1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

phong thủy cổ đại trung quốc tập 2 lý luận và thực tiễn_part2

138 2,6K 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong thủy cổ đại Trung Quốc tập 2 Lý luận và Thực tiễn Part 2
Trường học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Phong thủy
Thể loại Tài liệu nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 43,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong 14 Kinh Tỉnh Nhải Giải của Phạm Nghỉ Tân đời Càn Long nhà Thanh nói răng: “Thời gan ông không biết ngọn nguồn la bàn, Chính châm dùng như thế nào, Xuyèn Sơn Thấu Địa dùng như thế n

Trang 1

Tửi lat

định

W

Âm

Duong đổi

n

Nhìn lên

trôi ống

Hà lạc

liên

Tin Thiên Bát Quai Thể dung

chia làm hai kiểu lớn, kiểu ven biển và kiểu nội địa Đại diện cho

kiểu ven biển là Hưng Ninh ở Quảng Đông và Chương Châu ở Phúc

Kiến; đại điện cho kiểu nội địa là Hưu Ninh ở Án Huy và Tô Châu ở Giang Tô

Gái trời hang

Trang 2

Tảng thứ I “Thién trì”

Trong Thiên trì có gắn kim chỉ Nam Do cách lắp đạt của kim chỉ

Nam khác nhau, nên có la bàn nước và la bàn khô La bàn nước là

một thanh kim nam châm gán vào phân bụng của một miếng gỗ hình

con ca, miéng gô nồi trên chậu nước, liền chuyển động tự nhiên chỉ về

hướng Nam, chậu nước này gọi là “Thiên trì” Day la kim la ban

truyền thống của Trung Quốc Lý luận Phong Thủy cho rằng, kim chỉ

Nam xác định Nam Bắc, trong Thiên trì chứa kim thủy, động là

Dương, tĩnh là Âm, như vậy “Lưỡng Nghi tách biệt, Tứ Tượng phân

chia, Bát Quái xác định” thì có thể thu thập bi ẩn của trời đất, tính

toán triền độ của các vì sao trên trời, quan sát sự chuyển đổi theo

mùa của núi sông dưới đất (J,ø Kinh Giải Định của Hồ Quốc Trinh)

'Tảng thứ 2 “Tiên Thiên Bát Quái”

Tang nay chi có tám qué Căn cứ theo thứ tự sắp xếp khác nhau

của quẻ mà chia thành “Tiên Thiên” và “Hậu Thiên” Tương truyền

“Tiên Thiên” do Phục Hy sáng tạo, “Hậu Thiên” do Chu Văn Vương

làm ra Bát Quái dùng để thể hiện vị trí của tám hướng, mỗi một,

phương vị cách nhau 45°, phương vị của Tiên Thiên Bát Quái la: Can

Nam, Khôn Bắc, Ly Đông, Khám Tây, Chấn Đông Bác, Đoài Đông

Nam, Tốn Tây Nam, Cấn Tây Bác

Tiên

Hậu

Thiên Bát Quai

= 2 =

=

Trang 3

Tàng thứ 3 “Hậu Thiên Bát Quái”

Phương vị của Hậu Thiên Bát Quái là: Ly Nam, Khảm Bắc, Chấn

Đông, Đoài Tây, Tốn Đông Nam, Cấn Đông Bắc, Khôn Tây Nam, Càn Tây Bắc

Tàng thứ 4 “I2 ngôi Dia Chi”

Tang nay dung 12 ngôi Địa Chi là Tý Sửu Dàn Mão, Thìn Ty Ngọ Mùi, Thân Dậu Tuất Hợi thể hiện 12 phương vị, mỗi một phương vị

cách nhau 30, Ngọ chì hướng Nam, Tý chỉ hướng Bắc, Mão chỉ

hướng Đông, Dậu chỉ hướng Tây

Tang thir 5 “Toa Gia Ciru Tinh”

Toa Gia có nghĩa là phương hướng, phương vị Cửu Tỉnh chi Tham Lang, Cự Món, Lộc Tôn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá

Quan, Tả Phụ, Hữu Bật, bảy ngôi sao dau chi bảy ngôi sao Bắc Đầu,

hai ngôi sao cuối chỉ hai ngôi sao bên cạnh khi di chuyển không nhìn thấy được, nhưng khi có thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường thì

rất đễ nhận ra Lý luận Phong Thủy cho rằng, khí trong sạch bay lên cao tạo thành sao, khí vần đục lắng xuống tạo thành nưi sông, đo đó

tạo thành “tượng” trên trời, thành “hình” dưới đất, chiếu rọi xuống thành Nhị Thập Tư Sơn Sao có đẹp xấu, do đó đất cũng có lành dữ

Cửu Tinh di chuyển trên trời và cảm ứng với nơi chúng thống thuộc

“Nhị Thập Tư Sơn” tức hai mươi bốn phương vị: bốn góc, tám Thiên

Can, mười hai Địa Chi, Cửu Tinh phối hợp với Ngủ Hành, trật tự của

24 phương vị là “Cấn Bính Tham Lang Mộc, Tốn Tân Cự Môn Thả, Càn Giáp Lộc Tỏn Thổ, Ly Nhâm Dân Tuất Văn Khúc Thủy, Chấn

Canh Hợi Mùi Liêm Trinh Hỏa, Đoài Đinh Ty Sửu Vũ Khúc Kim,

Kham Quy Than Thin Pha Quan Kim, Khon At Phu Bật Thổ Mộc”.

Trang 4

Tang thứ 6 “Tén gọi của Nhị Thập Tứ Tinh”

Tảng này có 24 chòm sao trời phối hợp với 24 vị trí, giải thích

quan niệm “Thiên tình hạ ứng”, tổ hợp của 24 sao và phương vị là:

Thiên Hoàng Hợi, Thiên Phụ Nhâm, Thién Lay Ty, Am Quang Quy,

Thiên Trù Sửu, Thiên Thị Cấn, Thiên Bội Dàn, Âm Cơ Giáp, Thiên

Mệnh Mão, Thiên Quan At, Thién Canh Thin, Thai At Tốn, Thiên

Bình Ty, Thái Vi Bính, Dương Quyền Ngọ, Nam Cực Đinh, Thiên

Thường Mùi, Thiên Kính Khôn, Thiên Quan Thân, Thiên Hán Canh,

Thiếu Vi Dậu, Thiên Ất Tàn, Thiên Khôi Tuất, Thiên Cứu Can

Sao Thiên Hoàng ở phương vị Hợi, chiếu lên Tử Vi viên, Cấn

chiếu Thiên Thị viên, Bính chiếu Đại Vi viên, Dậu chiếu Thiếu Vì

viên, tứ viên này tôn quý nhất trong Thiên tính, hợp lại gọi là “Thiên

tỉnh tứ quý” Cấn, Bính, Dậu hợp lại gọi là “Tam cát” Thái Ất chiếu

Tốn; Thiên Ất chiếu Tân; Nam Cục chiếu Đinh; Tén, Tan, Đinh kết

hợp với Cấn, Bính, Dậu gọi là “Lục tú” Thiên Bình chiếu Ty, là cung

đối của Tử Vi viên, gọi là Đế Tọa Minh Đường Ty, Hợi kết hợp với

“Lục tú” gọi là “Bát quý” ở trong “Tam cát”, “Tứ quý”, “Lục tú”, “Bát

quý” thì Dương trạch hưng thịnh, dòng dõi đời đời giàu sang, Âm

trạch không có nước và kiến, phúc khí lâu dài

Tảng thứ 7 “Địa bàn chính châm”

La bàn có ba kim ba bàn, tức là Địa bàn chính châm, Thiên bàn

phủng châm, Nhân bàn trung châm Ba bàn cùng chia thành hai

mươi bốn ô giống nhau, mỗi 6 15°, goi là “Nhị Thập Tứ Sơn” Hai

mươi bốn phương vị tạo thành bởi tên gọi của mười hai Chì (Tý, Sửu,

Dân, Mão, Thìn, Ty, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi), tám Can

(Giáp, At, Binh, Dinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý), bốn géc (qué Can, qué

Cấn, qué Ton, qué Khon) Khi kim nam châm chỉ ngay chính giửa Tý

Ngo goi là Chính châm; chỉ ngay kẽ Nhâm Tý và Bính Ngọ gọi là

Phung cham; chỉ ngay giửa Tý Quý và Ngọ Đinh gọi là Trung châm,

Trang 5

Trong ba kim ba ban thi Dia bàn được tạo ra sớm nhất, kế đến là

Thiên bàn, sau cùng là Nhân bàn Chính châm của Địa bàn được tạo

ra từ khi nào, đến nay vấn chưa thể khảo chứng, nhưng không xuất hiện muộn hơn thời đại của nhà thuật số Khưu Diên Hàn đời Đường

Còn vẻ sự ra đời của Phùng châm và Trung châm thì thường được lưu

truyền trong giới thuật sĩ Trong sách Khưm Dư Ty Máu Truên Chan cia Luu Cong Trung cuối đời Thanh có nói: “Dương Quán Tùng

dựa theo hướng Tý Ngọ của bóng đồng hỗ cột đạt Phùng chám Nhị Thập Tư Sơn để trắc lượng mười hai cung trời Lại Thái Tố dựa

theo hướng Tý Ngọ của cực Bắc đặt Trung châm Nhị Thập Tư Sơn để

đo sao trời, vị trí của kim nam châm chỉ ngay chính giữa của Tý Quý

và Ngọ Đình, do đó người đời gọi là Trung châm Nhị Thập Tứ Sơn”

Vi vậy củng có tên gọi Phùng châm Dương Công, Trung châm Lại Công

Do hướng chỉ của ba kim này không giống nhau, nên đã nảy sinh

ra những vấn đẻ như lấy kim nào làm chuẩn, ứng dụng như thế nào

để phân biệt tốt xấu, các thuật sĩ đều có cách lý giải khác nhau về nhứng vấn đề này, vì thế đã hình thành nên các trường phái Phong

Thủy khác nhau Những tranh luận này đều là quan điểm riêng của từng môn phái Trong 14 Kinh Tỉnh Nhải Giải của Phạm Nghỉ Tân đời Càn Long nhà Thanh nói răng: “Thời gan ông không biết ngọn nguồn la bàn, Chính châm dùng như thế nào, Xuyèn Sơn Thấu Địa dùng như thế nào, la bàn An Huy kiên quyết dùng Chính châm lập hướng, Trung cham tim 6, có người chia đều các ô, lại có người dùng

Phùng cham để tiêu thủy, có người dùng Trung cham dé lập hướng,

hoặc dùng cả Phùng châm, Trung châm, Chính châm; mỗi trường phái đều có ý kiến khác nhau”, trong đó phương pháp ba trong một,

tức phương pháp dùng chung ba bàn, được sử dụng rộng rãi nhất,

“Chính châm có thể phân biệt phương vị Âm Dương, Trung châm có thể quan sát sự sang hèn của sao trời, Phùng châm có thể xem Ngũ

Hành sinh tử? (Địa Lý Tê Tỉnh Phụ Thuyết của Tào Bính đời Thanh).

Trang 6

Joseph Needham — nha khoa hoc lịch sử người Anh nổi tiếng

hiện nay đã giải thích nguyên nhân Chính châm, Phùng châm, Trung

chám chỉ hướng khác nhau từ góc độ của góc lệch từ Ông cho rằng,

hướng Chính châm chỉ )à hướng Bac Nam trong thiên văn, được xác

định muộn nhất vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ 8 sau Công Nguyên

Vào khoảng nám 880 sau Công Nguyên, Dương Quán Tùng quan sát

thấy góc lệch nam châm bấy giờ dịch chuyển vẻ hướng Đông, vì vậy

ông đã xê dịch vị trí phương hướng của Chính châm thêm 7,5° vẻ

hướng Tây và cho rằng như vậy là thích hợp Đến thế kỳ thứ 12 sau

Công Nguyên, gác lệch từ lại dịch chuyển về hướng Tây, vì vậy Lại

Văn Tuấn đã căn cứ vào phương vị của Chính châm xê dịch thêm 7,59

về hướng Đông, một lằn nữa cho rằng như vậy là thích hợp (hình

3-26) Ba vòng tròn này là góc lệch từ được giữ lại khì dịch chuyển

sang Dông và sang Tây theo trình tự ở Trung Quốc, giống như dấu

tích hóa thạch thể hiện trên mâm la bàn

Hoc giả nồi tiếng Trung Quấc Vuong Chan Dac cho rằng Chính

châm chỉ hướng Tý Ngọ của cực từ, Phùng châm chỉ hướng Tý Ngọ

của bóng nắng cột déng ho, Trung châm chỉ hướng Tý Ngọ của cực

Bắc Theo lý giải của khoa học biện đại, về mặt nguyên tắc, hướng Tỷ

Ngo của bóng nắng cột đông hồ và hướng Tý Ngọ của cực Bác là giống

nhau, vậy thì sẽ không có độ sai lệch giữa Phùng châm và Trung

châm Do đó, công việc nghiên cứu khoa học vẻ ba bàn ba kim của la

bàn còn phải trông chờ vào sự phát triển trong tương lai

Trang 7

Phùng châm Dương Công, tang 6: Thiên tinh, tang 7: Trung châm Lại Công

Thế tại sao Chính châm, Phùng châm, Trung châm được gọi là

Dia ban, Thiên bàn, Nhân bàn? Lý luận Phong Thủy cho rằng, Chính châm xác định hướng Nam Bắc, thu nạp khí của đất; Phùng châm

xác định hướng Nam Bắc bằng cách đo bóng nắng dựa vào cây cối và

cột đồng hô, thu nạp ánh sáng trên trời Còn vẻ việc gọi Trung châm

là Nhân bàn là để gán ghép cho phù hợp với ý nghĩa Tam tài: Thiên,

Địa, Nhân.

Trang 8

Tang thứ 8 “Tiết Khí bốn mùa”

Tang này thể hiện 24 Tiết Khí trong một năm Đó là Lập Xuân,

Vũ Thủy, Kinh Trập, Xuân Phân, Thanh Minh, Cốc Vũ, Lập Hạ, Tiểu

Mãn, Mang Chủng, Hạ Chí, Tiểu Thủ, Đại Thủ, Lập Thu, Xử Thử,

Bạch Lộ, Thu Phân, Hàn Lộ, Sương Giáng, Lập Đông, Tiểu Tuyết,

Đại Tuyết, Đông Chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn Lý luận Phong Thủy cho

rằng, phía dưới Nhi Thập Tứ Son phân bố hai mươi bốn Tiết Khí, Lập

Xuân bắt đâu từ Cấn, Đại Hàn bắt đâu từ Sửu, mỗi Tiết Khí chia

thành thượng hậu, trưng hậu và hạ hậu”, tổng cộng có 72 hậu, để

hiểu rõ nguyên lý Âm Dương tiêu trưởng, quy luật thuận nghịch tiến

thoái, suy đoán Ngủ vận Lục khí

Tầng thứ 9 “Xuyên Sơn Thất Thập Nhị Long”

'Tảng này dùng Lục Thập Giáp Tý cộng với tám Can và bốn góc

tổ hợp thành Thất Thập Nhị Long, Giáp Tý bát đảu th Nhâm Mùi

của Chính châm, bảy mươi hai ngôi vị phân bố phía dưới Nhị Thập

Tứ Sơn, một Sơn trông coi ba Long, ứng với bảy mươi hậu Các thay

Phong Thủy đa phản đều dung tang này, cùng với Thấu Địa Lục

Thập Long làm trong ngoài cho nhau, chuyên bàn vẻ hình thế của

núi, đoán định tình trạng tốt xấu của chúng

Tầng thứ 10 “Ngủ Gia Ngũ Hành”

Ngũ Gia Ngủ Hành là Chính Ngũ Hành, Song Sơn Ngũ Hành,

Bát Quái Ngủ Hành, Huyền Không Ngũ Hành, Hòng Phạm Ngủ

Hành Căn cứ theo phương pháp tương sinh tương khắc trong Ngủ

Hành, các thay Phong Thủy phối hợp Ngũ Hành ứng với bốn mùa và

năm phương vị để bàn vẻ sự tiêu trưởng của Âm Dương, phán đoán

tình trạng của Long, 8a, Huyệt, Thủy, từ đó xác định tính tốt xấu

lành dữ của đất Thông thường đa số các thầy Phong Thủy dùng Bát

Trang 9

Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khác Kim

Tảng thứ 11 “Thấu Địa Lục Thập Long cát hung”

Tang nay được họ Thái ở Tây Sơn triéu Tong định ra (Họ Thái là chỉ Thái Nguyên Định, Nguyên Đinh tự là Quý Thông, người Kiến Dương, ông là con trai của nhà Nho Thái Phát (tự Thản Dử) đời Tống,

từ nhỏ ông được giáo dục tốt, sau này lớn lên theo học một vị nhà

Nho nổi tiếng đời Tống tên là Chu Hy, nén ông thong suốt kính nghĩa

và có rất nhiều tác phẩm, được người đời gọi là Tày Sơn tiên sinh.) Ông cho rằng Xuyên Sơn Thất Thập Nhị Long đứt đoạn không liên

tục, Thiên kỷ Doanh Sức Lục Thập Long tuy không gián đoạn nhưng

khoảng cách rộng hẹp khỏng đều, do đó ông chế tạo ra la bản Phân

bố đồng đều Lục Thập Giáp Tý dưới Nhị Thập Tư Sơn, lấy Phùng châm làm chuẩn, Giáp Tý bắt đầu từ Nhâm sơ của Phùng châm,

dùng đẻ xác định sự thuần tạp của các Long

TTảng thứ I2 “Bình phân lục thập phân kim cát hung”

Lục Thập Giáp Tý xếp đều trong la bàn, mỗi một Giáp Tý mang một quẻ, thứ tự sắp xếp của quẻ là sơ đồ sáu mươi bốn quẻ Tiên Thiên Bát Quái của Thiệu Tứ, nhưng bỏ đi bốn quẻ chính là Càn, Khon, Kham, Ly Tác dụng của những quẻ nảy là chuyên luận bàn vẻ

Cửu Lục xung hòa, Xung hòa, Âm Dương của hai hào trèn dưới phối hợp với nhau Lý luận Phong Thủy cho rằng quẻ Tọa huyệt, nếu

Trang 10

ngoại quái của nĩ là Chấn, Cấn, Tốn, Đồi gọi là xung hịa; Gàn,

Khơn, Khảm, Ly gọi là khơng xung hịa

Tầng thứ 13 “Chính cham bach nhị thập phan kim”

Tang nay chia đều Lục Thập Giáp Tý và xếp chơng thành một

tràm hai mươi phân kim, nằm đưới Chính châm Nhị Thập Tứ Sơn,

Giáp Tý ở tang này bắt đầu từ giữa Nhâm Tý và Bính Ngọ của Địa

bàn Mơi Chi của Giáp Tý được phàn bố tương ứng với mười vi tri,

Giáp Ất Nhâm Quý là Cơ Hư, Bính Đinh Canh Tân là Vượng Tướng,

Mậu Kỹ là Quy Giáp Khơng Vong

Tàng thứ 14 “Trung châm Lại Cơng Nhân bàn”

Lại Cơng tức Lại Văn Tuấn ~ tác giả quyển ?Ứĩi Quan Thiên,

ơng là người đầu tiên đưa ra “Trung châm” vào thế kỷ 12 sau Cơng

Nguyén Trung cham năm chính giửa Tý Quý Ngọ Đinh, coi con

người là linh hẳn của vạn vật, cùng với trời đất hợp thành Tam tài,

đo đĩ Trung châm Nhị Thập Tứ Sơn gọi là Nhán ban

Tâng thứ 15 “Thiên kỳ Doanh Súc Long”

Tương truyền Doanh Suc Luc Thập Long được lưu truyền từ nhà

thuật số Khưu Diên Hàn đầu đời Đường, bên trên ứng với độ rộng

hẹp khác nhau của Thiên tinh, cĩ Giáp Tý rộng từ bảy, tám độ đến

mười độ, củng cĩ Giáp Tý rộng năm, sáu độ cho đến ba độ, vì vậy đặt

tên là Doanh Sưe (co giãn) Lý luận Phong Thủy cho rằng đây là Khí

nghênh thiên,

Tang thứ I6 “Phùng châm Dương Cơng Thiên ban”

Nĩ được sáng tạo bởi Dương Quân Tùng đời Đường, do vị trí kim

chỉ ngay giữa khe hở của Nhâm Tý và Bính Ngọ, nén gọi là Phùng

châm Thảy Phong Thủy đùng nĩ để lập hướng tìm Long

Trang 11

Tầng thứ 17 “Phùng châm bách nhị thập phan kim”

Tảng này giống tảng thứ 13, nhưng hơi dịch chuyển về hướng

Đông Bàn này nằm ở bên đưới Phùng châm Nhị Thập Tư Sơn, bát

dau từ nửa Nhâm của Phùng châm trở lên, hỗ trợ phân kim của Chính châm

Tang thứ 18 “Quẻ Địa Nguyên Quy Tàng”

Trong sáu mươi bốn quẻ, bốn quẻ chính gồm Kham Ly Chan

Đoài phối hợp với bốn mùa, hai mươi bốn hào điều khiển hai mươi bốn Tiết Khí, ví dụ Đông Chí tại Khám, vì thế sáu hào thuộc Khảm ở

Đông Chí trông giữ sáu Tiết Khí, Xuân Phân tại Chấn nên sáu hào

thuộc Chấn ở Xuân Phân trông giữ sáu Tiết Khí, Hạ Chí tại Ly nên

sáu hào thuộc Ly ở Hạ Chí trông giữ sáu Tiết Khí, Thu Phân tại Đoài

nên sáu hào thuộc Đoài ở Thu Phân trông giử sáu Tiết Khí Mỗi hào trông giữ mười lăm ngày, mỗi quẻ trông coi chín mươi ngày, bốn qué

được một năm ba tràm sáu mươi ngày Sáu mươi quẻ còn lại chia đều

cho mười hai ngày Bốn quẻ chính chia nhau trông coi hai mươi bốn Tiết Khí trong bốn mùa;

Qué Khim chinh Bic SP Lựct Maw Dần Lập Đông Can Cử Nhỉ Mài Thìn Tiểu Tuyết Hợi

Qué Ly chính Nam

Qué Boai chính Tay

Lục Tem Mậu Ngọ Đại Tuyét Nhm Cửu Ngữ Mậu Thát Tiểu Hàn Quý

§ 0u Canh Tý Lập Xuân (ấn

Lue Tam Canh Thin Kink Trép Giáp

Lục Ngữ Canh Thân Thanh Minh At

So Civ Ky Mao Lap Ha Tin

iu Tem Kj Hei Mang Ching Binh Lục Ngủ Ký Mù Tiếu Thử Đình

§w 0h Đình Ty Lập Thu Khôn

Lự Tam Đnh Sửu Bạh Lá Canh Cửu Ngã Bình Dậu Hạn lá Tân

* Šœ, hào nằm dưới cùng của một quẻ có 6 hào

* Thương: hào nằm trên cũng của một quc có 6 hào

* Lục: hào Âm (~ —\

* Cửu, hào Dương (—]

‘we Ti Mau Than Ding Chi Ty Thumg" Lục Mậu Tý Đại Han Sửu

Lục Nhị Canh Dan Vi Thủy Dẫn ( Tứ Canh Nẹp Xuân Phân Mao Thượng Lue Canh Tuất Cốt Võ Thin

Lye Nhị Ký Sửu Tiển Mãn Ty

Cứ Tứ ỹ Dậu Hạ Chi Neo Thượng Cửu Kỷ Ty Đại Thủ Mùi

Cửu Nhị Định Mão Xử Thử Thân Chiu Ta Binh Hoi Thu Phin Dậy Thuong Luc Đình Mùi Sương Giáng Tiết

Trang 12

Mỗi hào có khái niệm trừu tượng nhất định và quá trình tự

nhiên giản lược riêng, vì vậy từ đó có thể suy đoán sự tốt xấu, được

mất

Tàng thứ 19 “Giới hạn của Nhị Thập Bát Tú”

Tàng này thể hiện vị trí và số độ nằm trên xích độ của Nhị Thập

Bát Tu Trong La Kinh Giải Định của Hà Quốc Trinh có ghi rằng:

Sao Giốc mười hai độ, sao Cang chín độ thiếu, sao Đê mười sáu độ

thiếu, sao Phòng năm độ bán, sao Tâm sáu độ bán, sao Vi mudi chin

độ, sao Cơ mười độ bán, sao Đầu hai mươi lăm độ thiếu, sao Ñgưu

bảy độ thiếu, sao Nữ mười một độ thiếu, sao Hư chín độ, sao Nguy

mười lăm độ bán, sao Thất mười bảy độ, sao Bích tám độ thái, sao

Khuê mười sáu độ bán, sao Làu mười một độ thái, sao Vị mười lăm độ

bán, sao Mão mười một độ thiếu, sao Tất mười bảy độ bán, sao Chủy

thiếu đô, sao Sâm mười một độ, sao Tỉnh ba mươi ba độ thiếu, sao

Quỷ hai độ thiếu, sao Liễu mười ba độ thiếu, sao Tỉnh sáu độ thiếu,

sao Trương mười bảy độ thiếu, sao Dực mười tám độ thái, sao Chẩn

mười bảy độ thiếu, tổng cộng là 365,25° Phía trên có dé cập đến ba

chu “thai”, “thiếu” và “bán”, trong đó “bán” là một phản hai, điều này

rất đê hiểu, “thái” là ba phản tư, “thiếu” là một phản tư, đây là những

danh từ dùng trong lĩnh vực thiên văn học truyền thống của Trung

Quốc

Tàng thứ 20 “Quê Thiên Nguyên Liên Sơn”

Trong sáu mươi bốn quẻ Tiên Thiên Bát Quái, ngoài bốn qué

chín là Càn, Khôn, Kham, Ly, sáu mươi quẻ còn lại chia đều cho Luc

thập Giáp Tý, quay vòng một nam 365°, qué Phục bắt đầu từ sao Hư,

qué Bac kết thúc ở sao Nguy Dương Thảy Phong Thủy căn cứ vào ba

trăm sáu mươi hào suy đoán và sắp xếp hào tượng lành du, xem xét

và giử lấy hào tết Hào tốt dùng vòng tròn trắng, hào xấu dùng chấm

Trang 13

Tầng thứ 21 “Quẻ Nhân Nguyên Chu Dịch”

§áu mươi bốn quẻ Hậu Thiên Bát Quái, cộng thêm lôi, phong,

hỏa, địa, trạch, thiên, thủy, sơn vào phía trên quê Hậu Thiên, ngoại

trừ bốn qué Can, Khon, Kham, Ly, lay sdu mươi quê phối hợp với Lục

Thập Giáp Tý, suy tính và sắp xếp hào tượng vận hành trong một

nam để kiểm nghiệm vị trí lành dữ của Lưu Thần Sa, tầng này chủ yếu dùng để xem mộ

Tầng thứ 22 “Hỏn thiên tính suy đoán Ngũ Hành”

Tảng này có hai mươi tám chòm sao, trong mỗi chòm sao có sự

phân chia Ngũ Hành, để phối hợp với Lục Thập Giáp Tý, Kim mười

bai, Mộc mười ba, Thúy mười hai, Hồa mười hai, Thể mười hai, tổng

cộng sáu mươi mốt vị trí, phủ hợp với nguyên tắc Doanh Súc Nạp Âm

trong Phong Thủy Ví dụ Giáp Tý Nạp Âm thuộc Kim, trông giử sao

That, 5°, 6°, 7°, 8°, 9°, 10°, tang cộng 6 độ này cũng thuộc Kim, gọi là

thể dụng hài hòa, nghĩa là hưng thịnh tốt lành

Tầng thứ 23 “Hồn thiên tỉnh suy đoán lành dữ”

Trong La Kinh Giải Định của Hồ Quốc Trình có nói: “Tất cả phân giới của Nhị Thập Tứ Sơn, đường ở giữa kẽ Can Chi là Tiểu hông Chí, đường ở giữa tám Can, bốn góc là Đại Không Chi, đường

ở giửa mười hai Địa Chi là Sai Thác, đều được xác định từ Chính châm”

Tang thit 24 “Thập nhị cung thứ và phân đã”

Hai mươi tám chòm sao trén bau trời chia nhau chiếm giữ mười

hai cung, độ số lớn nhỏ phân chia không đồng đẻu Trên trời là mười

hai thứ, dưới đất là mười hai phương, phối hợp các vùng đất của

Trung Quốc với các chòm sao và khu vực trên trời, trong La Kinh Giải Định của Hỗ Quốc Trinh có nói: “Nước Vệ ở Tính Châu, ứng với

Hợi thuộc cung Song Ngưu; nước Lỗ ở Từ Châu, ứng với Tuất thuộc

Trang 14

cung Bạch Dương; nước Triệu ở Ký Châu, ứng với Dậu thuộc cung

Kim Ngưu; nước Tấn ở Ích Châu, ứng với Thàn thuộc cung Âm

Dương; nước Tân ở Ung Châu, ứng với Mùi thuộc cung Cự Giải; nước

Chu ở Tam Hà, ứng với Ñgọ thuộc cung Sư Tử; nước Sở ở Kinh Châu,

ứng với Ty thuộc cung Song Nữ, nước Trịnh ở Duyễn Cháu, ứng với

Thìn thuộc cung Thiên Xứng, nước Tống ở Dự Chàu, ứng với Mão

thuộ£ cung Thiên Hạt; nước Yến ở U Châu, ứng với Dàn thuộc cung

Nhân Mã; nước Ngô ở Dương Châu, ứng với Sửu thuộc cung Ma Hạt;

nước Tẻ ở Thanh Châu, ứng với Tý thuộc cung Bảo Bình”

Tang thứ 25 “Cảm tinh giới vị”

Tang nay thể hiện vị trí của hai mươi tám chòm sao trên thiên

thể Phối hợp Ngũ Hành và danh cảm cùng với hai mươi tám chòm

sao dé xem lành đử, gọi là Cảm tinh

Như ở trên đã trình bay, trong la bàn có bốn tảng chủ yếu dùng

đề thể hiện phương vị Tảng thứ hai dung qué “Tiên Thiên” thể hiện

vị trí của tám hướng, tầng thư ba ding qué “Hau Thiên” thể hiện vị

trí của tám hướng, tằng thứ tư dùng mười hai Địa Chi thể hiện mười

hai phương vị, tảng thứ năm lại chia mười hai phương vị thành hai

mươi bốn phương vị, áp dụng mười hai Chỉ tám Can và bốn góc của

tầng thứ tư “Tám Can” là Giáp, Ất, Binh, Dinh, Canh, Tan, Nham,

Quý trong Thiên Can (vì Mậu va Kỷ đại diện trung ương, do đó

không dùng), “bốn góc” là dùng bốn quẻ Càn, Khôn, Tốn, Cấn của

“Hâu Thiên” quái tự

Sự phát triển của Lý Pháp đầu tiên là dùng phương pháp Ngủ

âm Ngủ tính để xác định phương hướng, vị trí nhà ở Phương pháp

này căn cứ vào Ngũ Hành sinh khắc, dựa vào “họ” của gia chủ và

phát âm của “họ” để xem nó rốt cuộc thuộc âm nào trong Ngủ âm

“Cung, Thuong, Giốc, Chủy, Vũ”, rồi phối hợp với hương cửa chính

của ngôi nhà để bàn vẻ tốt xấu, lành dữ Điều này có nghĩa là nhà ở

ef

a fe eS

=

Trang 15

vốn không thể kết luận trước là lành hay dit, ma phải xem người nào

đến ở Nói cách khác, cùng một ngôi nhà, người họ “Vương” cư trú

không tốt, nhưng nếu đổi cho người họ “Lý” đến ở có thể lại rất tốt Phương pháp Ngũ âm trở nên thịnh hành vào thời Hán, Ngụy, Tấn,

Tùy, cho đến thời kỳ đấu đời Đường, sau khi Lữ Tài chỉ trích học

thuyết Ngủ âm này thì nó mới nhanh chóng lụi tàn Đến đâu đời Tống, ảnh hưởng và công dụng của Kiih Dịch, Hà Đồ Lạc Thư ngày càng sâu rộng, bắt đầu từ đời Minh, Lý Pháp kết nối tám phương hướng của nhà ở với “qué”, sau dé kết hợp với Ngũ Hành sinh khắc định ra “Du niên pháp” với bốn hướng tốt và bốn hướng xấu, phương pháp này được tiếp tục dàng đến thời cận đại

Bảng 3-1 Phương pháp Ngũ âm Ngủ tính

NHIaNGDh | Ông Ô Tag G6 | 0g |W h THÍ MÔ [ ĐỤC MÔ (Chinn gida/ Nam Tay/ Chih itn | Bing/ Bic | Nam / Bing Bie /iy

Người xưa cho rằng con người chịu sự khống chế của vũ trụ, con người thích hợp với vũ trụ sẽ hưng thịnh phát triển, nếu không thích hợp thì sẽ suy bại diệt vong, đây chính là tam quan trọng của phương

vị trong la bàn Vũ trụ có không gian và thời gian, eòn bao hàm muôn

sự vạn vật, biến hóa vô cùng vô tận

Nói rộng ra, la bàn tượng trưng cho vũ trụ: hình tròn ba trăm sáu mươi độ tượng trưng cho bầu trời, sắp xếp hai mươi bốn phương

vị Phương vị được quyết định bởi kim chỉ Nam là không gian riêng

bao hàm trong đó Do trái đất quay một vòng quanh mặt trời là một

năm, di chuyển một độ là một ngày, thế là kết hợp “Thiên Can”, “Địa

Chi” thành gid, ngày, tháng, năm, quan sát sự thay đổi của bốn mùa,

dùng góc độ ánh sáng mặt trời để tính toán thời gian Một Hoa Giáp

Trang 16

có sáu mươi ngày, sáu Hoa Giáp là một năm (để làm tròn số nên tính

một năm ba trăm sáu mươi ngày), ngày Đông Chí của mỗi năm đều là

ngày Giáp Tý, đây là sự thể biện của thời gian Không gian kết hợp

với thời gian vận hành không ngừng theo một quy luật tuản hoàn

nhất định, để thể hiện muôn sự vạn vật trên trái đất, người xua đã

dùng Nhâm Quý Thúy ở hướng Bắc trên la bàn để tượng trưng cho

mưa sương và mây mù, Giáp Ất Mộc ở hướng Đông tượng trưng cho

tất cả thực vật; Bính Định Hỏa ở hướng Nam tượng trưng cho mặt

trời, mặt trăng, ánh sáng, sấm chớp; Canh Tân Kim ở hướng Tây

tượng trưng cho tất cả khoáng vật; hai quẻ Cấn Khôn 6 Dong Bac va

Tây Nam đêu là Thổ, một tượng trưng cho núi, một tượng trưng cho

đỏng bằng; quẻ Tốn ở hướng Đông Nam tượng trưng cho gió và không

khí; quê Đoài ở hương Tây tượng trưng cho biển và ao đầm; quẻ Chấn

ở hướng Đông tượng trưng cho sấm sét

Trái đất chỉ là một bộ phận của vủ trụ, ngoài trái đất còn có vỏ

số thiên thể đang vận hành không ngừng, do đó người xưa củng dùng

rất nhiều chòm sao để tượng trưng cho vô số thiên thể, sau đó dùng

quẻ Càn để thống lĩnh toàn bộ thiên thể Dùng nguyên lý căn bản

Ngủ Hành sinh khắc, tương trợ tương thành tượng trưng cho sự biến

hóa vô cùng vô tận của các sự vật hiện tượng trong vũ trụ, ví dụ như

dùng Ngủ Hành sinh khác để nói rõ quy luật tuần hoàn của bổn mùa,

Mộc ở hướng Đông, tượng trưng cho mùa Xuân; Hỏa ở hướng Nam,

tượng trưng cho mùa Hạ; Thổ ở chính giữa, tượng trưng cho bốn mùa;

Kim ở hướng Tây, tượng trưng cho mùa Thu; Thủy ở hướng Bắc,

tượng trưng cho mùa Đông

Từ xưa đến nay, loài người không ngừng tìm hiểu về vủ trụ, xã

hội và nhân sinh, do động cơ tìm tòi học hỏi này nên con người

†hường đưa ra những giải thích về sự hình thành của các hiện tượng

tự nhiên, sự vận hành của các chòm sao trên trời, sự thay đổi của bấn

mùa, sự phát sinh tai họa theo lối nhân hóa Cách giải thích này củng

Trang 17

đã hòa nhập vào kinh nghiệm cuộc sống và sản xuất suốt một thời

gian dài của loài người, chẳng hạn như sự hình thành của hai mươi bốn Tiết Khí, dùng Ngũ Hành đề giải thích cấu tạo của tự nhiên, v.v Ứng dụng của la bàn trong Phong Thủy phải chăng đã chứng tô loài

người cảm nhận được ảnh hưởng của từ trường đối với tâm sinh lý

con người? Con người vốn có từ trường, thậm chí vật thể không có sự sống cũng có từ trường, hơn nửa khoảng cách khác nhau sẽ tạo ra tử

trường khác nhau Tuy rằng trong Phong Thủy không đẻ cập đến hai

chữ “tử trường”, nhưng Phong Thủy coi trọng sự phối hợp của phương hướng, vị trí, khoảng cách, điều này trùng khớp với từ trường Mặt

khác, bề mặt trái đất là một từ trường lớn, sự thay đổi lớn nhỏ của

luc tu déu có quan hệ chat chê với “bên trên và bên dưới”, “bèn trên” chỉ nhật, nguyệt, tình tú; “bên dưới” chỉ địa hình, đặc biệt là hướng

đi của sơn mạch Theo đo lường, từ lực ở khu vực đỏng bằng tương

đối yếu và ổn định, còn khu vực có địa hình phức tạp hoặc đổi núi thi

từ lực tương đối mạnh và không ổn định Từ lực quá mạnh sẽ không

có lợi cho sự tồn tại của mọi sinh vật và sức khỏe con người, vì thế

chọn nơi có từ lực vừa phải đề sinh sống là việc vô củng quan trọng

đối với con người, phải chăng Phong Thủy đã phản ánh nhận thức

của con người đối với từ trường trên bề mặt trái đất? Những vấn đẻ này rất đáng để chúng ta đi sâu tìm tòi nghiên cứu

Trang 18

Thành phố và văn hóa gắn bó với nhau như hình với bóng, thành

phố là sự thể hiện tập trung của văn hóa

Thành phố là điểm tập trung mà ở đó xã hội loài người tác động

vào môi trường địa lý, củng là nơi xã hội loài người tác động vào môi

trường địa lý mạnh mẽ và nhạy cảm nhất Nhìn từ bên ngoài, thành

phố là cảnh quan văn hóa tập trung những kiến trúc cao lớn và nhiều

đường phố, cũng là không gian kinh tế, văn hóa hoạt động không

ngừng So với khu vực nông thôn xung quanh, thành phố thông

thường tập trung tương đối nhiều các cơ cấu khoa học, nghệ thuật,

văn hóa và nhân tài; tập trung nhiều phương tiện sản xuất và

phương tiện sinh hoạt; tập trung nhiêu công trình công cộng, trong đó

bao gồm: hệ thống cấp thoát nước, nhà máy điện, trạm cung cấp năng

lượng, công trình giao thông, hệ thống phòng cháy chữa cháy, bưu

chính viễn thông, giáo dục, lực lượng cảnh vệ, mạng lưới thương

nghiệp, khu vui chơi giải trí văn hóa, v.v, So với vùng nông thôn

ngoại ô xung quanh thì ngành sản xuất thứ hai gồm thủ công nghiệp,

công nghiệp nhẹ và ngành sản xuất thứ ba gồm các ngành dịch vụ

của thành phố tập trung hơn Tóm lại, thành phố là “điểm” tương đối

=

=

bì Bì I

=)

Trang 19

†ập trung mà ở đó con người tác động vào môi trường dia lý, còn vùng

nông thôn xung quanh là một “diện” rộng “Điểm” và “diện” này tức thành phố và nông thôn là một thể thống nhất trong đó Âm Dương bồ

sung cho nhau Chúng cùng dựa vào nhau để tồn tại và chế ước lẫn

nhau, giữa chúng có mối liên hệ nhưng cũng có sự khác biệt Do vay,

trong một phạm vi nhất định, mỗi thành phố đều có sức hấp dẫn đặc

thù đối với nơi nó tọa lạc Giao thông hiện đại hóa, phương tiện thông

tin ra đời và phổ biến rộng khắp thì sức hấp dẫn này có thể đạt đến

một không gian tương đối xa Thành phố không ngừng thu hut dan

số, kỹ thuật, trí thức và vốn văn hóa của nhứng nơi này, đồng thời không ngừng đưa những sản phẩm vật chất, kỹ thuật, văn hóa và

tinh thần mang nhiều đặc sắc được chế tác với trình độ kỹ thuật cao

ra những vùng chịu ảnh hưởng của nó, ngay cả những nơi xa xôi hơn

Thành phố là một hệ thống vật chất có mật độ cao, năng lượng lớn, hoạt động tấp nập, thành phản cấu tạo phức tạp Nó là không

gian cơ bản cho con người hoạt động sản xuất và sinh hoạt; là nơi tập trung để con người tiến hành những hoạt động kinh tế, khoa học, văn

hóa, nghệ thuật, thương nghiệp và tiền tệ Thành phố là một cơ thé

có sự sống Sự ra đời và phát triển của nó luôn gắn liền với môi

trường xung quanh, nó tiến hành trao đổi vật chất, năng lượng và

thông tin với môi trường xung quanh từng ngày từng giờ như dòng

nước chảy không ngừng nghỉ Thành phố giống như con người, cũng

có đại não, hệ thống thần kinh, hệ thống tuần hoàn, hệ thống tiêu hóa Trung tâm chỉ huy quyết sách, quy hoạch là hệ thống đại não

của thành phố Hệ thống bưu chính viễn thòng là than kinh của nó,

mạng lưới giao thông vận tải là hệ thống tuân hoàn của nó Thành phố và môi trường xung quanh không ngừng tiến hành những hoạt động trao đổi chất thay cũ đổi mới

Thành phố đã là một cơ thể sống thì nó sẽ có cá tính và linh hon của mình Linh hồn của thành phố là văn hóa mà nó thể hiện ra

Trang 20

“Văn hóa” bao gém ba bac, bộ phận hạt nhân của nó là nội dung

vẻ tỉnh thân, tức là bac tinh than, tôn giáo, văn học, nghệ thuật và

hình thái ý thức Bac thứ hai là những đặc săe văn hóa được thể hiện

thông qua phương thức sinh hoạt như hình thái và phương thức của

phong tục, trang phục, ẩm thực, lễ tết, v.v Bậc thứ ba là hình thái

bên ngoài của thành phố như bố cục mặt bằng thành phố, công trình

kiến trúc chủ thể, bộ mặt văn hóa đường phố v.v Ba cấp độ văn hóa

này của thành phố chế ước lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể văn hóa

Thành phố là điểm hội tụ vàn minh vật chất và vàn minh tỉnh

than của nhân loại Văn hóa xem thành phố là vật chuyển tải Sự ra

đời và phát triển của một thành phố luôn có mối quan hệ máu thịt

với lịch sử, địa lý và văn hóa của khu vực nó tọa lạc Sự hưng vong

của một thành phố luôn là hình ảnh thu nhỏ vẻ sự phát triển lịch sử

văn hóa của nơi nó tọa lạc, Thành phố thủ đô của một quốc gia luôn

là điện mạo văn hóa thoi đại của dân tộc, quốc gia đó và là sự thể

hiện ở trình độ cao nhất

Giữa các thành phố có mức độ lớn nhỏ khác nhau, do nhiều

nguyên nhán lịch sử và hiện thực, luôn tạo nên một hệ thống thành

phố nhất định Mạng lưới thành phố được hình thành thông qua mối

liên hệ giao thông Trong mật hệ thống thành phố luôn có một hoặc

vài thành phố lớn dan đảu, trình độ văn hóa, nghệ thuật, khoa học,

kỹ thuật của nó cao nhất, thông tin nhanh nhạy nhất, tin tức mới,

kiểu dáng mới, thời trang mới luôn xuất hiện và thịnh hành ở đây

đâu tiên, sau đó mới phố biến đến các thành phố nhỏ hơn hoặc vùng

nông thôn Thành phố lớn giử vị trí đầu tàu nảy cũng là trung tâm về

tập tục xã hội, phương ngôn của một khu vực, một quốc gia dân tộc

Hình thức kiến trúc quy hoạch của nó ảnh hưởng đến phạm vi truyền

bá của vùng văn hóa đó Tóm lại, trào lưu văn hóa ở mỗi khu vực, mỗi

thời đại đêu có thành phố trung tâm tiêu biểu của nó Sự biến đổi của

văn hóa xã hội tất yếu sẽ dẫn đến sự biến đổi của thành phố Quy mô

Trang 21

kết cấu của thành phố là chứng nhân tập trung nhất cho giai đoạn

phát triển văn hóa xã hội

Sự phát triển của thành phố Trung Quốc đã trải qua con đường

lâu dài và độc đáo, tạo nên nét đặc sắc của văn hóa phương Đông và

cảnh quan thành thị làm cho thế giới phải chú ý Văn hóa của thành

phố được thể hiện trong sự phát triển lịch sử của thành phố ở mỗi

một giai đoạn, nếu bỏ đi lịch sử sẽ không có cách nào nói về văn hóa

Một bộ sách viết về lịch sử phát triển của thành phố luôn là lịch sử văn hóa của dân tộc và quốc gia này

tượng hình có liên quan đến thành phố * *Ÿ*° Sự xuất hiện của thành

phố gắn liên với sự dư thừa lương thực ở thời kỳ đầu, sự ra đời của

nhà nước, sự phân chia đẳng cấp, việc sử dụng công cụ bằng kim loại, v.v, Trong tài liệu lịch sử cổ được lưu truyền trong dân gian có viết

“khi Hoàng Đế phân chia đồng ruộng, mới phân ra thành ấp” Sử Ký

~ Ngũ Đế Bản Kỷ của nhà sử học vĩ đại đời Hán Tư Mã Thiên có ghi

chép rằng, vào thời Hoàng Đế Hiên Viên đã xuất hiện mầm mống

thành ấp Đó là thời kỳ văn hóa Ngưỡng Thiểu cách nay hơn 6.000 năm Trong Sử Ký viết: “Hoàng Đế họ Công Tôn tên Hiên Viên”, vào

lúc đó “Chư hầu xâm phạt lần nhau, ngược dai ba tanh”, “thế là Hiên

Viên luyện tập binh đao, chinh phạt các chư hảu không đến triều

cống, chư hầu bốn phương đều đến quy phục” Lúc đâu, họ “giao chiến

với Viêm Đế ở đỏng Bản Tuyên (nay là huyện Trác Lộc tinh Ha Bac),

sau ba trận mới giành được thắng lợi” Về sau, “Hoàng Đế chiêu mộ

quân lính chư hau, đánh nhau với Suy Vưu ở đồng Trác Lộc, bắt giết

Suy Vưu”, “lập thành ấp trên núi lớn ở Trác Lộc", mảm mống thành

ấp sớm nhất này chính là ở huyện Trác Lộc tỉnh Hà Bắc ngày nay Hoàng Đế “dùng binh sĩ để bảo vệ doanh trại, tất cả các chức quan

Trang 22

đều lấy chứ Vân để đặt tèn, gọi là Van Sư, lập ra Tả Thái Giám, Hữu

Thái Giám để trông coi vạn quốc”

Từ sau khi Hoàng Đế được tôn làm Thiên Tử, chức năng vẻ hình

mau ban đầu của một nhà nước có binh lính, chế độ quan lại, Thái

Giám, thành ấp v.v cũng đã gản như đây đủ Hoang dé tung di thi

sát khắp nơi, phía Đông đến Bột Hải, leo nút Thái Sơn, phía Nam đến

Trường Giang, phía Tây đi đến núi Không Động tình Cam Túc, phía

Bắc đến Huân Dục (Hung No sau này) Tổ chức lễ Phong Thiền long

trọng trên núi Thái Sơn tượng trưng cho việc tuân theo ý trời để cai

quản đất nước ở chốn trần gian

Dân tộc Trung Hoa bắt đầu xây dựng quốc gia đa dân tộc từ thời

Hoàng Đế Đây là quan niệm lịch sử thời thượng cổ chính thống của

mấy ngàn năm nay Trong Kim văn truyền tử đời này sang đời khác

đều thấy xuất hiện miếu hiệu của “Hiên Viên” Những văn vật được

khai quật từ lòng đất cũng đã chứng thực quan niệm lịch sử cổ xưa

nảy là có căn cứ chắc chắn

Lương thực dư thửa, dân số tập trung là cơ sở cho sự ra đời của

quốc gia và thành ấp O di chỉ văn hóa Từ Sơn thuộc huyện Vũ An

tinh Ha Bac cách nay hơn 7.300 năm, người ta đã phát biện “trong

một di chỉ có hơn 300 hố hình chữ nhật”, trong đó 80 hố “đẻu có một

lượng lớn than mục nát, qua phản tích thì biết đó là hạt kê, ước tính

có hơn 100.000 cân” Ngoài ra, ở di chỉ văn hóa Hà Mẫu Độ ở miễn

Nam cách nay khoảng 6.000 ~ 7.000 nam, người ta cũng phát hiện có

“ít nhất trên 100.000 càn” lúa

Luyện kim, sử dụng công cụ bàng kim loại cũng đánh đấu sự

xuất hiện của thành ấp và quốc gia Người ta phát hiện trong di chỉ

Khương Trại ở Thiểm Tây cách nay 6.000 — 7.000 nám và di chỉ Du

Thứ ở Sơn Tây đều còn sót lại những di vật luyện đúc đồ đẳng Trong

Trang 23

các di tích nhà hảm Mã gia, Lâm gia ở phía Đông tỉnh Cam Túc cách

nay khoảng 5.000 năm củng phát hiện những di vật rèn đúc kim loại, Ngoài ra còn khai quật được dao đồng đúc ở Đan Phạm và có vật làm

bằng sắt đã bị gì sét

Lúc bấy giờ, trong mộ táng có tục lệ tuẫn táng” Ở tầng thấp

nhất của di chỉ Tây Thủy Pha thuộc nền văn hóa Ngưỡng Thiểu ở

huyện Bộc Dương tỉnh Hà Nam phát hiện ngôi mộ lớn thứ 4ð cách

nay khoảng 6.500 năm, người đàn ông này đã tuần táng bốn người ở

Thanh Long bên trái và Bạch Hồ bên phải Đây đều là cơ sở của việc nhà nước xuất hiện quan niệm đẳng cấp

Một số đi chỉ khu dan cu thời kỳ văn hóa Ngưỡng Thiều có quy

mô rất lớn, điện tích lên đến mấy chục ngàn mét vuông Những công trình kiến trúc công cộng lớn như miếu than, dén thờ tổ tiên, v.v là những dấu hiệu quan trọng vẻ mâm mống và sự ra đời của thành ấp

Ờ Ngưu Hà Lương và Đông Sơn Chủy thuộc vùng núi phía Tây

tỉnh Liêu Ninh đã phát hiện ra đàn tế lớn, miếu Nữ Thần và quản thể mộ đá cách nay khoảng hơn 5.000 năm Bố cục và tính chất của chúng tương tự như Thiên Đàn, Thái Miếu và Thập Tam Lăng ở Bắc

Kinh Trong đi chỉ đàn tế có đàn tế hình vuông và đàn tế hình tròn tượng trưng cho “trời tròn đất vuông”, bố cục phân bố theo trục Nam Bắc, chú trọng tính đối xứng và có sự phân chia chính phụ giữa trung

tâm và hai bên Miếu Nữ Thản có gian nhà chính và gian nhà chái, có

chủ thản với thân hình cao to và nhiễu vị thân là các ngôi sao đỡ lấy mặt trăng Bố cục và diện tích lớn nhỏ của mộ táng phản ánh sự phân hóa đẳng cấp tương đối khát khe, đã có hình mẫu ban đầu của

“lễ” Ở gần miếu Nữ Thần có một nên cao bằng phẳng với điện tích

khoảng 40.000mŸ, ngôi mộ này có nhiều bức tường đá, ở giữa có ham

(#) Tuẫn túng: chôn sống (tỳ thiếp, nô lệ v.v.) cũng với người chết, theo tục lệ thời xưa :

Trang 24

huyệt chất đây những mảnh gốm màu hình ống đã vỡ vụn Các nhà

khảo cổ học còn phát hiện trên khoảng 30 đỉnh núi và sườn núi cao có

những mộ đá lớn, điện tích lớn nhất hơn 1000m” Trong mộ có

khoảng vài chục người được chòn bằng cách xếp một loạt “quan tài”

và đây bằng những tảng đá khổng lò được gia công, có quy mô to lớn,

thể lệ nghiêm ngặt Mộ đá nằm trên đỉnh núi, tượng trưng cho quyền

lực tối cao của người được chôn trong mộ và sự sùng bái đối với mặt

trời Đây đều là những bằng chứng hỗ trợ về sự ra đời và mầm mống

của văn hóa thành ấp thời cổ đại Trung Quốc

Hàng loạt hiện vật mà khảo cổ học phát hiện đã chứng minh

quan niệm lịch sử truyền thống mà sử cổ Trung Quốc ghi chép là có

căn cứ thật sự Tử 5.000 — 6.000 năm trước, Trung Quốc đã xuất hiện

nhà nước và thành ấp ở thời kỳ manh nha, điều này đã đem đến ánh

bình minh cho nên văn minh phương Đông

hào trì và sự kế

truyền con nối

Tường thành là vật tiêu biểu trực quan nhất của “thành”, nó

củng tượng trưng cho đặc trưng truyền thống của “thành” ở Trung

Quốc Thành quách Trung Quốc xuất hiện sớm nhất có liên quan đến

văn hóa nhà Hạ

Tài liệu lịch sử cổ đại Trung Quốc ghi chép rằng: “Vũ xây thành

để khi mạnh thì tiến công, khi yếu thì phòng thủ, giặc đến thì tác

chiến, thành quách bắt đầu có từ Vũ” Vua Vũ là nhân vật lịch sử

sống trước thế kỷ 21 trước Công Nguyên Các nhà khảo cổ học phát

hiện tường thành dau tiên của Trung Quốc được xây dựng đúng vào

thời kỳ này

Trang 25

Lần đầu tiên đã phát hiện một tòa tường thành được nện xây

bằng đất sét có chu vi khoảng 2km ở thôn Thành Tử Nha trấn Long

8ơn huyện Lịch Thành tỉnh Sơn Đông Thành có hình chử nhật, dày

khoảng 9m, cao khoảng 6m, dài 450m, rộng 390m Vẻ mặt khảo cổ học, nó thuộc thời kỳ văn hóa Long Sơn

Sau đó, ở Bình Lương Đài cách Hoài Dương tỉnh Hà Nam 4km

về hướng Đông Nam, đã phát hiện một tòa tường thành có vòng ngoài

hình vòng cung, thành hình vuông, chiêu dài, chiều rộng 185m, diện

tích thành khoảng 5.000m’ Phản tường thành bị hư hai cao hơn 3m,

đỉnh rộng khoảng 10m, đáy rộng khoảng 17m, qua kiểm nghiệm Cacbon 14 biết rằng nó được xây cách đây khoảng 4.355 + 175 năm

Trong thành có ba dãy bệ đài kiến trúc, mỗi day dai 15m, rong 5m Đoạn giữa hai mặt Nam Bắc của tường thành đều có cửa thành, ở

phía Đông và phía Tây của ra vào còn có phòng gác cổng, ở dưới lối

vào cổng thành có đặt một đường ống thoát nước bằng gốm

Các nhà khảo cổ học lại phát hiện ở phía Nam Tung Sơn tỉnh Hà Nam có một tòa thành cổ tên là Dương Thành Đây có thể là kinh đô

của nhà Hạ Trong Äfqnh Tứ - Vạn Chương có nói: “Nhà Hạ nổi lên,

Chúc Dung”' giáng sinh ở Sùng Sơn”, Sùng Sơn chính là Tung Sơn

Phía Bắc Dương Thành giáp với Tung Son, phía Nam giáp với Dĩnh

Thủy, phía Tây có sông Ngũ Độ, phía Đông có sông Thạch Tông

Thành lủy cổ Dương Thành đứng sóng đôi với Ky Sơn qua một con sông, chọn vị trí tựa núi kẻ sông, tòa thành cổ đã đạt được cái diệu lý

vẻ mặt Phong Thủy Thành lũy Vương Thành Cương là hai tòa thành

Đông và Tây song song nhau, thành phía Đông thì đã hư hại, còn thành phía Tây dài 92m, rộng 82,4m, qua kiểm định bang Cacbon 14 thì chúng được xây cách đây 4.000 + 65 năm Thành cổ ở Bình Lương Đài và Vương Thành Cương đều sử dụng phương pháp xây tường

(*) Chúc Dung: tên một vị than lửa theo truyền thuyết.

Trang 26

thành bằng ván nhỏ Vết nện ngay ngắn và chắc chắn Trong thành

lắp đặt đường ống dẫn nước bằng gốm Trong thành cổ Vương Thành

Cương đã phát hiện mấy khu đất có điện tích lớn được nện chặt, đây

là nên đất hư hại còn sót lại của cung điện, trong thành không tìm

thấy khu thủ công nghiệp và khu thương nghiệp, điều này chứng tỏ

“thành” ở thời đó chỉ có tính chất là thành lũy

“Thành quách hào trì kiên cố” được xây để bảo vệ an toàn tính

mạng, của cải vật chất của người có tài sản tư hữu, bảo vệ địa vị và

lợi ích của họ Xây dựng thành quách và đô ấp vào thời cổ đại là việc

đại sự của quốc gia Sự xuất hiện của thành quách ở những năm đầu

nhà Hạ trước thế kỷ 21 trước Công Nguyên phản ánh nén van hóa

lúe bấy giờ đã đột ngột chuyển từ trạng thái ban đầu “đại đạo thực

hiện, thiên hạ là của chung Chọn người hiẻn, trao chức cho người tài,

coi trọng chứ tín, mưu câu hòa hiếu Vì vậy người ta khong chỉ kính

yêu mỗi cha mẹ mình, không chỉ thương yêu mỗi con cái mình” sang

trang thai “dai đạo đã bị bỏ đi, thiên hạ là của riêng Ai nấy đều chỉ

kính yêu cha mẹ mình, yêu thương con cái mình, xem của cải sức lực

là của riêng bản thân” Quan hệ kế thừa ngôi vua theo chế độ “tín

nhiệm người hiẻn, tiến cử người tài” trước kia cũng đã được thay thế

bởi chế độ tư hửu cha truyền con nổi

“Trong quan niệm văn hóa xem chế độ tư hữu là chủ thể, người ta

dùng thành quách hào trì kiên cố để bảo vệ của cải và tài sản riêng,

lấy việc “chấn chỉnh vua tôi” để bảo vệ sự tôn nghiêm của vua chúa,

dùng việc “thắt chặt tình cha con” để đặc quyển cha truyền con nối

Những mối quan hệ này phản ánh qua việc “chọn chính đàn trong

kinh thành để lập Tòng Miếu” Chế độ Mình Đường có nguồn gốc từ

thời xa xưa, đời Hạ gọi nó là “Thế Đường” Đài đất nện trong thành cổ

ở Vương Thành Cương có liên quan đến điều này Trong các di chỉ có

cùng thời đại với nó, các nhà khảo cổ học lại phát hiện “nền móng

cung điện Nhị Lý Đâu” Nó nằm ở hướng Nam Bắc và có phong cách

N11

tẹ

Trang 27

bé cue “tién triéu hau tẩm”””, Kiến trúc của các đài cao trong thành

nguy nga trùng điệp, đứng trên đó có thể nhìn ra xa quan sát mọi cảnh vật từ trên cao xuống Đài cao lại thông gió, chống ngập nước,

đồng thời còn thể hiện được địa vị và tư thế của bậc quân vương

Tóm lại, sự xuất hiện của thành quách đời Hạ, việc biến kiến

trúc cung điện thành những đài cao chính là sự thể hiện tập trung

kết tỉnh của văn hóa thời kỳ này và văn hóa Hạ

Nhà Thương tôn tại từ thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 11 trước Công

Nguyên Quan niệm văn hóa thời kỳ này chính là lấy “tôn trọng

mệnh trời và kính trọng tổ tiên” làm gốc Kinh đô của quốc gia được

xây ở vùng trung du Hoàng Hà Nhà Thương xem kinh đô là trung

tâm đề thống trị các nước ở bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc, quả

đúng như câu nói “Cương vực rộng ngàn dặm, nơi nơi dân chúng sinh sống, đất đai mở mang khắp bốn phương” Nước Thương lúc bấy giờ

là một nước cường thịnh thống trị nhiều nước nhỏ Ách thống trị của

nhà Thương được xây dựng dựa trên tín ngưỡng thần quyền, lúc bấy

giờ thản quyền kết hợp với vương quyền đã bao tram lên toàn bộ đời sống xã hội, nó xâm nhập vào mọi ngõ ngách, vừa lớn mạnh lại vừa có

uy lục, hình thành nên cơ sở văn hóa tín ngưỡng thân quyền

Triều đại nhà Thương đã đặt nền tảng cho việc hòa hợp thống nhất dân tộc Trung Hoa Nhà Thương xem dân tộc Hoa Hạ là nòng cốt, thâu nạp thêm nhiều nước xung quanh Quốc gia lớn mạnh, dân

tộc hòa hợp, lễ tế trời, xe ngựa, lễ nhạc, tông miếu, xã tắc, thành

(*) Tiên triểu hậu tẩm: tức phía trước là nơi vua thượng triểu bin bạc chính sự, phía sau là nơi vua và

"hậu phí sinh sống.

Trang 28

quách, cung that v.v déu phát triển chưa từng thấy No da tao nên

nén van minh và lịch sử thành ấp võ cùng rực rỡ

Sau khi tiêu diệt nhà Hạ, kinh đô nhà Thương đã từng di dời

nhiều lần, qua phát hiện khảo cổ và khai quật bước dau cho thấy diện

mạo của kinh đô nhà Thương có ba tòa thành dưới đây,

Di chỉ Thang Đô Tây Bạc, tức là phía Tây Nam huyện Yển Sư

tỉnh Hà Nam ngày nay, thuộc vùng Thì Hương Cầu Trong di chỉ có

diện tích rộng hơn 3,7 triệu m” này đã phát hiện di chỉ của hai tòa

cung điện lớn và mấy đài đất nện cỡ vừa và nhỏ Cung điện được tạo

thành bởi bốn bộ phận gồm cung điện, sân, hành lang và cửa chính

Hai tòa cung điện sâu trén tram mét này gồm một tòa là cung điện và

một tòa là tông miếu Cách đó không xa lại có thành nhà Thương ở

huyện Yến Sư, quy mô của nó rất đồ sộ, từ Bắc tới Nam dài hơn

1.700m, nơi rộng nhất tu Dong sang Tay 1a 1.215m, tổng diện tích

khoảng 1,9 triệu m” Tường thành bằng đất nện, dày 16 - 25m Người

ta đã khai quật được bảy cửa thành, cửa thành có nhiều con đường

lớn ngang dọc đan xen, trong đó đường chính rộng đến 8m, trong

thanh lại có ba tòa thành nhỏ, chứng được sắp xếp theo hướng từ Tây

Bác đến Đông Nam Tòa thành chính giữa khá lớn là kiến trúc cung

điện khép kín Hai tòa thành nhỏ ở hướng Nam và hướng Bắc là

doanh trại của quân đội Điều này đã phản ánh sự đối lap gay gat

giữa tầng lớp quý tộc và nô lệ

Ngao Đô mà Trọng Đinh dời đến là thành nhà Thương nằm ở

phía Đông thành phố Trịnh Châu ngày nay Chu vi thành này đài

6.960m, tường thành phía Bắc dài 1.690m, tường thành phía Dong va

phía Nam mỗi bên dài 1.700m, tường thành phía Tây đài 1.870m Có

11 cửa thành, về cơ bản nó là tòa thành gan giống hình vuông nằm

chính hướng Nam Bắc Đồng thời còn phản ánh quan niệm văn hóa

“trời tròn đất vuông” và kỹ thuật đo đạc cao siêu lúc bấy giờ

Trang 29

nên xây thành lên đến trên 870.000 - 1.000.000m” Một công trình đỏ

sð như thế nếu mỗi ngày có 10.000 người nên xây thì cũng phải mất 4

— 5 năm mới có thể hoàn thành Trong thành phân bố rải rác nhiều

phường sản xuất thử công, nén nhà, hảm đất, giếng nước, hao giao

thông, nhà mé, v.v Ở phía Đông Bắc của thành có mấy chục nên đất

nện, lớn nhất có chiéu dai từ Đông sang Tây là 65m, chiều rộng từ

Bác tới Nam là 13,6m Cung điện theo kiểu nhiều gian, mái hiên hai

lớp, xung quanh có hành lang bao bọc Qua kiểm định Cacbon 14 thì

biết nó được xây cách nay 3.570 + 130 nam

Quy mò của hai tòa thành nhà Thương nói trên đều rất đỏ sộ, phản ánh lúc bấy giờ đã có đủ khí thế đế đô hùng vĩ Những cổ vật

khai quật được trong thành như ngà voi ở xứ nhiệt đới, đá Lục Tùng

ở Tây Bắc Trung Quốc, thiếc để luyện đức đồng đen ở phía Nam hoặc Tây Nam Trung Quốc, quặng đồng, ngọc thạch, vàng, vỏ sò, vô trai,

da cá sấu, v.v cũng đều đến từ kháp nơi trong nước và cả những vùng xa Xôi

Một quản thể đô thị nhà Thương khác thu hút sự chú ý của mọi

người nằm ở An Dương tỉnh Hà Nam Sử chép rằng: Bàn Canh di cư đến Ân (năm 1401 trước Công Nguyên) và bắt đầu xây dựng kinh đô

ở đây, thống trị được 273 năm Các nhà khảo cổ học từng tiến hành

khai quật thành này với quy mô lớn và phát hiện dọc theo bờ Nam

của sông Hoàn Thủy trong phạm vi hơn 10km có các cung that, dén miếu, nhà ở, hảm lò và nhà lao, v.v được phân bố rải rác khắp nơi Trong Sở Ky - Ấn Bản Kỷ ghi rằng: “Thời vua Tru, dan dan mé rong thành ấp Phía Nam đến Triều Ca, phía Bắc đến Hàm Đan và Sa

Khâu đều có Ìy cung biệt quán” Phạm vi của nó dài hơn 100km, có

thể thấy quy mô của cụm cung điện này lúc bấy giờ vô cùng đồ sô

Trang 30

Từ đô thành nha An này đi qua sông Hoàn Thủy dé vào Hoàng

Hà, nó trở thành trung tâm của mạng lưới vận chuyển đường thủy

trong nước Trung Quốc lúc bấy giờ, sau khi chuyển lên đường bộ, lại

kết nối với hệ thống sông ngòi Trường Giang, sông Hoài, có thể đi

khắp cả nước Ở Ân Khu đã khai quật được bộ xương cá kình, vỏ sò

nước mặn và gân 17.000 mảnh mai rùa, tất cả đều đến từ bờ biển và

vùng nhiệt đới Đỉnh đông lớn “Tư Vô Tuất” nặng 875kg, xung quanh

có trang trí hoa văn hình Quỳ Long” và Thao Thiết”), cao 1,33m, nó

tượng trưng cho nghệ thuật văn hóa đồng đen của kinh đô nhà

Thuong da đạt đến trình độ khá cao

Bằng chứng những phát hiện khảo cổ về kinh đô nhà Thương kể

trên với những ghi chép trong tài liệu lịch sử được lưu truyền từ đời

nay sang đời khác, đều đã chứng mình kinh đô nhà Thương có quy

mô to lớn, kết cấu phức tạp Kiến trúc chính của những kinh đô này

là những cung thất, điện miếu cực kỳ lộng lẫy xa hoa Mức độ truyền

bá và sức ảnh hưởng của chúng khá rộng, quả đúng với câu nói

“Thương ấp tấp nập, bốn phương tột bậc” Khí thế hùng mạnh của

kinh đô nhà Thương là tượng trưng cho một nẻn văn hóa phỏn vinh

Dùng kinh đô phỏn hoa tráng lệ để làm táng thêm uy lực của

hoàng quyên là truyền thống của văn hóa thành ấp Trung Quốc Đến

đời Chu, Thiên Tử chấp nhận chư hàu triều kiến, kinh đô có “không

gian rộng lớn, quyền uy vang đội”, thành Bắc Kinh thời Nguyên,

Minh, Thanh, khiến cho: “dân chúng cùng hội tụ vẻ đây, giống như

các chòm sao vây quanh Bắc Thần, trăm sông cùng đồ ra Đông Hải”,

chính là sự kế thừa và phát triển truyền thống văn hóa kinh đô này

Trang 31

Sau khi nhà Chu kế thừa nhà Thương, thành phố phát triển vượt

bậc Kinh đô nhà Hạ từng di đời hơn mười lần, kinh đô nhà Thương cũng từng “trước tám sau năm” di dời ít nhất mudi ba lan Te khi nha Chu dựng nước, vẻ cơ bản kinh đô đã được ồn định, không còn di đời

như trước, đồng thời lập nên chế độ hai kinh đô ở phía Đông và phía

lòng vì sự tiến bộ văn hóa và học thuật, xem lễ chế của Chu Vương là

chuẩn mực của vương quyẻn Trong quan hệ giữa người với người, sự

xác lập chế độ tông pháp vua tôi, cha con được phản ánh trong kiến trúc quy hoạch kinh đô cũng là sự xác lập của hàng loạt hệ thống

pháp quy, nguyên tắc tương ứng với nó Phần mở đầu Cu Lễ nói rằng: “Vua dựng kinh thành, chỉnh đốn phương vị, nước có kỷ cương,

đặt quan phân chức, dân có phép tắc”

Tôn chỉ này là sự thể hiện tập trung chế độ tông pháp nhà Tây

Chu va tinh thân tư tưởng xây dựng kinh đô Do vậy, đâu đâu cũng thấy những lời lẽ công khai xác lập sự uy nghi đường bệ của bậc

Thiên Tử, cũng như những lễ nghỉ, quan chế: “quyền vua thần ban”,

“chỉ mình ta độc tôn”, “quay mặt về phía Nam mà làm vua” Hướng tọa lạc của kinh đô, cung điện và nhà ở có quan hệ với đẳng cấp toa

ti, quan hệ chủ khách của con người Mấy ngàn năm nay, đường trục

đúng hướng Nam Bắc trong kinh đô Trung Quốc là sự thể hiện của

tinh than nay.

Trang 32

Thành Bắc Kinh đời Minh, Thanh là một biểu tượng vĩ đại của

nên văn minh phương Đông cổ xưa Nếu đến tham quan khu thành ở

trung tâm Bắc Kinh, những phủ đệ thời trước luôn luôn được tô điểm

tường đỏ ngói vàng hoặc tường đô ngói xanh Đến trước Thiên An

Môn, những lầu thành hùng vi va trang nghiêm đó đều lọt vào tim

mắt đu khách Dưới bâu trời xanh mây trắng, những chiếc xà ngang

được chạm trổ tỏ điểm nhiều màu sắc, mái hiên cong cong tựa ngà voi

như đang lượn múa, khí phách nguy nga lộng lẫy Leo lên “Vạn Xuân

Đình” nơi cao nhất của Cảnh Sơn nhìn ra xa, sẽ phát hiện chính giữa

của kinh đô, tức trên đường trục giửa, có một loạt kiến trúc đỗ sộ

đứng sừng sửng Chính hướng Nam nhìn từ xa đến gản có Vĩnh Định

Mon, Tiên Lâu, Tiền Môn, Thiên An Môn, Đoan Mòn, Ngọ Môn và

Thái Hòa Điện, Trung Hòa Điện, Bảo Hòa Điện, Càn Thanh Cung,

Giao Thái Điện, Khôn Ninh Cung của Cố Cung Chính hưởng Bắc ở

phía sau Cảnh Sơn còn có Chung Lâu và Cổ Lâu

Đường trục chính giửa này dài khoảng 8km Những kiến trúc

chủ thể tượng trưng cho vẻ uy nghỉ, trang nghiêm của vương quyền

trong kinh đô cố phần lớn tập trung trên đường trục này, hoặc lấy

trục này làm trung tâm đối xứng, phân bố ở hai phía Đông, Tây

Đường trục chính giửa làm cho các kinh đô cổ của Trung Quốc trở

nên trang nghiêm cung kính, tràn đẩy những chuẩn mực lễ nghỉ và

không khí thiêng liêng

Trong Chu Lễ ~ Khảo Công Ký quy định rõ lý luận và mô thức

của bố cục quy hoạch kinh đô cổ:

“Kinh đô có hình vuông, mỗi cạnh dài chín dặm, mỗi bên có ba

cửa thành Hướng Đông Tây và Nam Bắc đẻu có chín con đường Bên

trái đựng Tông Miếu, bên phải lập đàn Xã Tắc, phía trước là triều

đình và nơi chính phủ nghị sự, phía sau là phố xá buôn bán” Thành

phố uy nghi, vuông vức, ngang dọc như bàn cờ chính là mô hình tiêu

chuẩn vẻ lễ chế vương quyên trong “Hà Đồ”, “Lạc Thư”, “Cửu Cung

Trang 33

Bát Quái” được áp dụng ở các kinh đô cổ Phong cách va hình thái

của nó vàn tiếp tục được sử dụng cho đến đời Minh, Thanh,

Vi dụ thực tế về xây dựng kinh đô thể hiện trong Chu Lễ - Khao

Công Ký, qua khai quật đã chứng thực Vương Thành thời kỳ Đông Chu là một tòa thành có hình vuông, mỗi bên có ba cửa thành, tổng cộng có mười hai cửa Đông Tây và Nam Bắc mỗi hướng đều có ba con

đường lớn ngang dọc ửan xen Hoàng Thành ở chính giữa Phía Nam

mặt trước Hoàng Cung là Tông Miếu và đàn Xã Tắc Thiên Tử ở

chính giữa kinh đô làm nổi bật địa vị trung tâm của vương quyền,

Ở phía trước Cố Cung Bắc Kinh ngày nay có công viên Trung Son va Cung văn hóa Nhân dân lao động nằm đối xứng ở hai bên trái

phải Đây chính là đàn Xã Tắc và Tông Miếu của hai triều đại Minh,

Thanh Cách bố trí, cấu tao va hình dáng của chúng hoàn toàn tuân

theo mô thức trong Chu Lé Cé thể thấy vào thế kỷ 11 trước Công

Nguyên, Trung Quốc đã hình thành hệ thống quy hoạch thành phố

sớm nhất thế giới, có thời gian ảnh hưởng dài nhất

.Âm Dương và việc lựa

Việc lựa chọn địa điểm xây kinh đô thời Trung Quốc cổ đại là một

sự nghiệp vô cùng hệ trọng, nó liên quan đến sự nghiệp sau này có

hưng thịnh và phát đạt hay không, đồng thời còn liên quan đến vận

mệnh và tiền đồ của dân tộc, quốc gia sau này, do đó cản phải xem xét

thận trọng Lựa chọn địa điểm kinh đô cổ cũng thấm đượm quy phạm

lễ nghi cũng như văn hóa và tư tưởng “thiên nhân tương ứng”

Tư liệu lịch sử ghi chép vẻ nguyên lý và quá trình lựa chọn địa

điểm kinh đó xuất hiện rất sớm, có thể ngược dòng thời gian tìm về

thời kỳ Tiên Chu được ghi chép trong Kính Thi Trong Đại Nhã —

Trang 34

Công Lưu có để cập đến Công Lưu - tổ tiên đời thứ mười hai của Chu

Văn Vương, khoảng thế kỷ 1õ trước Công Nguyên, ông đã đưa dân

tộc Chu dì cư đến đất Mân (nay thuộc phía Tây Nam huyện Tuần Ấp

tỉnh Thiểm Tây) sinh sống, quá trình lựa chọn địa điểm xây dựng

thành ấp như sau

Đại ý của bài thơ là:

“Luc dau, Cong Luu hién lành trung hậu leo lên đỉnh Nghiên

Sơn quan sát địa hình, chỉ thấy phía Nam đồi núi eó hàng tram dong

suối chảy qua, xét thấy vùng dong bằng rộng lớn có thể định cự được

Thế là ông dựng Khuê Biểu, Nhật Quỹ tiến hành ảo đạc và quan sat

bóng nắng Xem xét Âm Dương, quan sát khe suốt Sau đó ông di

xuống vùng đỏng bằng chọn nơi có nguồn nước dải đào, địa hình rộng

lớn Ở đó 'eó hàng tram dòng suối, có thể ngắm nhìn vùng đồng bằng

rộng lon’, hang tram dòng suối từ đây tuôn ra, con sông nhỏ chảy

quanh co, uốn lượn Phía Bắc có Nghiễn Sơn cao to chắn gió Bắc tràn

vào, ở nơi xa xa về phía Nam có Triều Sơn và Hướng Sơn hiện ra rô

ràng, Nhĩ Sơn ở hai bên Đông, Tây nhấp nhô quanh co Ở đây được

núi sông bao bọc, phía Nam rộng rãi, hai bên có dòng suối lượn

quanh Nơi này có thể tránh được nạn lụt, chống khô bạn, đề phòng

chiến tranh loạn lạc, bên trong co thể khai khẩn đất đề trồng trọt,

bên ngoài có thể phòng thủ nhờ vào địa hình hiểm trở, đây chính là

vùng đất tốt để xây dựng thành ấp Thế là Công Lưu tiến hành quy

hoạch, nơi nào làm khu dân cư, nơi nào khai haang để cày cấy, nơi

nào xây bến cảng đề đến sông Vị lấy quặng, rèn đúc và chế tao công

cụ Việc lựa chọn địa điểm sinh sống và bố cục môi trường tốt đẹp đã

thu hút ew dan Iu lượt kéo đến định cư

Không lâu sau, dân chúng đến ở hai bẻn bờ Hoàng Khê cho tới

dau nguén Quá Khê ngày càng nhiều, đặt nền móng tốt đẹp cho sự

phon vinh và phát triển của con cháu đời sau” ~

Trang 35

Sau đó, vào đầu thoi Tay Chu nam 1125 trude Công Nguyên, khi

Cơ Đán lựa chọn Lạc Ấp làm địa điểm xây kinh đô, lúc đầu do Thiệu

Công đến khảo sát sơ bộ địa lý khu đất, sau đó đến lượt Chu Công

quyết định chọn đất xây thành, Trước tiên Chu Công lựa chọn ở vùng

thượng du Lê Thủy Hoàng Hà (thuộc Đông Bác huyện Tuấn tỉnh Hà

Nam ngày nay) nhưng không có kết quả Ông lại lựa chọn vùng đất

vẻ phía Đông sông Giản và phía Tay sông Triển, kết quả là chọn vùng đất trên bờ sông Lạc, sứ thân đã dâng kết quả lựa chọn này và kèm theo bản đồ cho Thành Vương Thế là ông cho xây hai tòa thành, thành ở phía Đông sông Thông gọi là Thành Chàu, thành ở phía Đông sông Giản và phía Tây sông Triền gọi là Vương Thành

Ban dau, viée chon dat xây thành ở vùng Lạc Dương này là phía

Bắc tựa Mang Sơn, tức xem Mang Sơn là Trấn Sơn, phía trước xem

Tùng Sơn là Án Sơn, Thành Cao bên trái, Miễn Trì bên phải là Nhĩ

Son của Thanh Long, Bạch Hồ, phía sau giáp với sông lớn Lúc này,

Vuong triều nhà Chu xem đất Quan Trung là căn cứ địa, nay lấy Vị

Thủy và Hoàag Hà làm con đường giao thông trọng yếu, phát triển thêm vẻ phía hạ du Hoàng Hà và vùng đồng bằng Hoa Bắc

Lạc Ấp nằm bên bờ sông Lạc - một nhánh của Hoàng Hà Vùng này nằm “chính giữa thiên hạ” Bốn con sông: Y, Lạc, Triển, Giản

chảy quanh, là vùng đất có hình thế đẹp được núi sông bao bọc Xây

dựng đông đò Lạc Ấp, Vương Thành là bước quan trọng của nên văn

hóa Hoàng Hà dịch chuyển về hướng Đóng Về sau, Lạc Dương là “cố

đô của chín vương triều”, thời gian đóng đô ở đây tới 1.295 năm

Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc đón nhận cao trào lớn thứ hai về

sự phát triển đó thị thời Chu Lúc này đã thay đổi quy định về xây

dựng đô thị trong “chế độ của Tiên Vương” Sự nở rộ của đô thị trên

đất nước Trung Quốc đã trở thành một hiện tượng rất phổ biến:

Trang 36

“Ngày xưa, trong bốn biển chia ra làm vạn nước Thành tuy lớn

nhưng không quá hai ba trăm trượng, người tuy đông củng không

hơn ngàn hộ Ngày nay, thành ngàn trượng, ấp vạn hộ ở đâu cũng

thấy.”

Luc này, lý luận về việc chọn địa điểm xây thành và bố cục quy

hoạch thanh cũng ngày càng hoàn thiện và phong phú hơn Một số

thiên trong sách Quán 7 đã ghi chép lại phương pháp, nguyên lý lựa

chọn xây dựng kinh đô vào thời Xuân Thu

“Ngày xưa, Hoàn Công hỏi Quản Trọng rang: ‘Ta xin hỏi đo đạc

địa hình để xây dựng kinh thành thì phải làm như thế nào?” Quản

Trọng đáp: “Thản từng nghe, người có thể làm bá vương là bậc thánh

nhán Do đó, thánh nhân lập quốc phải nằm ở vùng đất bằng phẳng,

phì nhiêu màu mỡ Phía sau tựa núi, bên trái bèn phải có sông suối,

ao hồ Bên trong thành có hệ thống thoát nước thông suất đồ ra sông

lớn Tận dụng tài nguyên thiên nhiên để nuôi sống con người, chăn

nuôi gia súc gia cầm Người trong thiên hạ đều theo về vì cái đức,

mang ơn vì cái nghĩa Như thế tức là dựa vào sự vững chắc trời cho,

theo về mối lợi từ đất Bên trong đắp thành, bên ngoài thành dựng

quách, bền ngoài quách đất đai rộng rãi Chỗ cao thì đào kênh rạch,

chỗ thấp thi dap đê, như vậy gọi là Kim thành.”

Trong Quản T1 - Thita Mé Thién cing có nói:

“Phàm là xây dựng kinh đô, không xây ở dưới núi lớn thì phải

xây trên sông rộng Vùng đất cao không được gần nơi khô hạn để có

đủ nước dùng, vùng đất thấp khóng được gản sông để tiết kiệm xây

dựng đê điều Dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên kết hợp với địa

lợi, do đó thành quách không cản theo quy tắc, đường sá không phải

Trang 37

Lựa chọn địa điểm xây thành phải dựa trên tiêu chuẩn “tàng

phong đắc thủy” Bố cục trong thành cũng không cản có đường trục giữa, chỉ cản vận dụng linh hoạt tủy vào từng nơi là được Dân cư trong thành cũng không cản phải theo chế độ “Chu Lễ”, “quan lại thì

ở gân nha môn, người không chức quyền và nông dân thì ở gần cửa thành, thương nhân và thợ thủ công thì ở gần chợ”, phân định khu

cư ngụ dựa vào nghề nghiệp Xu hướng phát triển của thành phố này

đã phản ánh tình trạng thể chế vàn hóa phân phong tông pháp “Lễ

băng Nhạc hoại” đang dân suy tàn vào thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc

Nhưng trong số những yêu câu vẻ hình thức và bố cục địa lý khi lựa

chon địa điểm xây thành; mối quan hệ giữa thành với kinh tế, dan số,

thì nguyên tắc khoa học càng được thể hiện rõ ràng hơn

“mô phỏng trời đất”

Trong quan niệm văn hóa truyền thống cổ đại Trung Quốc, tư

nhiên và con người tương thông và cảm ứng lẫn nhau Ba hệ thống

lớn gồm: trời, đất và con người được gọi là “Tam tài” cùng tổ hợp tạo

thành một cơ thể thống nhất Kinh đô và quốc gia là sự phản ánh của

cơ thể này Cho nên việc lựa chọn địa điểm và bố cục quy hoạch của thành phố eó mối liên hệ qua lại với khí tượng, thiên văn, chúng tổ

hợp thành một hệ thống sinh thái cảnh quan hữu co, đây là nguyên

tắc cao nhất của văn hóa cổ đại Trung Quốc Minh Đường là kiến trúc

không thể thiếu của cố đô, kế thừa tư tưởng đó, Bạch Hổ Thông đời

Hán chép rằng: “Minh Đường trên tròn dưới vuông, có tám cửa số,

bốn mặt thông thoáng Cung bàn việc triều chính được bố trí ở phía

Bắc kinh đó Phản trên tròn phỏng theo trời, phản dưới vuông phỏng

theo đất Tám cửa sổ phỏng theo Bát phong, bốn mặt thông thoáng phỏng theo bốn mùa, cửu thất phỏng theo Cửu chau, 12 vi tri phỏng

theo 12 tháng, 36 cửa phỏng theo 36 tuản, 72 cửa sổ nhỏ phỏng theo

72 hậu” Điều này phản ánh quan niệm xem trời đất tự nhiên là vũ

trụ lớn, kinh đô và Minh Đường là vũ trụ nhỏ thời cổ đại Trung Quốc

Trang 38

Trong Thủy Kinh Chư, Lịch Đạo Nguyên, nha dia lý học nổi

tiếng thời Bắc Ngụy đã ghi chép vẻ Minh Đường trong kinh đô lúc

bấy giờ rằng:

“Minh Đường trên tròn dưới vuêng, bốn phía có mười hai cửa,

chín sảnh đường phân bố đều ở môi góc Dưới mái khởi tỉnh bên

ngoài nhà có lắp một bánh xe trang trí bằng lụa xanh, trông lên như

hình bảu trời vẽ hình tượng các ngòi sao Mỗi tháng, tùy ngôi sao

được Đầu tinh chỉ vào mà điển chỉnh cho ứng hợp với quy luật trên

bau trời.”

Tư tưởng quy hoạch cố đô “phỏng theo trời đất” này tạo thành

đặc trưng của kinh đồ mang dấu ấn văn hóa phương Đông

Tản Thủy Hoàng tự cho mình có công lao sự nghiệp hơn cả Tam

Hoàng Ngũ Đế, đức cao bằng trời, thế là cho xây dựng nhiều công

trình trên nèn thành Hàm Dương cú Tư tưởng chi đạo thiết kế của

đế đô nhà Tản mô phỏng theo hình dạng của trời

Trong Sử Ký - Thiên Quan Thư có nói: “Các ngôi sao phân bố

khắp bảu trời, thể sinh từ đất, tỉnh thành trên trời, phân bố dan xen

sóng đôi nhau, mỗi sao đều có vị trí riêng, ngoài nội tượng trưng cho

vật, trong triều tượng trưng cho quan, ở con người tượng trưng cho sự

việc” Quan niệm “thiên nhân cảm ứng” này đều được thể hiện một

cách day đủ, thấu đáo trong thiết kế kinh đô nhà Tàn

Trong Sứ Ký - Tân Thủy Hoàng Bản Kỷ ghì chép rằng:

“Năm thứ 35, Thế là Tàn Thủy Hoàng cho rằng Hàm Dương

người đông, mà cung đình của các vị vua trước đây thì nhỏ, do đó

cho xây dựng cung điện trong vườn Thượng Lâm ở phía Nam sông Vị,

trước tiên cho xây tiền điện, làm lối đi trên cao nối liền các lầu gác, từ

cung Á Phòng vượt sông Vị, đi mãi đến Hàm Dương, phỏng theo sao

Thiên Cực, sao Các Đạo, vượt dải Ngân Hà đi đến sao Doanh Thất."

” E8

5 ry f=

Trang 39

Trong Tem Phụ Hoàng Đô có ghì chép rằng:

“Năm thứ 27, Tản Thuy Hoàng cho xây dựng Tín Cung ở bờ Nam

sông Vị, sau đó đổi tên Tín Cung thành Cực Miếu, phỏng theo sao

Thiên Cực, làm con đường từ Cực Miếu đến Ly Sơn Xây tiền điện Cam Tuyền, đắp đường ống, chạy mãi đến Hàm Dương Thủy Hoàng

vô cùng xa xỉ, xây Hàm Dương Cung, xây cung điện men theo đổi dốc phía Bắc, Đoan Môn có bốn mặt thông thoáng, để phỏng theo Tử

Cung, tượng trưng cho nơi ở của Thiên Đế Sông Vị Thủy băng ngang

kinh thành, tượng trưng cho Thiên Hán; Hoành Kiều chạy về hướng

Nam, phỏng theo Khiên Ngưu.”

“Thiên Cực”, “Các Đạo”, “Doanh Thất”, “Đoan Môn”, “Tử Cung”,

“Thiên Hán”, “Khiên Ngưu” được đề cập ở đây đều là tên gọi của các

chòm sao trong thiên văn Thế là bố cục của kinh đô nhà Tản ở Hàm

Dương thể hiện một cảnh sắc lãng mạn và tráng lệ: dọc theo địa thế cao trên đồng bằng phía Bắc xây dựng cung điện lầu các, cửa cung có

bốn mặt thông thoáng, Lấy thành Hàm Dương làm trung tâm, xây

dung Tu Vi Cung tượng trưng cho “nơi ở của Thiên Đế”; sông Vị Thủy cháy ngang qua kinh đô từ Tay sang Đông, giống như dải Ngân Hà bác

ngang bảu trời, còn Hoành Kiểu tương ứng với sao Các Đạo Nối liên cung điện, lâm uyển hai bờ Bắc Nam Thanh Thủy thành một dải,

giống như “Câu Ô Thước” giúp cho Ngưu Lang, Chức Nữ được đoàn tụ, xây cung Á Phòng giống như “Ly Cung”, thiên hạ chia thành ba mươi

sáu quận mang tên những ngôi sao sáng, bố cuc mat bang và kết cấu

không gian châu về cực Bắc Hàm Dương, thật sự đã trở thành hình ảnh thu nhỏ của những thiên thể vận hành trên bầu trời, Vào thang

10 hàng năm, những hiện tượng thiên vàn lại hoàn toàn trùng khớp với bố cục của thành Hàm Dương Lúc này dải “Ngân Hà” trên trời và

sông Vị Thủy trên mặt đất cũng trùng khớp với nhau, “Ly Cung” ứng với cung A Phong, “Cac Đạo” và lối đi trên cao nối liền cáclàu gác bang qua chiếc cầu bắc ngang thông với tiền điện cung A Phòng đua nhau

Trang 40

tổa sáng, lam cho người ta như lạc vào thế gidi than kỳ thiên, dia,

nhân nhất thể Chính vì thế nhà Tân đã chọn tháng 10 có điểm lành

trời đất trùng khớp này làm tháng đâu tiên của một năm

Cung A Phòng thay thế Tín Cung tượng trưng cho sao Thiên

Cực, là tòa cung điện nguy nga đồ sộ, tất cả những hoạt động như:

vua chúa họp bàn, tổ chức lễ hội, quyết định chính sự đều được tổ

chức ở đây

“Tiền điện A Phòng từ Đông sang Tây dài 500 bộ, từ Bắc đến

Nam rộng 50 trương, trên có thể chứa vạn người, dưới có thé dung cờ

cao năm trượng, xung quanh là Các Đạo, từ điện đi thẳng đến Nam

Sơn” (Sứ Ký - Tân Thủy Hoàng Bản Kỳ)

Di chỉ tiền điện nằm ở phía Nam trấn Tam Kiểu thuộc phía Tây

thành phố Tây An ngày nay, công trình được nện bằng đất này quanh

co kéo dài vô tận, Từ Đông sang Tây dài 1.300m, từ Nam đến Bắc

rộng 500m, nẻn móng của kiến trúc đến nay vẫn cao hon mat dat

trên 10m, chúng ta có thể thấy được mức độ hùng vĩ của cung điện

lúc bay giờ Không chỉ cung điện, lâm uyền mà lăng mộ củng nguy

nga đỏ sộ Theo sử sách ghi chép lại, lăng mộ của Tản Thủy Hoàng

“lấy thủy ngân làm trám sông ngàn biển, có máy dân nước tưới, trên

có thiên văn, đưới eó địa lý, “đỉnh hình mái vòm, phía trên xếp day

các chòm sao, giống như dải Ngân hà, bên dưới vạn vật đông đúc,

giống như vạn vật trên mặt đất” Đây cũng là một hình ảnh thu nhỏ

của một vũ trụ hoàn chỉnh

Ý tưởng xây dựng kinh đô nhà Tần to lớn sánh ngang với trời, đã

thể hiện đây đủ khí phách tỏa sáng cùng nhật nguyệt và hoài bão to

lớn của đế quốc Tân, đồng thời cùng là sự phản ánh cụ thể tư tưởng

vương quyên trong xây dựng kinh đò Bấy giờ, khi Lưu Bang tấn công

vào thành Hàm Dương nhìn thấy vẻ đẹp tráng lệ của kinh đô nhà

Tân đã bất giác khen ngợi “Bậc đại trượng phu phải như vậy!”

Ngày đăng: 01/03/2014, 05:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình325  Hình  tổng  quât  ba  kim  ba  ban - phong thủy cổ đại trung quốc tập 2 lý luận và thực tiễn_part2
Hình 325 Hình tổng quât ba kim ba ban (Trang 7)
Bảng  3-1  Phương  pháp  Ngũ  âm  Ngủ  tính - phong thủy cổ đại trung quốc tập 2 lý luận và thực tiễn_part2
ng 3-1 Phương pháp Ngũ âm Ngủ tính (Trang 15)
Hình  41  Sơ  đố  mất  hằng  phúc  nguyện  bác  phủ  Tích  TĨng  Minh  Đường  ở  Trường  An  đin  Hận - phong thủy cổ đại trung quốc tập 2 lý luận và thực tiễn_part2
nh 41 Sơ đố mất hằng phúc nguyện bác phủ Tích TĨng Minh Đường ở Trường An đin Hận (Trang 43)
Hình  #2  Sơ  đổ  khai  niềm  bình  chiểu  cua  mọt  chôm  sao  xuống  thành  Trường  Ăn  đời  llấn  (mo - phong thủy cổ đại trung quốc tập 2 lý luận và thực tiễn_part2
nh #2 Sơ đổ khai niềm bình chiểu cua mọt chôm sao xuống thành Trường Ăn đời llấn (mo (Trang 44)
Bảng  4-1  Bảng  duyên  cách  qua  các  thời  đại - phong thủy cổ đại trung quốc tập 2 lý luận và thực tiễn_part2
ng 4-1 Bảng duyên cách qua các thời đại (Trang 57)
Hình  vuông,  xây  ở  bên  ngoài  thành  trong,  Nhật  Đàn  ở  phía  Đông  (bên - phong thủy cổ đại trung quốc tập 2 lý luận và thực tiễn_part2
nh vuông, xây ở bên ngoài thành trong, Nhật Đàn ở phía Đông (bên (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w