1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dựa vào kiến thức môn tư tưởng hồ chí minh hãy cho biết nhận định sau là sai hay đúng, vì sao thời kỳ từ cuối năm 1920 đến năm 1930 là thời kỳ tư tưởng

15 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thời kỳ từ cuối năm 1920 đến năm 1930 là thời kỳ tư tưởng Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Quang Hoa
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 181,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên đường tiếp cận chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìmhiểu Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp, Người hiểu rõ chân lý bất di

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

TÊN HP : Tư Tưởng Hồ Chí Minh

GIẢNG VIÊN : TS Trần Thị Quang Hoa

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Tên học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh

Mã học phần: POL1001

Lớp: MAC01

NGƯỜI CHẤM 1

(Ký, ghi rõ họ tên)

Số phách

NGƯỜI CHẤM 2

(Ký, ghi rõ họ tên)

Trang 3

ĐỀ BÀI

Đề thi số:2

Câu 1: Dựa vào kiến thức môn Tư tưởng Hồ Chí Minh hãy cho biết nhận định sau

là sai hay đúng, vì sao: Thời kỳ từ cuối năm 1920 đến năm 1930 là thời kỳ tư tưởng

Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển soi đường cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc? (3đ)

Câu 2: Trong Bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc năm 1946 có đoạn “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự

do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 175) Anh/Chị chỉ rõ những đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc đồng thời dựa vào luận điểm trên cho biết quan điểm của anh/chị trong việc hiểu và vận dụng luận điểm này vào việc định hướng phát triển đất nước Việt Nam hiện nay? (7đ)

Trang 4

BÀI LÀM Câu 1:

A Lời mở đầu:

Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của

Tổ quốc Trong lịch sử hànng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã nhiều lần phải đương đầu với kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình gấp bội và từ thực tiễn đấu tranh chống ngoại xâm, đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm và bài học quý báu Trí tuệ đánh giặc, giữ nước là một trong những đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống cần cù lao động, anh dũng chiến đấu trong dựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn kết, sống có tình, có nghĩa, nhân ái Việt Nam Trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam thì chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu xuyên suốt lịch sử dân tộc

Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành động lực, sức mạnh truyền thống, đạo lý làm người, niềm tự hào và là nhân tố hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước

Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn,

nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”

Chính sức mạnh truyền thống ấy đã thúc giục Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) đi tìm đường cứu nước, cứu dân Đó là động lực chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng Đó cũng chính là cơ sở tư tưởng đã dẫn dắt Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Hồ Chí Minh viết: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”

Theo em nhận định: “Thời kỳ từ cuối năm 1920 đến năm 1930 là thời kỳ tư tưởng

Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển soi đường cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc?” là đúng

B Phân tích:

Không có gì quý hơn độc lập, tự do Dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển

lâu dài lịch sử Từ những hình thức cộng đồng thị tộc, bộ tộc, bộ lạc đầu tiên đã

hình thành nên các cộng đồng dân tộc, các quốc gia dân tộc Khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các nước đế quốc thi hành chính sách vũ trang xâm lược, cướp bóc, nô dịch các dân tộc nhược

tiểu, vấn đề dân tộc trở nên gay gắt, từ đó xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa; độc

lập, tự do của các dân tộc trở thành vấn đề thời đại.

Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là độc lập, tự do là

quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc.

Thấm đượm tinh thần yêu nước truyền thống Việt Nam, trong tư tưởng Hồ Chí Minh cái quý nhất trên đời là độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân Hồ Chí

Minh nói: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi

Trang 5

được độc lập ” Trên đường tiếp cận chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm

hiểu Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền

1791 của cách mạng Pháp, Người hiểu rõ chân lý bất di bất dịch về quyền cơ bản

của các dân tộc: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc

nào cũng có quyền sống quyền sung sướng và quyền tự do.

Năm 1919, vận dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết thiêng liêng đã được các đồng minh thắng trận trong chiến tranh thế giới thứ nhất thừa nhận, thay mặt cho những người Việt Nam yêu nước, Người gửi đến Hội nghị hòa bình Vécxây một bản yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam Bản yêu sách đã

không được dư luận chú ý đến Người rút ra bài học: “Muốn được giải phóng, các

dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”

Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực lớn của đất nước Năm

1924, từ sự phân tích đặc điểm giai cấp, dân tộc ở các nước phương Đông, Hồ Chí

Minh khẳng định: Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông: “Chủ nghĩa dân

tộc là động lực lớn của đất nước”; “Người ta sẽ không thể làm gì được cho người

An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ” Nguyễn Ái Quốc kiến nghị về Cương lĩnhhành động của Quốc tế Cộng

sản: “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Ngay từ khi gặp được Luận

cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, ở Hồ Chí Minh đã có sự gắn

bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ

nghĩa xã hội Trong bài Cuộc kháng chiến viết đầu những năm 20 của thế kỷ XX,

nói về giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”

Năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Hồ Chí Minh xác định cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng (tức cách mạng dân tộc – dân chủ) để đi tới xã hội cộng sản (tức cách mạng xã hội chủ nghĩa)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự gắn bó thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp

C Kết luận:

Những năm bôn ba, lăn lộn trong phong trào yêu nước, phong trào công nhân

“chính quốc” và các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã mở rộng quan hệ xã hội và tri thức của mình Nhờ thông hiểu nhiều ngoại ngữ và giao tiếp rộng với nhiều bạn bè quốc tế mà Người tiếp thu được kiến thức cổ, kim, đông, tây, nắm được cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin Do tích cực tham gia các hoạt động quốc tế và các buổi sinh hoạt lý luận bàn về chiến lược sách lược cách mạng thế giới, qua thực tiễn công tác, tổng kết kinh nghiệm nhiều cuộc cách mạng, Hồ Chí Minh đã tích lũy được nhiều

Trang 6

tri thức cách mạng, dần dần trong tư duy của Người hình thành nên một luận điểm đúng đắn: Giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa, giải phóng nhân loại Cũng từ đó, lý luận, chiến lược cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đã từng bước hình thành trong tư duy Hồ Chí Minh

Từ khi trở thành người cộng sản, cùng với việc thực hiện những nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Nông dân…, Hồ Chí Minh đã truyền

bá chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của mình về nước chuẩn bị cho việc thành lập một Đảng cộng sản ở Việt Nam Các bài viết trên báo Người cùng khổ (1922), báo Thanh niên (1925), báo Nhân đạo, Tạp chí Cộng sản, Đời sống thợ thuyền, Thông tin quốc tế, các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường Cách mệnh (1927),… của Hồ Chí Minh là những công cụ quan trọng trong việc giáo dục những người Việt Nam yêu nước từng bước chuyển từ yêu nước truyền thống thành yêu nước theo lập trường cách mạng vô sản

Từ giữa những năm 20 của thế kỷ XX, do việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin của

Hồ Chí Minh, phong trào cách mạng Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ Bên cạnh những đảng theo xu hướng tư tưởng tư sản đã xuất hiện nhiều tổ chức cách mạng từ sau đại hội lần thứ nhất của đội Việt Nam cách mạng thanh niên (5-1929) ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời: Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929), An Nam Cộng sản Đảng (9-1929) và Đông Dương Cộng sản liên đoàn (l-1930)

Trước tình hình ở Đông Dương có các tổ chức cộng sản xuất hiện, ngày

28-11-1929, Quốc tế Cộng sản đã có nghị quyết về việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương Thực hiện Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 3-2-1930

Hội nghị hợp nhất đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh soạn thảo

Các văn kiện quan trọng nói trên đã trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Trong Cương lĩnh đầu tiên của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định Việt Nam là một nước thuộc địa, nửa phong kiến, “vì tư bản Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thế mở mang được”, “nông nghệ một ngày một tập trung nông dân thất nghiệp nhiều” Đánh giá về giai cấp tư sản dân tộc và giai cấp địa chủ, Chánh cương vắn tắt có sự phân biệt rõ ràng: “Tư bản bản xứ không có thể lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới

có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa” Đây là một sự đánh giá hết sức khách quan, chân thực, không hề bị chi phối của tư tưởng giáo điều hay “tả” khuynh Từ thực tế đó, Đảng chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”

Như vậy, ngay từ khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, phân tích đúng đắn đặc điểm của xã hội, sắp xếp đúng vị trí của từng giai cấp, tầng lớp và cá nhân trong lực lượng cách mạng, tạo điều kiện cho Đảng vừa ra đời đã nắm trọn quyền lãnh đạo cách mạng

Với cột mốc lịch sử ngày 3-2-1930, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam đã hình thành về cơ bản

Trang 7

Câu 2:

A. Lời mở đầu:

“Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 175) Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, ngày 10-1-1946; đăng trên Báo Cứu quốc, số 139, ngày 11-1-1946

Lời phát biểu nêu lên thực trạng về những khó khăn chồng chất mà nhân dân đang phải đối mặt, gánh chịu; là thông điệp khẩn cấp kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nêu cao truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực tự cường, gắng tìm mọi cách khắc phục khó khăn, giải cứu đất nước, nhân dân thoát khỏi cơn hoạn nạn; là tiền đề đến ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi Thi đua ái quốc; phát động, nuôi dưỡng, phát triển các phong trào thi đua, như: "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm", "Hũ gạo chiến thắng", "Bình dân học vụ"… kịp thời động viên, cổ vũ đồng bào, chiến sĩ cả nước hăng say lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm chống giặc đói; thi đua học tập xóa nạn mù chữ chống giặc dốt; dũng cảm, ngoan cường trong chiến đấu diệt giặc ngoại xâm, làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu

Trong thời kỳ đổi mới, thấm nhuần lời Bác, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã và đang

ra sức hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước, thực hiện các chương trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân; quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững Cùng với đó, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần “sản xuất cũng là một mũi tiến công”, vừa là “đội quân chiến đấu”, “đội quân công tác”, vừa là “đội quân lao động sản xuất”; chủ động ra quân trên nhiều lĩnh vực sản xuất, mạnh dạn đi vào nhiều ngành kinh tế mũi nhọn

và hội nhập quốc tế; góp phần làm ra của cải vật chất cho xã hội, giữ vững và nâng cao đời sống bộ đội, tích cực tham gia giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế

xã hội; tăng cường tiềm lực và thế trận quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trong tình hình mới

B Phân tích:

Từ tháng 9-1945 đến tháng 12-1946, năm đầu tiên của Nhà nước dân chủ cộng hòa

ở Việt Nam, một số nội dung chính về bản chất dân chủ của nhà nước cách mạng theo quan điểm của Hồ Chí Minh là:

Bảo đảm đời sống vật chất cho đông đảo nhân dân lao động Nhu cầu cơ bản về

đời sống vật chất của con người là: ăn, mặc, ở Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do độc lập cũng

Trang 8

không làm gì” Vì vậy, Nhà nước cần “phải thực hiện ngay: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở

Năm 1945, hàng triệu nông dân miền Bắc chết đói Sau Cách mạng tháng Tám, nạn đói vẫn tiếp tục đe dọa nhân dân Cần có những biện pháp đảm bảo ngay cho nhân dân nghèo khổ lúc đó có ăn để không bị chết đói Một ngày sau Lễ độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã đưa vấn đề cứu đói cho đông đảo dân nghèo là việc số một trong các việc cấp bách nhất mà nhà nước cách mạng cần phải làm ngay lúc đó Đồng thời, Người đưa

ra hai biện pháp đề nghị Chính phủ thực hiện: Một là, phát động ngay chiến dịch tăng gia sản xuất; Hai là, trước mắt kêu gọi đồng bào cả nước, những người có ăn

10 ngày nhịn ăn một bữa, gạo tiết kiệm được giúp cho dân nghèo đang thiếu ăn

Kế đó, ngày 28-9-1945, Hồ Chí Minh cho đăng báo Cứu Quốc Thư của Người kêu gọi đồng bào toàn quốc ra sức cứu đói, Người viết : “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà

ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo…”

Ngày 8-11-1945, Người lại viết bài đăng trên báo Cứu Quốc hô hào nhân dân chống đói Sau khi nêu một số cách chống đói mà mọi người, mọi nơi đều có thể làm được, Người viết: “Nói tóm lại, bất cứ cách gì, hễ làm cho dân đỡ đói lúc này và ngăn ngừa nạn đói mùa sau, chúng ta đều phải làm”

Ngày 7-12-1945, trong thư gửi nông gia Việt Nam đăng trên báo Tấc Đất, Hồ Chí Minh nhắc nhở mọi người: “Hiện nay, chúng ta có 2 việc quan trọng nhất: cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam…Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay”

Chống thất học, mở mang dân trí cho toàn dân Năm 1945, hơn 90% đồng bào ta

mù chữ Với một thực trạng dân trí như vậy, về mặt chính trị-xã hội, làm sao người dân có thể thực hiện được các quyền dân chủ của mình Và, về mặt kinh tế, làm sao đất nước có thể phát triển được Là một Nhà nước của “dân chúng số nhiều”, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo nhà nước đó đã thực sự muốn Chính phủ có những biện pháp hữu hiệu để không ngừng nâng cao dân trí cho nhân dân Vì vậy, cũng ngay trong phiên họp đầu tiên, ngày 3-9- 1945, Người đã đề nghị Chính phủ đặt nạn dốt của nhân dân là một vấn đề cấp bách thứ 2 ngay sau nạn đói cần phải giải quyết và, trước mắt mở một chiến dịch trong toàn quốc để chống nạn mù chữ

Đó là một biểu hiện đáng lưu ý khi tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh cũng như tìm hiểu bản chất dân chủ của Nhà nước cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh Hoàn cảnh lịch sử tháng 9-1945 đặt Nhà nước cách mạng Việt Nam trước một tình huống muốn tồn tại phải vượt qua rất nhiều khó khăn nghiệt ngã Vấn đề chống dốt cho nhân dân có thể lui lại làm sau Nhưng, chính quyền của nhân dân mà hơn 90% dân mù chữ nếu để kéo dài, tính nhân dân và bản chất dân chủ của chính quyền cách mạng dễ bị chệch hướng Nâng cao dân trí cho đông đảo nhân dân

là một yếu tố quan trọng để đảm bảo cho tính dân chủ của một Nhà nước được thực hiện Là người mang nặng tư tưởng Thân dân, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhà nước cách mạng làm ngay (chứ không phải sẽ làm) những việc thiết thực nhằm chống nạn thất học, mở mang dân trí cho “dân chúng số nhiều”

Trang 9

Ngày 4-10-1945, nhân danh Chủ tịch Chính phủ nhân dân lâm thời, Hồ Chí Minh cho đăng trên báo Cứu Quốc lời kêu gọi quốc dân Việt Nam chống nạn thất học Người chỉ rõ: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”

Ngày 4-5-1946, qua báo Cứu Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho anh chị em giáo viên Bình dân học vụ Trong thư Người viết: “Anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hi sinh phấn đấu để mở mang trí thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hóa sơ bộ cho dân tộc…Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em”

Cũng trong thời gian này, tháng 5-1946, Hồ Chí Minh còn tự tay viết lời căn dặn anh chị em giáo viên Bình dân học vụ vào đầu cuốn sách “Phương pháp và cách thức dạy vỡ lòng chữ quốc ngữ” do Nha Bình dân học vụ xuất bản, Người nhắc nhở anh chị em “tận tâm dạy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết”

Chiêu tập những người hiền tài trong dân tham gia việc nước Trong Nhà nước

cách mạng, những đại biểu của nhân dân tham gia chính quyền, tham gia lãnh đạo nhà nước Nhưng không phải lúc nào và nơi nào những đại biểu đó cũng phản ánh được đầy đủ tài trí và nguyện vọng của nhân dân Vì vậy, ngoài việc lắng nghe ý kiến của cán bộ cấp dưới, của các thành viên Chính phủ, Hồ Chí Minh thực sự quan tâm tới việc nhà nước phải tìm cách để tạo điều kiện cho người có tài, có đức trong dân có thể tham gia giúp ích nước nhà Theo Hồ Chí Minh,“Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng

thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều Vì vậy, từ tháng 11-1945

đến tháng 11-1946, trong vòng một năm, dù bộn bề công việc, Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian hai lần viết bài đăng báo tìm người tài đức Người kêu gọi nhân dân:

“Đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến…lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà

thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ” Người yêu cầu các địa phương: “Phải

trực tiếp điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết Báo cáo phải nói rõ: Tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng, chỗ ở của người đó Hạn trong một tháng, các cơ

quan địa phương phải báo cáo cho đủ” Chính quyền của nhân dân, nhưng kiến thiết

đất nước cần phải có tài, Nhà nước phải tạo điều kiện cho người tài xuất thân, phải biết dùng và biết trọng người tài Giữa năm 1946, khi sang Pháp lo việc ngoại giao, chính trị cho đất nước, Hồ Chí Minh vẫn giành thời gian tiếp xúc với các trí thức người Việt để động viên họ về nước tham gia kháng chiến kiến quốc

Công chức chính quyền phải có lòng vì dân, vì nước, chí công vô tư Để nâng

cao sức chiến đấu của chính quyền các cấp, tháng 10-1945, Hồ Chí Minh viết thư gửi Ủy ban nhân dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng Trong thư Người chỉ rõ nghĩa

vụ của chính quyền đối với nhân dân, phê phán nghiêm khắc những thói xấu của một số công chức chính quyền và kêu gọi họ: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết

sức làm Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh” Đây là một nội dung quan trọng

trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của nhà nước cách mạng Ngay từ lúc mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và, cả sau này nữa, nhiều lần

Hồ Chí Minh nhắc lại tư tưởng này Và, không chỉ nhắc lại, Người còn đưa ra các giải pháp lớn cùng những việc cụ thể cần làm để thực hiện tư tưởng đó Nếu không

Trang 10

có dân thì Chính phủ không có lực lượng Nếu không có Chính phủ thì dân không

có ai dẫn đường Muốn có dân thì phải được dân yêu, dân tin, dân kính Để có được điều đó thì công chức chính quyền các cấp phải yêu dân, thương dân và vì dân, tức

là phải hết sức làm những việc có lợi cho dân, đồng thời hết sức tránh những việc có hại đến dân Để làm được điều đó, công chức chính quyền cần “công bình chính trực”, “Chí công vô tư”, không được “Trái phép”, “Cậy thế”, “Hủ hóa”, “Tư túng”,

“Chia rẽ”, “Kiêu ngạo” Tư tưởng trên của Hồ Chí Minh được thể hiện rất rõ trong

hàng chục báo cáo, lời kêu gọi, bài nói, thư từ của Người trong thời gian từ tháng

9-1945 đến tháng 11-1946.,đặc biệt là trong: “Thư gửi cho các đồng chí tỉnh nhà” ngày 9-1945 và “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” ngày

17-10-1945 Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về công chức chính quyền phải có lòng

vì dân, vì nước, chí công vô tư còn có một nội dung đáng chú ý nữa, đó là: Tự phê bình, có sai thì sửa chữa.Xét về mặt nhân cách, đây là một phẩm chất đạo đức rất quý Xét về mặt nhà nước, đây là một nội dung phản ánh bản chất dân chủ của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Lời phát biểu đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945 là: “Chúng ta đều chưa quen với kỹ thuật hành chính…chắc chắn chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sửa chữa khuyết điểm.”

Trong năm đầu tiên của Nhà nước cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở công chức chính quyền các cấp: Không sợ có khuyết điểm, chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi; không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa… Nhà nước cách mạng mới được thành lập, Chính phủ và cán bộ chính quyền các cấp chưa quen việc điều hành xã hội, nhưng cần phải làm, vừa làm vừa học, sai thì sửa, không đổ lỗi cho người khác, không đổ lỗi cho hoàn cảnh…và, chính Người đã thực hiện những điều Người nói Trong bài “Tự phê bình” gửi quốc dân năm 1945, sau khi nhắc lại những việc Chính phủ đã làm được và những việc chưa làm được, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Có thể đổ cho rằng: những khuyết điểm đó vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, vì lẽ này, lẽ khác Nhưng không, tôi phải nói thật: những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng, những khuyết điểm kể trên là lỗi tại chúng tôi”

Cũng với tư tưởng này, hơn một năm sau, ngày 20-11-1946, trong bài “Tìm người tài đức” đăng trên Báo Cứu Quốc, Người viết: “E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận” Ngay từ những ngày tháng đầu tiên thành lập nhà nước mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn, thường xuyên nhắc nhở và hướng dẫn công chức chính quyền các cấp từ trung ương đến cơ sở làm những việc có lợi cho dân, tránh những việc có hại cho dân Người đã suy nghĩ để tìm mọi cách giúp cán bộ của mình làm được điều đó Và, chính Người luôn nêu gương làm điều đó Có một điều đáng chú ý về chữ “Dân” trong tư tưởng này, theo Người, Dân ở đây không phải là dân chung chung, càng không phải là “dân chúng số ít” mà chính là “dân chúng số nhiều”, tức số đông nhân dân lao động Khi tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, năm

1945 – 1946, về bản chất dân chủ của một nhà nước cách mạng, chúng tôi thấy, theo quan niệm của Người, bản chất đó không chỉ biểu hiện qua những lời kêu gọi

mà phải được biểu hiện cụ thể trong sự vận hành của Nhà nước

Ngày đăng: 03/08/2022, 04:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w