Trước thực trạng trên, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế quốc doanh như cơ cấu lại một số doanh n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TẬP LỚN:
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
Đề tài: Thực trạng cổ phần hóa của các doanh nghiệp nhà nước
ở Việt Nam hiện nay.
Họ và tên: Đinh Thanh Hằng
Mã sinh viên: 11217240 Lớp tín chỉ: Kinh tế chính trị Mác - Lênin(221) 32
Trang 2MỤC LỤC
A LỜI NÓI ĐẦU……….3
B NỘI DUNG……… 4
CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ……… 4
1 Tổng quan về cổ phần hoá……… 4
1.1 Khái niệm về cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước……… 4
1.2 Lợi ích của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước……….….…5
2 Hệ thống doanh nghiệp nhà nước và những tồn tại………….………….…….6
3 Vì sao cần cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước?……… ……….7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY……… …….…… 8
1 Những kết quả đã đạt được……….…… ….9
2 Những hạn chế, tồn tại đặt ra cho cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước… 11
3 Giải pháp nâng cao hiệu quả cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước……… 13
C KẾT LUẬN……… ……… 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO……….……15
Trang 3A LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có những chuyển biến sâu sắc, Đảng và Nhà nước ta đặt ra nhiệm vụ chấn hưng đất nước và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình chuyển đổi, doanh nghiệp nhà nước là bộ phận quan trọng của kinh tế nhà nước bộc lộ nhiều bất cập như cơ sở vật chất lạc hậu, thiếu kinh phí, cơ chế quản lý cứng nhắc, trình độ quản lý thấp, hiệu quả hoạt động thấp, đặc biệt không có khả năng đáp ứng yêu cầu Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất đã cản trở nghiêm trọng đến vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh đối với nền kinh tế
Trước thực trạng trên, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế quốc doanh như
cơ cấu lại một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần (cổ phần của doanh nghiệp nhà nước), sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, xóa bỏ doanh nghiệp kém hiệu quả Trong số đó, cổ phần hoá được coi là giải pháp hàng đầu có thể mang lại lợi ích hài hòa cho quốc gia cũng như nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế
Vì vậy, những nghiên cứu về cổ phần hoá hiện nay tuy không phải một chủ đề mới nhưng rất cần thiết cần được nhắc đến nhiều hơn Là một sinh viên kinh tế - một
cán bộ kinh tế tương lai, đề tài "Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
ở Việt Nam hiện nay" là cơ hội để em có được sự tìm hiểu sâu sắc, kĩ càng hơn về
một chính sách kinh tế quan trọng của Nhà nước ta trong thời buổi kinh tế hiện
nay Nhờ vào đó, em sẽ có thêm những kiến thức thực tế, lấp đầy sự hạn chế về kiến thức kinh tế của mình, đồng thời tổng hợp một số giải pháp cho quá trình cổ phần hoá đối với các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam hiện nay
Vì trình độ và kiến thức của em còn khá hạn chế và nhiều thiếu sót nên bài luận không tránh khỏi những điểm yếu nhất định Em mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của cô giáo Mai Lan Hương để em có góc nhìn hoàn thiện hơn về đề tài
em đã chọn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1 Tổng quan về cổ phần hoá
1.1 Khái niệm về cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước
Theo như thực tế và quy định của pháp luật, ta nhận thấy cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước được hiểu là hành vi mua bán của các chủ doanh nghiệp Trong đó, Nhà nước có nghĩa vụ thu tiền đối với việc bán cổ phần của doanh nghiệp đồng thời các cổ đông sẽ được chuyển quyền sở hữu và định đoạt toàn bộ hay một phần đối với hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó, các cổ đông còn được hưởng các lợi nhuận sau khi đã làm nghĩa vụ khi đã nộp thuế cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước có thể hiểu đơn giản là việc chuyển doanh nghiệp có chủ sở hữu là một doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp đơn sở hữu trở thành hình thức công ty cổ phần Đây cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chuyển
từ chỗ hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo như quy định tại Luật doanh nghiệp 2019 theo quy định của các công ty cổ phần
Nhằm tránh gây ra mâu thuẫn sâu sắc với bộ phận nhân dân và các cán bộ về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
đã được thực hiện Thay vì Nhà nước bán các doanh nghiệp của mình cho các cá nhân, thì hiện nay Nhà nước sẽ tiến hành chuyển các doanh nghiệp từ Nhà nước sang các doanh nghiệp cổ phần
Những loại tài sản của doanh nghiệp sẽ được chia thành nhiều cổ phần để bán cho công nhân hoặc cán bộ trong doanh nghiệp đó, phần còn lại sẽ do nhà nước sở hữu Tùy vào từng loại hình của doanh nghiệp mà tỷ lệ cổ phần do nhà nước sở hữu có thể thấp hay cao và giao động từ 0% tới 100%
1.2 Lợi ích của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
– Về lợi ích của Nhà nước:
+ Hạn chế sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của công ty, như vậy có thể làm giảm chi phí quản lý đồng thời tạo được khả năng quản lý tốt và có hiệu quả cao hơn cho nhà nước
Trang 5+ Cổ phần hóa tạo ra được khu vực kinh tế tư nhân hoạt động hiệu quả, linh hoạt.
+ Tăng hiệu quả của các doanh nghiệp ở cả hai khu vực Nhà nước và tư nhân do tính cạnh tranh cao, thúc đẩy cả hai bên đều phải cải tiến năng lực
+ Cổ phần hóa thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo dựng được nhiều doanh nghiệp
có vốn đầu tư trong nước, thu hút vốn đầu tư của nhân dân, tạo công ăn việc làm cho người lao động
+ Thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán vì khi doanh nghiệp Nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, chúng sẽ phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn
– Về lợi ích của doanh nghiệp:
+ Thu hút nhanh chóng nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư vào nền kinh tế bằng việc phát hành chứng khoán
+ Nhanh chóng cấu trúc lại các doanh nghiệp về sản xuất, tổ chức… Nâng cao năng suất, chất lượng và vị thế của doanh nghiệp ở thị trường trong nước và quốc tế
Từ sự phân tích trên có thể thấy cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là một chủ trương hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước Có thực hiện tốt quá trình cổ phần hóa thì mới nhanh chóng thúc đẩy việc cải cách, đổi mới và phát triển doanh nghiệp Nhà nước
2 Hệ thống doanh nghiệp nhà nước và những tồn tại
Doanh nghiệp Nhà nước là các đơn vị tổ chức kinh tế thực hiện chứcnăng sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu của Nhà nước Doanh nghiệp Nhà nước có hai loại cơ bản:
+ Doanh nghiệp Nhà nước công ích, do nhà nước đầu tư và xây dựng
+ Doanh nghiệp Nhà nước còn lại tồn tại trong môi trường sản xuất, kinh doanh theo luật, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác, với mục tiêu là lợi nhuận Trong quá trình hoạt động cạnh tranh,từng doanh nghiệp hoặc tự khẳng định hoặc tự phủ định mình theo quy luậtcạnh tranh trên thị trường
Trang 6Là chủ thể đại diện sở hữu phần lớn tài sản quốc gia, doanh nghiệp Nhà nước và thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thăm dò, khai thác, bảo quản, phát triển và sở hữu có hiệu quả tài nguyên và các tiềm năng của đất nước Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hóa, doanhnghiệp Nhà nước bằng vai trò mở đường, hỗ trợ của mình thúc đẩy hình thànhcác trung tâm kỹ thuật văn hóa - xã hội mới tiên tiến Bên cạnh đó, doanh nghiệp Nhà nước còn đóng vai trò là lực lượng vật chất để Nhà nước điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho nền kinh tế phát triển ổn định, đảm bảo những cân đối lớn của nền kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường và kịp thời lắp đi những khoảngtrống của kinh tế thị trường
Tuy vậy trong quá trình hoạt động của mình doanh nghiệp Nhà nước đãvà đang bộc lộ những vấn đề sau:
Quy mô doanh nghiệp phần lớn nhỏ bé, cơ cấu phân tán biểu hiện ở sốlượng lao động và mức độ tích lũy vốn
Trình độ kỹ thuật công nghệ lạc hậu, mặt hàng của các doanh nghiệp Nhànước còn đơn điệu, cơ cấu sản xuất hàng hóa không hợp lý, năng suấtchất lượng hàng hóa thấp
Việc phân bố còn bất hợp lý về ngành và vùng khi chuyển sang kinh tế thị trường
Liên doanh với các chủ đầu tư nước ngoài chưa thực sự hiệu quả, thậm chí mất vốn
Bởi vậy doanh nghiệp Nhà nước chưa thực sự là đòn bẩy để đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định, chưa giải quyết được những vấn đề cơ bản mà xã hội đang đặt ra trong thời điểm hiện nay
3 Vì sao cần cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước
Cổ phần hoá là một chủ trương cần thiết và đúng đắn để làm cho hệ thống doanh nghiệp Nhà nước hiện tại phát triển hơn, tăng sức cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh tế
và tăng lượng sức mạnh chi phối đồng thời nâng cao vai trò chủ đạo của hệ thống này trong nền kinh tế thị trường, tiến dần từng bước trên con đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
Qua lí luận chủ nghĩa Mác, ta có thể nhận thức được về tính cấp thiết ấy của vấn đề
cổ phần hóa Chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng: lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất Khi lực lượng sản xuất phát triển thì kéo theo nó là quanhệ sản xuất cũng
Trang 7thay đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại một quan hệ sản xuất lỗi thời sẽ làm kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Thực tế đã chứng minh rằng chúng ta không thể đi ngược lại chân lý ấy Trước đây nhà nước ta duy trì nền kinh tế bao cấp
đã làm kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn tới việc nền kinh tế kém phát triển tụt hậu đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Với việc đổi mới chính sách
từ 1986 đến nay, giờ đây khi mà lực lượng sản xuất đã phát triển mạnh mẽ thì sự thay đổi quan hệ sản xuất là sự đòi hỏi tất yếu Việc nhà nước đứng ra là chủ sở hữu duy nhất trong các doanh nghiệp đã không tạo ra sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, làm giảm tính năng động sáng tạo trong lao động dẫn đến sự kém phát triển của nền kinh
tế Thêm vào đó trước đây các doanh nghiệp nhà nước chỉ quen sản xuất hàng hóa theo những gì mình sản xuất được và theo chỉ thị của cấp trên mà khôngquan tâm đến nhu cầu thị trường mong chờ vào sự bảo hộ của nhà nước nên nền kinh tế không thể
đi lên được Đứng trước thực tiễn đó thì cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã trở thành giải pháp hàng đầu đối với nước ta
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước, việc cổ phần hoá được bắt đầu từ năm 1992 và chia thành các giai đoạn:
Thời kỳ thứ nhất, từ năm 1992-2000, cổ phần hoá được 558 doanh nghiệp Trong
thời kỳ này, tiến độ còn chậm, do trước khi có Luật Doanh nghiệp, cổ phần hoá diễn ra còn dè dặt, lạ lẫm, trong khi dư luận xã hội đã rộ lên tình trạng “bán tống bán tháo” tài sản Nhà nước ở một số doanh nghiệp Nhà nước
Thời kỳ thứ hai, từ 2001-2007 được gọi là thời kỳ “bùng nổ” cổ phần hoávới mức
bình quân 1 năm rất cao
Thời kỳ thứ ba, từ 2008 đến nay, tiến độ thực hiện bị chậm lại.
Ta có thể thấy rõ tiến độ qua biểu đồ dưới đây:
Trang 8Số lượng doanh nghiệp nhà nước đã được cố phần hoá(đến năm
2020) Nguồn: Tạp chí Cộng Sản
1 Một số kết quả đạt được
Thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước và các chủ trương của Đảng về doanh nghiệp nhà nước các cấp, các ngành, các doanh nghiệp nhà nước đã cụ thể hóa và triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để tiếp tục đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016
-2020 tập trung hơn vào việc xác định tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước cụ thể theo từng năm, từng bộ, ngành, địa phương và tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, đaṭđươc ̣ môṭsốkết quảcu ̣thể:
Thứ nhất, tiến trình cố phần hoá giai đoạn 2016 - 2020 đã được đẩy mạnh hơn, tập trung vào tăng giá trị cố phần hoá, thoái vốn nhà nước thay cho việc giảm mạnh về số lượng doanh nghiệp được cố phần hoá, do đó giá trị các khoản thu từ
cổ phần hoá và thoái vốn trong giai đoạn này cao hơn so với giai đoạn trước đó Tính từ năm 2016 cho đến 6 tháng đầu năm 2019, cả nước đã cổ phần hoá được
162 doanh nghiệp, với tổng quy mô vốn được xác định lại đạt 205.433,2 tỷ đồng, bằng 108% tổng giá trị vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cổ phần hoá giai đoạn
2011 - 2015 (189.509 tỷ đồng)
So sánh giữa các năm cho thấy, năm 2017 là năm thành công nhất trong tiến trình thực hiện với tổng số doanh nghiệp cổ phần hoá đạt cao nhất trong giai đoạn trên
Trang 9(69 doanh nghiệp), tổng giá trị doanh nghiệp đạt cao nhất 365.953 tỷ đồng, trong
đó giá trị vốn nhà nước gấp khoảng 6,34 lần so với tổng giá trị vốn nhà nước năm
2016 Giá trị thoái vốn trong năm 2017 cũng đạt cao gấp 15,52 lần giá trị sổ sách Năm 2018 là năm tiếp theo được đánh giá có kết quả khả quan, mặc dù số lượng doanh nghiệp cổ phần hoá ít hơn và giá trị cổ phần hoá thấp hơn so với 2017, nhưng vẫn cao hơn 2 lần về giá trị doanh nghiệp và gấp hơn 1,7 lần giá trị vốn nhà nước so với năm 2016
Thứ hai, quy mô doanh nghiệp cổ phần hoá giai đoạn này lớn hơn trước đây, có
nhiều doanh nghiệp quy mô vốn trên 1.000 tỷ đồng (chiếm 17%) tính theo giá trị thực tế của doanh nghiệp Theo danh sách CPH giai đoạn 2016 - 2018 có 8/147 (chiếm 5,4%) doanh nghiệp cổ phần hoá năm 2016, có 13/147 (chiếm 8,8%) DN CPH năm 2017 và có 4/147 (chiếm 2,7%) doanh nghiệp cổ phần hoá năm 2018 có quy mô vốn lớn trên 1.000 tỷ đồng Bình quân vốn điều lệ của doanh nghiệp được phê duyệt phương án cổ phần hoá năm 2016 là hơn 400 tỷ, năm 2017: hơn 2.000 tỷ (gấp 5 lần so với 2016), năm 2018: hơn 800 tỷ (gấp 2 lần so với năm 2016)
Thứ ba, hình thức cổ phần hoá phổ biến nhất là bán một phần vốn nhà nước cho các cổ đông chiến lược, bán cho người lao động, bán cho tổ chức công đoàn và bán đấu giá công khai; đẩy mạnh đấu giá cạnh tranh trên thị trường và đẩy mạnh niêm yết các doanh nghiệp sau cổ phần hoá Nhà nước nắm giữ một phần và thực
hiện thoái vốn có lộ trình Theo đó, tỷ trọng vốn nhà nước trong tổng vốn điều lệ của các doanh nghiệp đều cao, nắm quyền chi phối và thực hiện thoái vốn đến năm
2020 theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg
Cụ thể, năm 2016, trong tổng số vốn điều lệ theo phương án được phê duyệt thì Nhà nước nắm giữ 50%, bán cho cổ đông chiến lược 31%, bán cho người lao động 2%, bán cho tổ chức công đoàn 0,03% và bán đấu giá công khai 18% Năm 2017,
tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ trong các doanh nghiệp cổ phần hoá là 53%, cổ đông chiến lược là 31%, người lao động giảm còn 1%, tổ chức công đoàn giảm còn 0,02% và bán đấu giá công khai giảm còn 15% Năm 2018, tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ trong các doanh nghiệp cổ phần cao hơn so với hai năm trước (61%), bán cho nhà đầu tư chiến lược chỉ đạt 13%, hoá bán đấu giá công khai tăng lên 26%, bán cho người lao động khoảng 0,45% và cho tổ chức công đoàn là 0,03%
Thứ tư, phân theo ngành, các doanh nghiệp cổ phần chủ yếu hoạt động trong lĩnh
vực sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích về cấp, thoát nước, môi trường đô thị,
Trang 10Thứ năm, phân theo đại diện cổ phần hoá, doanh nghiệp nhà nước trong danh sách
cổ phân hoá giai đoạn 2017 - 2020 thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chiếm 70,4%; thuộc các bộ, ngành chiếm khoảng 29,6%
Các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đã góp phần làm giảm gánh nặng của Nhà nước phải bao cấp, bù lỗ hằng năm Cùng với đó, trong quá trình cổ phần hóa, nợ xấu của các doanh nghiệp cũng được xử lý một cách cơ bản; đồng thời, chấm dứt
xu hướng thành lập doanh nghiệp một cách tràn lan
Một số ví dụ về cổ phần hoá đạt hiệu quả:
Tập đoàn Bảo Việt (tiền thân là Công ty bảo hiểm Việt Nam): Sau khitiến hành cổ phần hóa, tổng tài sản của Bảo Việt đã tăng gần gấp đôi, 28.441 tỷ đồng năm
2007 so với 15.195 tỷ đồng năm 2006 Các năm tiếp theo 2008-2016, tổng tài sản tiếp tục gia tăng và đạt 72.996 tỷ đồng vào cuối năm 2016.Vốn chủ sở hữu trước và sau cổ phần hóa cũng thay đổi rõ rệt Sự gia tăng này được phản ánh là nhờ sự tăng trưởng vượt trội của lợi nhuận những năm sau cổphần hóa so với những năm trước
đó Nếu như lợi nhuận của Bảo Việt trong giai đoạn 2001- 2006 cao nhất đạt 431 tỷ đồng vào năm 2006 thì chỉ một năm sau cổ phần hóa, Tập đoàn đã thu được 733,85
tỷ đồng lợi nhuận sau thuế
Bất chấp những đợt sóng “tàn khốc” từ Covid-19, FPT Telecom (Công
ty cổ phần viễn thông FPT thuộc Tập đoàn FPT) đạt mức doanh thu 11.466 tỷ đồng và mức lợi nhuận trước thuế 2.134 tỷ đồng trong năm
2020 (so với mức doanh thu 9.980 tỷ đồng và 1.660 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế của năm 2019) hậu cổ phần hoá
2 Những hạn chế, tồn tại đặt ra cho cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Một là, so với kế hoạch đặt ra, cả cổ phần hoá và thoái vốn tại các doanh nghiệp
có vốn nhà nước đều chậm, tỷ lệ đạt theo kế hoạch thấp Theo danh mục đã được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Công văn số 991/TTg-ĐMDN, giai đoạn 2017
- 2020 phải hoàn thành CPH 127 DN, nhưng đến hết 6 tháng đầu năm 2019 mới CPH được 35 DN, đạt 27,5%
Tiến độ thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp chậm so với kế hoạch đề ra Theo danh mục đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1232/QĐ-TTg, giai đoạn 2017 - 2020 phải hoàn thành thoái vốn 403 doanh nghiệp, trong khi đó số lượng doanh nghiệp đã thoái vốn thuộc Danh mục nêu trên tính đến nay mới chỉ đạt 21,8%