung cầu xã hội mà không cần sự can thiệp
Trang 12của Nhà nước.
Trang 13Trong lý luận cạnh tranh của mình, trọng điểm nghiên cứu của Các Mácnhững cuộc cạnh tranh này diễn ra dưới ba góc độ: cạnh tranh giá thành thôngqua nâng cao năng suất lao động giữa các nhà tư bản nhằm thu được giá trịthặng dư siêu ngạch; cạnh tranh chất lượng thông qua nâng cao giá trị sử dụnghàng hoá, hoàn thiện chất lượng hàng hoá để thực hiện được giá trị hàng hoá;cạnh tranh giữa các ngành thông qua việc gia tăng tính lưu động của tư bảnnhằm chia nhau giá trị thặng dư Ba góc độ cạnh tranh cơ bản này diễn raxoay quanh sự quyết định giá trị, sự thực hiện giá trị và sự phân phối giá trịthặng dư, chúng tạo nên nội dung cơ bản trong lý luận cạnh tranh của CácMác.
Đến nửa cuối thế kỷ XIX, các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điểnmới xây dựng lý luận cạnh tranh trên cơ sở tổng kết sự phát triển lý luận kinh
tế ở nửa đầu thế kỷ ấy nhằm vạch ra nguyên lý cơ bản về sự vận động của chế
độ tư bản chủ nghĩa để chỉ đạo cạnh tranh, kết quả là họ đã cho ra đời tưtưởng về thể chế kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, lấy thị trường tự do hoặc chế độtrao đổi làm cốt lõi Cạnh tranh hoàn hảo là một trong những giả thiết cơ bảncủa lý luận kinh tế này Trong kinh tế học cổ điển mới, thị trường được giảđịnh là thị trường không có độc quyền, tự động giữ được cân đối, nhữngngười tham gia thị trường cũng được giả định là có đầy đủ thông tin như nhau.Trong nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, người sản xuất phải bố trí sản xuấttheo thị hiếu của người tiêu dùng, còn người tiêu dùng phải chọn lựa hàng hoá
và dịch vụ bằng hình thức tiền tệ
Quan điểm của David Ricardo cũng đề cao tự do cạnh tranh, đặc biệt là
tư tưởng về lợi thế so sánh Mỗi quốc gia, mỗi ngành có những lợi thế về tàinguyên khác nhau, công nghệ khác nhau do đó có thể sản xuất và bán nhữngsản phẩm mà mình có lợi thế hơn và thông qua ngoại thương nhập những mặthàng mà mình kém ưu thế hơn Adam Smith và David Ricardo chỉ rõ gía trị
và giá trị sử dụng của hàng hoá và chính hai yếu tố này quyết định năng lực
Trang 14cạnh
Trang 15tranh của hàng hoá.
Như vậy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếucho sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia
Cạnh tranh giúp khai thác một cách hiệu quả nguồn lực thiên nhiên vàtạo ra các phương tiện mới để thoả mãn nhu cầu cá nhân ở mức giá thấp hơn
và chất lượng cao hơn, từ đó, nâng cao được đời sống vật chất và tinh thầncủa con người Nhờ cạnh tranh đã thúc đẩy đổi mới công nghệ và gia tăngnăng suất, tạo ra những thành tựu mới trên nhiều lĩnh vực
1.1.2 Phân loại cạnh tranh
a Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:Đây là sự cạnh tranh trongkhâu lưu thông hàng hóa nhằm tối đa hóa lợi ích cho những chủ thể tham giacạnh tranh
-Cạnh tranh giữa người bán và người mua với đặc trưng nổi bật là ngườimua luôn muốn mua rẻ và người bán luôn muốn bán đắt Hai lực lượng nàyhình thành hai phía cung cầu trên thị trường Kết quả sự cạnh tranh trên làhình thành giá cân bằng của thị trường, đó là giá mà cả hai phía đều chấpnhận được
-Cạnh tranh giữa những người mua là sự cạnh tranh do ảnh hưởng củaquy luật cung cầu Khi lượng cung một hàng hóa quá thấp so với lượng cầulàm cho người mua phải cạnh tranh nhau để mua được hàng hóa mà mình cầndẫn tới giá cả tăng vọt Kết quả là người bán thu được lợi nhuận cao cònngười mua phải mất10 thêm một số tiền Như vậy sự cạnh tranh này làm chongười bán được lợi và người mua bị thiệt
-Cạnh tranh giữa những người bán là sự cạnh tranh nhằm tăng sản lượngbán Do sản xuất ngày càng phát triển, thị trường mở cửa, lượng cung tăngnhanh trong khi lượng cầu tăng chậm dẫn tới người bán (các doanh nghiệp)phải cạnh tranh khốc liệt để giành thị trường và khách hàng Kết quả là giá cảkhông ngừng giảm xuống và người mua được lợi Doanh nghiệp nào thắng
Trang 16trong cuộc cạnh tranh này mới có thể tồn tại và phát triển.
b Căn cứ vào cấp độ cạnh tranh: Đây là sự cạnh tranh diễn ra tronglĩnh vực sản xuất
-Cạnh tranh giữa các sản phẩm là sự cạnh tranh về mẫu mã, kiểu dáng,chất lượng, giá cả, phương thức bán hàng … Sản phẩm nào phù hợp nhất vớiyêu cầu của khách hàng thì sản phẩm đó sẽ đảm bảo được khả năng tiêu thụ,kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm và tạo cơ hội thu thêm lợi nhuận cho doanhnghiệp
-Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành (cạnh tranh nội bộngành) là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại hànghóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch Trong nền kinh tế thị trường, theo quyluật, doanh nghiệp nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động
xã hội cần thiết sẽ thu lợi nhuận siêu ngạch Các doanh nghiệp sẽ áp dụng cácbiện pháp như cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động,giảm chi phí sản xuất nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm Doanh nghiệpnào có nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao sẽ cạnh tranh thắng lợi trongngành
-Như vậy cạnh tranh nội bộ ngành làm giảm chi phí sản xuất và giá cảhàng hóa, là động lực thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và tiến bộ kỹthuật Không có cạnh tranh nội bộ ngành thì ngành đó không thể phát triển vàkinh tế sẽ bị trì trệ
-Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sảnxuất ở các ngành khác nhau nhằm tìm nơi đầu tư có lợi nhất Giữa các ngànhkinh tế, do điều kiện tự nhiên, kỹ thuật và một số nhân tố khách quan khác(như tâm lý, thị hiếu, kỳ vọng, mức độ quan trọng,…) nên cùng với một lượngvốn, đầu tư vào ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn ngànhkhác Nhà sản xuất ở những ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướng dichuyển nguồn lực sang những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao Kết quả là trong
Trang 17cầu, giá
Trang 18giảm dẫn tới tỷ suất lợi nhuận của ngành giảm Ngược lại, những ngành cónhiều doanh nghiệp rút lui sẽ có lượng cung nhỏ hơn lượng cầu, giá tăng và tỷsuất lợi nhuận của ngành lại tăng.
Như vậy cạnh tranh giữa các ngành dẫn tới sự cân bằng cung cầu sảnphẩm trong mỗi ngành và bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận, đảm bảo sự bìnhđẳng cho việc đầu tư vốn giữa các ngành, tạo nhân tố tích cực cho sự pháttriển
-Cạnh tranh giữa các quốc gia: Là các hoạt động nhằm duy trì và cảithiện vị trí của nền kinh tế quốc gia trên thị trường thế giới một cách lâu dài
dể thu được lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tế quốc gia đó Tuy nhiên chủthể trực tiếp tham gia cạnh tranh là các doanh nghiệp Nên nếu quốc gia nào
có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao thì quốc gia đó cũng cónăng lực cạnh tranh tốt hơn
c Căn cứ vào tính chất cạnh tranh
-Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rấtnhiều người bán và người mua, mỗi người bán chỉ cung ứng một lượng hàngrất nhỏ trong tổng cung của thị trường Họ luôn luôn bán hết số hàng mà họmuốn bán với giá thị trường Bất cứ doanh nghiệp nào gia nhập hoặc rút luikhỏi thị trường cũng không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường Để tối đa hóalợi nhuận họ chỉ còn có thể tìm mọi cách để giảm chi phí sản xuất Trong thịtrường này mọi thông tin đều đầy đủ và không có hiện tượng cung cầu giả tạo.Khi chi phí biên của doanh nghiệp giảm xuống bằng với giá thị trường doanhnghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa
-Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà mỗi doanhnghiệp đều có sức mạnh thị trường (dù nhiều hay ít), họ có quyền quyết địnhgiá bán của mình, qua đó tác động đến giá cả thị trường
+ Cạnh tranh độc quyền (cạnh tranh có tính độc quyền) là thị trường cónhiều người bán và nhiều người mua, sản phẩm của các doanh nghiệp có thể
Trang 19thay thế cho nhau ở một mức độ nào đó Bằng các biện pháp như thay đổimẫu mã, chất lượng, kiểu dáng, quảng cáo thương hiệu, uy tín … các doanhnghiệp cố gắng khác biệt hóa sản phẩm của mình để cạnh tranh và thu hútkhách hàng Trong thị trường này, bên cạnh các biện pháp khác biệt hóa sảnphẩm, chiến lược giá cả và chính sách đối với khách hàng là các vấn đề mỗidoanh nghiệp luôn quan tâm để đảm bảo khả năng cạnh tranh.
+ Độc quyền tập đoàn là trường hợp trên thị trường chỉ có một số hanglớn bán các sản phẩm đồng nhất hoặc không đồng nhất Họ kiểm soát gần nhưtoàn bộ lượng cung trên thị trường nên có sức mạnh thị trường khá lớn Cáchãng trong tập đoàn có tính phụ thuộc lẫn nhau nên quyết định giá và sảnlượng của mỗi hang đều ảnh hưởng trực tiếp đến hãng khác trong tập đoàn vàgiá thị trường Vì vậy họ thường cấu kết với nhau để thu lợi nhuận siêu ngạch.Nguyên nhân sự hình thành thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là doquá trình phấn đấu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp, cạnh tranh thúc đẩyquá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra không đều ở các ngành, các lĩnhvực kinh tế khác nhau Mặc dù vậy, cạnh tranh độc quyền lại có tác động tíchcực thúc đẩy sản xuất phát triển, nó làm lợi cho xã hội nhiều hơn là gây thiệthại
-Độc quyền hoàn toàn là hình thái thị trường đối lập với cạnh tranh hoànhảo Chỉ có một người bán (hoặc mua) duy nhất trên thị trường, hàng hóa làđộc nhất và không có hàng thay thế gần gũi nên họ có sức mạnh thị trường rấtlớn Doanh nghiệp độc quyền luôn quyết định giá và sản lượng sao cho thuđược lợi nhuận siêu ngạch Nguyên nhân của độc quyền là do họ đạt được lợithế kinh tế nhờ quy mô (độc quyền tự nhiên), hoặc do cấu kết, thôn tính, kiểmsoát được đầu vào… Độc quyền luôn có những tác động xấu đến kinh tế xãhội như sản lượng bán thấp (không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cho xãhội), giá quá cao và gây mất công bằng xã hội Ở một số nước có luật chốngđộc quyền nhằm đảm bảo các lợi ích kinh tế xã hội
Trang 201.1.3 Đặc điểm của cạnh tranh
Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá xuất hànghoá xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá Nguyên nhân chính là
do sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao độngtất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện lợi hơn ngườikhác
Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thịtrường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩmhàng hoá để đạt được lợi nhuận cao nhất
1.1.4 Các công cụ cạnh tranh
Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu tập hợp các yếu tố, các
kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà doanh nghiệp sửdụng nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng đểthoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng Từ đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm,thu được lợi nhuận cao Nghiên cứu các công cụ cạnh tranh cho phép cácdoanh nghiệp lựa chọn những công cụ cạnh tranh phù hợp với tình hình thực
tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của doanh nghiệp Từ đó phát huyđược hiệu quả sử dụng công cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh tranh có tính chấtlinh hoạt và phù hợp không theo một khuân mẫu cứng nhắc nào Dưới đây làmột số công cụ cạnh tranh tiêu biểu và quan trọng mà các doanh nghiệpthương mại thường phải dùng đến chúng
1.1.4.1 Chất lượng sản phẩm
-Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sảnphẩm thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xácđịnh, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm Nếu như trước kia giá cảđược coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗcho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Khi có cùng một loại sản phẩm, chấtlượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn được nhu cầu của người
Trang 22thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn Nhất là trong nền kinh tế thị trườngcùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập của người lao động ngày càngđược nâng cao, họ có đủ điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình, cái mà họcần là chất lượng và lợi ích sản phẩm đem lại Nếu nói rằng giá cả là yếu tố
mà khách hàng không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá cả cũng làmột trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho phù hợp vớimức thu nhập của mình Điều mong muốn của khách hàng và của bất cứ ai cónhu cầu mua hay bán là đảm bảo được hài hoà giữa chất lượng và giá cả.-Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ởhiện tại và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết.Nâng cao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổicông nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng vàsau khi tiêu dùng Hay nói cách khác nâng cao chất lượng sản phẩm là việccải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn Điều nàylàm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu được ngày càng tăng lên khiduy trì tiêu dùng sản phẩm của doang nghiệp Làm tăng lòng tin và sự trungthành của khách hàng đối với doanh nghiệp
- Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với doanhnghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đương đầu đốivới các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chất lượnghàng hoá dịch vụ không được bảo đảm thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến vớidoanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trườngdẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh Mặt khác chất lượng thể hiệntính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chấtlượng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra,kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng
uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
Trang 23doanh nghiệp Do vậy cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu tố rấtquan trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều phải
sử dụng nó
1.1.4.2 Giá cả
-Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việccung ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểu hiệnbằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá để sảnxuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu Trongnền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàngđược tôn vinh là “Thượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốtnhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì chắcchắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích họ thu được từ sản phẩm làtối ưu nhất Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến số chiến thuật phục
vụ mục đích kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnhtranh chiếm lĩnh thị trường là do sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá cả Giá cả
đã thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá sản phẩm:định giá thấp hơn giá thị trường, định giá ngang bằng giá thị trường hay chínhsách giá cao hơn giá thị trường
-Với một mức giá ngang bằng với giá thị trường: giúp doanh nghiệpđánh giá được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm giá
mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ tăng lên,hiệu quả kinh doanh cao và lợi sẽ thu được nhiều hơn
-Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường: chính sách này được ápdụng khi cơ số sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu hồi vốn
và lời nhanh Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sáchđịnh giá thấp Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có thể đểsau này chiếm được cả thị trường rộng lớn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng.Định giá
Trang 24thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng nhất định để định vị vịtrí của mình từ đó thâu tóm khách hàng và mở rộng thị trường.
-Với chính sách định giá cao hơn giá thị trường: là ấn định giá bán sảnphẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà lần đầutiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ hội để sosánh, xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ chính là đánh vàotâm lý của người tiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có chất lượng caohơn các hàng hoá khác Doanh nghiệp thường áp dụng chính sách này khi nhucầu thị trường lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong thị trườngđộc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có sự nhạy cảm
về giá
-Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp vàthành công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹlưỡng xem mình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất lànghiên cứu xu hướng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng như cần phảixem xét các chiến lược các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng
1.1.4.3 Hệ thống phân phối
Có thể hiểu kênh phân phối là một tập hợp các cá nhân và tổ chức thamgia vào quá trình làm cho sản phẩm tới được với khách hàng Nếu doanhnghiệp lựa chọn kênh phân phối không hợp lý có thể sẽ làm giảm sản lượngtiêu thụ rất nhiều và gặp thất bại trong cạnh tranh Nhất là trong giai đoạn hiệnnay kênh phân phối càng thể hiện vai trò quan trọng của nó vì:
-Chi phí vận chuyển thường tăng lên sau mỗi lần biến động giá nhiênliệu Điều đó thúc đẩy mỗi doanh nghiệp tìm ra phương thức vận chuyển hợp
lý nhất, tiết kiệm nhất
-Mặc dù khoa học kỹ thuật đang phát triển với tốc độ chóng mặt nhưnglợi thế cạnh tranh dựa vào công nghệ dễ bị đối thủ bắt chước Hơn nữa hiệuquả
Trang 25sản xuất không thể tăng vô hạn, nó gần như đã đạt điểm tối đa nên các doanhnghiệp khó hy vọng vượt trội ở mặt này do đó phải đặt hy vọng vào kênhphân phối.
-Các sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú về mẫu mã, chất lượng,kích thước, vì vậy các công ty dễ gặp khó khăn khi muốn giao hàng cho kháchđúng sản phẩm vào đúng thời điểm mà họ cần Nhiệm vụ này lại đặt lên vaicủa bộ phận phân phối
-Đã có nhiều thay đổi lớn trong phương pháp quản lý tồn kho Hiện naythay vì để hàng hoá tồn kho với số lượng lớn dẫn tới tăng chi phí bảo quản vàlưu kho, các doanh nghiệp có xu hướng giảm tồn kho xuống mức cần thiết tốithiểu để giảm chi phí Điển hình nhất là phương pháp quản lý “vừa kịp lúc”của Nhật Bản đã giúp các doanh nghiệp Nhật Bản có lợi thế cạnh tranh rất lớn
và thắng được các doanh nghiệp của Mỹ Để thực hiện hiệu quả phương phápquản lý này không gì hơn là phải lựa chọn được kênh phân phối hợp lý nhất
và tốt nhất
-Để xây dựng hoặc thay đổi được một kênh phân phối cần rất nhiều côngsức và thời gian vì nó còn phụ thuộc nhiều nhân tố khách quan khác chứkhông chỉ phụ thuộc mong muốn chủ quan của doanh nghiệp Trên thực tế đểlựa chọn và tiến hành xây dựng một kênh phân phối vận hành trơn tru có khiphải mất nhiều năm Vì vậy chọn kênh phân phối hợp lý sẽ đảm bảo khả năngtiêu thụ và duy trì sức cạnh tranh trong doanh nghiệp
Tuy có rất nhiều hình thức tiêu thụ nhưng đa số các sản phẩm là nhữngmáy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng trong quá trình tiêu thụ nóichung đều thông qua một số kênh chủ yếu như bán trực tiếp, bán thông quacác công ty bán buôn của mình và các hãng bán buôn độc lập, sử dụng mạnglưới bán lẻ của hãng, bán qua các cửa hàng, các hãng bán lẻ độc lập hoặc bánhàng qua điện thoại, qua mạng Việc lựa chọn và xây dựng kênh phân phốiphải dựa
Trang 26trên các kết quả nghiên cứu các đặc điểm thị trường bao gồm đặc điểm củanhóm khách hàng (cá nhân, tổ chức, khách hàng mục tiêu, khách hàng tiềmnăng, ), đặc tính sản phẩm (tính dễ hư hỏng, tính thời vụ, đặc điểm kỹ thuậtcủa sản phẩm, ), đặc điểm môi trường (điều kiện kinh tế, khả năng quản lý,các ràng buộc pháp lý, điều kiện địa lý, ).
Trong những năm gần đây có nhiều thay đổi trong lựa chọn kênh phânphối, các doanh nghiệp có xu hướng chọn kênh phân phối trực tiếp Hình thứcnày cho phép phát triển các quan hệ hợp đồng và hệ thống các đơn hàng cábiệt Việc thực hiện lịch giao hàng theo quy định sẽ tạo điều kiện cho kháchhàng giảm được lượng dự trữ tồn kho Điều đó cũng là tiền đề để phát triểnsản xuất kinh doanh có tính đến yêu cầu cụ thể của khách hàng
1.1.4.4 Chính sách marketing
-Để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì chính sáchmaketing đóng một vai trò rất quan trọng bởi khi bắt đầu thực hiện hoạt độngkinh doanh, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầukhách hàng đang có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm gì?, thu thập thôngtin thông qua sự phân tích và đánh giá doanh nghiệp sẽ đi đến quyết định sảnxuất những gì ? kinh doanh những gì mà khách hàng cần, khách hàng có nhucầu Trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp thường sửdụng các chính sách xúc tiến bán hàng thông qua các hình thức quảng cáo,truyền bá sản phẩm đến người tiêu dùng Kết thúc quá trình bán hàng, để tạođược uy tín hơn nữa đối với khách hàng, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạtđộng dịch vụ trước khi bán, trong khi bán và sau khi bán
-Như vậy chính sách maketing đã xuyên suốt vào quá trình hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp, nó vừa có tác dụng chính và vừa có tác dụngphụ để hỗ trợ các chính sách khác Do vậy chính sách maketing không thểthiếu được trong bất cứ hoạt động của doanh nghiệp
Trang 271.2 Tổng quan về năng lực cạnh tranh
1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là khả năng dành chiến thắng trong sự ganh đua giữa
các chủ thể trong cùng một môi trường và khi cùng quan tâm tới một đối
tượng Trên giác độ kinh tế, năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độkhác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó.Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độcung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điềukiện mua bán, v.v Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng
doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất vàchất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu
nhập cao và phát triển bền vững Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thểhiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việcthoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao
1.2.2 Nội dung năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh là một biểu hiện đặc trưng của nền kinh tế hàng hoá, đảmbảo tự do trong sản xuất kinh doanh và đa dạng hoá hình thức sở hữu, trongcạnh tranh nói chung và cạnh tranh trên thị trường quốc tế nói riêng, cácdoanh nghiệp luôn đưa ra các biện pháp tích cực và sáng tạo nhằm đứng vữngtrên thị trường và sau đó tăng khả năng cạnh tranh của mình Để đạt được mụctiêu đó, các doanh nghiệp phải cố gắng tạo ra nhiều ưu thế cho sản phẩm củamình và từ đó có thể đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận
1.1.4.1 Đầu tư nâng cao trình độ công nghệ
Đầu tư nâng cao trình độ công nghệ là hoạt động đầu tư vào bên trong của
Trang 28doanh nghiệp để nó có thể hoàn thiện hơn Việc đầu tư vào máy móc thiết bị,khoa học công nghệ của một doanh nghiệp gồm những nội dung như sau:Đầu tư vào máy móc, trang thiết bị: doanh nghiệp có thể đầu tư trang bịthêm các loại máy móc, dụng cụ, phương tiện vận tải, bàn ghế, máy tính, để
có thể đổi mới được những máy móc thiết bị hiện đại, mới nhất để phục vụcho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình giúp tạo ra những ưu thế so vớicác đối thủ cạnh tranh từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Đầu tư vào công nghệ, khoa học: đây là một nội dung đầu tư về chiềusâu, hết sức quan trọng đối với một doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượngkinh doanh và chất lượng dịch vụ cho doanh nghiệp đó Theo đó mà doanhnghiệp có thể đầu tư đổi mới về hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống phầnmềm hiện đại hơn giúp quá trình xử lý thông tin và vận hành của doanhnghiệp nhanh hơn, chất lượng, hiệu quả hơn
1.1.4.2 Đầu tư cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng được hiểu là toàn bộ những điều kiện về mặt vật chất, kỹthuật, tồn tại trong xã hội và môi trường dùng để phục vụ cho mọi hoạt động
sản xuất, đời sống của con người Trong phương diện đầu tư, cơ sở hạ tầng
còn được xem là sản phẩm cũng như kết quả của quá trình đầu tư được tíchlũy qua nhiều thế hệ Nó được coi là một bộ phận quan trọng của nguồn tiếtkiệm quốc gia, được sử dụng để đáp ứng mọi yêu cầu và mục tiêu phát triển
về mọi mặt của đất nước Hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng là hoạt động đầu tưvào bên ngoài của một doanh nghiệp
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng là hoạt động không thể thiếu trong quá trìnhđầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Việc đầu tư vào
cơ sở hạ tầng không những giúp doanh nghiệp tạo môi trường thuận lợi, tiệnnghi cho đội ngũ nhân lực của mình mà còn giúp cho doanh nghiệp có thể mởrộng phạm vi và quy mô hoạt động của mình
Trang 29Nhìn chung hoạt động đầu tư vào cơ sở hạ tầng của một doanh nghiệpvới mục đích sao cho cơ sở hạ tầng của mình tiện nghi, hiện đại hơn thườngbao gồm các hoạt động sau: chuẩn bị đầu tư (nghiên cứu các cơ hội, lập báocáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi và thẩm định lại),thực hiện đầu tư (tháo dỡ, san lấp mặt bằng, xây dựng các công trình tạm,công trình hạng mục, hoàn thiện công trình) và cuối cùng là vận hành kết quả.
1.1.4.3 Đầu tư nâng cao trình độ nhân lực
Đầu tư vào nguồn nhân lực là yếu tố không thể thiếu và vô cùng quantrọng đối với mỗi một doanh nghiệp nếu muốn nâng cao năng lực cạnh tranhcủa mình Nguồn nhân lực chính là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định đếnnăng lực của mỗi doanh nghiệp Nếu một doanh nghiệp có cơ sở vật chất, máymóc công nghệ hiện đại mà nguồn nhân lực của họ không theo kịp với pháttriển đó thì sẽ không thể nào đạt được mục tiêu đề ra và nếu nguồn nhân lựckhông đạt chất lượng thì năng lực cạnh tranh của công ty sẽ bị giảm sút.Chính vì vậy hoạt động đầu tư vào nguồn nhân lực đóng vai trò hàng đầutrong quá trình đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tuynhiên hoạt động đầu tư vào nguồn nhân lực không thể tùy tiện, sử dụng quánhiều nguồn lực tài chính vào đó mà không có sách lược hợp lý, phù hợp vớiđặc điểm của từng doanh nghiệp Hoạt động đầu tư vào nguồn nhân lực củamỗi doanh nghiệp bao gồm các hoạt động sau: tuyển dụng thêm và đào tạonhân viên
Hoạt động tuyển dụng thêm nhân lực được tiến hành khi doanh nghiệpmuốn tăng quy mô hoặc thay thế chất lượng nguồn nhân lực của mình bằngviệc thay thế những nhân viên làm việc chưa hiệu quả bằng nguồn nhân lực
có chất lượng, trình độ cao hơn
Đào tạo nhân lực: đối với những nhân viên có tiềm năng nhưng thiếukinh nghiệm và kiến thức chuyên môn chưa sâu doanh nghiệp có thể tiến
Trang 30hành hoạt động đào tạo thêm để nâng cao chất lượng nhân lực bằng các hìnhthức như:
Trang 31đào tạo tập trung với hình thức là các bài giảng, đào tạo thông qua các cuộchội thảo, đào tạo tại nơi làm việc, đào tạo tại các tổ chức quốc tế, các trươngđại học tron nước và nước ngoài,
Không chỉ dừng lại trong việc đào tạo kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũnhân lực, doanh nghiệp còn phải quan tâm đến chất lượng đời sống của họ đểđảm bảo cho họ có thể yên tâm về đời sống và chú tâm vào hoạt động côngtác của mình
Bên cạnh đó hoạt động đầu tư vào nguồn nhân lực còn bao gồm cácchính sách đãi ngộ, lương thưởng xứng đáng với khả năng của từng cá nhântrong bộ máy nhân sự, điều này sẽ giúp doanh nghiệp giữ được cho mìnhnhững nhân tài để có thể giúp doanh nghiệp vận hành một cách tốt nhất ngoài
ra nó còn có thể giúp doanh nghiệp thu hút nhân tài từ các đối thủ cạnh tranh
1.1.4.4 Đầu tư phát triển xúc tiến thương hiệu và xúc tiến bán hàng
Ngoài ba nội dung trên hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp còn có một số nội dung khác không kém phần quan trọng
đó là đầu tư xúc tiến thương hiệu và bán hàng, đầu tư mở rộng thị trường, đầu
tư nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và đa dạng hóa sản phẩm dịch
vụ.Đầu tư phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường tức là doanh nghiệpcần bỏ ra chi phí để nghiên cứu thị trường, các hoạt động quảng bá thươnghiệu, danh tiếng của doanh nghiệp Hoạt động nghiên cứu thị trường chính làviệc phân tích các thông tin, số liệu Các thông tin, số liệu không thể tự nóilên điều mà chúng ta mong muốn chính vì vậy mà việc phân tích các thôngtin, số liệu mới có thể giúp ta hiểu được những ý nghĩa mà nó mang lại Đểthực hiện việc nghiên cứu thị trường doanh nghiệp có thể tổ chức thu thậpthông tin qua mẫu điều tra trên thị trường hoặc tiến hành thực hiện các hìnhthức quảng cáo khác nhau để xúc tiến, mở rộng thương hiệu
Trang 32Đầu tư nâng cao chất lượng, dịch vụ và đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ:
Trang 33doanh nghiệp có thể không cần chỉ dùng đội ngũ nhân viên của mình để nângcao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ mà còn có thể hợp tác mời cácchuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động để cùng oanhnghiệp tìm ra những biện pháp tốt nhất để nâng cao và đa dạng hóa chất lượngsản phẩm, dịch vụ của mình.
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.3.1 Thương hiệu và danh tiếng của doanh nghiệp
-Uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp được phản ánh chủ yếu ở văn hóadoanh nghiệp, bao gồm: sản phẩm, văn hóa ứng xử, hoàn thành nghĩa vụ đốivới Nhà nước, hoạt động từ thiện, kinh doanh minh bạch…Đối với nhữngnhãn hiệu lâu đời, có uy tín cao thì doanh nghiệp phải thường xuyên chăm locho chất lượng, thường xuyên đổi mới, tạo sự khác biệt về chất lượng vàphong cách cung cấp sản phẩm
-Danh tiếng và thương hiệu chính là những giá trị vô hình của doanhnghiệp Giá trị vô hình này có được là do quá trình phấn đấu bền bỉ theo địnhhướng và chiến lược phát triển của doanh nghiệp được xã hội, cộng đồngtrong và ngoài nước biết đến
-Một vấn đề quan trọng liên quan đến nâng cao danh tiếng của doanhnghiệp là khả năng doanh nghiệp phát triển thành công các thương hiệu mạnh.Nếu sản phẩm của doanh nghiệp có thương hiệu mạnh sẽ kích thích ngườimua nhanh chóng đi đến quyết định mua, nhờ đó mà thị phần của doanhnghiệp tăng lên đáng kể
-Nhưng đánh giá thương hiệu của doanh nghiệp không chỉ ở số lượngcác thương hiệu mạnh hiện có mà quan trọng phải đánh giá được khả năngphát triển thương hiệu của doanh nghiệp Khả năng đó cho thấy sự thành côngtiềm tàng của doanh nghiệp trong tương lai Nếu doanh nghiệp có khả năngphát triển thương hiệu thành công thì các sản phẩm mới trong tương lai sẽ cókhả
Trang 34năng thành công lớn hơn trên thương trường.
-Danh tiếng và thương hiệu là tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh hàngđầu, đặc biệt đối với phần lớn khách hàng không hiểu nhiều về thành phầnhay thông số kỹ thuật của sản phẩm
1.2.3.2 Thị trường và khả năng chiếm lĩnh thị trường.
-Thị phần và khả năng chiếm lĩnh thị trường là tiêu chí quan trọng trongviệc đánh giá năng lực cạnh tranh Thị phần là thị trường mà doanh nghiệpbán được sản phẩm của mình một cách thường xuyên và có xu hướng pháttriển
-Thị phần càng lớn càng chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp đượckhách hàng, người tiêu dùng ưa chuộng, năng lực cạnh tranh cao nên doanhnghiệp hoàn toàn có thể chiếm lĩnh thị trường
-Để phát triển thị phần, ngoài chất lượng, giá cả, doanh nghiệp còn phảitiến hành công tác xúc tiến thương mại, tổ chức các dịch vụ đi kèm, cung cấpsản phẩm kịp thời, thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp Như vậy, ta thấyrằng thị phần là một tiêu chí quan trọng đánh giá năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp
-Thị phần và khả năng chiếm lĩnh thị trường cũng là một tiêu chí đánhgiá năng lực cạnh tranh được nhiều người quan tâm, đặc biệt đối với đối tác
1.2.3.3 Hiệu quả sản xuất kinh doanh
-Năng suất lao động của doanh nghiệpNăng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp của mọi yếu tố: con người, côngnghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức phối hợp…Năng suất của máy móc,thiết bị, công nghệ được đo bằng lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vị thờigian Ngoài ra, năng suất lao động còn được đo bằng lượng sản phẩm đảm bảochất lượng trên một đơn vị lao động Năng suất này có thể tính bằng hiện vậthoặc bằng giá trị theo công thức:
Năng suất = Đầu ra (hàng hóa và dịch vụ) / Đầu vào (lao động, vốn, công nghệ…)
Trang 35Năng suất lao động của một doanh nghiệp càng cao bao nhiêu thì nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao bấy nhiêu với các doanh nghiệpcùng loại Có năng suất cao là nhờ tổ chức sản xuất kinh doanh tốt, sử dụngtối ưu các nguồn lực, giảm tối đa các chi phí Vì vậy, năng suất là tiêu chíquan trọng để xem xét, đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
-Chất lượng sản phẩmChất lượng là yếu tố cấu thành quan trọng hàng đầu của năng lực cạnhtranh của sản phẩm mà năng lực cạnh tranh của sản phẩm lại là yếu tố cấuthành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nếu một doanh nghiệp kinhdoanh 10 mặt hàng sản phẩm đều không có năng lực cạnh tranh thì chắc chắndoanh nghiệp đó không thể có năng lực cạnh tranh
Tiêu chí chất lượng sản phẩm được chia thành 4 nhóm chỉ tiêu là: nhómchỉ tiêu là: nhóm chỉ tiêu thẩm mỹ, nhóm an toàn – vệ sinh, nhóm kỹ thuật vànhóm kinh tế Doanh nghiệp nào có cùng sản phẩm đạt mức chất lượng tốtnhất, doanh nghiệp đó sẽ có năng lực cạnh tranh cao nhất
1.2.3.4 Trách nhiệm với xã hội: Tham gia bảo vệ môi trường
-Đây là vấn đề nóng hổi, cấp bách và mang tính toàn cầu Thế giới đánhgiá cao tiêu chí này đối với các doanh nghiệp Để có năng lực cạnh tranh cao,sản phẩm làm ra không được gây ô nhiễm môi trường bao gồm ô nhiễmkhông khí, ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm sự yên tĩnh
-Các sản phẩm của doanh nghiệp phải có chứng chỉ an toàn môi trườngtheo ISO.14000 hoặc theo tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn Việt Nam Việcđánh giá tiêu chí này phức tạp vì nó bao hàm nhiều chỉ tiêu mà phạm vi ảnhhưởng của nó đôi khi khó xác định Tuy vậy, phần lớn các chỉ tiêu đều là chỉtiêu hóa, lý, sinh, đều lượng hóa được bằng các dụng cụ đo chính xác
1.2.3.5 Chi phí sản xuất kinh doanh
-Cạnh tranh thắng lợi trên thị trường, nói cách khác là có năng lực cạnh
Trang 36tranh cao được thể hiện ở kết quả tuyệt đối là tăng lợi nhuận cho doanhnghiệp Trong điều kiện hiện nay, khi giá cả hàng hóa có xu hướng giảmxuống, để tăng lợi nhuậnbdoanh nghiệp phải tìm mọi cách giảm chi phí sảnxuất Chi phí sản xuất cho đơn vị sản phẩm là toàn bộ các chi phí về nguyênvật liệu, lao động, máy móc thiết bị và các chi phí khác doanh nghiệp phải bỏ
ra để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Một loại sản phẩm có chất lượngtương đương, doanh nghiệp nào sản xuất với chi phí thấp hơn có thể bán vớigiá thấp mà vẫn đảm bảo mục tiêu lợi nhuận Trong trường hợp phải cạnhtranh gay gắt về giá thì doanh nghiệp nào có chi phí thấp sẽ có lợi thế, nhất làđối với những sản phẩm nhạy cảm về giá
-Giảm chi phí sản xuất là quá trình doanh nghiệp tìm mọi biện pháp về
kỹ thuật, công nghệ, quản lý, tổ chức để làm cho hao phí cá biệt của doanhnghiệp nhỏ hơn hao phí xã hội Nhất là hoạt động đầu tư cho máy móc thiết bị
và công nghệ, nếu lựa chọn và thực hiện tốt một dự án sẽ có tác dụng giảm chiphí một cách hiệu quả và lâu dài, ngược lại, hoạt động đầu tư thiếu tính toán
sẽ tăng thêm gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp và sẽ rất khó khắc phục.Quá trình này đòi hỏi phải có những nỗ lực thực sự bởi để thực hiện giảm chiphí cho mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp phải xem xétnghiên cứu kỹ và giảm chi phí đúng lúc, đúng chỗ Những chi phí nào là chiphí tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp thì không thể cắt giảm, những chiphí nào bất hợp lý không tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp thì phải giảmtriệt để Điều này đòi hỏi phải quản lý rất tốt tổng chi phí và kết cấu chi phícủa doanh nghiệp
-Để đạt được hiệu quả bền vững phải đảm bảo các mối quan hệ tốc độtăngnnăng lực sản xuất luôn luôn lớn hơn tốc độ tăng chi phí đầu tư hoặc đảmbảo được mối tương quan mức biến động doanh thu phải luôn lớn hơn mứcbiến động chi phí
1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 371.3.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại
Xuất phát từ quy luật của cơ chế thị trường, cạnh tranh đó là đào thải nhữngcái lạc hậu và bình tuyển cái tiến bộ để thúc đẩy hàng hoá phát triển nhằmmục đích thoả mãn người tiêu dùng một cách tốt nhất
Các doanh nghiệp muốn trụ vững trên thị trường thì đều phải cạnh tranh gaygắt với nhau, cạnh tranh để giành giật khách hàng, để bán được hàng hoá…
Do đó, các doanh nghiệp phải tạo được ra những điều kiện thuận lợi để đápứng nhu cầu của khách hàng, làm thế nào để khách hàng tin tưởng vào sảnphẩm của công ty, ưa thích và tiêu dùng nó Doanh nghiệp nào đáp ứng tốtnhu cầu của khách hàng, cung cấp cho họ những dịch vụ thuận tiện và tốt nhấtvới mức giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới tồn tại lâu dài được
1.3.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và yếu tốkích thích kinh doanh Quy luật cạnh tranh là động lực phát triển sản xuất.Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá bán ra nhiều số lượng ngườicung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kết quả cạnhtranh là loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và sự lớn mạnh củanhững doanh nghiệp làm ăn tốt Do vậy muốn tồn tại và phát triển thì doanhnghiệp cần phải cạnh tranh, phải tìm mọi cách nâng cao năng lực cạnh tranhcủa mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệpcần phải tìm ra biện pháp như đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng bằngcách sản xuất và kinh doanh những sản phẩm có chất lượng cao, công dụngtốt nhưng giá cả phải phù hợp Có như thế hàng hóa bán ra của doanh nghiệpmới ngày một nhiều
1.3.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh để thực hiện mục tiêu
Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều đặt ra cho mình những mục tiêu nhấtđịnh Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển mà doanh nghiệp đạt mục tiêu
Trang 38nào nên hàng đầu Chính vì vậy mà các doanh nghiệp luôn phải tìm mọi cách
để bán được sản phẩm của mình nhiều nhất trên cơ sở tối đa hoá lợi nhuận,cạnh tranh là con đường tốt nhất để doanh nghiệp có thể tự đánh giá đượcnăng lực của mình, từ đó đánh giá được đối thủ cạnh tranh và tìm ra đượcnhững “lỗ hổng” của thị trường, và đó là “phần thưởng” là con đường để đạtđược mục tiêu
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Cũng như bản thân doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpchịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau Theo mô hình Kim cương của
M Porter có thể thấy, có ít nhất 6 nhóm yếu tố tác động tới năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp, điều kiện cầu (thị trường), điều kiện yếu tố (nguồnlực đầu vào), các ngành cung ứng và liên quan (cạnh tranh ngành), các yếu tốngẫu nhiên và yếu tố nhà nước Tuy nhiên, có thể chia các nhân tố tác độngđến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làm hai nhóm: các yếu tố bên trongdoanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng bên trong
-Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp
Tổ chức quản lý tốt trước hết là áp dụng quản lý hiện đại đã được doanhnghiệp của nhiều nước áp dụng thành công như phương pháp quản lý theotình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theochất lượng như ISO 9000, ISO 1400 Bản thân doanh nghiệp phải tự tìm kiếm
và đào tạo cán bộ quản lý cho chính mình Muốn có được đội ngũ cán bộ quản
lý tài giỏi và trung thành, ngoài yếu tố chính sách đãi ngộ, doanh nghiệp phảiđịnh hình rõ triết lý dùng người, phải trao quyền chủ động cho cán bộ và phảithiết lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linh hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi.-Trình độ lao động trong doanh nghiệp
Nhân lực là một nguồn lực rất quan trọng vì nó đảm bảo nguồn sang tạo
Trang 39trong mọi tổ chức Trình độ nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ quản lý củacác cấp lãnh đạo, trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên, trình độ tưtưởng văn hoá của mọi thành viên trong doanh nghiệp Trình độ nguồn nhânlực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, thể hiện trong kếtcấu kỹ thuật của sản phảm, mẫu mã, chất lượng … và từ đó uy tín, danh tiếngcủa sản phẩm sẽ ngày càng tăng, doanh nghiệp sẽ tạo được vị trí vững chắccủa mình trên thương trường và trong lòng công chúng, hướng tới sự pháttriển bền vững.
-Năng lực tài chính của doanh nghiệpBên cạnh nguồn nhân lực, vốn là một nguồn lực liên quan trực tiếp tớinăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có năng lực cạnhtranh cao là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy độngđược vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý, có
kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả để phát triển lợi nhuận và phải hạch toán cácchi phí rõ ràng để xác định được hiệu quả chính xác Nếu không có nguồn vốndồi dào thì hạn chế rất lớn tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp như hạnchế việc sử dụng công nghệ hiện đại, hạn chế việc đào tạo nâng cao trình độcán bộ và nhân viên, hạn chế triển khai nghiên cứu, ứng dụng, nghiên cứu thịtrường, hạn chế hiện đại hoá hệ thống tổ chức quản lý … Trong thực tế không
có doanh nghiệp nào có thể tự có đủ vốn để triển khai tất cả các mặt tronghoạt động sản xuất kinh doanh của mình Vì vậy, điều quan trọng nhất làdoanh nghiệp có kế hoạch huy động vốn phù hợp và phải có chiến lược đadạng hóa nguồn cung vốn
-Khả năng liên kết và hợp tác với doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tếquốc tế
Một doanh nghiệp tổn taaji trong mối liên hệ nhiều chiều với các đốitượng hữu quan trong môi trường kinh doanh Trong kinh doanh thường xuấthiện nhu cầu liên kết và hợp tác giữa nhiều đối tác với nhau làm tăng khả
Trang 40năng cạnh tranh Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp thể hiện ởviệc nhận biết