1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI Tháng 6 và 6 tháng năm 2021

47 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố 6 tháng đầu năm được ghi nhận qua những dấu hiệu sau: Về kinh tế: Tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP 6 tháng đầu năm 2021 ước tăng 5,46% s

Trang 1

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI Tháng 6 và 6 tháng năm 2021

Năm 2021 là năm bản lề đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm 2021 - 2025, vấn

đề tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2021 có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh kinh tế thế giới chịu tác động mạnh của dịch COVID-19 Nửa đầu năm 2021, triển vọng kinh tế toàn cầu đã được cải thiện rõ rệt sau khi các quốc gia triển khai vắc-xin hiệu quả và đối phó tốt hơn với dịch COVID-19 Việc áp dụng các biện pháp phong toả lâu dài cũng khiến nhu cầu tiêu dùng hàng hoá trên thế giới giảm, chuỗi sản xuất và cung ứng hàng hóa bị đứt gãy, giá cả bắt đầu tăng ở một số mặt hàng Trong nước, chỉ trong 6 tháng, Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng phải đương đầu với 02 đợt dịch COVID-19 bùng phát, đỉnh điểm là đợt dịch bắt đầu từ ngày 27/4 với biến thể Delta nguy hiểm có tốc độ lây lan nhanh hơn, có thể làm cản trở cuộc chiến chống dịch COVID-19 cũng như phục hồi kinh tế Chính quyền và Nhân dân Thành phố vừa phải đối phó với dịch bệnh trên tinh thần

“chống dịch như chống giặc”, “chuyển từ phòng ngự sang chủ động” vừa phải bảo đảm thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng bộ thành phố đề ra đồng thời tổ chức thành công bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp

Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố 6 tháng đầu năm được ghi nhận qua những dấu hiệu sau:

Về kinh tế: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng đầu năm 2021 ước

tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước Trong đó khu vực nông lâm thuỷ sản giảm 0,48%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,58%; khu vực dịch vụ tăng 5,86%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,08%

Trang 2

Tổng thu cân đối ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2021 ước đạt 198.566 tỷ đồng, đạt 55,7% dự toán, tăng 20,7% so với cùng kỳ Tổng chi ngân sách địa phương (không tính tạm ứng) ước thực hiện 29.710 tỷ đồng, đạt 30,6% dự toán, giảm 5,9% so với cùng kỳ

Ước tính 6 tháng đầu năm 2021: Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 5,9% so với cùng kỳ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 541.685 tỷ đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ, trong đó ngành lưu trú, ăn uống tăng 18,9%, lữ hành giảm 40,6% do ảnh hưởng dịch COVID-19 kéo dài Tổng vốn đầu

tư xã hội đạt 185.975 tỷ đồng, tăng 6% so với cùng kỳ, bằng 27,3% so với GRDP

Chỉ số chứng khoán VN-Index chạm mốc cao nhất vào ngày 31/05/221 với 1.328,05 điểm, tăng 20,3% (tương ứng tăng 224,18 điểm) so thời điểm cuối năm

2020 và đạt giá trị thấp nhất vào ngày 28/01/2021 với 1.023,94 điểm, giảm 7,2% (tương ứng giảm 79,93 điểm) so thời điểm cuối năm 2020 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 2,11% so với cùng kỳ

I TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (GRDP)

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng đầu năm ước đạt 680.328 tỷ đồng (theo giá hiện hành) Tính theo giá so sánh 2010 đạt 490.692 tỷ đồng, tăng 5,46% so cùng kỳ

Tổng sản phẩm trên địa bàn 6 tháng năm 2021

Tổng GRDP (Tỷ đồng -

giá hiện hành)

Tổng GRDP (Tỷ đồng –

giá so sánh 2010)

Tốc độ tăng

so với cùng kỳ năm 2020 (%)

Đóng góp vào tốc độ tăng (%)

Chia theo khu vực

- Công nghiệp và xây dựng 151.024 113.160 3,58 0,84

- Thương mại - Dịch vụ 432.607 307.324 5,86 3,66

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sp 92.353 67.941 7,08 0,97 Trong mức tăng trưởng chung 5,46% của kinh tế Thành phố: Khu vực thương mại dịch vụ đóng góp nhiều nhất 3,66 điểm % và có mức tăng trưởng 5,86% trong bối cảnh tuy phải chịu nhiều ảnh hưởng của dịch COVID-19; thuế sản

Trang 3

phẩm tăng 7,08% so với cùng kỳ, đóng góp 0,97 điểm %, kế đến là khu vực công nghiệp – xây dựng đóng góp 0,84 điểm % với mức tăng trưởng 3,58%; khu vực nông nghiệp đóng góp thấp nhất và có mức tăng trưởng giảm 0,48%;

Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm, xét theo giá hiện hành, khu vực nông lâm thuỷ sản chiếm tỷ trọng 0,6%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng 22,2%; khu vực thương mại dịch vụ chiếm 63,6%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 13,6%

* Về tỷ trọng đóng góp của 9 ngành dịch vụ trọng yếu trong GRDP 6

Tỷ trọng

so với GRDP (%)

Tỷ trọng nội

bộ ngành của khu vực dịch

vụ (%)

G Thương nghiệp bán buôn và bán lẻ;

sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy 114.285 16,8 26,4

K Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo

L Hoạt động kinh doanh bất động sản 27.231 4,0 6,3

M Hoạt động chuyên môn, khoa học và

công nghệ

Q Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 23.371 3,4 5,4

Trong thời gian chống dịch, các mô hình kinh doanh trực tuyến, đặt hàng qua mạng, dịch vụ giao nhận, hội họp trực tuyến được người dùng và doanh nghiệp

áp dụng, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thiết yếu của thị trường nhất là trong lĩnh vực

Trang 4

bán lẻ hàng thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình, dịch vụ internet, viễn thông Có 6/9 ngành dịch vụ có mức tăng trưởng trên 6% so với cùng kỳ, cụ thể như:

+ Ngành thương nghiệp bán buôn, bán lẻ: tăng 6,01% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 16,8% trong tổng GRDP và chiếm 26,4% trong khu vực dịch vụ;

+ Ngành thông tin truyền thông: tăng 7,24% so với cùng kỳ, chiếm 4,9% trong tổng GRDP và 7,8% trong khu vực dịch vụ;

+ Ngành tài chính, ngân hàng: tăng 8,22% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 8,2% trong tổng GRDP và 12,9% trong khu vực dịch vụ;

+ Ngành hoạt động chuyên môn, KHCN1: tăng 6,09% so với cùng kỳ, chiếm 5,5% trong tổng GRDP và 8,6% trong khu vực dịch vụ;

+ Ngành giáo dục và đào tạo: tăng 6,62% so với cùng kỳ, chiếm 4,2% trong tổng GRDP và 6,6% trong khu vực dịch vụ;

+ Ngành y tế: tăng 10,11% so với cùng kỳ, chiếm 3,4% trong tổng GRDP

và 5,4% trong khu vực dịch vụ

Có 1 ngành giảm là khách sạn, nhà hàng (lưu trú và ăn uống) giảm 2,68%

2/9 ngành còn lại có mức tăng trưởng dưới 6% là vận tải kho bãi tăng

5,73%; kinh doanh bất động sản2 tăng 3,96% so với cùng kỳ

II TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG

2.1 Thu chi ngân sách

Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa thành phố 06 tháng đầu năm 2021 ước thực hiện 198.566 tỷ đồng, đạt 55,7% dự toán và tăng 20,7% so

cùng kỳ năm 2020 Cụ thể:

- Thu nội địa ước thực hiện 138.366 tỷ đồng, đạt 55,7% dự toán, chiếm 69,7% tổng thu ngân sách và tăng 19% so cùng kỳ Trong đó: Thu từ doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 11.745 tỷ đồng, đạt 43,5% dự toán, chiếm 5,9% tổng thu

1 Ngành hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ bao gồm các ngành dịch vụ chuyên môn như: dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn pháp luật, công chứng và chứng thực, tư vấn quản lý; dịch vụ kỹ thuật, kiến trúc, đo đạc, nghiên cứu khoa học; quảng cáo, nghiên cứu thị trường; hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ, thiết kế chuyên dụng

2 Ngành bất động sản chỉ bao gồm hoạt động: mua bán BĐS, cho thuê BĐS và dịch vụ môi giới liên quan đến BĐS (hoạt động xây dựng BĐS đã tính vào ngành xây dựng)

Trang 5

ngân sách và tăng 9,9% so cùng kỳ; Thu từ khu vực ngoài nhà nước ước thực hiện 39.403 tỷ đồng, đạt 58,2% dự toán, chiếm 19,8% tổng thu ngân sách và tăng 42,7%

so cùng kỳ; Thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 33.917 tỷ đồng, đạt 58,2% dự toán, chiếm 17,1% tổng thu và tăng 16,4% so cùng kỳ; Thu dầu thô ước thực hiện 6.807 tỷ đồng, đạt 79,6% dự toán, chiếm 3,4% tổng thu ngân sách và tăng 6,8% so cùng kỳ;

- Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu ước thực hiện 60.200 tỷ đồng, đạt 55,7%

dự toán, chiếm 30,3% tổng thu ngân sách và tăng 24,8% so cùng kỳ

Thu cân đối ngân sách địa phương 06 tháng đầu năm 2021, ước thực

hiện 38.111 tỷ đồng, đạt 46,4% dự toán, chiếm 19,2% tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn và tăng 5,6% so cùng kỳ năm 2020

Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn Thành phố

Số liệu cùng kỳ năm trước

Kỳ báo cáo so cùng kỳ năm trước (%)

Cơ cấu kỳ báo cáo (%)

Cơ cấu cùng

kỳ năm trước (%)

Tổng thu cân đối NSNN (I+II) 198.566 164.485 120,7 100,0 100,0

I Thu nội địa 138.366 116.234 119,0 69,7 70,7

Trong đó:

- Doanh nghiệp nhà nước 11.745 10.689 109,9 5,9 6,5

- Khu vực ngoài nhà nước 39.403 27.606 142,7 19,8 16,8

- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 33.917 29.130 116,4 17,1 17,7

- Thuế thu nhập cá nhân 24.787 22.829 108,6 12,5 13,9

Trong đó: Lệ phí trước bạ 2.453 2.336 105,0 1,2 1,4

- Các khoản thu về nhà, đất 6.261 5.112 122,5 3,2 3,1

II Thu hoạt động xuất nhập khẩu 60.200 48.251 124,8 30,3 29,3

Trang 6

Tổng chi ngân sách địa phương (chưa tính tạm ứng) 06 tháng đầu năm

2021 ước thực hiện 29.710 tỷ đồng, đạt 30,6% dự toán và giảm 5,9% so cùng kỳ

Chi ngân sách địa phương 06 tháng năm 2021

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Số liệu

kỳ báo cáo

Số liệu cùng

kỳ năm trước

Kỳ báo cáo so cùng

kỳ năm trước (%)

Cơ cấu

kỳ báo cáo (%)

Cơ cấu cùng

kỳ năm trước (%)

TỔNG CHI (không tính tạm ứng) 29.710 31.562 94,1 100,0 100,0

Trong đó:

1 Chi đầu tư phát triển 9.572 10.011 95,6 32,2 31,7

2 Chi thường xuyên 18.103 16.884 107,2 60,9 53,5

Trong đó:

- Chi giáo dục - đào tạo và dạy nghề 5.913 5.189 114,0 19,9 16,4

- Chi y tế, dân số và gia đình 946 949 99,7 3,2 3,0

- Chi khoa học và công nghệ 657 662 99,3 2,2 2,1

2.2 Ngân hàng

Tổng vốn huy động của toàn hệ thống ngân hàng trên địa bàn Thành phố

tính đến ngày 01/6/2021 đạt 2.973,34 nghìn tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước

và tăng 14,8% so cùng kỳ năm 2020 Trong đó:

- Vốn huy động của khối ngân hàng nhà nước đạt 855 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,8% tổng vốn huy động, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 12,7% so cùng kỳ;

Trang 7

- Vốn huy động của khối ngân hàng thương mại cổ phần đạt 1.571,68 nghìn tỷ đồng, chiếm 52,9% tổng vốn huy động, tăng 0,5% so với tháng trước

và tăng 15,7% so cùng kỳ;

- Vốn huy động của khối ngân hàng nước ngoài, liên doanh đạt 546,66 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,3% tổng vốn huy động, tăng 2% so với tháng trước và tăng 15,7% so cùng kỳ

Tổng nguồn vốn huy động của toàn hệ thống ngân hàng phân theo loại tiền tệ, trong đó vốn huy động bằng VNĐ đạt 2.641,19 nghìn tỷ đồng, chiếm

88,8% tổng vốn huy động, tăng 1% so với tháng trước và tăng 17,4% so cùng kỳ 2020; Vốn huy động bằng ngoại tệ đạt 332,15 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,2% tổng vốn huy động, tăng 0,7% so tháng trước và giảm 2,2% so cùng kỳ

Tổng dư nợ tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng trên địa bàn Thành

phố tính đến ngày 01/6/2021 đạt 2.654,29 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 13,6% so cùng kỳ năm 2020 Trong đó:

- Dư nợ tín dụng của khối ngân hàng nhà nước đạt 780,66 nghìn tỷ, chiếm 29,4% tổng dư nợ toàn hệ thống, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ;

Trang 8

- Dư nợ tín dụng của khối ngân hàng cổ phần đạt 1.440,35 nghìn tỷ đồng, chiếm 54,3% tổng dư nợ toàn hệ thống, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ;

- Dư nợ tín dụng của khối ngân hàng nước ngoài, liên doanh đạt 433,28 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,3% tổng dư nợ toàn hệ thống, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 7,7% so với cùng kỳ

Tổng dư nợ tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng phân theo loại tiền

tệ, trong đó dư nợ tín dụng bằng VND đạt 2.466,28 nghìn tỷ đồng, chiếm 92,9%

tổng dư nợ toàn hệ thống, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 13,6% so cùng

kỳ năm 2020; Dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ đạt 188,02 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,1%, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 14,5% so cùng kỳ

Tổng dư nợ tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng phân theo thời hạn cho vay, trong đó dư nợ ngắn hạn đạt 1.214,33 nghìn tỷ đồng, chiếm 45,7% tổng

dư nợ tín dụng, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 8% so cùng kỳ năm 2020

Dư nợ trung hạn, dài hạn đạt 1.439,96 nghìn tỷ đồng, chiếm 54,3% tổng dư nợ,

tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 18,9% so cùng kỳ

2.3 Chứng khoán

Tính đến phiên giao dịch ngày 31/5/2021, số lượng mã chứng khoán được

phép giao dịch khớp lệnh trên sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) là 477

mã chứng khoán bao gồm: 320 mã cổ phiếu, 9 mã chứng chỉ quỹ, 147 mã chứng quyền và 1 mã trái phiếu So với phiên giao dịch cuối cùng của tháng trước, số lượng

mã chứng khoán giao dịch khớp lệnh đã giảm 3 mã cổ phiếu, giảm 1 chứng chỉ quỹ

và tăng 10 mã chứng quyền

Trong tháng 5/2021, sự cố nghẽn lệnh tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) vẫn chưa giải quyết triệt để và đến ngày 01/6/2021, Hose tuyên bố tạm dừng giao dịch do “trình trạng báo động với an toàn hệ thống” Trong tháng chưa ghi nhận mã chứng khoán mới có phát sinh giao dịch đầu tiên, tuy nhiên

có 2 mã trái phiếu và 14 mã chứng quyền hủy niêm yết

Tháng 5 năm 2021 có 20 phiên giao dịch được thực hiện với tổng khối lượng

đạt 14.678,7 triệu chứng khoán, giảm 3,4% so với tháng trước và tổng giá trị giao

Trang 9

dịch đạt 448.552,8 tỷ đồng, tăng 19,3% so với tháng trước Trong đó, giao dịch khớp lệnh chiếm 93,7% tổng khối lượng và chiếm 92,1% tổng giá trị giao dịch trên thị trường Trung bình mỗi phiên có 733,9 triệu chứng khoán với giá trị 22.427,6 tỷ đồng được giao dịch So với tháng trước, khối lượng giao dịch trung bình mỗi phiên

đã giảm 3,4% nhưng giá trị tăng 19,3%

Lũy kế 5 tháng đầu năm 2021, tổng khối lượng giao dịch đạt 69.867,8 triệu

chứng khoán với tổng giá trị giao dịch đạt 1.748.498,9 tỷ đồng Trong đó, giao dịch khớp lệnh chiếm 93,2% tổng khối lượng và chiếm 90,1% tổng giá trị giao dịch trên thị trường Trung bình mỗi phiên có 712,9 triệu chứng khoán với giá trị 17.841,8 tỷ đồng được giao dịch So cùng kỳ năm trước, tổng khối lượng giao dịch đã tăng gấp 2,8 lần và gấp 4 lần về tổng giá trị giao dịch

Kết quả giao dịch từng loại chứng khoán như sau:

Giao dịch chứng khoán trên thị trường niêm yết

Kết quả giao dịch % so sánh Tháng

5/2021

5 tháng năm 2021

Tháng 5 so tháng 4

5 tháng so với cùng

Tổng giá trị giao dịch

Trang 10

Chỉ số VN-index trong tháng 5 năm 2021 ghi nhận xu hướng tích cực khi

tiếp tục vượt mốc 1.200 điểm Với 20 phiên giao dịch chứng khoán được thực hiện trong tháng 5/2021 thì có 13 phiên tăng điểm và 7 phiên giảm điểm Trong phiên giao dịch đầu tháng 5/2021, VN-index đạt 1.242,20 điểm, các phiên giao dịch tiếp theo có xu hướng tăng và lập đỉnh vào phiên cuối cùng của tháng 5/2021 với 1.328,05 điểm, tăng 6,9% so với phiên đầu tháng (tương đương tăng 85,85 điểm)

Tính từ đầu năm đến cuối tháng 5/2021, VN-Index lập đỉnh mới vào ngày

31/5/2021 với 1.328,05 điểm, tăng 20,3% (tương ứng tăng 224,18 điểm) so thời điểm cuối năm 2020 khi đó giá trị vốn hóa thị trường đạt 4.977.748 tỷ đồng, tương đương 3,6 lần quy mô GRDP thành phố năm 2020 VN-Index đạt giá trị thấp nhất vào ngày 28/01/2021 với 1.023,94 điểm, giảm 7,2% (tương ứng giảm 79,93 điểm) so thời điểm cuối năm 2020

Đồ thị VN-Index tháng 5/2021 trên SGDCK TP.HCM

Cập nhật đến ngày 10/6/2021, số lượng mã chứng khoán được phép giao dịch khớp lệnh trên sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) là 465 mã chứng khoán, trong đó có 320 mã cổ phiếu, 9 mã chứng chỉ, 135 mã chứng quyền và 1 mã trái phiếu Chỉ số VN-index đạt 1.323,58 điểm, tăng 19,9% (tương ứng tăng 219,71 điểm) so thời điểm cuối năm 2020 và vốn hóa thị trường đạt 4.996.171 tỷ đồng

Trang 11

III CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 năm 2021 tăng 0,22% so với tháng trước

Trong đó, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,01%, nhóm thuốc và dịch vụ

y tế không biến động; 9/11 nhóm hàng còn lại đều tăng so tháng trước, tăng cao nhất là nhóm giao thông (0,76%)

Diễn biến giá một số nhóm ngành hàng so với tháng trước:

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống: chỉ số giá của nhóm này tăng 0,38%

so với tháng trước Trong đó, lương thực tăng 0,46%, chủ yếu do gạo tăng 0,65% do nhu cầu mua dự trữ của người dân tăng cao nhằm hạn chế việc di chuyển, phòng chống dịch COVID-19 Ngược lại, chỉ số giá nhóm bột mì và ngũ cốc khác giảm 0,57% so với tháng trước chủ yếu do giá khoai lang giảm mạnh (-1,59%)

Thực phẩm: chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,37% so với tháng trước

Một số mặt hàng có mức tăng so với tháng trước như giá thịt gà tăng 0,57%, trứng các loại tăng 1,58%, các loại đậu và hạt tăng 1,19%, dầu thực vật tăng 0,45% Rau tươi, khô và chế biến tăng 6,36% so với tháng trước Bên cạnh các mặt hàng tăng giá, một số mặt hàng trong tháng có giảm giá so với tháng trước như thịt heo giảm 1,92%, thịt bò giảm 0,75%, thịt gia cầm đông lạnh giảm 1,40%, tôm giảm 1,22%

Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt, VLXD: chỉ số giá nhóm nhà ở, điện

nước, chất đốt, VLXD tăng 0,04% so tháng trước Trong đó, giá điện sinh hoạt

tăng 0,34%, giá nước sinh hoạt giảm 0,78%, gas và các loại chất đốt tăng 3,69%

Nhóm giao thông: chỉ số giá nhóm giao thông tăng 0,76% so với tháng

trước Trong đó, phương tiện đi lại giảm 0,30%; phụ tùng tăng 0,01%; nhiên liệu tăng 2,97% chủ yếu do tác động của việc điều chỉnh giá xăng dầu vào ngày 11/6/2021 và ngày 26/6/2021, theo đó, giá xăng tăng 3,46%, dầu diezel tăng 4,71% so tháng trước

CPI tháng 06 năm 2021 tăng 1,48% so với tháng 12 năm 2020 và tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước, bình quân 06 tháng năm 2021 tăng 2,12% so

với bình quân năm 2020

Trang 12

Chỉ số giá vàng tháng 06 năm 2021 tăng 1,77% so với tháng trước; tăng 3,24% so tháng 12 năm 2020 và tăng 16,82% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 06 tháng năm 2021 tăng 20,76% so với năm trước Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 06 năm 2021 giảm 0,16% so với tháng trước; giảm 0,09% so với tháng 12 năm 2020 và giảm 0,91% so với cùng kỳ năm trước; bình quân năm 2021 giảm 1,10% so với cùng kỳ

Chỉ số giá tiêu dùng, giá vàng và tỷ giá USD

Đơn vị tính: % Tháng 6 so với tháng

cùng kỳ năm trước Chỉ số giá bình quân so năm trước Năm 2020 Năm 2021 Năm 2020 Năm 2021

1 Chỉ số giá tiêu dùng 102,10 103,34 103,48 102,12

Trong đó: Lương thực 103,20 103,50 102,42 103,58 Thực phẩm 109,88 100,90 108,41 102,01

2 Chỉ số giá vàng 131,77 116,82 126,81 120,76

3 Chỉ số giá USD 99,68 99,09 100,54 98,90

IV ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG

4.1 Vốn đầu tư

Tổng vốn đầu tư trên địa bàn thành phố 6 tháng đầu năm ước thực

hiện 185.975 tỷ đồng, tăng 6% so với cùng kỳ, chiếm 27,3% so với GRDP

Vốn đầu tư thực hiện 6 tháng năm 2021

6 tháng năm

2021 (tỷ đồng)

Cơ cấu nguồn vốn (%)

So với 6 tháng năm 2020 (%)

• Vốn ngân sách địa phương

Khối lượng XDCB và sửa chữa lớn ước thực hiện 6 tháng đạt 11.513 tỷ đồng, đạt 32,2% kế hoạch, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước Tuy có mức

Trang 13

tăng thấp hơn so với 6 tháng năm 2020, nhưng cũng chứng tỏ sự cải thiện đáng

kể trong thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách (6 tháng năm 2020 tăng 31,1%, năm

2019 tăng 2,5%, năm 2018 tăng 7,9%) Nguyên nhân: Thành phố khẩn trương triển khai Nghị định số 40/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đầu tư công, Nghị quyết số 27/NQ-CP về việc cho phép áp dụng thí điểm cơ chế, quy trình đặc thù để rút ngắn thời gian thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bàn giao mặt bằng dự án có thu hồi đất cho đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án

Tình hình thực hiện một số công trình giao thông trọng điểm:

+ Dự án tuyến đường sắt Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên: triển khai lắp dây cáp điện trên toàn tuyến, khẩn trương hoàn thiện nhà ga Ba Son trong tháng 6/2021, đẩy nhanh tiến độ thi công nhà ga Bến Thành Nhìn chung toàn tuyến đạt 87% khối lượng xây lắp, dự kiến đưa vào khai thác, vận hành kỹ thuật vào cuối năm 2021, dự kiến sớm đưa vào khai thác thương mại năm 2022;

+ Dự án tuyến đường sắt Metro số 2: Các quận đang tháo dỡ, bàn giao mặt bằng, hiện đang di dời hạ tầng kỹ thuật trên toàn tuyến Dự kiến sẽ khởi công vào giữa năm 2022;

+ Dự án cầu Thủ Thiêm 2 nối quận 1 với quận 2: vẫn tạm ngưng chưa thi công, do vướng thủ tục pháp lý và vướng giải phóng mặt bằng phía quận 1 + Dự án chống ngập 10.000 tỷ: Hiện khối lượng thi công xây lắp của dự án đạt trên 91% nhưng đang tạm ngưng thi công do vướng các thủ tục pháp lý

Vốn ngân sách được phân theo loại dự án:

+ Dự án chuyển tiếp, theo kế hoạch vốn 34.179,8 tỷ đồng, 6 tháng ước thực hiện 11.252 tỷ đồng, đạt 32,9%;

+ Dự án khởi công mới, theo kế hoạch ghi vốn 973 tỷ đồng, 6 tháng ước thực hiện 261 tỷ đồng, đạt 26,8%;

+ Dự án chuẩn bị đầu tư: Theo kế hoạch vốn 597 tỷ đồng, đang làm thủ tục phê duyệt

Trang 14

Tuy vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng, quy trình phê duyệt, thủ tục đầu tư kéo dài, nhưng việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân thực hiện vốn đầu tư công được xem là điểm sáng của Thành phố nhằm tạo động lực phục hồi tăng trưởng kinh tế

• Vốn doanh nghiệp Nhà nước: Theo xu hướng, tốc độ tăng từ nguồn

vốn này có xu hướng giảm do các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa và ảnh hưởng của dịch COVID -19 Sáu tháng đầu năm 2021 ước thực hiện đạt 7.653 tỷ

đồng, giảm 1,1%

• Vốn doanh nghiệp ngoài Nhà nước: Nguồn vốn này ước 6 tháng đạt 108.386 tỷ đồng, tăng 6,9% so cùng kỳ, do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nên

hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều ảnh hưởng, các ngành chịu ảnh hưởng

nhiều nhất như: khách sạn, nhà hàng, vận tải, may mặc

• Vốn nước ngoài: ước tính 6 tháng đạt 26.766 tỷ đồng, so cùng kỳ tăng

4,9% Do ảnh hưởng của COVID-19 nên từ đầu năm đến nay nhiều dự án liên

quan đến nhập khẩu máy móc thiết bị và chuyên gia đi kèm đều bị chậm trễ

4.2 Cấp giấy phép xây dựng và sửa chữa lớn nhà ở hộ dân

Tính đến cuối tháng 5, toàn thành phố đã cấp 14.726 giấy phép xây dựng

và sửa chữa lớn, với diện tích sàn 2.657 nghìn m2 Trong đó cấp cho xây dựng mới 13.907 giấy phép, với diện tích 2.563 nghìn m2 và 819 giấy phép sửa chữa lớn, với diện tích 94 nghìn m2

So với cùng kỳ năm trước, số giấy phép giảm 3,5% (giảm 537 giấy phép)

và diện tích giảm 17,2% (giảm 642 nghìn m2)

V DOANH NGHIỆP

5.1 Đăng ký thành lập doanh nghiệp

Từ ngày 01/01/2021 đến 15/06/2021, thành phố đã cấp phép 18.441 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 310.988 tỷ đồng3, tăng cả số lượng đơn vị và vốn đăng

ký So với cùng kỳ năm trước, số giấy phép tăng 3,8% và vốn tăng 39,2% Tốc độ tăng này phần lớn là từ đóng góp của khu vực dịch vụ với số lượng doanh nghiệp

3 Chưa bao gồm 2 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới thuộc lĩnh vực thông tin và truyền thông có số vốn tăng đột biến là 525 nghìn tỷ đồng (2 đơn vị này có chung một đại diện pháp luật và đang trong quá trình hoàn tất việc góp vốn)

Trang 15

chiếm 79,8%, tăng 6,6% và vốn đăng ký chiếm 66,7%, tăng 22,2% Trong đó, 9 ngành dịch vụ chủ yếu có số lượng giấy phép là 13.513, chiếm 73,2% trong tổng số doanh nghiệp được cấp phép trong 6 tháng đầu năm, tăng 7,5% so với cùng kỳ; vốn đăng ký 197.764 tỷ đồng, chiếm 63,6%, tăng 23,9% Ngoài ra, doanh nghiệp cấp mới của nhóm các ngành công nghiệp cũng có tốc độ tăng vốn cao, gần gấp 5 lần

so với cùng kỳ năm trước Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 16,9 tỷ đồng, tăng 34,1% so với bình quân cùng kỳ năm trước

Phân theo loại hình: Công ty TNHH 15.879 đơn vị, chiếm 86,1% trong

tổng số doanh nghiệp được cấp phép mới, tăng 3,4% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký đạt 176.634 tỷ đồng, tăng 59,6% so với cùng kỳ năm trước Công ty cổ phần có 2.400 đơn vị, tăng 5%; vốn đăng ký 134.220 tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ Doanh nghiệp tư nhân có 160 đơn vị, vốn đăng ký đạt 133 tỷ đồng; số giấy phép tăng 26% và số vốn tăng 21,5%

Phân theo ngành kinh tế:

− Khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: số lượng doanh

nghiệp cấp phép là 84 đơn vị, giảm 14,3%; vốn đăng ký đạt 2.101 tỷ đồng, giảm 8,1% so với cùng kỳ năm trước

Trang 16

− Khu vực công nghiệp, xây dựng: cấp phép 3.639 doanh nghiệp, giảm

5,7% so với cùng kỳ; vốn đăng ký đạt 101.585 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ năm trước Trong đó, ngành xây dựng có 1.685 doanh nghiệp, vốn đạt 28.452 tỷ đồng, giảm 21,8% so với cùng kỳ năm trước; nhóm các ngành công nghiệp có 1.954 đơn vị, giảm 6,6%, số vốn đăng ký đạt 73.133 tỷ đồng, tăng gấp

5 lần so với cùng kỳ năm trước

Khu vực thương mại, dịch vụ: cấp phép 14.718 doanh nghiệp, tăng

6,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký đạt 207.302 tỷ đồng, tăng 22,3%

Trong đó, hoạt động kinh doanh bất động sản 1.193 đơn vị, tăng 17,8%; vốn đăng ký 67.116 tỷ đồng, giảm 15,9% Thương nghiệp có 6.900 doanh nghiệp, tăng 5,2%; vốn đăng ký đạt 68.879 tỷ đồng, tăng 79,4% Hoạt động chuyên

môn, khoa học công nghệ 2.093 doanh nghiệp, vốn đăng ký 25.205 tỷ đồng; so

với cùng kỳ năm trước, số giấy phép tăng 7,9%, vốn đăng ký tăng 45,8% so với cùng kỳ

5.2 Tình hình cấp phép đầu tư trực tiếp nước ngoài

Từ ngày 1/1/2021 đến ngày 20/06/2021, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Thành phố là 1,43 tỷ USD bao gồm vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, giảm 29,3% so với cùng kỳ năm trước Trong đó:

- Cấp mới có 262 dự án cấp với vốn đăng ký đạt 264,4 triệu USD, giảm 50,8% về số giấy phép và giảm 10,2% về vốn so với cùng kỳ năm trước Vốn đăng ký tập trung chủ yếu ở 3 ngành là thương nghiệp, kinh doanh bất động sản

và vận tải kho bãi (chiếm hơn 86,7% tổng vốn cấp mới), trong đó thương nghiệp

có 114 dự án, vốn đạt 51,1 triệu USD, chiếm 19,3% tổng vốn vốn cấp mới; ngành kinh doanh bất động sản có 9 dự án, với vốn đạt 126 triệu USD (chiếm 47,7%); vận tải kho bãi đạt 52,2 triệu USD (chiếm 19,7%) Các quốc gia có tỷ trọng vốn đăng ký cao là Singapore 41 dự án, vốn 108,3 triệu USD (chiếm 41%); Hà Lan 10 dự án, vốn đăng ký 81,2 triệu USD (chiếm 30,7%) Theo hình thức đầu tư thì có 241 dự án 100% vốn nước ngoài với tổng vốn đăng ký là 254,3 triệu USD; liên doanh có 21 dự án, vốn đăng ký là 10,1 triệu USD

Trang 17

- Điều chỉnh vốn đầu tư có 75 lượt dự án với số vốn tăng thêm là 475 triệu USD, giảm 19,4% về số giấy phép và tăng gấp 2 lần về vốn so với cùng kỳ năm trước Trong đó có 11 dự án thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với vốn đăng ký là 273,6 triệu USD (chiếm 57,6%) và hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ có 20 dự án, vốn tăng là 121,3 triệu USD (chiếm 25,5%) Trong số các dự án điều chỉnh thì quốc gia có số vốn thay đổi cao là Singapore và Nhật Bản, với tỷ trọng vốn tăng chiếm đến 73,5%

- Góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài có 1.040 trường hợp với tổng vốn đạt 686,5 triệu USD, giảm 54,9% về vốn so với cùng kỳ

Tổng vốn cấp phép mới, điều chỉnh vốn và góp vốn mua cổ phần phân theo ngành nghề và đối tác đầu tư như sau:

Theo ngành hoạt động: có 4 ngành nghề về số lượng tổng vốn cao nhất bao gồm công nghiệp chế biến, chế tạo 347,1 triệu USD, chiếm 24,3% tổng vốn; tiếp theo là ngành thương nghiệp có 212,3 triệu USD, chiếm 14,9%; hoạt động kinh doanh bất động sản là 339 triệu USD, chiếm 23,8%; hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ là 313,3 triệu USD, chiếm 22%

Theo đối tác đầu tư: Singapore đứng đầu về tổng vốn với 408 triệu USD, chiếm 28,6%; kế đến là Nhật Bản 316,1 triệu USD, chiếm 22,2%; Hàn Quốc là 175,2 triệu USD, chiếm 12,3% và Hà Lan 115,8 triệu USD, chiếm 8,1% trong tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần

VI SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

Ngành nông nghiệp Thành phố vẫn tiếp tục mục tiêu phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, hiệu quả, bền vững theo hướng: Nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học; là trung tâm sản xuất giống cây trồng, giống vật nuôi

có năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng cao, an toàn của khu vực; bảo vệ môi trường và đáp ứng tốt hơn nhu cầu về rau sạch, hoa tươi, cá kiểng, sữa của thị trường và gắn với phát triển du lịch mang đặc trưng thành phố Sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh, tổ chức lại sản xuất và khả năng cạnh tranh Xây dựng các chuỗi liên kết và chuỗi cung ứng trong nông nghiệp góp phần nâng cao thu nhập đời sống của dân cư nông thôn

Trang 18

1 Nông nghiệp

1.1 Trồng trọt: Tính đến ngày 15 tháng 6 năm 2021

Vụ Đông Xuân: Do thời tiết thuận lợi nên năng suất lúa tăng cao hơn so

với cùng kỳ năm trước, cùng với đó giá lúa cao đã đem về nguồn thu đáng kể

cho nông dân

Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông xuân đạt 11.784,9 ha, giảm 2,8% (-340,8 ha) so với năm trước Chủ yếu do quá trình đô thị hóa, diện tích lúa, diện tích rau giảm nhiều tại huyện Hóc Môn, Bình Chánh Hiện nay diện tích lúa Đông Xuân đã thu hoạch xong với năng suất đạt 52,0 tạ/ha Sản lượng lúa vụ Đông Xuân sơ bộ đạt 24.479,8 tấn giảm 2,8% so với cùng kỳ

Diện tích trồng bắp là 356,2 ha, giảm 26,5% so với vụ Đông Xuân năm trước (-128,4 ha) Sản lượng 1.600,9 tấn, giảm 24,4% Diện tích trồng sắn mỳ là 100,6 ha, bằng 98,4% so với cùng kỳ năm trước

Vụ Hè thu: Diện tích lúa đã xuống giống 3.990 ha, giảm 1,3% so với

cùng kỳ năm trước

1.2 Chăn nuôi

Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn Thành phố có xu hướng giảm xuống so với cùng kỳ (đạt 97,36%), nguyên nhân chủ yếu do sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2021 giảm 3,2% so với cùng kỳ

- Đàn trâu 6 tháng đầu năm 2021 ước tính có 4.930 con, ổn định so với thời điểm cùng kỳ, trong đó đàn trâu nuôi tập trung chủ yếu ở huyện Củ Chi

- Đàn bò có 130.537 con, trong đó đàn bò sữa có 87.515 con, tăng 0,2%

so với cùng kỳ và chiếm 67,04% trong tổng đàn bò của Thành phố

- Đàn lợn 226.977 con, giảm 7,6% so với cùng kỳ; trong đó đàn lợn thịt

có 134.607 con, chiếm 59,3% tổng đàn Theo ước tính, 6 tháng đầu năm sản lượng thịt lợn đạt 33.150 tấn, đạt 99,82% so với cùng kỳ Mặc dù, dịch tả lợn Châu Phi đã được khống chế, nhưng hậu quả của dịch bệnh đã khiến nguồn cung lợn giống sụt giảm nghiêm trọng, đẩy giá lợn giống lên cao làm hạn chế đến việc tái đàn của các hộ chăn nuôi, đặc biệt là các hộ chăn nuôi nhỏ, lẻ Bên cạnh

Trang 19

đó giá thức ăn chăn nuôi tăng cao liên tục làm người chăn nuôi hết sức khó khăn, e ngại tái đàn

- Đàn gia cầm ước tính có 394,6 nghìn con, giảm 2.9% so với cùng kỳ; trong đó 85.2% là đàn gà với 336,2 nghìn con

Trong 6 tháng đầu năm không phát hiện dịch bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng, PRRS tại các hộ chăn nuôi Tình hình dịch tễ ở đàn gia súc, gia cầm tương đối ổn định

2 Lâm nghiệp

Tổng diện tích đất có rừng là 36.770 ha Tỉ lệ che phủ rừng đạt 17,55% Tổng số gỗ khai thác trong 6 tháng đầu năm ước đạt 4.280 m3, giảm 4,8% so với cùng kỳ Sản lượng củi khai thác 950 ster, giảm 3,8% so với cùng kỳ

Công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng: Đã tổ chức

676 lượt tuần tra, kiểm tra rừng và phòng cháy chữa cháy rừng Tuyên truyền vận động nhân dân về công tác bảo vệ, phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng

và bảo vệ động vật hoang dã với 1.166 lượt cho 7.357 người

3 Thủy sản

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng thủy sản ước thực hiện 27.311,8 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, sản lượng cá ước đạt 9.300,3 tấn tương đương cùng kỳ; sản lượng tôm ước đạt 5.833,9 tấn, tăng 1,4%

so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thủy sản khác ước đạt 12.177,7 tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước

Sản lượng thủy sản khai thác 6 tháng ước thực hiện 8.304,4 tấn, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, sản lượng khai thác thủy sản biển ước đạt 6.815,0 tấn, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng khai thác thủy sản nội địa ước đạt 1.489,4 tấn, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước

Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng ước đạt 19.007,4 tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, sản lượng cá ước đạt 4.223,0 tấn; sản lượng tôm ước đạt 4.618,0 tấn tăng 5,5% so 6 tháng năm trước do diện tích nuôi tăng, giá tôm cao nên người chăn nuôi thả nuôi nhiều hơn năm trước; sản lượng thủy sản khác ước đạt 10.166,5 tấn

Trang 20

Tình hình thả nuôi tôm (tính đến ngày 10/06/2021)

+ Tôm sú: Hiện có 301 lượt hộ thả nuôi với 80,6 triệu con giống trên diện tích 3.313,4 ha Diện tích thả nuôi tương đương cùng kỳ và số lượng con giống tăng 1,4%

+ Tôm thẻ chân trắng: Có 848 lượt hộ thả nuôi với 308,4 triệu con giống trên diện tích 691,5 ha Cụ thể như sau:

Hiện nay tình hình dịch bệnh trên tôm (chủ yếu bệnh đốm trắng) tại huyện Cần Giờ đang gây thiệt hại cho hộ nuôi tôm Tính từ đầu năm có 32 hộ nuôi có tôm bệnh trên diện tích 15,63 ha, số lượng con giống thiệt hại là 6,4 triệu con Toàn bộ diện tích bị thiệt hại được xử lý dập bệnh bằng thuốc của quỹ phòng ngừa dịch bệnh với 2.349 kg thuốc TTCA

VII SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 6 năm 2021 ước tính giảm 5,3% so với tháng trước Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 5,5%; sản xuất và phân phối điện giảm 2,0%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 0,3%

Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất toàn ngành công

nghiệp trên địa bàn thành phố có dấu hiệu hồi phục, tăng 5,9% so với cùng kỳ

năm trước tuy bị tác động của dịch COVID-19 Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 6,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 2%; cung cấp nước

và xử lý rác thải giảm 0,5%

Trang 21

Đối với ngành công nghiệp cấp II, 6 tháng đầu năm 2021 có 23/30 ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng so với cùng kỳ năm trước Một số ngành có mức tăng cao trên 15% như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 42,1%; sản xuất kim loại tăng 34,3%; công nghệ chế biến, chế tạo khác tăng 28,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 24,1%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 20,2%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 16,2%; sản xuất sản phẩm điện tử 15,6% Một số ngành có chỉ số sản xuất giảm mạnh so với cùng kỳ như: sản xuất trang phục giảm 9,0%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 6,5%; thoát nước và xử lý rác thải giảm 14,5%.

Đối với 4 ngành công nghiệp trọng điểm, chỉ số sản xuất công nghiệp 6

tháng đầu năm 2021 tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, tăng hơn 0,3 điểm phần trăm so với chỉ số sản xuất chung của ngành công nghiệp Trong đó, ngành sản xuất hàng điện tử tăng 15,6%; ngành hóa dược tăng 2,6%, ngành lương thực thực phẩm và đồ uống tăng 1,2%

Đối với các ngành công nghiệp truyền thống, chỉ số sản xuất công nghiệp

6 tháng đầu năm 2021 giảm 2,0% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, ngành dệt tăng 11,1%; ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 1,3% và ngành sản xuất trang phục giảm 9%

Trang 22

Chỉ số sản xuất công nghiệp ngành truyền thống

Đơn vị tính: % Tháng 6/2021

so với tháng 5/2021

3 Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 88,8 101,3

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6 năm

2021 ước tính giảm 5,9% so với tháng trước và giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước Lũy kế 6 tháng năm 2021 chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp tăng 7,0% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao như: sản xuất kim loại tăng 45,6%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm gỗ, tre, nứa (trừ giường tủ, bàn, ghế) tăng 31,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 25,4%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa biết phân vào đâu tăng 23,5%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 16,5%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 16,0% Một số ngành có mức tiêu thụ giảm mạnh so với cùng kỳ như: sản xuất trang phục giảm 7,3%; sản xuất đồ uống giảm 5,9%; sản xuất thuốc, hóa dược

và dược liệu giảm 1,3%; công nghệ chế biến chế tạo khác giảm 0,4%

Trang 23

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng 6 ước

tính tăng 16,2% so cùng thời điểm năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho cao hơn mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp như Sản xuất da

và các sản phẩm có liên quan tăng 258,5%; in sao chép bản ghi các loại tăng 93,7%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 76,3%; sản xuất máy móc thiết bị chưa biết phân vào đâu tăng 73,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 64,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 52,0%; sản xuất sản phẩm từ khoáng kim loại khác tăng 31,9% Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng kỳ năm trước như sản xuất xe có động cơ giảm 50,5%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 46,8%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 18,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 14,6% và sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 12,3%

Nhìn chung, tình hình sản xuất công nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2021 tuy có dấu hiệu hồi phục nhưng đang gặp lực cản bởi làn sóng dịch COVID-19 lần thứ 4, thể hiện qua chỉ số IIP giảm dần (4 tháng tăng 9,7%; 5 tháng tăng 7,4% và 6 tháng tăng 5,9%) Để duy trì đà hồi phục với mức tăng không âm là

cả thách thức, đòi hỏi Nhà nước cần tiếp tục tăng cường những giải pháp, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ để ổn định việc làm,

mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu đồng thời triên khai nhanh việc tiêm vaccine trong những tháng còn lại

VIII THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ

8.1 Nội thương

Từ ngày 31/5/2021, toàn thành phố thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 15 và theo Chỉ thị 16 tại Gò Vấp và Phường Thạnh Lôc (Quận 12) nên một

số đơn vị kinh doanh dịch vụ, vui chơi, giải trí trên địa bàn tạm thời đóng cửa

để phòng chống dịch COVID-19 Lượng khách mua sắm tại các đơn vị kinh doanh thương mại cũng giảm đáng kể do lo sợ dịch bệnh COVID-19 nên doanh thu từ các hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn trong tháng 6 dự ước giảm ở tất các nhóm ngành so với tháng trước

Ngày đăng: 02/08/2022, 20:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w