bai tap nhom luat lao dong el21 9 diem bai tap nhom luat lao dong el21 9 diem bai tap nhom luat lao dong el21 9 diem bai tap nhom luat lao dong el21 9 diem bai tap nhom luat lao dong el21 9 diem bai tap nhom luat lao dong el21 9 diem đáp an môn luat lao động el21 ehou được 9 điểm chương trình ehou luật. Mọi người có thể tham khảo thêm. Xin cảm ơn
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO ELEARNING
BÀI KIỂM TRA TỰ LUẬN
Học phần: Luật Lao động
Hậu quả pháp lý của trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
trái pháp luật
Trang 2MỤC LỤC
Trang bìa 01
MỤC LỤC… 02
DANH MỤC VIẾT TẮT 04
LỜI MỞ ĐẦU… 05
NỘI DUNG 06
Khái quát về chấm dứt HĐLĐ và đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
06 Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
07 Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
07 Hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật 08
Đối với NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật 08 Đối với NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật 10 Hậu quả pháp lý đối với nhà nước và xã hội 12 Đánh giá chung về BLTĐ trong quy định về giải quyết hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
12 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
14 KẾT LUẬN 17
Trang 3DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 4NLĐ Người lao động
LỜI MỞ ĐẦU
Nhằm đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện khi xác lập hợp đồng lao động, pháp luật lao động quy định người lao động, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Ngay nay, việc các chủ thể của quan hệ lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao trái pháp luật xảy ra ngày càng nhiều Quan hệ lao động giữa người lao động làm công với người sử dụng lao động được
Trang 5hình thành trên cơ sở hợp đồng lao động và vì vậy quan hệ này sẽ chấm dứt khi hợp đồng lao động chấm dứt Thực tiễn đã chứng minh hợp đồng lao động tạo thuận lợi cho các bên trong quan hệ lao động khi giao kết, thực hiện công việc theo thỏa thuận
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi một bên không còn muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động do ý chí của họ đòi hỏi pháp luật phải
có những quy định chặt chẽ, cụ thể, bởi hệ quả của nó đối với các bên và xã hội là không nhỏ Hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động sẽ giải phóng các chủ thể khỏi những quyền và nghĩa vụ đã từng ràng buộc họ trước đó Hành vi này được coi là biện pháp hữu hiệu bảo vệ các bên của quan hệ lao động khi có sự vi phạm cam kết trong hợp đồng, vi phạm pháp luật từ phía bên kia hay các trường hợp pháp luật quy định Bảo vệ người lao động chống lại tình trạng bị chấm dứt hợp đồng lao động một cách tùy tiện và đảm bảo lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong các chuẩn mực hành lang pháp lý của nhà nước Đảm bảo quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động còn là yếu tố quan trọng góp phần cân bằng mức độ linh hoạt, năng động của thị trường lao động hiện nay
Với mong muốn tìm hiểu những quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hiện nay, hậu quả pháp lý giữa người lao động với người sử dụng lao động khi thực hiện hành vi tự ý chấm dứt hợp đồng lao động
trái pháp luật, nên nhóm học tập chọn đề bài số 09 “Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật” để nghiên cứu với mục
đích làm rõ một số vấn đề về hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hiện nay đối với người lao động và người sử dụng lao động
NỘI DUNG
1 Khái quát về chấm dứt HĐLĐ và đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
Chấm dứt HĐLĐ là sự kiện pháp lý rất quan trọng, bởi hậu quả pháp lí của nó là sự kết thúc quan hệ lao động, nó ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ và
Trang 6NLĐ sau khi quan hệ lao động chấm dứt Chấm dứt HĐLĐ là sự kiện pháp lí mà một hoặc cả hai bên không tiếp tục thực hiện HĐLĐ, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của hai bên đã thỏa thuận trong HĐLĐ Dựa trên tính hợp pháp của sự kiện chấm dứt có chấm dứt HĐLĐ hợp pháp và chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật Dựa trên cơ
sở ý chí và biểu lộ ý chí thì có trường hợp chấm dứt HĐLĐ do ý chí hai bên, ý chí người thứ ba và chấm dứt HĐLĐ do ý chí một bên- tức là đơn phương chấm dứt HĐLĐ Chấm dứt HĐLĐ đơn phương là những trường hợp chấm dứt chỉ phụ thuộc vào ý chí của một chủ thể, nhưng được pháp luật bảo đảm và thực hiện Như vậy trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn của NSDLĐ hoặc NLĐ trái với những quy định của pháp luật về căn cứ, thủ tục chấm dứt… Theo quy định, các trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật bao gồm:
- NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
- NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
Điều 39 Bộ luật lao động 2019 quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật như sau:
Điều 39 Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này.
Theo đó, khi một trong các bên chấm dứt hợp đồng lao động khi không thuộc trường hợp có quyền chấm dứt hợp đồng lao động hoặc thuộc vào trường hợp không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì việc chấm dứt đó được xem là trái pháp luật
2 Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
Khoản 2 Điều 35 Bộ luật lao động 2019 quy định người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của
Bộ luật lao động;
Trang 7Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật lao động;
Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật lao động;
Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật lao động, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật lao động làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Như vậy, nếu thuộc một trong bảy trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ nêu trên, người lao động không vi phạm vào quy định chấm dứt hợp đồng trái luật
3 Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
Khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động 2019 quy định người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:
Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc;
Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị trong thời gian quy định mà khả năng lao động chưa hồi phục Khi sức khỏe bình phục, người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;
Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng;
Trang 8Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
Người lao động tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng từ 05 ngày liên tục trở lên; Người lao động cung cấp không trung thực thông tin cá nhân khi ký hợp đồng làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng.
Như vậy, nếu thuộc một trong bảy trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ nêu trên, doanh nghiệp không vi phạm vào quy định chấm dứt hợp đồng trái luật
4 Hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
Căn cứ quy định tại Điều 39 Bộ luật lao động 2019 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021) thì đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) trái pháp luật là trường hợp chấm dứt HĐLĐ không đúng quy định tại các Điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này
Trường hợp NSDLĐ và NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật sẽ chịu những hậu quả pháp lý sau:
Đối với NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
Pháp luật lao động luôn bảo vệ NLĐ, song sự bảo vệ đó luôn đặt trong mối quan hệ tương đương với lợi ích hợp pháp của NSDLĐ NLĐ cũng phải gánh chịu những hậu quả pháp lí nhất định khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
Căn cứ quy định tại Điều 40 Bộ luật lao động 2019 thì NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật sẽ:
Không được trợ cấp thôi việc
Phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương theo HĐLĐ và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo HĐLĐ trong những ngày không báo trước
Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của
Bộ luật lao động
Theo đó, chi phí đào tạo theo quy định tại Điều 62 Bộ luật lao động bao gồm:
Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác
Trang 9hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người học trong thời gian đi học Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian đào tạo
Theo như nội dung quy định trên, người lao động sẽ không được trợ cấp thôi việc
và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động
Trường hợp người lao động vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước và phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động
Trong quan hệ lao động, NLĐ phải chịu sự điều hành và quản lý của NSDLĐ, dễ dẫn tới sự bóc lột sức lao động của NLĐ từ phía NSDLĐ Vì vậy, việc buộc NLĐ phải trở về làm việc với NSDLĐ là khó có thể chấp nhận được vì nó không những không cải thiện được quan hệ xã hội cũ đã bị phá vỡ mà còn có thể gây ra những bất lợi cho NLĐ trong quá trình làm việc vì mâu thuẫn giữa các bên đã trở nên gay gắt từ trước Ngoài ra, vấn đề tìm NLĐ để thay thế không phải là vấn đề quá phức tạp đối với NSDLĐ trong thị trường lao động nước ta hiện nay nên cũng không nhất thiết phải ràng buộc NLĐ phải quay trở về làm việc Quy định này góp phần bảo vệ cho lợi ích chính đáng của NLĐ trong vấn đề việc làm, đảm bảo quyền tự
do của NLĐ trong quá trình tìm việc làm mới, từ đó đảm bảo thu nhập ổn định cho họ
Đối với NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật
Đối với NSDLĐ, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đồng trái pháp luật là hành vi tự ý phá vỡ quan hệ lao động trái ý muốn của NLĐ, vi phạm các quy định của pháp luật Nó làm NLĐ mất việc làm, mất thu nhập, ảnh hưởng đến cuộc sống của họ và gia đình
Căn cứ quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động 2019 thì NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật sẽ:
– Phải nhận NLĐ trở lại làm việc theo HĐLĐ đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày NLĐ
Trang 10không được làm việc và phải trả thêm cho NLĐ một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ
Sau khi được nhận lại làm việc, NLĐ hoàn trả cho NSDLĐ các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của NSDLĐ
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong HĐLĐ mà NLĐ vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung HĐLĐ
Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo HĐLĐ trong những ngày không báo trước
– Trường hợp NLĐ không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả như điểm trên NSDLĐ phải trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ để chấm dứt HĐLĐ
– Trường hợp NSDLĐ không muốn nhận lại NLĐ và NLĐ đồng ý thì ngoài khoản tiền NSDLĐ phải trả tại điểm đầu tiên và trợ cấp thôi việc, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho NLĐ nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ để chấm dứt HĐLĐ
Như vậy, khi NSDLĐ thực hiện hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) trái pháp luật sẽ dẫn việc quan hệ lao động bị chấm dứt trái pháp luật và
do căn cứ chấm dứt là trái pháp luật nên hậu quả pháp lý của hành vi này là quan hệ lao động phải được khôi phục lại, tức là NSDLĐ sẽ phải tiếp tục HĐLĐ với NLĐ Ngoài việc khôi phục lại quan hệ lao động, NSDLĐ còn phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi về vật chất đối với hành vi trái pháp luật của mình, đó là bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần đối với NLĐ khi bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, những thiệt hại đó gồm:
– Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày NLĐ không được làm việc, đó là thiệt hại thực tế đối với NLĐ xuất phát từ hành vi trái pháp luật của NSDLĐ Ngoài ra, nếu NSDLĐ còn vi phạm về thời hạn thông báo thì còn phải bồi thường cho NLĐ khoản tiền lương của họ trong những ngày không báo trước – Ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng, đây là khoản tiền bồi thường về mặt tinh thần đối với NLĐ
Tuy bắt buộc NSDLĐ phải nhận NLĐ trở lại làm việc nhưng quan hệ lao động là một mối quan hệ cần có sự hợp tác từ cả hai bên chủ thể, việc một bên trong quan
Trang 11hệ đã thể hiện ý chí muốn chấm dứt quan hệ thì việc tiếp tục quan hệ là rất khó để thực hiện Vì vậy pháp luật đã đưa ra lựa chọn cho NLĐ về việc tiếp tục thực hiện quan hệ lao động hay không và NSDLĐ bắt buộc phải chấp nhận những hậu quả pháp lý đối với từng trường hợp NLĐ lựa chọn, cụ thể:
*Trường hợp NLĐ không muốn tiếp tục làm việc cho NSDLĐ: khi NLĐ không muốn tiếp tục làm việc cho NSDLĐ, luật pháp không ép buộc NLĐ và NSDLĐ phải khôi phục lại quan hệ lao động Lúc này,ngoài khoản tiền phải trả như điểm trên NSDLĐ phải trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ để chấm dứt HĐLĐ
* Trường hợp NSDLĐ không muốn nhận lại NLĐ và NLĐ đồng ý: việc thực hiện hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng đã thể hiện ý chí của NSDLĐ không muốn tiếp tục quan hệ lao động Vì vậy khi pháp luật bắt buộc NSDLĐ khôi phục lại quan hệ lao động, NSDLĐ có thể không đồng ý nhận lại NLĐ, tuy nhiên việc tiếp tục quan hệ lao động hay không lúc này không còn phụ thuộc vào ý chí của NSDLĐ mà phụ thuộc vào ý chí của NLĐ Nếu NSDLĐ không muốn nhận lại NLĐ nhưng NLĐ không đồng ý thì NSDLĐ vẫn bắt buộc phải nhận lại NLĐ và bồi thường theo quy định, nhưng nếu NLĐ đồng ý thì thì ngoài khoản tiền NSDLĐ phải trả tại điểm đầu tiên và trợ cấp thôi việc, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho NLĐ nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ để chấm dứt HĐLĐ
* Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong HĐLĐ mà NLĐ vẫn muốn làm việc: trong trường hợp này, dù không có công việc trong HĐLĐ cho NLĐ làm nữa, NSDLĐ cũng vẫn bắt buộc phải nhận lại NLĐ do NLĐ vẫn muốn tiếp tục làm việc, thể hiện quyền được lựa chọn của NLĐ NSDLĐ phải sửa đổi, bổ sung HĐLĐ để nhận lại NLĐ làm việc và phải trả khoản bồi thường theo quy định Tóm lại, khi thực hiện hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, NSDLĐ sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi từ hành vi của mình và việc quan hệ lao động có chấm dứt hay không sẽ phụ thuộc vào quyết định của NLĐ
Quy định trên của pháp luật đã đảm bảo được trách nhiệm của NSDLĐ khi có hành
vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật đối với NLĐ: đó là sự khôi phục trạng thái của quan hệ lao động, bù đắp sự thiệt hại cho NLĐ Nếu đặt trong sự so sánh với hậu quả pháp lý mà NLĐ phải gánh chịu khi đơn phương chấm dứt hợp