Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu ảnh hưởng quản trị công ty, chất lượng lợi nhuận đến giá trị doanh nghiệp .... DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT AEM Quản trị lợi nhuận dồn tích BCTC Báo cáo t
Trang 1CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
(Sách chuyên khảo)
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
HÀ NỘI - 2022
Trang 27 TS Nguyễn Thị Thanh Loan
8 TS Nguyễn Thị Lan Anh
9 TS Đậu Hoàng Hưng
10 TS Vũ Thị Thúy Vân
11 TS Trần Thị Phương Dịu
12 NCS.ThS Nguyễn Văn Linh
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1 CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN VÀ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN 1.1 Giới thiệu 5
1.2 Tổng quan nghiên cứu chất lượng lợi nhuận 6
1.3 Cơ sở lý thuyết chất lượng lợi nhuận 9
1.3.1 Một số khái niệm trong kế toán 9
1.3.2 Khái niệm chất lượng lợi nhuận 16
1.4 Đo lường chất lượng lợi nhuận 19
1.4.1 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo khía cạnh dồn tích 20
1.4.2 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo khía cạnh bền vững, ổn định của lợi nhuận 27
1.4.3 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo khía cạnh dự báo của lợi nhuận 29
1.4.4 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo khía cạnh tính thích hợp của lợi nhuận 30
1.4.5 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo khía cạnh tính kịp thời và thận trọng 32
1.4.6 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo khía cạnh khác 37
Trang 41.5 Nghiên cứu thực nghiệm về chất lượng lợi nhuận 38
1.5.1 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 38
1.5.2 Kết quả nghiên cứu đo lường chất lượng lợi nhuận 45
1.5.3 Kết luận và khuyến nghị 49
Chương 2 BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN 2.1 Báo cáo tài chính 51
2.1.1 Báo cáo tài chính và nhu cầu thông tin kế toán 51
2.1.2 Lợi nhuận và xác định lợi nhuận trên Báo cáo tài chính 53
2.1.3 Chất lượng báo cáo tài chính và lợi nhuận 64
2.2 Kết quả nghiên cứu báo cáo tài chính và chất lượng lợi nhuận 70
2.2.1 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 70
2.2.2 Kết quả nghiên cứu chất lượng lợi nhuận 75
2.2.3 Kế toán và chất lượng lợi nhuận cao 96
2.2.4 Trình bày sai lợi nhuận 100
2.2.5 Kết luận và khuyến nghị 112
Chương 3 QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 3.1 Giới thiệu 117
3.2 Tổng quan nghiên cứu quản trị lợi nhuận 120
3.2.1 Nghiên cứu nợ và quản trị lợi nhuận 120
3.2.2 Nghiên cứu cơ cấu sở hữu và quản trị lợi nhuận 123
3.3 Cơ sở lý thuyết quản trị lợi nhuận 126
3.3.1 Khái niệm quản trị lợi nhuận 126
3.3.2 Khái niệm cơ cấu sở hữu 130
3.3.3 Các lý thuyết nền tảng 131
Trang 53.4 Phương pháp nghiên cứu 132
3.4.1 Mô hình và phương pháp nghiên cứu Nợ và quản trị lợi nhuận 132
3.4.2 Mô hình và phương pháp nghiên cứu cơ cấu sở hữu và quản trị lợi nhuận 134
3.5 Kết quả nghiên cứu quản trị lợi nhuận 140
3.5.1 Nợ và quản trị lợi nhuận 140
3.5.2 Cơ cấu sở hữu và quản trị lợi nhuận 146
3.6 Kết luận và khuyến nghị 154
3.6.1 Nợ và quản trị lợi nhuận 154
3.6.2 Cơ cấu sở hữu và quản trị lợi nhuận 155
Chương 4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN 4.1 Giới thiệu 157
4.2 Tổng quan các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận 160
4.2.1 Nghiên cứu yếu tố tài chính ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận 160
4.2.2 Nghiên cứu quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận 161
4.3 Cơ sở lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận 165
4.4 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 167
4.4.1 Mô hình và phương pháp nghiên cứu yếu tố tài chính ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận 167
4.4.2 Mô hình và phương pháp nghiên cứu quản trị công ty ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận 172
Trang 64.5 Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
lợi nhuận 175
4.5.1 Kết quả nghiên cứu yếu tố tài chính ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận 175
4.5.2 Kết quả nghiên cứu quản trị công ty ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận 180
4.6 Kết luận và khuyến nghị 185
4.6.1 Yếu tố tài chính ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận 185
4.6.2 Quản trị công ty ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận 186
Chương 5 CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 5.1 Giới thiệu 189
5.2 Tổng quan chất lượng lợi nhuận ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp 192
5.2.1 Nghiên cứu chất lượng lợi nhuận ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp 192
5.2.2 Nghiên cứu quản trị công ty, chất lượng lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp 195
5.3 Cơ sở lý thuyết chất lượng lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp 197
5.4 Mô hình và phương pháp nghiên cứu 201
5.4.1 Mô hình và phương pháp nghiên cứu chất lượng lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp 201
5.4.2 Mô hình và phương pháp nghiên cứu quản trị công ty, chất lượng lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp 207
5.5 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng lợi nhuận đến giá trị doanh nghiệp 210
5.5.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng lợi nhuận đến giá trị doanh nghiệp 210
5.5.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị công ty, chất lượng lợi nhuận đến giá trị doanh nghiệp 215
Trang 75.6 Kết luận và khuyến nghị 220
5.6.1 Chất lượng lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp 220
5.6.2 Quản trị công ty, chất lượng lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp 221
KẾT LUẬN 225
TÀI LIỆU THAM KHẢO 227
PHỤ LỤC 261
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê mẫu dữ liệu nghiên cứu 38
Bảng 1.2 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo các khía cạnh 44
Bảng 1.3 Thống kê mô tả đo lường chất lượng lợi nhuận theo từng khía cạnh 45
Bảng 1.4 Thống kê mô tả đo lường chất lượng lợi nhuận theo các phân vị 46
Bảng 1.5 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo ngành 47
Bảng 1.6 Tương quan giữa các thước đo chất lượng lợi nhuận 49
Bảng 2.1 Số lượng mẫu và tỷ lệ phản hồi khảo sát 70
Bảng 2.2 Mẫu khảo sát phân loại theo ngành nghề kinh doanh 71
Bảng 2.3 Tổng hợp quy mô của doanh nghiệp khảo sát 72
Bảng 2.4 Vị trí công việc của đối tượng tham gia khảo sát 73
Bảng 2.5 Độ tuổi của đối tượng tham gia khảo sát 74
Bảng 2.6 Ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinh đến chất lượng lợi nhuận 90
Bảng 2.7 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên/bẩm sinh đến chất lượng lợi nhuận 93
Bảng 2.8 Tùy chọn trong việc lập Báo cáo tài chính 94
Bảng 2.9 Lợi nhuận trình bày sai 101
Bảng 2.10 Linh hoạt trong vận dụng chính sách kế toán 108
Bảng 2.11 Mức độ trình bày sai lợi nhuận 109
Bảng 3.1 So sánh giữa quản trị lợi nhuận dồn tích (AEM) và quản trị lợi nhuận thực tế (REM) 128
Bảng 3.2 Tóm tắt đo lường các biến mô hình nghiên cứu 133
Trang 9Bảng 3.3 Tóm tắt đo lường các biến và giả thuyết trong mô hình
nghiên cứu 136
Bảng 3.4 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 141
Bảng 3.5 Kết quả ước lượng mô hình 141
Bảng 3.6 Kết quả ước lượng theo phân vị 143
Bảng 3.7 Kết quả ước lượng mô hình phân chia theo hạn chế tài chính 144
Bảng 3.8 Phân rã tổng quát Oaxaca – Blinder 145
Bảng 3.9 Phân rã chi tiết Oaxaca - Blinder sai lệch nợ ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận do hạn chế tài chính giải thích được 145
Bảng 3.10 Phân rã chi tiết Oaxaca - Blinder sai lệch nợ ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận do hạn chế tài chính không giải thích được 146
Bảng 3.11 Kết quả hồi quy mô hình xác định quản trị lợi nhuận 147
Bảng 3.12 Thống kê mô tả các biến trong mô hình cơ cấu sở hữu và quản trị lợi nhuận 148
Bảng 3.13 Ma trận tương quan các biến trong mô hình cơ cấu sở hữu và quản trị lợi nhuận 148
Bảng 3.14 Kết quả hồi quy đa biến cơ cấu sở hữu và quản trị lợi nhuận 149
Bảng 3.15 Kết quả hồi quy đa biến hạn chế tài chính 151
Bảng 4.1 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 173
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các yếu tố tài chính và chất lượng lợi nhuận 176
Bảng 4.3 Ma trận tương quan các yếu tố tài chính và chất lượng lợi nhuận 176
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy đa biến các yếu tố tài chính và chất lượng lợi nhuận 177
Bảng 4.5 Thống kê mô tả đặc điểm quản trị công ty 181
Trang 10Bảng 4.6 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 182 Bảng 4.7 Ma trận tương quan quản trị công ty và chất lượng
lợi nhuận 182 Bảng 4.8 Kết quả hồi quy quản trị công ty và chất lượng lợi nhuận 184 Bảng 5.1 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu ảnh hưởng
chất lượng lợi nhuận đến giá trị doanh nghiệp 206 Bảng 5.2 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu ảnh hưởng quản trị
công ty, chất lượng lợi nhuận đến giá trị doanh nghiệp 208 Bảng 5.3 Thống kê mô tả các biến chất lượng lợi nhuận đến giá trị
doanh nghiệp 211 Bảng 5.4 Ma trận tương quan các biến chất lượng lợi nhuận đến
giá trị doanh nghiệp 213 Bảng 5.5 Kết quả hồi quy đa biến ảnh hưởng chất lượng lợi nhuận
đến giá trị doanh nghiệp 214 Bảng 5.6 Thống kê mô tả đặc điểm của HĐQT và Ban kiểm soát 215 Bảng 5.7 Thống kê mô tả các biến quản trị công ty, chất lượng
lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp 216 Bảng 5.8 Ma trận tương quan các biến quản trị công ty, chất lượng
lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp 216 Bảng 5.9 Kết quả hồi quy quản trị công ty, chất lượng lợi nhuận đến
giá trị doanh nghiệp 217 Bảng 5.10 Kết quả hồi quy cấu trúc SEM 218 Bảng 5.11 Kết quả kiểm định các chỉ tiêu các mô hình 219
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình nhận diện dồn tích 11
Hình 1.2 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo biến động thời gian 46
Hình 1.3 Chất lượng lợi nhuận tổng hợp theo năm 48
Hình 1.4 Chất lượng lợi nhuận tổng hợp theo ngành 48
Hình 2.1 Thông tin kế toán và đối tượng sử dụng 52
Hình 2.2 Phương pháp xác định giá trị hợp lý 61
Hình 2.3 Mô hình thông tin kế toán 69
Hình 2.4 Thâm niên công tác của đối tượng tham gia khảo sát 74
Hình 2.5 Trình độ của đối tượng tham gia khảo sát 75
Hình 2.6 Chuyên môn của đối tượng tham gia khảo sát 75
Hình 2.7 Tầm quan trọng của chất lượng lợi nhuận 76
Hình 2.8 Quan điểm về khái niệm chất lượng lợi nhuận 78
Hình 2.9 Khái niệm chất lượng lợi nhuận 80
Hình 2.10 Thuộc tính chất lượng lợi nhuận cao 82
Hình 2.11 Đặc điểm chất lượng lợi nhuận cao 86
Hình 2.12 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận tại doanh nghiệp niêm yết 89
Hình 2.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận tại doanh nghiệp chưa niêm yết 92
Hình 2.14 Các chính sách kế toán ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận cao 97
Hình 2.15 Chuẩn mực kế toán ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận cao hơn 98
Hình 2.16 Động lực trình bày lợi nhuận sai lệch tại các doanh nghiệp niêm yết 103
Trang 12Hình 2.17 Động lực trình bày lợi nhuận sai lệch tại các doanh nghiệp
chưa niêm yết 105 Hình 2.18 Các chính sách kế toán ảnh hưởng đến chất lượng lợi
nhuận cao 110 Hình 2.19 Chuẩn mực kế toán ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận
cao hơn 111 Hình 3.1 Nhận diện quản trị lợi nhuận dồn tích (AEM) và quản trị
lợi nhuận thực tế (REM) 129 Hình 5.1 Ảnh hưởng của quản trị công ty, chất lượng lợi nhuận
đến giá trị doanh nghiệp 207
Trang 13DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AEM Quản trị lợi nhuận dồn tích
BCTC Báo cáo tài chính
BCTN Báo cáo thường niên
CFO Giám đốc tài chính
DA Biến dồn tích điều chỉnh (Discretionary accruals)
EBITDA Lợi nhuận trước thuế khấu hao và lãi vay
EQ Chất lượng lợi nhuận
FASB Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FEM Mô hình tác động cố định
FPI Đầu tư gián tiếp nước ngoài
GAAP Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận
GLS Mô hình hồi quy tổng quát
HĐKD Hoạt động kinh doanh
HĐQT Hội đồng quản trị
HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
HOSE/ HSX Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
IASB Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
LIFO Nhập sau - xuất trước (Last in - First out)
NDA Dồn tích không điều chỉnh (Non-discretionary accruals)
Trang 14Chữ viết tắt Diễn giải
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OLS Mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất QTCT Quản trị công ty
R&D Nghiên cứu và phát triển
REM Mô hình tác động ngẫu nhiên
REM Quản trị lợi nhuận thực tế
ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
ROE Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu SFAC Công bố về lý thuyết kế toán tài chính
Trang 15LỜI NÓI ĐẦU
hất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng để giảm thiểu sự bất cân xứng về thông tin, và theo đó thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Đối với các doanh nghiệp niêm yết, các thông tin chất lượng lợi nhuận còn giúp cho việc củng cố, thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, tăng cường tính minh bạch của thị trường tài chính Vì vậy, việc đánh giá đúng chất lượng lợi nhuận để từ đó tìm ra giải pháp/ định hướng nhằm nâng cao chất lượng thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp cũng như thị trường tài chính và nền kinh tế Mặt khác, trong các thông tin được doanh nghiệp công bố, lợi nhuận là chỉ tiêu thể hiện kết quả cuối cùng và có tính tổng hợp nhất, do đó, chất lượng lợi nhuận phản ánh phần lớn chất lượng của thông tin kế toán công bố nói chung
Cuốn sách chuyên khảo “Chất lượng lợi nhuận doanh nghiệp: Lý luận
và thực tiễn” sẽ xem xét chất lượng lợi nhuận và đo lường chất lượng lợi
nhuận theo khía cạnh đa chiều Đồng thời, cuốn sách cũng phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng lợi nhuận và ảnh hưởng của chất lượng lợi nhuận đến giá trị doanh nghiệp Bên cạnh đó, cuốn sách còn trình bày những phát hiện thông qua kết quả khảo sát thực tế tại Việt Nam về vấn đề chất lượng lợi nhuận bao gồm: các khái niệm và đặc tính của chất lượng lợi nhuận; lợi nhuận được sử dụng như thế nào; tầm quan trọng của chất lượng lợi nhuận; quản trị lợi nhuận; vì sao phải quản trị lợi nhuận; các chính sách
và chuẩn mực kế toán có tác động đến chất lượng lợi nhuận như thế nào, Cuốn sách chuyên khảo này là một trong những sản phẩm của Đề tài
nghiên cứu “Nghiên cứu chất lượng lợi nhuận doanh nghiệp ở Việt Nam: Tiếp cận theo khía cạnh đa chiều”
Bố cục và nội dung của cuốn sách chuyên khảo được thiết kế gồm
5 chương, trình bày một cách toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn chất lượng lợi nhuận tiếp cách theo khía cạnh đa chiều, bao gồm:
Chương 1: Chất lượng lợi nhuận và đo lường chất lượng lợi nhuận
Chương 1 giới thiệu và tổng quan nghiên cứu liên quan đến chất lượng lợi nhuận theo các quan điểm khác nhau Chất lượng lợi nhuận là một khái
C
Trang 16niệm trừu tượng và đa chiều, nó phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, tiếp cận
và đo lường theo tiêu chí phù hợp Đồng thời, chương này trình bày kết quả thực nghiệm đo lường chất lượng lợi nhuận các doanh nghiệp ở Việt Nam theo từng khía cạnh và theo chỉ tiêu tổng hợp
Chương 2: Báo cáo tài chính và chất lượng lợi nhuận
Nội dung chương này đi vào phân tích và luận giải vai trò của báo cáo tài chính đối với các bên liên quan, phân tích và luận giải các quan điểm và cách thức xác định lợi nhuận trên báo cáo tài chính Đồng thời, nội dung Chương 2 cũng trình bày kết quả khảo sát các giám đốc tài chính và phỏng vấn sâu liên quan đến khái niệm, tầm quan trọng, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận
Chương 3: Quản trị lợi nhuận
Chương 3 xem xét vấn đề quản trị lợi nhuận, là khía cạnh được nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam thực hiện liên quan đến chất lượng lợi nhuận Chương này giới thiệu và làm rõ các khái niệm quản trị lợi nhuận theo quan các điểm khác nhau, đồng thời xem xét ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu, cũng như nợ đến quản trị lợi nhuận Bên cạnh đó, nghiên cứu còn xem xét trong điều kiện doanh nghiệp có hạn chế tài chính thì các nhân tố có ảnh hưởng như thế nào đến quản trị lợi nhuận
Chương 4: Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận
Chương này xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời giới thiệu và tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố tài chính và các yếu tố thuộc về Hội đồng quản trị đến chất lượng lợi nhuận Những phát hiện, khuyến nghị của nghiên cứu trình bày trong chương này thực sự hữu ích cho các doanh nghiệp trong việc duy trì và nâng cao chất lượng lợi nhuận
Chương 5: Chất lượng lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp
Nội dung Chương 5 nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng lợi nhuận đến giá trị của doanh nghiệp, xem xét chất lượng lợi nhuận với vai trò là biến độc lập cũng như biến trung gian có ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu được sử dụng để khuyến nghị cho các bên liên quan trong việc nâng cao chất lượng lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp
Trang 17Để đảm bảo mục tiêu của nội dung cuốn sách chuyên khảo, chúng tôi
đã tiếp cận và sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Phương pháp này cho phép các thành
viên nhóm nghiên cứu tổng quan các nghiên cứu lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu thực tiễn trên thế giới và trong nước để xây dựng khung lý luận, phục vụ việc nghiên cứu vấn đề chất lượng lợi nhuận Những kết quả này sẽ hỗ trợ nâng cao nhận thức của nhóm nghiên cứu khi khảo sát định tính và định lượng
Phương pháp phân tích định tính: Phương nghiên cứu tổng hợp, so sánh
và phân tích hệ thống được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu này Nghiên cứu tổng hợp, so sánh sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn tổng thể hơn, xác định được rõ hơn các vấn đề thực trạng chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp
ở Việt Nam
Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân: Để đánh giá được các vấn đề liên
quan đến chất lượng lợi nhuận ở nhiều góc độ khác nhau, chúng tôi còn thực hiện phỏng vấn sâu 19 chuyên gia và các nhà quản lý tại Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán thuộc Bộ Tài chính; Kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán; Cán bộ quản lý kế toán, tài chính một số doanh nghiệp và một số giảng viên thuộc các trường Đại học có đào tạo ngành Kế toán, Kiểm toán
Phương pháp khảo sát thông qua bảng hỏi: Nghiên cứu tiến hành chọn
mẫu khảo sát 238 đối tượng là nhà quản lý trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán tại 96 doanh nghiệp niêm yết và 142 doanh nghiệp chưa niêm yết
Phương pháp khảo sát/ điều tra: Khảo sát, thu thập các thông tin các
chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các doanh nghiệp trong giai đoạn 2008 - 2020 (tất cả các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) có đủ dữ liệu)
Với các cách tiếp cận trên, chúng tôi đã đánh giá thực trạng chất lượng lợi nhuận doanh nghiệp ở Việt Nam theo khía cạnh đa chiều Đồng thời, nghiên cứu này xác định và chỉ rõ ảnh hưởng của các nhân tố tới chất lượng lợi nhuận và ảnh hưởng của chất lượng lợi nhuận đến giá trị doanh nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng mong muốn làm rõ các đặc tính của chất lượng lợi nhuận; các mục đích sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận; tầm quan trọng của chất
Trang 18lượng lợi nhuận; những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận; những cách thức quản trị lợi nhuận; phát hiện quản trị lợi nhuận như thế nào; ảnh hưởng của chuẩn mực kế toán đến chất lượng lợi nhuận; những thay đổi nào của chuẩn mực kế toán ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận Từ những phát hiện trên, chúng tôi chỉ ra những vấn đề cần chú ý trong việc nâng cao chất lượng lợi nhuận doanh nghiệp, tạo niềm tin cho nhà đầu tư hướng tới phát triển thị trường vốn một cách bền vững
Một số nội dung của cuốn sách chuyên khảo “Chất lượng lợi nhuận doanh nghiệp: Lý luận và thực tiễn” được kế thừa và phát triển một số khía
cạnh trong những bài báo đã đăng trên các tạp chí trong nước và quốc tế của các tác giả liên quan đến chủ đề này, bao gồm các nghiên cứu của Đặng Ngọc Hùng (2015); Đặng Ngọc Hùng, Phạm Thị Hồng Diệp và Đặng Thị Hậu (2019); Hoàng Thị Việt Hà và Đặng Ngọc Hùng (2018); Đặng Ngọc Hùng (2021); Đặng Ngọc Hùng và cộng sự (2021); N H Dang, Hoang và Tran (2017); Hung, Do Hoai Linh, Hoa, và Ha (2018); Phuong, Hung, Van và Xuan (2020); H N Dang, Pham, Nguyen và Nguyen (2020); H N Dang, Nguyen
và Tran (2020), Van Khanh và Hung (2020); N H Dang và Tran (2020); N
H Dang và Ngo (2020); Phuong và Hung (2020); Hung và Van (2020a), Hung và Van (2020b), (H N Dang, Hoang, Vu và Van Nguyen (2021); Tran
và Dang (2021), H N Dang và Vu (2022)
Mặc dù các tác giả đã rất cố gắng song cuốn sách không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tập thể các tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc, các nhà quản lý, nhà nghiên cứu để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản sau Xin trân trọng cảm ơn!
Thay mặt Tập thể tác giả
Chủ biên
PGS.TS Đặng Ngọc Hùng Lời thừa nhận/cảm ơn:
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong Đề tài “Nghiên cứu chất lượng lợi nhuận doanh nghiệp ở Việt Nam: Tiếp cận theo khía cạnh đa chiều” - Mã số 502.02- 2019.302
Trang 19Chương 1
CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN VÀ
ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN
Chương này giới thiệu và tổng quan những nghiên cứu liên quan đến chất lượng lợi nhuận theo quan điểm khác nhau Chất lượng lợi nhuận là một khái niệm trừu tượng và đa chiều Tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, nó sẽ được tiếp cận và đo lường theo tiêu chí phù hợp Bên cạnh đó, Chương 1 cũng trình bày kết quả thực nghiệm đo lường chất lượng lợi nhuận các doanh nghiệp ở Việt Nam theo từng khía cạnh và theo chỉ tiêu tổng hợp
1.1 GIỚI THIỆU
Chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng để giảm thiểu sự bất cân xứng về thông tin, và từ đó thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Đối với các doanh nghiệp niêm yết, các thông tin chất lượng lợi nhuận còn giúp cho việc củng cố, thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, tăng cường tính minh bạch của thị trường tài chính Do vậy, việc đánh giá đúng chất lượng lợi nhuận để từ đó tìm ra giải pháp/ định hướng nhằm nâng cao chất lượng thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp cũng như thị trường tài chính và nền kinh tế Mặt khác, trong các thông tin công bố, lợi nhuận là chỉ tiêu thể hiện kết quả cuối cùng
và có tính tổng hợp nhất, vì vậy, chất lượng lợi nhuận phản ánh phần lớn chất lượng của thông tin kế toán công bố nói chung
Trong vài thập kỷ qua, hàng loạt vụ bê bối kế toán đã xảy ra trên khắp thế giới, điển hình là các vụ bê bối của Enron, HealthSouth, Parmalat, Tyco, WorldCom và Xerox, dẫn đến những thiệt hại nặng nề cho các nhà đầu tư Trọng tâm của các vụ bê bối này đều liên quan đến quản trị lợi nhuận (Goncharov, 2005) Tại Việt Nam, hiện tượng thao túng Báo cáo tài chính cũng diễn ra khá phổ biến, ví dụ trường hợp Công ty Cổ phần Dược phẩm Viễn Đông làm giả con dấu, vẽ hợp đồng khống nhằm làm sai lệch Báo cáo tài chính gây thiệt hại vô cùng lớn cho nhà đầu tư Công ty TNHH Tribeco, Công ty Petrolimex, Công ty Cổ phần Quốc Cường Gia Lai… có hiện tượng
Trang 20giấu lãi để chuyển lỗ một cách khá kín đáo và hợp pháp (Phạm Thị Bích Vân, 2013) Hơn nữa, do hành lang pháp lý và chuẩn mực kế toán của Việt Nam khá khác biệt và còn nhiều hạn chế so với các quốc gia phát triển, nên hiện tượng quản trị thu nhập/ lợi nhuận ở Việt Nam sẽ mang tính đặc thù Hiện nay, các nghiên cứu về chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp chủ yếu được thực hiện tại các nước đang phát triển Ngoài ra, các nghiên cứu này vẫn đưa ra những kết luận mâu thuẫn hoặc gây tranh cãi, và các nội dung nghiên cứu còn chưa được khai thác một cách thoả đáng theo cách tiếp cận đa chiều
Do đó, nghiên cứu về chất lượng lợi nhuận, đặc biệt sử dụng phương pháp khảo sát theo các cách tiếp cận đa chiều, tại một nước có nền kinh tế chuyển đổi với thị trường vốn non trẻ, yếu tố thể chế còn chưa đầy đủ như Việt Nam vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu
1.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN
Nghiên cứu chất lượng lợi nhuận là một chủ đề nghiên cứu quan trọng
và rất được quan tâm trong kế toán tài chính Các nghiên cứu thực chứng liên quan đến chủ đề này đã xuất hiện khá nhiều từ những năm 1980 Hiện nay, chất lượng lợi nhuận vẫn là một xu hướng nghiên cứu được các học giả quan tâm và cũng là một nội dung gây ra rất nhiều tranh cãi
Theo các nhà nghiên cứu trước, chất lượng lợi nhuận là mức độ mà lợi nhuận báo cáo phản ánh bản chất hay các đặc điểm trong hoạt động của đơn
vị hay mức độ khác biệt giữa lợi nhuận báo cáo và lợi nhuận thực của đơn vị (Mohammady, 2010) Một số nhà nghiên cứu khác coi thu nhập kinh tế
(economic income) mà nhà kinh tế học nổi tiếng John Richard Hicks đề xuất
là thu nhập thực của một doanh nghiệp và đánh giá chất lượng lợi nhuận thông qua mức độ phù hợp hay hội tụ của chỉ tiêu này với thu nhập kinh tế (Katherine Schipper và Vincent, 2003) Trong khi đó, Penman (2003) nhấn mạnh hơn vào tính hữu ích của thông tin khi khẳng định thông tin lợi nhuận
kế toán có chất lượng tốt nếu nó là căn cứ để dự báo cho lợi nhuận tương lai Như vậy, có thể thấy khi thảo luận về chất lượng lợi nhuận, các nhà nghiên cứu trước đều tập trung vào hai vấn đề: (i) lợi nhuận phản ánh trung thực kết quả hoạt động của đơn vị và (ii) lợi nhuận có hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế hay không Nhận định này cũng hoàn toàn phù hợp với định nghĩa mà
P Dechow, Ge và Schrand (2010) đưa ra khi tổng kết trên 300 nghiên cứu về
Trang 21chất lượng lợi nhuận công bố trên các tạp chí nghiên cứu hàng đầu về kế toán trong giai đoạn 1970 - 2008 P Dechow và cộng sự (2010), J Francis, LaFond, Olsson và Schipper (2004) tổng kết từ các nghiên cứu trước và đưa
ra các tiêu chí đánh giá chất lượng lợi nhuận và phân chia các tiêu chí này thành hai nhóm tiêu chí dựa theo việc nhà nghiên cứu lấy căn cứ nào để đánh giá xem lợi nhuận kế toán có phản ánh trung thực kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị và có hữu ích hay không Theo đó, việc phân loại chất lượng lợi nhuận có thể dựa trên các tiêu chí sau:
+ Các tiêu chí dựa trên số liệu kế toán (accounting-based measures)
bao gồm: chất lượng các khoản dồn tích (accrual quality), tính bền vững của lợi nhuận (earnings persistence); khả năng dự báo của lợi nhuận (predictability); và sự ổn định của lợi nhuận (earnings smoothness) Các tiêu
chí này được xây dựng trên cơ sở giả định cho rằng lợi nhuận kế toán là kết quả của việc phân bổ một cách hiệu quả luồng tiền vào các kỳ báo cáo thông qua kế toán dồn tích Do đó, khi lợi nhuận báo cáo phản ánh trung thực kết quả hoạt động thực của đơn vị báo cáo giữa lợi nhuận, luồng tiền và các thông tin kế toán khác sẽ có mối quan hệ với nhau
+ Các tiêu chí gắn với thị trường (market–based attributes) bao gồm: các tiêu chí này được xác định trên cơ sở quan điểm lợi nhuận phản ánh
thu nhập kinh tế và thu nhập kinh tế được đo lường bằng lợi tức từ cổ phiếu
Nhóm này gồm hai tiêu chí là: (1) giá trị thích hợp (value relevance), hay mức
độ mà lợi nhuận báo cáo có thể giải thích cho sự biến động trong giá cổ phiếu của công ty và lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ cổ phiếu của công ty; và (2) tính kịp thời và thận trọng, tập trung vào việc đánh giá xem các khoản lỗ
có được ghi nhận một cách kịp thời và đúng kỳ phát sinh hay không
Các tác giả Beisland và Mersland (2013) đã tiến hành tổng quan các nghiên cứu về chất lượng lợi nhuận và tổng kết đưa ra các tiêu chí đo lường chất lượng lợi nhuận bao gồm: tính ổn định, tính bền vững, khả năng dự báo, quản trị lợi nhuận, ghi nhận lỗ kịp thời và đánh giá về tính thích hợp của thông tin Trong khi đó, Licerán-Gutiérrez và Cano‐Rodríguez (2019) đã thực hiện nghiên cứu tổng quan với 618 bài viết có liên quan đến chất lượng lợi nhuận, trong đó có 572 (93,6%) là các bài viết thực nghiệm đo lường chất lượng lợi nhuận Ông đã tổng hợp và tóm lược có ba khía cạnh đo lường chất lượng lợi
Trang 22nhuận (EQ) là phản ứng của thị trường, đặc tính thông tin kế toán và các chỉ báo bên ngoài Các nghiên cứu thực nghiệm đo lường chất lượng lợi nhuận theo đặc tính của kế toán chiếm tỷ trọng cao (472/572, với tỷ lệ 82,5%) trong
đó chất lượng lợi nhuận được đo lường theo các khía cạnh như: quản trị lợi nhuận (earning management), tính ổn định lợi nhuận (earning smoothing), tính bền vững của lợi nhuận (earnings persistence), tính thận trọng trong điều kiện chắc chắn (conditional consevatism), và tính thận trọng trong điều kiện không chắc chắn (unconditional conservatism)
Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về chất lượng lợi nhuận của các tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan và Lê Tuấn Anh (2016); Nguyễn Thị Ngọc Lan (2017), Đường Nguyên Hưng (2017), Đào Nam Giang (2017b) Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới dừng lại chỉ xem xét một khía cạnh của chất lượng lợi nhuận đó là các khoản dồn tích (quản trị lợi nhuận) (H N Dang, Pham,
và cộng sự, 2020; (Phuong và cộng sự, 2020; Van Khanh và Hung, 2020; (Hung và Van, 2020a; Hung và Van, 2020b; N H Dang và Ngo, 2020; Dang Ngoc và cộng sự, 2020; H N Dang, Nguyen, và cộng sự, 2020; Đặng Ngọc Hùng và cộng sự, 2019; Hung và Van, 2020b)
Trong khi đó, nghiên cứu của các tác giả Trương Kỳ Quang và Nguyễn Thị Diễm Hiền (2015) về sự bền vững của thành phần tiền và thành phần dồn tích Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) lại xem xét chất lượng của báo cáo tài chính thông qua quản trị lợi nhuận và tính thích hợp của thông tin kế toán Một nghiên cứu khác về chất lượng lợi nhuận tại Việt Nam là nghiên cứu của Đào Nam Giang (2017a), nhưng nghiên cứu này chỉ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng Tóm lại, trong thời gian qua, ở Việt Nam bước đầu
đã có những nghiên cứu về chất lượng lợi nhuận, nhưng những nghiên cứu này chỉ giới hạn ở một số khía cạnh chưa toàn diện và đa chiều, chưa xem xét đến các khía cạnh khác của chất lượng lợi nhuận như: tính bền vững của lợi
nhuận (earnings persistence), khả năng dự báo của lợi nhuận (predictabiility), giá trị thích hợp (value relevance), tính kịp thời và thận trọng (timeless and conservatism) Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chưa xem xét các quan điểm
về chất lượng lợi nhuận, những yếu tố ảnh hưởng chất lượng lợi nhuận cao của các đối tượng trực tiếp xây dựng và lập báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, đó là các giám đốc tài chính (CFO)
Trang 231.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN
1.3.1 Một số khái niệm trong kế toán
1.3.1.1 Dồn tích
Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành quy định nguyên tắc cơ sở dồn tích được định nghĩa như sau: “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền” Các doanh nghiệp hiện nay sử dụng nguyên tắc kế toán dồn tích, do đó, sẽ có sự chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và dòng tiền của doanh nghiệp Khoảng chênh
lệch này gọi là các khoản dồn tích Hay nói cách khác, lợi nhuận kế toán của
doanh nghiệp sẽ có hai thành phần là thành phần dòng tiền và thành phần dồn tích Thành phần dồn tích trong lợi nhuận kế toán là những phần doanh thu chưa thực thu bằng tiền gọi là doanh thu dồn tích (revenue accruals), hoặc chi phí chưa thực chi bằng tiền gọi là chi phí dồn tích (expense accruals) Lấy ví
dụ về nghiệp vụ doanh nghiệp bán chịu hàng hóa có giá trị 10 tỷ đồng cho khách hàng của mình, khoản tiền này sẽ được khách hàng thanh toán vào kỳ
kế toán năm sau; như vậy, theo cơ sở dồn tích thì khoản tiền 10 tỷ đồng này vẫn được ghi nhận là doanh thu tương ứng với khoản phải thu, đây là một loại của doanh thu dồn tích Tương tự như doanh thu dồn tích, chi phí dồn tích chính là chi phí đã phát sinh nhưng chưa có dòng tiền ra Ví dụ như: doanh nghiệp thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh thanh toán bằng phương thức trả sau, khoản tiền thuê này sẽ được ghi nhận là là chi phí đã phát sinh ở kỳ kế toán này nhưng thực tế tiền mới phát sinh ở kỳ kế toán sau Trong kế toán, các khoản doanh thu dồn tích sẽ tương ứng với các khoản tải sản và chi phí dồn tích sẽ tương ứng với với các khoản nguồn vốn Do đó, khi xuất hiện một khoản dồn tích, nó sẽ ảnh hưởng đến cả Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Hầu hết các khoản dồn tích đều sẽ gặp hiện tượng
“đảo chiều bút toán dồn tích (accruals reversal)”, hiện tượng này sẽ xảy ra khi doanh nghiệp thanh toán các khoản phải trả cho nhà cung cấp hoặc nhận được tiền khi khách hàng thanh toán các khoản phải trả
Kế toán theo cơ sở dồn tích: là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở Dự
thu - Dự chi Theo đó, mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của công ty liên quan
Trang 24đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh giao dịch, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu, hoặc thời điểm thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền
Kế toán theo cơ sở tiền: là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở Thực
thu - Thực chi tiền Kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch khi các giao dịch này phát sinh bằng tiền
Chế độ kế toán Việt Nam hiện hành quy định rằng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải được thực hiện theo cơ sở dồn tích Điều này mang lại cơ hội cho nhà quản trị thực hiện hành động quản trị lợi nhuận thông qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt được một mục tiêu nào
đó Trong khi đó, kế toán theo cơ sở tiền được sử dụng để lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) dựa trên cơ sở thực thu, thực chi tiền nên nhà quản trị không thể điều chỉnh các giao dịch Từ đó, chênh lệch giữa lợi nhuận trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ tạo ra biến kế toán gọi là biến kế toán dồn tích (accruals) Ta có công thức sau:
Biến kế toán dồn tích
(Accruals) =
Lợi nhuận sau thuế –
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Từ đó suy ra:
Lợi nhuận
sau thuế =
Biến kế toán dồn tích (Accruals) +
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Biến dồn tích bao gồm hai phần: phần không thể điều chỉnh (biến dồn tích không điều chỉnh – non-discretionary accruals – NDA), phần này gắn với mức độ hoạt động thông thường của doanh nghiệp; phần còn lại có thể điều chỉnh (biến dồn tích điều chỉnh – discretionary accruals – DA), có được do hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị Tác giả Phan Thị Đỗ Quyên (2018) đã phân tích tổng biến dồn tích như sau:
Tổng biến dồn tích = không điều chỉnh Biến dồn tích + Biến dồn tích điều chỉnh
Trang 25Chi phí = Chi phí bằng tiền + Chi phí không bằng tiền
+
Nợ phải thu
-
Chi phí bằng tiền +
Chi phí không bằng tiền
-
Dòng tiền thuần
từ hoạt động kinh doanh
Tổng
biến
dồn tích =
Doanh thu đã thu tiền -
Chi phí bằng tiền +
Nợ phải thu
-
Chi phí không bằng tiền -
Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
Tổng biến dồn tích = Nợ phải thu – Chi phí không bằng tiền
Nguồn: Phan Thị Đỗ Quyên (2018)
Hình 1.1 Mô hình nhận diện dồn tích
Lợi nhuận
sau thuế =
Nợ phải thu -
Chi phí không bằng tiền +
Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
Có thể thấy, do dòng tiền thuần không thể (không dễ dàng) được điều chỉnh, nên lợi nhuận sau thuế thường được điều chỉnh thông qua nợ phải thu
và chi phí không bằng tiền Như vậy, biến dồn tích điều chỉnh gắn với lợi
Gắn với hoạt động của doanh nghiệp Điều chỉnh lợi nhuận
Biến dồn tích
không điều chỉnh
(NDA)
Biến dồn tích điều chỉnh (DA)
Trang 26nhuận có được bằng việc vận dụng các chính sách kế toán tập trung vào điều chỉnh nợ phải thu và chi phí không bằng tiền Khi nợ phải thu và chi phí không bằng tiền có sự thay đổi đáng kể, nhưng không tương ứng với sự thay đổi về quy mô và mức độ hoạt động của doanh nghiệp Đây có thể là dấu hiệu của
hành vi quản trị lợi nhuận
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo cơ sở tiền nên không thể điều chỉnh được Do vậy, nếu muốn điều chỉnh lợi nhuận, các nhà quản trị phải điều chỉnh các biến kế toán dồn tích Theo các nhà nghiên cứu, các biến kế toán dồn tích (accruals) gồm hai phần: phần không thể điều chỉnh (NDA) và phần có thể điều chỉnh từ nhà quản trị (DA) Để đo lường phần DA, các nhà nghiên cứu phải xác định phần biến NDA, bởi vì biến này liên quan đến hoạt động bình thường của công ty Tóm lại, để nhận diện xem
có hay không hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản trị, các nhà nghiên cứu tìm cách xác định phần biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA)
1.3.1.2 Tính thích hợp
Thông tin được cho là thích hợp khi nó có khả năng tạo ra sự khác biệt trong quyết định của người sử dụng thông tin với tư cách là người cung cấp vốn cho doanh nghiệp Để đạt được điều này, thông tin thích hợp cần có giá trị dự báo, giá trị xác nhận hoặc cả hai (IASB, 2010:17) Một số nghiên cứu trước đây có khuynh hướng tập trung vào chất lượng lợi nhuận để nói đến chất lượng Báo cáo tài chính (BCTC) Tuy nhiên, theo quan điểm này, các nghiên cứu này chỉ giới hạn trong các thông tin tài chính mà không đề cập đến các thông tin phi tài chính Theo các nhà nghiên cứu, có năm yếu tố tạo nên sự thích hợp của thông tin:
Yếu tố thứ nhất là những thông tin trong báo cáo doanh nghiệp công bố
đến mức độ nào về những cơ hội cũng như rủi ro kinh doanh Theo các tác giả Jonas và Blanchet (2000), để tạo ra giá trị dự báo, ngoài những thông tin tài chính, báo cáo thường niên cần bổ sung những thông tin phi tài chính Điều này giúp người sử dụng thông tin biết được những cơ hội cũng như những rủi
ro trong kinh doanh, từ đó họ có cái nhìn rõ nét hơn về viễn cảnh và về sự bền vững của doanh nghiệp
Yếu tố thứ hai nhằm đo lường giá trị dự báo là các doanh nghiệp cung
cấp những thông tin định hướng cho tương lai Những thông tin này thường
Trang 27được biểu hiện dưới những kỳ vọng của Ban lãnh đạo doanh nghiệp về tương lai của doanh nghiệp trong ngắn và dài hạn
Yếu tố thứ ba là doanh nghiệp sử dụng giá trị hợp lý để đánh giá Các
nghiên cứu trước đây đã sử dụng giá trị hợp lý thay cho giá gốc khi bàn về giá trị dự báo của thông tin BCTC (McDaniel, Martin, và Maines, 2002) Họ cho rằng giá trị hợp lý cung cấp thông tin thích hợp hơn giá gốc Ngoài ra, Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (FASB) và Hội đồng Chuẩn mực
kế toán tài chính quốc tế (IASB) cũng cho rằng kế toán theo giá trị hợp lý làm tăng tính thích hợp của thông tin BCTC Vì vậy, giá trị hợp lý được xem là một yếu tố quan trọng làm cho thông tin BCTC trở nên có chất lượng hơn
Yếu tố thứ tư là giá trị xác nhận Thông tin có giá trị xác nhận khi nó
làm thay đổi những kỳ vọng quá khứ hay hiện tại từ những tiên đoán trước đó (IASB, 2010) Theo Jonas và Blanchet (2000), trong báo cáo thường niên cần phải cung cấp thông tin phản hồi đến người sử dụng về những giao dịch, sự kiện trước đây mà có thể giúp họ xác nhận hoặc thay đổi những tiên đoán Những thông tin này thường được cung cấp từ tài liệu Báo cáo phân tích của Ban giám đốc
Yếu tố thứ năm là báo cáo bộ phận vừa cung cấp giá trị dự báo vừa cung
cấp giá trị xác nhận Báo cáo này cung cấp kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Thông tin bộ phận có thể giúp người sử dụng có thể dự đoán được tương lai tốt hơn, khi biết được sự tác động của các bộ phận đến tình hình
chung của doanh nghiệp
1.3.1.3 Nguyên tắc thận trọng
R L Watts và J L Zimmerman (1986) đưa ra định nghĩa khác về nguyên tắc thận trọng kế toán, theo các tác giả này, nguyên tắc thận trọng kế toán là báo cáo giá trị thấp nhất trong số các giá trị có thể có của tài sản và giá trị cao nhất đối với các khoản nợ
Từ quan điểm Bảng cân đối kế toán, Feltham và Ohlson (1995) mô tả nguyên tắc thận trọng như sau: khi đánh giá tài sản theo nguyên tắc cơ sở dồn tích thì giá trị ghi sổ luôn được đánh giá thấp hơn trong mối tương quan với giá trị thị trường của nó Trong khi đó, các tác giả Beaver và Ryan (2000) đã tìm thấy sự khác biệt chắc chắn giữa giá trị ghi sổ và giá trị thị trường của vốn
Trang 28chủ sở hữu có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu đánh giá theo nguyên tắc thận trọng (ví dụ như: chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí quảng cáo và dự phòng theo phương pháp nhập sau - xuất trước (LIFO),…)
Từ quan điểm Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Givoly và Hayn (2000) đưa ra định nghĩa nguyên tắc thận trọng là một sự lựa chọn các nguyên tắc kế toán dẫn đến việc tạo ra sự chênh lệch lợi nhuận được ghi nhận giữa kế toán theo cơ sở tiền và theo cơ sở dồn tích
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01), thận trọng là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản với nội dung: “Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn.”
Theo đó, nguyên tắc thận trọng đòi hỏi doanh nghiệp: phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn; không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập; không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí; doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí
Các tác giả Basu (1997) và Watts (2003) định nghĩa nguyên tắc thận trọng là những yêu cầu xác minh không cân xứng về lợi ích và tổn thất Quy ước này của nguyên tắc thận trọng được phản ánh trong Chuẩn mực BCTC (SFAS) khoản 5 “Dự phòng trong kế toán” Chuẩn mực này yêu cầu ghi nhận
dự phòng tổn thất khi chúng có khả năng xảy ra với giá trị có thể được ước tính hợp lý Tuy nhiên, lợi ích chưa chắc chắn không được phép ghi nhận dù
nó có thể xảy ra và có thể ước tính một cách hợp lý Do vậy, lợi nhuận phản ánh những thông tin xấu nhanh hơn là thông tin tốt
Nội dung chính của nguyên tắc thận trọng là kế toán được phép ghi nhận tăng chi phí hoặc ghi giảm tài sản khi có dấu hiệu xảy ra, còn ghi nhận doanh thu hoặc tăng nguồn vốn, tài sản khi có bằng chứng chắc chắn
Thông tư số 228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 và Thông tư số
48/2019/TT-BTC ngày 08/08/2019 của Bộ Tài chính về “Hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các
Trang 29khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp tại doanh nghiệp” quy định: “Căn cứ vào biến động thực
tế về giá hàng tồn kho, giá chứng khoán, giá trị các khoản đầu tư tài chính,
nợ phải thu khó đòi và cam kết bảo hành sản phẩm, hàng hóa, doanh nghiệp chủ động xác định mức trích lập, sử dụng từng khoản dự phòng đúng mục đích và xử lý theo các quy định cụ thể.”
Trong thực tế, doanh nghiệp có thể thực hiện nguyên tắc thận trọng do
có quy định của pháp luật hoặc do các ước tính kế toán của doanh nghiệp Vì vậy, Beaver và Ryan (2005) phân loại việc thực hiện nguyên tắc thận trọng
kế toán theo hai trường hợp là: thận trọng có điều kiện và thận trọng không
có điều kiện Sự khác biệt chính giữa hai dạng nguyên tắc thận trọng là việc thực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện phụ thuộc vào các sự kiện tin tức kinh tế, trong khi đó nguyên tắc thận trọng vô điều kiện không phụ thuộc vào yếu tố này
Nguyên tắc thận trọng có điều kiện xảy ra khi các thông tin kinh tế tiêu cực có ảnh hưởng tới lợi nhuận được ghi nhận nhanh hơn các thông tin kinh
tế tích cực Nói cách khác, nguyên tắc thận trọng có điều kiện có đặc điểm là thời điểm và điều kiện không giống nhau khi ghi nhận các thông tin kinh tế tiêu cực và tích cực vào BCTC của doanh nghiệp Theo đó, các quy định về
kế toán (do các cơ quan có thẩm quyền ban hành) cho phép doanh nghiệp ghi nhận giảm giá trị tài sản hoặc ghi nhận chi phí khi có bằng chứng cho thấy có khả năng xảy ra, trong khi chỉ được phép ghi nhận doanh thu hay tăng tài sản
ghi có bằng chứng chắc chắn Tại Việt Nam, trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 cũng thể hiện điều này Các ví dụ về nguyên tắc thận trọng có điều
kiện là việc kế toán được phép trích lập các khoản dự phòng tổn thất tài sản (giảm giá hàng tồn kho, đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi) theo quy định; đánh giá lại nguyên giá tài sản cố định;…
Nguyên tắc thận trọng vô điều kiện xảy ra khi doanh nghiệp thực hiện việc ghi nhận một cách nhất quán giá trị tài sản thấp hơn giá trị kế toán ròng Khác với nguyên tắc thận trọng có điều kiện, nguyên tắc thận trọng vô điều kiện không phụ thuộc vào các thông tin sự kiện Khi đó, doanh nghiệp căn cứ vào tình hình thực tế để ghi nhận vào chi phí các trường hợp cụ thể Các ví
Trang 30dụ về nguyên tắc thận trọng vô điều kiện bao gồm: phương pháp khấu hao nhanh, chi phí nghiên cứu và phát triển, các khoản trích trước (trích trước chi phí sửa chữa, chi phí bảo hành)
1.3.2 Khái niệm chất lượng lợi nhuận
Chất lượng lợi nhuận là sự trình bày trung thực lợi nhuận dự báo và lợi nhuận được công bố, và lợi nhuận công bố sẽ hữu dụng cho người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định có liên quan
S A Richardson, Sloan, Soliman, và Tuna (2001) đánh giá chất lượng lợi nhuận dựa trên tính ổn định của doanh thu trong tương lai Nghiên cứu của M D Beneish và Vargus (2002) cũng cho rằng tính ổn định trong doanh thu của doanh nghiệp sẽ minh chứng cho chất lượng lợi nhuận doanh nghiệp Các tác giả Penman và Zhang (2002) đưa ra định nghĩa chất lượng lợi nhuận như là khả năng dự báo thu nhập tương lai của doanh nghiệp Các nhà đầu tư hay các bên có liên quan trên thị trường vốn thường dựa vào thông tin trên Báo cáo tài chính để đánh giá dòng tiền tương lai của doanh nghiệp, từ đó ước tính lợi nhuận mong đợi (J Francis và cộng sự, 2004) Như vậy, để có thể dự đoán về dòng tiền tương lai tốt hơn thì lợi nhuận công bố trên Báo cáo tài chính nên là lợi nhuận chất lượng tốt Việc công bố thông tin tài chính chất lượng tốt của doanh nghiệp giúp giảm thông tin bất cân xứng giữa bên quản trị doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin của doanh nghiệp trên thị trường Báo cáo tài chính doanh nghiệp là phương tiện giúp chủ sở hữu doanh nghiệp và nhà đầu tư trên thị trường có thể tiếp cận với thông tin về hoạt động của doanh nghiệp Do vậy, chất lượng Báo cáo tài chính nhận được mối quan tâm vô cùng lớn từ các bên khác nhau trên thị trường, đặt biệt là sau giai đoạn khủng hoảng tài chính thế giới, bởi vì Báo cáo tài chính đem lại thông tin cần thiết để giúp họ ra quyết định P Dechow và cộng sự (2010) đã định nghĩa chất lượng Báo cáo tài chính là sự thể hiện trung thực tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một giai đoạn cụ thể Báo cáo tài chính nên chứa thông tin dễ hiểu, có thể so sánh được, độ tin cậy cao, và liên quan với tình hình doanh nghiệp Độ tin cậy liên quan tới chất lượng thông tin, tức
là thông tin không bị thiên lệch và được phản ánh một cách trung thực (Karami và Akhgar, 2014) Độ tin cậy của Báo cáo tài chính phụ thuộc vào
Trang 31môi trường kinh doanh của doanh nghiệp và thường khác nhau giữa các quốc gia (Martínez-Ferrero, 2014) Chất lượng Báo cáo tài chính được đo lường bằng chất lượng lợi nhuận dựa trên các thuộc tính khác nhau của lợi nhuận và phản ứng của nhà đầu tư đối với lợi nhuận doanh nghiệp Chất lượng lợi nhuận cao đem lại nhiều thông tin hơn về hoạt động tài chính của doanh nghiệp hỗ trợ các bên có liên quan trong việc ra quyết định Chất lượng lợi nhuận là sự trình bày chân thực lợi nhuận báo cáo của doanh nghiệp Khả năng hoạt động sinh lợi của doanh nghiệp tại thời điểm hiện tại sẽ cho thấy bức tranh hiện thực về khả năng sinh lời và tồn tại của doanh nghiệp trong tương lai
Feltham và Ohlson (1995) định nghĩa chất lượng lợi nhuận là khả năng nhà đầu tư có thể đoán được sự bất thường trong lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp dựa trên số liệu hiện tại Lợi nhuận chất lượng tốt là lợi nhuận
có sự đảm bảo bằng dòng tiền của doanh nghiệp từ quá khứ tới hiện tại và tương lai (Sloan, 1996; P M Dechow và Dichev, 2002; Penman và Zhang, 2002) P M Dechow và Schrand (2004) định nghĩa lợi nhuận chất lượng tốt
là lợi nhuận mà ít thay đổi qua các năm và cho thấy tính hữu dụng của nó trong việc ra quyết định của người sử dụng Lợi nhuận chất lượng tốt là lợi nhuận cho thấy sự ít biến động trong các khoản dồn tích của doanh nghiệp (H DeAngelo và Masulis, 1980) Dựa trên đặc trưng của lợi nhuận, chất lượng lợi nhuận có thể được đánh giá dựa trên tính duy trì (persistence), tính khả năng dự báo (predictability), và tính biến động (variability) (Kormendi
và Lipe, 1987a) Lợi nhuận có chất lượng tốt là lợi nhuận có tính liên tục và
có khả năng dự báo cao (Bricker, Previts, Robinson, và Young, 1995) Các tác giả Katherine Schipper và Vincent (2003) cho rằng tính khả năng dự báo của lợi nhuận không liên quan tới tính chính xác của lợi nhuận được báo cáo, bởi vì công tác quản trị doanh nghiệp sẽ làm các vấn đề liên quan tới số liệu
kế toán biến mất giúp tăng tính khả năng dự báo của lợi nhuận
Nhà quản trị có thể đưa các yếu tố ngắn hạn vào chuỗi thời gian của dòng tiền thu nhập của doanh nghiệp Nếu đo lường chất lượng lợi nhuận bằng tính duy trì thì chất lượng lợi nhuận sẽ giảm nhưng trong trường hợp này sự giảm biến động trong chuỗi thời gian của lợi nhuận làm gia tăng tính khả năng dự báo của lợi nhuận Leuz, Nanda và Wysocki (2003) có cùng quan điểm khi cho rằng lợi nhuận khi bị che giấu các vấn đề rủi ro thông qua quy
Trang 32trình kế toán sẽ không mang tính đại diện cho tình hình doanh nghiệp như đã được báo cáo trong Báo cáo tài chính Tác giả Watts (2003) thấy rằng lợi nhuận mà được tính toán dựa trên nguyên tắc kế toán khắt khe thường có chất lượng tốt Katherine Schipper và Vincent (2003) lại xem lợi nhuận như một tín hiệu thông tin tài chính doanh nghiệp trên thị trường và đánh giá tính hữu dụng của thông tin này trong việc ra quyết định của nhà đầu tư trên thị trường
P M Dechow và Schrand (2004) cho rằng chất lượng lợi nhuận đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phân tích tài chính và rằng lợi nhuận chất lượng tốt giúp nhà phân tích đánh giá ba khía cạnh cơ bản của thông tin như hiệu quả doanh nghiệp hiện tại, hiệu quả doanh nghiệp trong tương lai, và giá trị doanh nghiệp Nghiên cứu của Altamuro và Beatty (2006) đánh giá chất lượng lợi nhuận dựa trên tính duy trì của lợi nhuận, tức là mối quan hệ giữa lợi nhuận hiện tại và tương lai Như vậy, lợi nhuận chất lượng tốt có thể dùng để dự đoán hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai hiệu quả hơn Báo cáo tài chính liên quan tới hệ thống kế toán trong doanh nghiệp và đem lại thông tin cần thiết
để đánh giá hiệu quả hoạt động, khả năng tạo ra lợi nhuận, và dòng tiền mong đợi của doanh nghiệp Thu nhập ròng là một khoản mục trong Báo cáo tài chính Vì nhiều lý do khác nhau như: đảm bảo vị trí trong doanh nghiệp, khoản đền bù (compensation), giá trị gia tăng của doanh nghiệp Do đó, nhà quản lý
và kế toán lập và trình bày BCTC tạo ra một bức tranh đẹp về hoạt động của doanh nghiệp bằng cách cộng dồn các khoản mục gia tăng từ đó làm cho lợi nhuận và dòng tiền hoạt động gia tăng Nếu lợi nhuận được báo cáo dựa trên kết quả hoạt động thực sự của doanh nghiệp có chất lượng kém thì nó không đóng vai trò hiệu quả trong tiến trình ra quyết định kinh tế Tác giả P M Dechow (1994) cho rằng lợi nhuận hiện tại là yếu tố dự báo tốt cho dòng tiền doanh nghiệp trong tương lai, và khoản mục đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong Báo cáo tài chính là lợi nhuận ròng Chất lượng lợi nhuận kém có thể dẫn tới tình trạng thông tin bất cân xứng
Theo Katherine Schipper và Vincent (2003), chất lượng lợi nhuận phản ánh mức độ trung thực của lợi nhuận báo cáo so với lợi nhuận thực tế P Dechow
và cộng sự (2010) đã đưa ra khái niệm chất lượng lợi nhuận như sau: “Thông tin lợi nhuận có chất lượng cao giúp cung cấp nhiều thông tin hơn về đặc điểm tình hình tài chính của một doanh nghiệp liên quan đến một quyết định cụ thể được
Trang 33quyết định bởi một cá nhân cụ thể” Cũng theo P Dechow và cộng sự (2010), trong khái niệm về chất lượng lợi nhuận có ba vấn đề cần phải chú ý là:
Thứ nhất, chất lượng lợi nhuận phụ thuộc vào mức độ hữu ích hay phù
hợp cho việc ra quyết định Vì vậy, sẽ là vô nghĩa nếu chúng ta chỉ xem xét khái niệm về chất lượng lợi nhuận báo cáo riêng rẽ và tách biệt với bối cảnh của các quyết định kinh tế Nói cách khác, chất lượng hay hữu ích của thông tin kế toán nói chung và lợi nhuận báo cáo nói riêng không nên chỉ bó hẹp
trong việc định giá doanh nghiệp và giá trị cổ phiếu (equity valuation) Thứ hai, chất lượng lợi nhuận phụ thuộc vào mức độ thông tin mà nó
phản ánh về tình hình tài chính và kết quả hoạt động thực của đơn vị báo cáo Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều khía cạnh của tình hình tài chính và kết quả hoạt động thực của đơn vị báo cáo lại không thể quan sát được Điều này nghĩa là chúng ta không có thước đo thay thế đáng tin cậy và rõ ràng nào khác ngoài thông tin kế toán về tình hình tài chính và kết quả hoạt động thực của đơn vị Hàm ý ở đây là việc đo lường chất lượng lợi nhuận sẽ rất khó khăn do không có mốc chuẩn để so sánh
Thứ ba, chất lượng lợi nhuận sẽ bị tác động đồng thời bởi các các nhân
tố thuộc về nền tảng hoạt động (hay đặc điểm) của đơn vị và hệ thống kế toán được sử dụng Do vậy, khi đánh giá chất lượng thông tin, các nhà nghiên cứu cần phải tìm cách phân tách tác động của hai nhóm nhân tố này
Tóm lại, chất lượng lợi nhuận là khái niệm trừu tượng, đa chiều và không thể đo lường một cách trực tiếp, được đánh giá theo nhiều khía cạnh khác nhau, tùy theo mục tiêu và quan điểm nghiên cứu
1.4 ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN
Chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng để giảm thiểu sự bất cân xứng về thông tin, và do đó thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Chất lượng lợi nhuận có thể được xem như khả năng tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp, hay khả năng là doanh nghiệp
sẽ đạt được mức tăng lợi nhuận mong đợi trong tương lai
Theo P Dechow và cộng sự (2010), chất lượng lợi nhuận là khái niệm trừu tượng, đa chiều và không thể đo lường một cách trực tiếp Quan điểm này về cơ
Trang 34bản cũng thống nhất với quan điểm của các chuyên gia phân tích Đây là một trong những đối tượng sử dụng thông tin quan trọng và cũng là người truyền tải thông tin cho nhà đầu tư, cổ đông và các chủ nợ (Barker và Imam, 2008)
Để xem xét một toàn diện và đa chiều, trong phần này chúng tôi sẽ phân tích, làm rõ các cách thức đo lường chất lượng lợi nhuận như chất lượng dồn
tích, quản trị lợi nhuận, tính bền vững của lợi nhuận (earnings persistence), khả năng dự báo của lợi nhuận (predictabiility), giá trị thích hợp (value relevance), tính kịp thời và thận trọng (timeless and conservatism)
1.4.1 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo khía cạnh dồn tích
Khi nghiên cứu về chất lượng lợi nhuận dựa trên khía cạnh dồn tích,
có hai cách tiếp cận: (1) tiếp cận dựa trên Bảng cân đối kế toán - Quản trị lợi nhuận và (2) tiếp cận dựa trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ - Chất lượng dồn tích
1.4.1.1 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo khía cạnh quản trị lợi nhuận
Quản trị lợi nhuận, tiêu chí này dựa trên quan điểm các khoản dồn tích sẽ làm giảm chất lượng lợi nhuận Tiêu chí đầu tiên được đề cập trong nhóm này dựa trên ý tưởng mà theo đó lợi nhuận báo cáo có chất lượng cao khi gần với luồng tiền Chất lượng lợi nhuận đơn giản được đo bằng
tỷ lệ giữa luồng tiền từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận Đây là một tiêu chí thô sơ do nó phủ nhận hoàn toàn vai trò của kế toán dồn tích Các nhà nghiên cứu phát triển các tiêu chí khác tinh tế hơn bằng cách phân tích tổng giá trị các khoản kế toán dồn tích và xác định phần bị điều chỉnh hay
thao túng
Một số nghiên cứu về quản trị lợi nhuận, sử dụng một thuận ngữ khác gọi là các khoản dồn tích bất thường (abnormal accruals) được ước tính từ các thông số kế toán cơ bản: Tổng dồn tích được hồi quy với các biến số kế toán căn bản (ví dụ: doanh thu, các khoản phải thu, tài sản cố định,…) Phần
dư của hồi quy sẽ được coi là thước đo cho giá trị dồn tích bất thường hay không giải thích được Do nhấn mạnh đến việc lợi nhuận báo cáo bị chi phối đồng thời bởi các đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị và bởi hệ thống
kế toán, P Dechow và cộng sự (2010) chỉ tập trung vào các khoản dồn tích
Trang 35bất thường, trong khi Katherine Schipper và Vincent (2003) xem xét cả giá trị tổng dồn tích và thay đổi trong tổng dồn tích
Một số mô hình đo lường chất lượng lợi nhuận theo khía cạnh quản trị lợi nhuận/dồn tích bất thường:
Mô hình Healy (1985): Theo mô hình Healy (1985), biến kế toán
dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) bằng trung bình của biến kế toán dồn tích (TA):
‐𝑇𝐴𝑖𝑡 𝐴𝑖𝑡−1
TA it : Biến kế toán dồn tích năm t của doanh nghiệp i;
A it : Tổng tài sản năm t của doanh nghiệp i;
N : Số năm trong kỳ ước tính t: t–n; t–n+1;…; t–1 trong kỳ
ước tính
Mô hình L E DeAngelo (1986): Mô hình của DeAngelo so sánh các
biến dồn tích (accruals) của năm nay (t) trừ đi các biến dồn tích (accruals) của năm trước (t–1) Và, chênh lệch giữa hai thời kỳ này chính là biến kế toán
dồn tích được điều chỉnh (DA) Mô hình của DeAngelo giả định rằng các thành phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với tổng số biến kế toán dồn tích (TA) của năm trước Do đó,
sự thay đổi trong tổng số biến kế toán dồn tích (TA) giữa năm nay và năm trước được giả định là do việc thực hiện điều chỉnh kế toán Biến kế toán
không thể điều chỉnh của doanh nghiệp i năm sự kiện và biến kế toán có thể điều chỉnh của doanh nghiệp i năm sự kiện:
𝑁𝐷𝐴 = 𝑇𝐴𝑖𝑡−1
𝐷𝐴𝑖𝑡 = 𝑇𝐴𝑖𝑡
Trang 36Và cũng theo DeAngelo, số biến kế toán dồn tích (TA) được giả định chính là lợi nhuận sau thuế trừ (–) dòng tiền hoạt động kinh doanh Phần biến
kế toán điều chỉnh (DA) chính là lợi nhuận điều chỉnh được thực hiện bởi lựa
chọn kế toán có cân nhắc của nhà quản trị Biến kế toán dồn tích (TA) = Lợi nhuận sau thuế – Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (HĐKD) Từ đó, mô
hình của DeAngelo cho thấy phần lợi nhuận không bằng tiền gồm lợi nhuận
có thể điều chỉnh và lợi nhuận không điều chỉnh Phần biến kế toán có thể điều chỉnh (DA) chính là lợi nhuận điều chỉnh Tuy nhiên, mô hình của DeAngelo không thật sự chính xác nếu các doanh nghiệp này có xu hướng phát triển Sự phát triển sẽ ảnh hưởng nhất định trong khía cạnh hoạt động của họ, bao gồm các biến kế toán dồn tích Nếu yếu tố tăng trưởng bị bỏ qua,
sự thay đổi trong biến kế toán dồn tích (TA) ở thời kỳ t có thể xác định không
chính xác, do những thay đổi trong biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) phụ thuộc vào sự tăng trưởng Ví dụ quy mô doanh nghiệp lớn, đầu tư thêm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, làm cho chi phí khấu hao tăng, dẫn đến phần NDA tăng Điều này có thể dẫn đến kết luận không đúng về việc thực hiện điều chỉnh kế toán để lập báo cáo tài chính Nhược điểm này đã được khắc
phục bởi mô hình Friedlan (1994)
Mô hình Jones (1991): Mô hình này rất hiệu quả trong việc nhận diện
hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các nước phát triển Để phát hiện biến dồn tích
kế toán có điều chỉnh, tác giả đã thực hiện qua hai bước
Bước 1: Xác định biến kế toán dồn tích không điều chỉnh (NDA)
𝛥𝑅𝐸𝑉𝑖𝑡 = Doanh thu thuần t – Doanh thu thuần (t–1);
𝑃𝑃𝐸𝑖𝑡: Nguyên giá TSCĐ cuối năm t;
𝐴𝑖𝑡−1: Tổng tài sản cuối năm (t–1);
𝛼1, 𝛼2, 𝛼3,: Các tham số của từng doanh nghiệp
Trang 37Bước 2: Ước tính tham số của từng doanh nghiệp thông qua mô hình
𝑎1, 𝑎2, 𝑎3 kết quả ước tính 𝛼1, 𝛼2, 𝛼3 thông qua OLS;
𝑇𝐴𝑖𝑡: Tổng accruals năm t1 của doanh nghiệp i;
ɛ: Residual tương đương với phần discrectionary accruals
Mô hình Friedlan (1994): Mô hình Friedlan là một biến thể của mô
hình DeAngelo Mô hình Friedlan giả định rằng sự thay đổi trong số tổng trích trước giữa hai giai đoạn có hai thành phần: (1) sự thay đổi do tăng trưởng, và (2) sự thay đổi do lựa chọn kế toán của tổ chức phát hành Khi một doanh nghiệp phát triển, số biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh và biến
kế toán dồn tích có thể điều chỉnh tăng theo Để kiểm soát yếu tố tăng trưởng đến tổng số biến kế toán dồn tích (accruals), mô hình giả định một tỷ lệ tương ứng so sánh tổng số biến kế toán dồn tích (accruals) và doanh thu được sử dụng (sales) Tổng số biến kế toán dồn tích (TA) được cho là sự khác biệt
giữa tổng số biến kế toán dồn tích (accruals) trong thời kỳ t được chuẩn hóa bởi doanh thu bán hàng của thời kỳ t và tổng số biến kế toán dồn tích (accruals) thời kỳ t–1 được chuẩn hóa bởi doanh thu bán hàng thời kỳ t–1
Mô hình như sau:
‐𝑇𝐴𝑖𝑡 𝐴𝑖𝑡−1
𝑆𝑎𝑙𝑒𝑠𝑖𝑡−1− 𝑁𝐷𝐴𝑖𝑡
Trong đó: 𝑆𝑎𝑙𝑒𝑠𝑖𝑡−1 là doanh thu năm t1 của doanh nghiệp i
Phần biến kế toán có thể được điều chỉnh (𝐷𝐴𝑖𝑡) chính là lợi nhuận được điều chỉnh
Mô hình P M Dechow, Sloan và Sweeney (1995): Mô hình Modified
Jones là một biến thể của mô hình (Jones, 1991) được cải tiến bởi P M Dechow và cộng sự (1995) bằng cách điều chỉnh sự thay đổi của doanh thu bằng sự thay đổi của khoản nợ phải thu Mô hình được phát triển nhằm giảm
Trang 38sự sai số của mô hình trong việc xác định biến dồn tích bất thường khi nhà quản lý chi phối doanh thu:
𝑁𝐷𝐴𝑖𝑡 = 𝛼1 1
𝐴𝑖𝑡−1+ 𝛼2 𝛥𝑅𝐸𝑉𝑖𝑡 − 𝛥𝑅𝐸𝐶𝑖𝑡
𝐴𝑖𝑡−1 (1.7)
Trong đó: 𝛥𝑅𝐸𝐶𝑖𝑡 = Phải thu khách hàng t – Phải thu khách hàng t–1
Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng cả hai mô hình Jones (1991) và P
M Dechow và cộng sự (1995) cho kết quả đáng tin cậy về biến dồn tích có thể điều chỉnh
Mô hình S P Kothari, Leone Wasley (2005)
S P Kothari và cộng sự (2005) cho rằng thông thường động lực thực hiện quản trị lợi nhuận là do sự xuất hiện một sự kiện nào đó; vì vậy, mối quan hệ giữa dồn tích và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước sự kiện này rất cao Hơn nữa, mô hình của Jones (1991) và P M Dechow và cộng sự (1995) tỏ ra không chính xác trong trường hợp công ty có sự tăng trưởng quá lớn Vì vậy, S P Kothari và cộng sự (2005) bổ sung thêm biến ROA vào mô hình P M Dechow và cộng sự (1995)
𝑁𝐷𝐴𝑖𝑡 = 𝛼1 1
𝐴𝑖𝑡−1+ 𝛼2 𝛥𝑅𝐸𝑉𝑖𝑡 − 𝛥𝑅𝐸𝐶𝑖𝑡
𝐴𝑖𝑡−1 + 𝛼4𝑅𝑂𝐴𝑖𝑡−1 (1.8) Cách tiếp cận để nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận nói chung và quản trị lợi nhuận thực tế nói riêng là thông qua các mô hình ước tính (estimation models) Theo Cupertino, Martinez và da Costa (2015), các mô hình ước tính
là các mô hình hồi quy được xây dựng để đo lường mức thông thường trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Phần dư của các phép hồi quy trên sẽ được xem là “bất thường” và là các biến đại diện cho quản trị lợi nhuận thực tế Nói cách khác, chênh lệch giữa giá trị quan sát và giá trị ước tính sẽ phản ánh mức độ thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận thực tế của nhà quản trị Dựa trên nghiên cứu về quan hệ giữa lợi nhuận và dòng tiền của
P M Dechow, Kothari và Watts (1998), tác giả Roychowdhury (2006) đã xây dựng mô hình nhận diện ba hành vi quản trị lợi nhuận thực tế phổ biến thông qua các mô hình ước tính về dòng tiền hoạt động, chi phí sản xuất và chi phí tùy ý
Trang 39sinh của doanh nghiệp i năm t; 𝛥𝑆𝑎𝑙𝑒𝑠𝑖𝑡 là chênh lệch doanh thu của doanh
nghiệp i giữa năm t và năm t–1
𝑆𝑎𝑙𝑒𝑠𝑖𝑡−1 là doanh thu phát sinh trong năm doanh nghiệp i năm t–1
(Roychowdhury, 2006) Sau khi tính toán các hệ số của mô hình này, phần giá trị sai số ngẫu nhiên (chênh lệch giữa giá trị quan sát 𝐷𝐼𝑆𝐸𝑋𝑃𝑖𝑡
𝐴𝑖𝑡−1 và giá trị ước tính trung bình 𝐷𝐼𝑆𝐸𝑋𝑃𝑖𝑡
𝐴𝑖𝑡−1 thu được từ mô hình trên) được xem là mức bất thường trong chi phí tùy ý của doanh nghiệp Phần giá trị này không được giải thích bởi các biến trong mô hình và bị chi phối bởi nhà quản trị, do đó, đây là biến đại diện cho hành vi quản trị lợi nhuận thực tế thông qua cắt giảm các chi phí tùy ý
Trang 401.4.1.2 Đo lường chất lượng lợi nhuận theo khía cạnh chất lượng dồn tích
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là P M Dechow và Dichev (2002)
về chất lượng của các khoản dồn tích và chất lượng lợi nhuận Các tác giả đã phân tích và chỉ rằng các khoản dồn tích ngắn hạn (được xác định thông qua vốn lưu động) sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với luồng tiền của kỳ báo cáo, kỳ trước liền kề và kỳ sau liền kề
Tại Việt Nam, các tác giả Bùi Kim Phương và Nguyễn Thị Ngọc Trang (2018) đã sử dụng mô hình chất lượng dồn tích của P M Dechow
và Dichev (2002) để đo lường chất lượng lợi nhuận của công ty Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ 474 công ty niêm yết trên HSX và HNX trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2015, tạo thành 2.507 quan sát doanh nghiệp Nghiên cứu xử lý dữ liệu bảng bằng mô hình hồi quy gộp (pooled OLS), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình tác động
cố định (FEM) Sau đó, mô hình thích hợp sẽ được lựa chọn thông qua các kiểm định cần thiết Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi của doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính và mức độ thâm dụng vốn có tác động ngược chiều đến mức độ chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp Ngược lại, các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao có mức độ chất lượng lợi nhuận cao Trong khi đó, hiệu quả hoạt động và quy mô doanh nghiệp không tác động đến chất lượng lợi nhuận
Để đo lường chất lượng các khoản dồn tích, P M Dechow và Dichev (2002) sử dụng vốn lưu động dồn tích hiện hành (working capital accruals) được hồi quy với dòng tiền hoạt động của năm trước đó, năm nay và năm tiếp theo liền kề, tất cả chia cho tổng tài
thay đổi của tiền và tương đương tiền (∆Cash), trừ sự thay đổi nợ ngắn hạn (∆CL) và cộng với sự thay đổi trong nợ vay ngắn hạn ngân hàng (∆Debt) 𝐶𝐹𝑂𝑖𝑡−1; 𝐶𝐹𝑂𝑖𝑡; 𝐶𝐹𝑂𝑖𝑡+1 lần lượt là dòng tiền hoạt động trong năm
t–1, năm t và năm t+1 Tất cả biến được chia cho tổng tài sản (𝐴𝑖𝑡 − Total assets)