Đột quỵ não là một trong những bệnh có khả năng dự phòng hiệuquả, nhận thức được các yếu tố nguy cơ đồng thời nhận diện sớm được các dấu hiệuđột quỵ não và điều trị kịp thời các trường h
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) đột quỵ não hay còn gọi là tai biến mạch máu não được định nghĩa như sau: Đột quỵ não là một hội chứng lâm sàng được đặc trưng bởi sự khởi phát đột ngột của các triệu chứng biểu hiện tổn thương của não (thường là khu trú), tồn tại trên 24 giờ hoặc người bệnh tử vong trước 24 giờ Những triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp với vùng não do động mạch bị tổn thương phân bố, loại trừ nguyên nhân chấn thương.
Tổ chức y tế thế giới cũng định nghĩa, đột quỵ não là khi người bệnh có biểu hiện rối loạn nặng chức năng thần kinh như hôn mê, liệt nửa người, nuốt sặc , xuất hiện nhanh, đột ngột Các rối loạn chức năng này tồn tại quá 24h giờ Đột quỵ não có thể liên quan tới thời tiết bởi gặp rải rác quanh năm nhưng tập trung vào vào các tháng 6, 10, 11, 2 và 3, đặc biệt trong những dịp chuyển mùa Bệnh thường gặp nhiều về ban ngày chiếm khoảng 73,5%.
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là các thiếu sót thần kinh với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa xảy ra đột ngột do mạch máu não (động mạch, mao mạch và hiếm hơn là tĩnh mạch) bị vỡ hoặc bị tắc mà không do chấn thương sọ não [1]. Đột quỵ não hay TBMMN là tình trạng rối loạn khu trú chức năng não tiến triển nhanh, trên lâm sàng thường do mạch máu nuôi dưỡng một vùng bị tắc hoặc vỡ làm vùng não đó bị tổn thương hậu quả là vùng cơ thể do vùng não đó chi phối bị rối loạn hoạt động [1].
Căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh, đột quỵ não được chia ra 2 thể nhồi máu não và xuất huyết não.
Một cơn nhồi máu não có thể xảy ra theo hai cách:
• Đột quỵ do nghẽn mạch
Nếu máu đông hình thành ở một nơi nào đó trong cơ thể (thường là ở tim), nó có thể di chuyển theo dòng máu đến não Một khi tới não, cục máu đông di chuyển đến mạch máu có kích thước nhỏ hơn nó Nó sẽ mắc kẹt ở đó và khiến máu không đi qua được Các loại đột quỵ này được gọi là đột quỵ do nghẽn mạch.
• Đột quỵ do máu đông tại chỗ
Khi máu chảy qua động mạch, nó có thể để lại mảng cholesterol dính vào các thành bên trong của động mạch Qua thời gian, những mảng bám có thể tăng kích cỡ và sẽ làm hẹp hoặc tắc động mạch và ngăn máu đi qua Trong trường hợp đột quỵ, các mảng bám thường ảnh hưởng đến các động mạch lớn ở cổ đưamáu đến não Đột quỵ bị gây ra theo cách này được gọi là đột quỵ do máu đông tại chỗ.
Là sự vỡ mạch tại thành mạch trong não nó làm máu bị rò rỉ vào trong não, không cung cấp được ô-xy và chất dinh dưỡng Đột quỵ chảy máu có thể bị gây ra bởi nhiều chứng rối loạn ảnh hưởng đến mạch máu, bao gồm tình trạng cao huyết áp kéo dài và chứng phình động mạch não.
Phình động mạch là điểm yếu hoặc mỏng trên thành mạch máu Các điểm yếu gây ra phình động mạch thường có từ lúc sinh Phình động mạch phát triển trong một số năm và thường không gây ra vấn đề gì có thể phát hiện được cho đến khi chúng vỡ ra.
Dị dạng thông động tĩnh mạch (arteriovenuous malformation - AVM) là một khối lộn xộn các mạch máu (động mạch và tĩnh mạch) Nó có thể xảy ra bất cứ nơi nào trong cơ thể bao gồm cả não AVM thường có từ lúc sinh Nó có thể là do bạn lớn lên, các mạch máu to lên và yếu đi Nếu dị dạng động tĩnh mạch nằm trong não và các thành mạch máu vỡ, bạn sẽ bị chảy máu não.
Hình 1.1: Hai th ể độ t qu ỵ não
Nguyên nhân
+ Xơ vữa động mạch , thường gặp nhất khi trên 50 tuổi , nếu có đái tháo đường , hoặc tăng huyết áp , nghiện thuốc lá thì có thể tuổi dưới 50 Hậu quả là gây hẹp mạch tại não (hẹp trên 80% mới có triệu chứng ) và có thể gây lấp mạch từ mảng xơ vữa của các động mạch lớn.
+ Viêm động mạch : viêm động mạch hạt của Wegner , giang mai, lao, bệnh Takayashu, bệnh tạo keo, bệnh Horton
+ Bóc tách động mạch cảnh, động mạch chủ bụng ( sống lưng), đáy não + Các bệnh máu : tăng hồng cầu, hồng cầu hình liềm, thiếu hồng cầu nặng + U não chèn ép các mạch não
+ Bệnh Moyamoya gây tắc mạch ở đa giác Willis làm tân sinh nhiều mạch nhỏ
Co mạch sau xuất huyết dưới nhện
Co mạch hồi phục nguyên nhân không rõ , đau nửa đầu , sang chấn sọ não, sản giật, hạ hay tăng huyết áp quá mức
+ Nguồn gốc từ xơ vữa : nơi phân đôi động mạch cảnh chung thành động mạch cảnh trong và ngoài ( 50%) , vòi cảnh (20%) , động mạch sống lưng khúc tận, quai động mạch chủ
+ Nguồn gốc từ tim: thường gặp , khoảng 20% , dưới 45 tuổi ( tim bẩm sinh) , hẹp hai lá, thấp tim, van giả, sa van hai lá, loạn nhịp tim chủ yếu là rung nhĩ, hội chứng yếu nút xoang, viêm nội tâm mạch nhiễm khuẩn cấp hoặc bán cấp , nhồi máu cơ tim giai đoạn cấp Ngoài ra còn có ung thư ( phổi), động kinh, thuốc chống thụ thai
- Tăng huyết áp, thường gây xuất huyết ở động mạch não giữa, nhánh sâu.
- Xuất huyết nguyên nhân không xác đinh.
- Vỡ túi phồng động mạch : thường gặp ở chỗ phân nhánh của mạch máu lớn vùng đáy não gây chảy máu vào khoang đáy dưới nhện Tỉ lệ cao ở trên vòng Willis , động mạch cảnh trong 41%, động mạch não trước 34%, nơi xuất phát động mach thông sau 25%,, động mạch não giữa 20%, động mạch sống nền 20%, khúc trên của động mạch cảnh 14% và ở xoang hang 2%.
- Vỡ tỳi phồng động tĩnh mạch: chủ yếu ở ẵ bỏn cầu nóo sau, nam nhiều hơn nữ, thường gây tụ máu và ít gây xuất huyết dưới nhện
- Các bệnh gây cháy máu: bệnh bạch cầu , tiểu sợi huyết, bệnh ưa chảy máu
- Xuất huyết vào tổ chức não tiên phát và thứ phát do u não
- Xuất huyết thứ phát sau nhồi máu não
- Viêm nhiễm động tĩnh mạch
- Các nguyên nhân hiếm gặp sau chụp mạch não, thuốc giãn mạch , gắng sức thủ thuật thăm dò tiết niệu, biến chứng rò động- tĩnh mạch xoang hang, thiếu dưỡng khí máu, bán đầu thống, dị dạng, viêm não thể vùi.
Biểu hiện
1.4.1 Các tri ệ u ch ứ ng c ả nh báo độ t qu ỵ
Nếu tự nhiên đang trong tình trạng sức khỏe bình thường mà thấy các triệu chứng sau thì có khả năng rất cao bạn đang bị đột quỵ:
Hình 1.2: Các bi ể u hi ệ n độ t qu ỵ não
1.4.2 Các tri ệ u ch ứ ng th ầ n kinh khu trú
- Các triệu chứng vận động
*Liệt hoặc biểu hiện vụng về nửa người hoặc một phần cơ thể.
*Nuốt khó (cần có thêm triệu chứng khác kết hợp).
*Khó khăn trong việc hiểu hoặc diễn đạt bằng lời nói Khó khăn khi đọc, viết.
*Khó khăn trong tính toán Nói khó (cần có thêm triệu chứng khác kết hợp). Các triệu chứng cảm giác, giác quan:
* Cảm giác thân thể (rối loạn cảm giác từng phần hoặc toàn bộ nửa người).
* Thị giác (mất thị lực một hoặc cả hai bên mắt, bán manh nhìn đôi kết hợp với triệu chứng khác).
- Các triệu chứng tiền đình: Cảm giác chóng mặt quay cuồng, nôn hoặc buồn nôn
- Các triệu chứng tư thế hoặc nhận thức: Khó khăn trong việc mặc quần áo, chải tóc, đánh răng, rối loạn định hướng không gian, gặp khó khăn trong việc mô phỏng lại
- Các triệu chứng thần kinh khác: Rối loạn ý thức, rối loạn cơ vòng, rối loạn tâm thần, hội chứng màng não.
Các xét nghiệm cận lâm sàng có giá trị trong chuẩn đoán như chụp cộng hưởng từ, chụp CT cắt lớp vi tính, chụp động mạch não, các phương pháp chẩn đoán đồng vị phóng xạ, siêu âm Doppler, xét nghiệm dịch não tủy…
Hình 1.3: Hình ả nh CT c ủ a ng ườ i b ệ nh độ t qu ỵ não
- Bệnh xảy ra ở tuổi trên 50 trở lên.
- Người bệnh có biểu hiện xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tiểu đường, có bệnh tim mạch.
- Tắm lạnh, căng thẳng tâm lý, hoặc thể xác, sau uống bia-rượu.
Điều trị
Mục đích của điều trị đột quỵ não là giảm tỷ lệ tử vong và hạn chế tối đa mức độ tàn phế Để đạt được tiêu chí trên, cần tuân theo các nguyên tắc chung là: điều trị cấp cứu và tối ưu hoá tình trạng thần kinh, hạn chế lan rộng ổ tổn thương; bảo đảm tưới máu não; phòng ngừa biến chứng; phục hồi chức năng và phòng ngừa tái phát. Đối với đột quỵ não có hai thể chính là chảy máu não và nhồi máu não Điều trị đặc hiệu cho mỗi thể khác nhau nhưng phác đồ điều trị tổng hợp chung cho cả hai thể của đột quỵ não giống nhau: Điều trị tổng hợp: nhằm duy trì chức năng sống, chống phù não Chiến thuật chống phù não tích cực bao gồm: kê đầu giường cao 25- 30 độ, hạn chế kích thích, hạn chế dịch truyền, tăng thông khí, phẫu thuật giảm ép, dẫn lưu và dùng thuốc
Ngoài ra, cần chú ý duy trì đường máu hợp lý; lưu thông đường thở cho bệnh nhân có rối loạn chức năng hô hấp, thiếu ôxy vùng tranh tối - tranh sáng càng rõ rệt, cần cho thở ôxy và làm thông thoáng đường thở, hút đờm rãi và chống nhiễm trùng phế quản ngay lập tức, triệt để Nên tránh cho ăn đường miệng sau đó hoặc để sau 2-3 ngày, phòng viêm phổi do trào ngược; nuôi dưỡng qua đường sonde dạ dày bằng các chất dinh dưỡng lỏng, giúp tăng cường chuyển hoá cơ thể, tránh viêm dạ dày, ruột. Điều trị đặc hiệu (chủ yếu cho thể đột quỵ thiếu máu não): bằng các thuốc tiêu huyết khối và điều trị dự phòng tái phát bằng các thuốc chống kết tập tiểu cầu Các tác nhân này làm giảm kết tập tiểu cầu, làm giảm sự lan rộng của huyết khối động mạch, tiêu biểu là aspirin Đây là thuốc cơ bản để điều trị dự phòng và điều trị tắc mạch, nhưng có khả năng làm tăng nguy cơ chảy máu Dùng thuốc chống đông làm giảm cục máu đông và dùng thuốc điều trị tiêu cục huyết khối Tuy nhiên việc sử dụng các loại thuốc này đòi hỏi bệnh nhân đến viện sớm trước 3 – 4,5 giờ và tuân theo những chỉ định rất chặt chẽ, được thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên sâu có phương tiện theo dõi các xét nghiệm tin cậy, phòng tai biến chảy máu ồ ạt.
Các thuốc bảo vệ tế bào thần kinh cũng được các nghiên cứu cho thấy có vài cơ chế cùng tồn tại song song, mục đích giúp đỡ chuyển hoá ở mô bị rối loạn và có nguy cơ bị rối loạn dẫn đến phá huỷ tế bào thứ phát; dùng các thuốc tăng dinh dưỡng thần kinh
Các kỹ thuật điều trị đột quỵ - dự phòng đột quỵ: kỹ thuật tạo hình động mạch não qua da; giải phóng, làm tiêu cục tắc huyết khối gây tắc mạch; nong rộng lòng mạch ở các động mạch bị hẹp; điều trị các phình mạch, dị dạng động -tĩnh mạch bằng kỹ thuật gây tắc mạch hoặc nút mạch bằng coil kim loại; kỹ thuật khai thông động mạch; kỹ thuật lấy bỏ các cục máu tụ, giảm ép não bằng phẫu thuật; kỹ thuật điều trị các u mạch, dị dạng mạch bằng phẫu thuật định vị.
Người bệnh đột quỵ não càng được điều trị sớm càng tốt Tốt nhất là được cấp cứu trong 6h đầu sau cơn đột quỵ, việc điều trị có thể chia ra làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn cấp(Hồi sức toàn diện): Trong giai đoạn này người bệnh cần được điều trị để đảm bảo duy trì các chức năng sống cơ bản như hô hấp, tuần hoàn…
Tiếp đó là điều trị đặc hiệu tùy theo nguyên nhân và loại đột quỵ: Thuốc tiêu huyết khối với trường hợp đột quỵ do tắc mạch và không có nguy cơ xuất huyết. Phẫu thuật lấy máu tụ trong một số trường hợp xuất huyết não.
- Giai đoạn ổn định: Điều trị chăm sóc nhằm phục hồi các chức năng như vận động, ngôn ngữ
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh
Trong thực tế có rất nhiều yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh
- Lứa tuổi: tuổi cao là yếu tố nguy cơ cao nhất trong đột qụy
- Giới: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ trong mọi nhóm tuổi Tỷ lệ nam/nữ tuỳ theo từng tác giả, từng quốc gia có thể khác nhau
- Chủng tộc: người da đen có tỷ lệ mắc đột qụy não cao nhất, sau đó đến người da vàng và cuối cùng là người da trắng.
- Di truyền: đột qụy não nằm trong phổ lâm sàng của CADASIL biểu hiện là nhồi máu dưới vỏ và bệnh chất trắng não.
- Xơ vữa động mạch não:
+ Xơ cứng động mạch: gồm những thay đổi làm dày và cứng thành các động mạch lớn và vừa, những động mạch đàn hồi và thành có lớp cơ.
+ Xơ vữa động mạch: là một dạng của xơ cứng động mạch, đặc trưng bởi các ổ hoại tử ở lớp áo trong (intima) và các sản phẩm đạm, mỡ đọng trong thành động mạch đã bị xơ cứng.
- Tăng huyết áp: tăng huyết áp tâm thu, tăng huyết áp tâm trương hoặc tăng huyết áp tâm thu đơn độc đều là nguy cơ của đột quỵ
- Bệnh tim mạch: ở bệnh nhân bị viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, hẹp van hai lá, đặc biệt là hẹp hở van hai lá thường tạo cục máu đông, khi nó di trú khỏi tim vào động mạch chủ và lên động mạch não gây tắc động mạch não Điều kiện thuận lợi để những cục fibrine này rời khỏi tim đi lên não là khi có rối loạn nhịp tim như: rung nhĩ, loạn nhịp hoàn toàn.
- Tiểu đường: tiểu đường là yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch não, tim và ngoại vi Bệnh nhân tiểu đường có nguy cơ mắc đột qụy cao gấp 2,5 - 4 lần nhóm người có đường máu bình thường.
- Hút thuốc: làm nguy cơ đột quỵ tăng gấp 3 lần.
- Tiền sử đột quỵ và THA: các bệnh nhân đã bị đột quỵ thì 3 - 22% sẽ bị tái phát trong năm đầu tiên và 10 - 53% bị tái phát trong vòng 5 năm 30% bệnh nhân có tiền sử THA sẽ bị đột quỵ trong 5 năm đầu.
- Lạm dụng thuốc, nghiện rượu, ít vận động, béo phì…
Cách phòng ngừa đột quỵ
Đột quỵ rất nguy hiểm và ảnh hưởng đến đến cuộc sống của người bệnh sau này rất nhiều nên việc phòng ngừa đột quỵ là rất quan trọng. Để phòng ngừa và giảm thiểu tối đa các tai biến, tử vong do đột quỵ gây ra người bệnh cần thực hiện tốt các việc sau:
- Yếu tố thời tiết: Đây là một yếu tố ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe khi thời tiết thay đổi, không nên để cơ thể tiếp xúc với sự thay đổi nhiệt độ đột ngột của môi trường Không nên tắm khuya hoặc ở nơi có gió lùa, nhất là với người cao huyết áp Cũng không nên tắm bằng nước quá nóng hoặc quá lạnh, tốt nhất nên tắm bằng nước ấm.
- Các yếu tố gây trạng thái căng thẳng về mặt tinh thần hoặc các xúc động mạnh, các lo lắng cũng làm tăng nguy cơ đột quỵ.
- Thực hiện chế độ sinh hoạt, ăn uống, nghỉ ngơi điều độ sẽ làm giảm nguy cơ bị đột quỵ Ngoài ra, việc xây dựng cho mình một chế độ ăn hợp lý như ăn nhiều rau quả, kiêng rượu, bia và các chất kích thích cũng có thể làm giảm nguy cơ bị bệnh.
- Vận động hợp lý cũng có thể giảm nguy cơ bị đột quỵ, tuy nhiên không nên vận động thể lực quá mức như mang vác nặng, chạy nhanh bởi như thế lại làm cho các mạch máu làm việc quá sức và nguy cơ bị bệnh sẽ tăng lên [10]. Đối với người bệnh bên cạnh việc đề phòng các yếu tố nguy cơ như đã được nêu ở trên, việc tuân thủ theo chế độ dùng thuốc, theo dõi và tái khám trong việc kiểm soát đột quỵ đạt hiệu quả [2], [5].
CƠ SỞ THỰC TIỄN
Kiến thức về đột quỵ của người dân
2.1.1 Trên th ế gi ớ i: Ở Mỹ khảo sát kiến thức về các yếu tố nguy cơ đột quỵ và các dấu hiệu cảnh báo ở người lớn cho thấy “Kiến thức về các yếu tố nguy cơ đột quỵ và các dấu hiệu cảnh báo là vừa phải” Một phần năm số người được hỏi không biết về bất kỳ yếu tố nguy cơ đột quỵ nào và gần như một phần ba không biết về bất kỳ dấu hiệu cảnh báo đột quỵ nào Kiến thức về đột quỵ là kém nhất trong số các nhóm có nguy cơ đột quỵ cao nhất [9].
Khoảng 795 000 người ở Hoa Kỳ bị đột quỵ mỗi năm Đột quỵ được xếp hạng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư tại Hoa Kỳ Trên toàn cầu, trong 4 thập kỷ qua, tỷ lệ mắc đột quỵ đã giảm 42% ở các nước thu nhập cao và tăng hơn 100% ở các nước thu nhập thấp và trung bình Tỷ lệ mắc đột quỵ ở các nước thu nhập thấp và trung bình hiện vượt quá tỷ lệ mắc ở các nước thu nhập cao [9] Đột quỵ là một nguyên nhân hàng đầu của suy giảm chức năng Đối với những bệnh nhân ≥ 65 tuổi,
6 tháng sau đột quỵ, 26% phụ thuộc vào hoạt động sinh hoạt hàng ngày và 46% bị thiếu hụt nhận thức Đột quỵ thay đổi cuộc sống không chỉ của những người bị đột quỵ mà cả gia đình và những người chăm sóc khác.
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2015) đột quỵ là nguyên nhân chính gây tử vong ở Việt Nam (21,7%) với tỷ lệ tử vong hàng năm là 150.000 (Health Grove, 2013).
Theo Lê Văn Thành và cộng sự, tỷ lệ hiện mắc trung bình hàng năm của tai biến mạch máu não là 416/100.000 dân, tỷ lệ mắc là 152/100.000 dân
Tại Bệnh viện Hữu nghị, qua chụp cắt lớp vi tính từ 1991 – 1995, Hoàng Đức Kiệt đã phát hiện được 467 trường hợp nhồi máu não và 649 trường hợp chảy máu não trong sọ Năm 1991, Khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai đã tiếp nhận điều trị 120 người bệnh bị tai biến mạch máu não [5].
Tác giả Đàm Duy Thiên( 1999 ) nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học đột quỵ não thời kỳ 1994 - 1999 tại quận Thanh Xuân, Hà Nội cho thấy, tỉ lệ hiện mắc là 82,18/ 100.000 dân, tỉ lệ mới mặc trung bình hàng năm là 22, 78/ 100.000 dân, tỉ lệ tử vong trung bình hàng năm là 9,28/ 100.000 dân Một số yếu tố nguy cơ hay gặp: Đột quỵ não tăng dần theo tuổi (trong đó nhóm tuổi trên 50 chiếm 86, 52 % , nam nhiều hơn nữ gấp 1,5 lần), tăng huyết áp 51,2%, vữa xơ động mạch 33,81% Đột quỵ não xảy ra quanh năm nhưng thường gặp vào những tháng thay đổi thời tiết và lạnh [6].
Năm 2007 - 2008, Trinh Viết Thắng đã nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của đột quỵ não tại tỉnh Khánh Hòa cho kết quả như sau tỉ lệ hiện mặc là 294,7/ 100.000 dân, tỉ lệ mới mặc là 96:210.000 dân, tỉ lệ tử vong là 43,8/ 100.000 dân và tỉ lệ tử vong trên mặc của đột quỵ não là 11, 2 % Một số yếu tố nguy cơ chiếm tỉ lệ cao là: tăng huyết áp 80,5 %, rối loạn lipid máu 32,8 %, đái tháo đường 32,8 %, hẹp động mạch cảnh 33,3%, nghiện rượu 23,4%, nghiện thuốc lá 29,9% Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua 14,3% , một số bệnh tim mạch gây đột quỵ não 10,7%
Tác giả Lê Văn Thính khi nghiên cứu 1.036 người bệnh tai biến mạch máu não trong mười năm (1981 – 1990), đã thấy tỷ lệ nhồi máu não là 76%
Theo Nguyễn Văn Đăng và cộng sự, tỷ lệ hiện mắc là 98,44/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc là 36/100.000 dân và tỷ lệ tử vong là 27/100.000 dân, tỷ lệ tai biến mạch máu não của nam / nữ là 1,48/1 [7].
Kể từ tháng 9 năm 1997 đến tháng 6 năm 2000, tại Khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai đã tiếp nhận khoảng 1.220 người bệnh tai biến mạch máu não, tuổi từ 11–89, trong đó tuổi từ 45 – 74 chiếm 67% các trường hợp Ước tính trong số những người còn sống sau đột quỵ não chỉ có khoảng 25- 30% tự phục vụ bản thân được, 20-25% đi lại khó khăn cần sự giúp đỡ của người khác trong sinh hoạt 15-25% phải phụ thuộc hoàn toàn [6,7].
Tỷ lệ di chứng nhẹ và vừa của tai biến mạch máu não là 68,42%, tỷ lệ di chứng nặng là 27,69%, trong đó di chứng về vận động chiếm 92,96% tổng số người bệnh liệt nửa người Tỷ lệ người tai biến mạch máu não đang sống tại cộng đồng có nhu cầu phục hồi chức năng là 94% [4].
Tuy nhiên ở nước ta cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến đột quỵ nhưng chưa tìm thấy nhiều đề tài làm về kiến thức của người dân về đột quỵ.
Người nhà người bệnh
Là người nhà, người thân của người bệnh khi phát hiện biểu hiện bất thường của người bệnh và đưa người bệnh vào viện điều trị.
Các dấu hiệu phát hiện bệnh đột quỵ não
Đột quỵ não có thể xảy ra với bất kỳ ai và để lại hậu quả nghiêm trọng Việc nhận biết được các dấu hiệu đột quỵ não sẽ giúp bạn phát hiện nhanh chóng và kịp thời đưa người bệnh đi cấp cứu trong thời gian “vàng”.
2.3.1 D ấ u hi ệ u độ t qu ỵ não là gì? Để nhận biết cơn đột quỵ não, bạn có thể dựa vào các dấu hiếu sau:
- Dấu hiệu ở thị lực: Thị lực giảm, nhìn mờ dần cả hai mắt hoặc một mắt.Đây là vấn đề thường gặp ở người bệnh đột quỵ não, xảy ra ở một hoặc cả hai bên mắt. Ngoài ra, người bệnh có thể thấy hoa mắt, chóng mặt, xuất hiện ảnh đôi, nguy hiểm nhất là mù tạm thời Tuy nhiên biểu hiện này không rõ ràng như các dấu hiệu yếu cơ mặt, yếu tay và các vấn đề về ngôn ngữ Chỉ có người bệnh khi nhận thấy mình có dấu hiệu này thì nên yêu cầu được cấp cứu ngay.
– Dấu hiệu ở mặt: Mặt có biểu hiện thiếu cân xứng, miệng méo, nhân trung hơi lệch qua một bên so với bình thường, nếp mũi má bên yếu bị rũ xuống Đặc biệt khi người bệnh nói hoặc cười thì sẽ thấy rõ dấu hiệu méo miệng và thiếu cân xứng trên mặt.
– Dấu hiệu yếu tay hoặc chân: Khi xảy ra đột quỵ, một triệu chứng hay gặp là một bên cánh tay hoặc chân (hoặc cả hai) đột ngột yếu đi, tê bì Tình trạng này thường ảnh hưởng đến các chi ở bên đối diện vùng não xảy ra đột quỵ Cảm giác của người bị đột quỵ là tay bị tê mỏi, khó cử động, khó thao tác, không nhấc chân lên được Bạn có thể kiểm tra bằng cách mở rộng cả hai cánh tay trong 10 giây Nếu một cánh tay bị rơi xuống thì có thể là chỉ báo yếu cơ - một dấu hiệu của bệnh.
– Dấu hiệu qua giọng nói: Người bị đột quỵ có thể gặp triệu chứng khó nói hoặc nói ngọng bất thường, môi lưỡi bị tê cứng, miệng mở khó, phải gắng sức thì mới nói được,trở nên khó khăn trong giao tiếp, khó nói, nói ngọng, nói lắp, líu lưỡi.Người bệnh đột quỵ khó có thể nhắc lại hoàn chỉnh một câu đơn giản Hãy tự kiểm tra bằng cách lặp đi lặp lại một cụm từ Bạn có bị nói líu, dùng từ sai hoặc không thể nói? Nếu điều này xảy ra thì nhiều khả năng bạn bị đột quỵ.
– Dấu hiệu qua nhận thức: Người bệnh có biểu hiện rối loạn trí nhớ, không nhận thức được, mắt mờ, tai ù không nghe rõ.
– Dấu hiệu ở thần kinh: Người bệnh cảm thấy nhức đầu dữ dội Đây là triệu chứng nặng và khá phổ biến của bệnh đột quỵ, nhất là người bệnh có tiền sử bị đau nửa đầu.
Ngoài ra, bạn có thể nhận biết sớm nguy cơ đột quỵ với quy tắc F.A.S.T:
1 Face (Khuôn m ặ t): Gương mặt có dấu hiệu mất cân đối khi cười, nhe răng hay nói chuyện Nếp mũi và một bên mặt bị xệ xuống
2 Arm (Tay) : Tay yếu và có dấu hiệu bị liệt, không thể giơ đều hai tay hoặc một bên tay không thể giơ lên được.
3 Speech (L ờ i nói): Nói lắp, nói không rõ lời, lời nói khó hiệu hoặc không nói được.
(Th ờ i nguy cơ đột quỵ cao, y tế sớm nhất. gian): Nếu xuất hiệu 3 dấu hiệu trên, cho thấy bệnh nhân có cần khẩn trương gọi xe cấp cứu, đưa bệnh nhân đến các cơ sở
Hình 2.1: Hình ả nh li ệ t m ặ t c ủ a ng ườ i độ t qu ỵ não 2.3.2 Các d ấ u hi ệ u khác
-Tự nhiên chóng mặt: Hệ thống tuần hoàn sẽ quá yếu Bộ não không nhận đủ oxy cần thiết Điều gặp nhiều khó khăn, nếu tim đó sẽ làm bạn luôn cảm thấy chóng mặt, thậm chí đau đầu Do đó bạn cần chú ý và đi chẩn đoán bệnh ngay khi có biểu hiện trên thường xuyên.
Nếu bạn bị chóng mặt, buồn nôn hoặc gặp khó khăn về đi lại thì bạn có thể nghĩ rằng mình bị say, song thực tế đó có thể là dấu hiệu của đột quỵ.
- Đau đầu nặng: Xuất hiện những cơn đau đầu không rõ nguyên nhân Người bệnh có thể đau nửa đầu bởi lưu lượng máu lên não bị gián đoạn sẽ khiến não bộ tổn thương và gây ra những cơn đau đầu dữ dội.Cơn đau đầu nặng, đột ngột là một triệu chứng hay gặp ở người bị đột quỵ.
- Yếu một bên cơ mặt: Yếu một bên cơ mặt, đột ngột có thể là dấu hiệu của đột quỵ Để kiểm tra, các nhân viên cấp cứu có thể yêu cầu bạn cười hoặc nhe răng. Nếu một bên mặt của bạn chùng xuống hoặc không cử động thì có thể bạn bị tình trạng này.
- Ở một số trường hợp, người bệnh bị ngất xỉu, không nhận thức được mọi việc xung quanh.
-Đột nhiên bị mất trí nhớ trong thời gian ngắn cũng có thể là dấu hiệu báo trước của cơn đột quỵ não.
- Khó thở hoặc tim đập nhanh: Một nghiên cứu về những khác biệt giới trong đột quỵ cho thấy phụ nữ dễ bị các triệu chứng khó thở hoặc tim đập nhanh khi đột quỵ.
Các biện pháp xử lý sớm cho người bị đột quỵ não
Khi phát hiện người thân hoặc người xung quanh có dấu hiệu đột quỵ não thì bạn cần thực hiện cấp cứu càng sớm càng tốt:
- Gọi cấp cứu 115, đồng thời cung cấp cho nhân viên y tế những thông tin về người bệnh như: tình trạng hiện tại, tiền sử bệnh nếu có,
- Trong thời gian chờ cấp cứu đặt người bệnh nằm yên ở tư thế nằm nghiêng,nên nghiêng về bên không bị liệt, đầu nâng cao 30 độ và nghiêng sang một bên (tránh chất nôn, đờm, chất tiết chảy vào khí quản), nới rộng quần áo, theo dõi nhịp thở, yêu cầu người bệnh hít thở sâu và thở ra chậm, nếu người bệnh còn tỉnh táo Trong trường hợp người bệnh ngừng tim thì tiến hành xoa bóp tim ngoài lồng ngực.
- Loại bỏ đờm rãi, vật thể lạ trong miệng tránh để tình trạng tắc đường thở Đề phòng người bệnh cắn vào lưỡi, cần dùng khăn vải quấn quanh một chiếc đũa hay cán muỗng đặt giữa hai hàm răng của bệnh nhân.
- Tuyệt đối không cho người bệnh uống thuốc hay ăn bất kỳ loại thức ăn gì, ngay cả thuốc làm giảm huyết áp (người THA) hoặc thuốc nâng huyết áp (người huyết áp thấp) hoặc thuốc đái tháo đường (người bị đái tháo đường).
- Không thực hiện các biện pháp như châm cứu, cạo gió, bấm huyệt cho người bệnh đột quỵ , không dùng kim chích 10 đầu ngón tay hay chân của người bệnh, không cạo gió và không chờ xem người bệnh có đỡ hơn không mà cần khẩn trương đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất, tốt nhất là đến cơ sở y tế có đủ điều kiện càng nhanh càng tốt.
- Nếu người bệnh tỉnh táo, cần khai thác thông tin về các loại thuốc mà họ đang dùng (nếu có) hoặc bệnh đang gặp phải ,động viên người bệnh để người bệnh an tâm, không quá lo lắng ảnh hưởng đến tình trạng bệnh.
- Ghi chú lại thời điểm người bệnh khởi phát biểu hiện đột quỵ bất thường;
- Ghi chú lại những loại thuốc mà người bệnh đang dùng hoặc mang theo đơn thuốc đang có.
- Nếu người bệnh rơi vào trạng thái hôn mê, cần được thực hiện hồi sức tim phổi, giúp họ thoát khỏi tình trạng nguy kịch.
Vai trò của thân nhân khi phát hiện người bệnh đột quỵ
Vai trò của thân nhân là hết sức quan trọng đối với người bệnh đột quỵ Với người bị đột quỵ, cố gắng bảo đảm thông thoáng đường thở cho họ bằng cách tháo răng giả (nếu có), lau sạch chất nôn, đờm dãi, nới rộng áo để thông thoáng đường hô hấp, nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế gần nhất, càng sớm càng tốt.
Tuyệt đối không lãng phí thời gian thực hiện các phương pháp như xoa bóp,bấm huyệt, chích nặn máu Nhiều người, khi thấy người thân nghi ngờ có dấu hiệu đột quỵ, thường cho uống thuốc Đây là điều rất nguy hiểm, bởi lẽ, khi bị đột quỵ,người bệnh thường rơi vào trạng thái rối loạn nuốt Viên thuốc có thể gây sặc và trở thành dị vật đường thở.
L ư u ý: Có ba d ấ u hi ệ u chính để nh ậ n bi ế t c ơ n độ t qu ỵ g ồ m :
+ Người bệnh đột ngột hôn mê, tê bì tay chân, mất ý thức, mất thăng bằng, đau đầu dữ dội
+ Đột ngột khó nói hoặc không nói được, mồm méo
+ Đột ngột mất hoặc giảm thị lực một trong hai mắt.
Khi có các dấu hiệu này, việc đầu tiên người nhà cần làm là gọi cấp cứu
(115) để được cấp cứu ban đầu và đưa người bệnh vào cơ sở y tế điều trị tốt nhất, chuyên sâu về đột quỵ.
Trong khi đợi xe cấp cứu, người nhà sơ cứu cho người bệnh bằng cách:
+ Để phần đầu và lưng bệnh nhân nằm nghiêng 45 độ so với cơ thể (để nếu bị nôn đờm dãi, thức ăn sẽ không chui vào mũi, miệng và phổi người bệnh);
+ Cho người bệnh mặc quần áo thoáng, mở phần cổ áo để kiểm tra hô hấp. + Nói chuyện trấn an người bệnh.
+ Giữ ấm cho người bệnh.
+ Đặc biệt nếu người bệnh ngừng tim, phải xoa bóp tim ngoài lồng ngực và gọi trợ giúp của người chung quanh.
+ Dùng khăn tay, quấn vào ngón tay trỏ, lấy sạch đờm, dãi trong miệng người bệnh.
+ Nếu người bệnh bị co giật, phải lấy chiếc đũa đã được quấn lớp vải, ngáng ngang miệng để người bệnh không cắn vào lưỡi.
LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Thông tin chung
3.1.1 Gi ớ i thi ệ u v ề B ệ nh vi ệ n Đ a khoa t ỉ nh Nam Đị nh
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định là tuyến chuyên môn kỹ thuật cao nhất của hệ thống y tế tỉnh Nam Định Bệnh viện được công nhận là bệnh viện hạng I từ 27/2/2012 với quy mô là 630 giường bệnh Bệnh viện hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng ủy, Ban Giám đốc và các phòng ban chức năng Bệnh viện là nơi khám, chăm sóc, điều trị cho nhân dân trong tỉnh và một số vùng lân cận đồng thời cũng là cơ sở thực hành chính của trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, trung cấp y tế tỉnh Nam Định, trường Đại học Y – Dược Thái Bình và một số trường khác.
Bệnh viện duy trì và thực hiện tốt các kỹ thuật cao tại các chuyên khoa: Chấn thương chỉnh hình và ngoại thần kinh (phẫu thuật u não, thoát vị đĩa đệm, chấn thương sọ não có đụng dập não lớn, phẫu thuật thay khớp gối, khớp háng toàn phần, ); Ngoại khoa (các phẫu thuật nội soi túi mật, thủng dạ dày, ruột thừa, sỏi tiết niệu, Từng bước tiếp nhận và thực hiện các phẫu thuật ung bướu; Nội khoa); Nội khoa (thực hiện tốt các kỹ thuật nội soi can thiệp cầm máu cấp cứu trong xuất huyết tiêu hóa, nội soi thắt giãn vỡ TMTQ, nội soi cắt polyp đại tràng, ).
Hình 3.1 B ệ nh vi ệ n Đ a khoa t ỉ nh Nam Đị nh
3.1.2 Khoa N ộ i th ầ n kinh B ệ nh vi ệ n Đ a khoa t ỉ nh Nam Đị nh a) Lãnh đạo đương nhiệm
Trưởng khoa:BsCKI: Nguyễn Quang Tuyến
Phó khoa: Ths.Bs: Phạm Thị Thúy Điều dưỡng trưởng: CNĐD: Vũ Thị Thanh Trúc b) Tổ chức nhân sự
Trong đó: - Bác sỹ: 07 ( Ths:02, Bs đại học:05 )
- Điều dưỡng: 13 ( Đại học: 04, Cao đẳng: 01, Trung cấp: 08)
- Hộ lý : 01 c) Cơ sở hạ tầng
Khoa nội thần kinh được chia làm 2 đơn nguyên: Đơn nguyên đột quỵ và Đơn nguyên các bệnh về thần kinh
Khoa có: - 1 phòng hành chính : nơi làm thủ tục, giấy tờ, giao ban…
- 1 phòng cấp cứu: nơi tiếp đón người bệnh vào viện
- 16 phòng bệnh với 79 giường điều trị Trong đó đơn nguyên đột quỵ có 40 giường điều trị.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Đố i t ượ ng, th ờ i gian và đị a đ i ể m nghiên c ứ u
Tiêu chuẩn lựa chọn: người nhà được lựa chọn đang chăm sóc người bệnh đột quỵ não đã được chẩn đoán theo các tiêu chuẩn của bệnh và có mặt tại khoa trong thời điểm tiến hành nghiên cứu thu thập số liệu, đồng ý tự nguyện, hợp tác tham gia vào nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: người nhà người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu, người nhà không trực tiếp tham gia chăm sóc người bệnh thường xuyên
3.2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 04 đến tháng 05 năm 2022 tại khoa ThầnKinh - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định.
3.2.2 Ph ươ ng pháp nghiên c ứ u
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
3.2.2.2 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện, không xác xuất Cỡ mẫu: thu thập từ tháng 04/2022 đến tháng 05/2022 có 40 người nhà chăm sóc người bệnh đột quỵ não đủ tiêu chuẩn tham gia vào nghiên cứu đang được chăm sóc tại khoa Nội thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định.
3.2.3 Ph ươ ng pháp đ i ề u tra s ố li ệ u
- Sử dụng phiếu khảo sát (Phụ lục 1) để đánh giá
- Phỏng vấn trực tiếp 40 đối tượng nghiên cứu tại khoa Nội thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định
3.2.4 Ph ươ ng pháp phân tích s ố li ệ u
- Sau khi thu thập số liệu, các phiếu đánh giá và bảng kiểm được kiểm tra lại để bảo đảm tính đầy đủ của các thông tin.
- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS.
- Tính tỉ lệ phần trăm (%) đơn thuần.
-Đề tài nghiên cứu đã được sự đồng ý của trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, Khoa Nội thần kinh và đối tượng nghiên cứu.
-Đối tượng nghiên cứu được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung nghiên cứu, đồng ý tham gia nghiên cứu.
-Các thông tin thu thập được ghi nhận chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu được bảo đảm bí mật.
Thực trạng kiến thức phát hiện và xử lý sớm của người nhà người bệnh đột quỵ não tại Khoa Nội thần kinh bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2022
Qua khảo sát 40 người nhà người bệnh về kết quả chăm sóc người bệnh đột quỵ não đang được chăm sóc tại khoa Nội thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định chúng tôi thu được kết quả như sau:
3.3.1 Đặ c đ i ể m chung v ề đố i t ượ ng nghiên c ứ u
B ả ng 3.1: Đặ c đ i ể m nhân kh ẩ u h ọ c c ủ a đố i t ượ ng nghiên c ứ u
Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ (%)
Tiểu học/THCS 16 40 vấn THPT 16 40
Trung cấp, cao đẳng 5 12,5 Đại học, sau đại học 3 7,5
Buôn bán, nghề tự do 10 25
Tình trạng hôn Có vợ/chồng 36 90
Ly thân/ly hôn 0 0 nhân
-Người nhà là nữ chiếm tỉ lệ cao hơn (55%) tỉ lệ người nhà là nam (45%)
-Trong 40 đối tượng nghiên cứu, người nhà đa số thuộc lứa tuổi >= 65 tuổi (chiếm tới 80%)
-Đa số đối tượng nghiên cứu sống ở nông thôn là chính (72,5%)
-Về trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu : số lượng người nhà trình độ phổ thông và tiểu học, trung học cơ sở chiếm tỉ lệ cao nhất (40%) sau đó đến trung cấp cao đẳng (12,5%), trình độ đại học, sau đại học (7,5%) , không có đối tượng nào là mù chữ
-Tỉ lệ người nhà là nông dân chiếm tỉ lệ cao nhất 35%, sau đó là buôn bán ,nghề tự do với tỉ lệ 25%, tiếp theo là công nhân với 22,5%, viên chức công chức chiếm 10% còn lại là hưu trí (7,5%)
-Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu: Đa số đều có vợ chồng chiếm 90%, tỉ lệ góa với độc thân đều là 5%.
3.3.2 Đ ánh giá ki ế n th ứ c c ủ a ng ườ i nhà v ề b ệ nh độ t qu ỵ não
B ả ng 3.2 Ki ế n th ứ c v ề các y ế u t ố nguy c ơ liên quan đế n b ệ nh độ t qu ỵ não
Stt Kiến thức chung về các yếu Đúng Sai tố nguy cơ n % N %
9 Tiền sử gia đình có người bị 30 75% 10 25%
Nhận xét: Kiến thức chung về các yếu tố nguy cơ gây đột quỵ của người nhà người bệnh còn thấp (tỉ lệ trả lời đúng cao trên 80% chỉ ở yếu tố mỡ máu cao và cao huyết áp, còn lại tỉ lệ trả lời đúng chỉ dao đông từ 40%-60% cụ thể tỉ lệ trả lời đúng ở yếu tố stress là 40%,thừa cân là 52,5%, hút thuốc lá 55% ) Chỉ có 1 vài yếu tố nguy cơ mức hiểu biết của người nhà trên 50%
B ả ng 3.3 Ki ế n th ứ c v ề d ấ u hi ệ u nh ậ n bi ế t b ệ nh
Stt Dấu hiệu nhận biết Đúng Sai n % n %
1 Đột ngột giảm hoặc mất thị lực 25 62,5% 15 37,5%
3 Đột ngột yếu liệt tay chân 28 70% 12 30%
4 Đột ngột khó nói, ngôn ngữ 28 70% 12 30% bất thường
5 Đột ngột mất trí nhớ 25 62,5% 15 37,5%
6 Đau đầu đột ngột và dữ dội 28 70% 12 30%
7 Đột nhiên chóng mặt hoặc mất thăng 32 80% 8 20% bằng , mất phối hợp động tác
Nhận xét: Mức độ hiểu biết của người nhà về kiến thức dấu hiệu nhận biết bệnh tương đối tốt Người nhà đã biết nhận biết các yếu tố cơ bản ( tỉ lệ trả lời đúng cao nhất là 80%, thấp nhất là 62,5%)
B ả ng 3.4 Ki ế n th ứ c x ử trí c ủ a ng ườ i nhà ng ườ i b ệ nh
Stt Cách xử trí người bệnh đột quỵ của Đúng Sai thân nhân trước nhập viện n % N %
2 Cho nằm ở tư thế an toàn 32 80% 8 20%
3 Nới lỏng quần áo giúp thở tốt 4 10% 36 90%
4 Cho ăn và uống thuốc 10 25% 30 75%
5 Nói chuyện chấn tĩnh người bệnh 15 37,5% 25 62,5%
6 Giữ ấm cho người bệnh 16 40% 24 60%
Nhận xét : Từ bảng trên cho thấy: Cách xử trí ban đầu của thân nhân người bệnh đột quỵ còn chưa đúng chiếm tỷ lệ cao như cho nới lỏng quần áo giúp thở tốt90%, cho ăn và uống thuốc 75%,
3.3.3 M ố i liên quan gi ữ a trình độ h ọ c v ấ n và ki ế n th ứ c v ề độ t qu ỵ não
B ả ng 3.5 M ố i t ươ ng quan gi ữ a trình độ h ọ c v ấ n đế n nh ậ n bi ế t d ấ u hi ệ u b ệ nh nhân độ t qu ỵ
Trình độ học vấn Nội dung Tiểu học THPT Trung cấp Đại học, sau
/THCS cao đẳng đại học
(n) (n) (n=5) (n=3) Đột ngột Đúng 12% 56% 20% 12% giảm hoặc mất thị lực Sai 86,7% 13,3% 0% 0% Đột ngột Đúng 25% 50% 14,3% 10,7% méo miệng
Sai 75% 16,7% 8,3% 0% Đột ngột yếu Đúng 25% 50% 14,3% 10,7% liệt tay chân
Sai 75% 16,75 8,3% 0% Đột ngột khó Đúng 21,4% 50% 17,9% 10,7% nói, ngôn Sai ngữ bất 83,3% 16,7% 0% 0% thường Đột ngột mất Đúng 16% 56% 16% 12% trí nhớ
Sai 80% 13,3% 6,7% 0% Đau đầu đột Đúng 14,3% 57,1% 17,9% 10,7% ngột và dữ dội Sai 100% 0% 0% 0% Đột nhiên Đúng 28,1% 46,9% 15,6% 9,4% chóng mặt hoặc mất Sai 87,5% 12,5% 0% 0% thăng bằng
Bảng 3.5: Cho thấy có mối liên qua giữa trình độ học vấn đến nhận biết dấu hiệu bệnh nhân đột quỵ Trình độ học vấn càng cao thì mức độ hiểu biết về bệnh càng tốt, tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.
B ả ng 3.6: T ỉ l ệ m ố i t ươ ng quan gi ữ a trình độ h ọ c và cách x ử trí c ủ a ng ườ i nhà ng ườ i b ệ nh độ t qu ỵ tr ướ c khi vào vi ệ n
Trình độ học vấn Nội dung Tiểu học THPT Trung cấp, Đại học, sau
/THCS cao đẳng đại học
Gọi xe cứu Đúng 38,5% 41% 12,8% 7,7% thương
Cho nằm ở Đúng 28,1% 46,9% 15,6% 9,4% tư thế an toàn Sai 87,5% 12,5% 0% 0%
Nới lỏng Đúng 0% 0% 25% 75% quần áo, giúp thở tốt Sai 44,4% 44,4% 11,2% 0%
Cho ăn và Đúng 0% 30% 40% 30% uống thuốc
Nói chuyện Đúng 6,7% 46,7% 26,7% 20% chấn an người bệnh
Giữ ấm Đúng 6,2% 43,8% 31,2% 18,8% cho người bệnh Sai 62,5% 37,5% 0% 0%
Nhận xét: Có mối tương quan giữa trình độ học vấn đến cách xử trí người bệnh đột quỵ tại nhà, trình độ học vấn càng cao thì mức độ xử trí các tình huống như cho người bệnh nằm tư thế an toàn, nới lỏng quần áo giúp thở tốt và không cho người bệnh ăn uống gì tốt hơn so với người có trình độ học vấn thấp, tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với P< 0,05.
Các ưu nhược điểm
Khi người bệnh đột quỵ phần lớn thân nhân xử lý đúng khi đã gọi xe cứu thương đến để vận chuyển người bệnh đến bệnh viện để điều trị.
Người bệnh đa phần được đưa đến viện điều trị muộn lên bỏ qua giai đoạn vàng để có thể điều trị tốt nhất cho người bệnh.
Nguyên nhân chính là thân nhân thiếu kiến thức về phòng và xử lý cấp cứu ban đầu tại nhà
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Cùng với kết quả đánh giá nêu trên và qua hỏi ý kiến đề xuất giải pháp nhằm nâng cao kiến thức về phòng và xử trí đột quỵ của 40 thân nhân có người nhà bị đột quỵ tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định thì đa số ý kiến đề xuất bệnh viện thành lập các câu lạc bộ về các bệnh mãn tính và thường xuyên có các buổi giáo dục sức khỏe tư vấn cho người bệnh và thân nhân về cách phòng chống đột quỵ và xử trí ban đầu về đột quỵ khi ở nhà.
Cần tư vấn giáo dục sức khỏe để người bệnh và người nhà hiểu được:
- Bệnh nhân đột quỵ phải hạn chế tiếp xúc với lạnh: Hạn chế thời gian ở ngoài trời lạnh, và nếu phải ra ngoài hãy mặc ấm, nhiều lớp, che đầu và tay, đi tất và giày ấm Không hoạt động quá gắng sức trong thời tiết lạnh Ngay việc đi bộ nhanh hơn bình thường gặp khi gió lạnh thổi vào mặt và cơ thể cũng đã là gắng sức Chỉ ở ngoài trời lạnh thôi cũng thúc đẩy cơ thể chúng ta phải gắng sức hơn bình thường nhằm giữ nhiệt độ cơ thể ổn định.
- Tập thể dục đóng góp vào việc giảm cân, giảm thấp các nguy cơ như làm hạ huyết áp, giảm béo phì và hạn chế tiến triển tổn thương xơ vữa động mạch, nhưng phải duy trì thường xuyên mới có hiệu quả Tập thể dục mức độ trung bình, chẳng hạn như đều đặn đi bộ 30 phút mỗi ngày Có thể đạp xe đạp hoặc bơi lội ít nhất 30 phút/lần/ngày, 5 ngày/tuần cũng rất hữu ích.
- Chế độ ăn uống: Người bệnh cần có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin, khoáng chất, hạn chế ăn quá nhiều chất béo, kiểm soát cân nặng, ngăn tình trạng béo phì. Thực hiện chế độ ăn muối và kali hợp lý: Ăn mặn làm tăng huyết áp Mức độ ăn kiêng được khuyến cáo chung là không quá 6g muối ăn mỗi ngày Nên bổ sung kali bằng ăn thêm hoa quả và rau tươi.
- Giấc ngủ cũng làm giảm nguy cơ đột quỵ: nên duy trì giấc ngủ khoảng 7h/ ngày, nên tạo giấc ngủ sinh lý đi ngủ sớm và thức dậy đúng giờ Mọi người cũng cần lưu ý, khi tỉnh giấc buổi sáng hoặc vệ sinh lúc đêm khuya, không nên ra khỏi chăn và xuống giường ngay lập tức mà cần nằm lại trên giường, vận động nhẹ nhàng từ 3 – 5 phút để cơ thể dần thích nghi.
- Tăng huyết áp là một yếu tố làm tăng gấp đôi hoặc thậm chí gấp 4 lần nguy cơ đột quỵ nếu không kiểm soát được Vì thế kiểm soát huyết áp vô cùng quan trọng trong phòng ngừa đột quỵ.
- Giữ đường huyết trong mức kiểm soát Đường huyết cao sẽ hủy hoại mạch máu và dễ hình thành các cục máu đông trong lòng mạch gây đột quỵ Theo dõi đường huyết thường xuyên Tuân thủ chế độ ăn kiêng, tập thể dục và thuốc để giữ mức đường huyết trong mức cho phép là cách để phòng ngừa đột quỵ.
- Rung nhĩ là một trong những rối loạn nhịp tim thường gặp và dẫn tới nguy cơ đột quỵ cao Nếu có các triệu chứng như hồi hộp, đánh trống ngực, đau ngực, nhịp tim rối loạn lúc nhanh lúc chậm, lúc mạnh lúc yếu, hãy tới bác sĩ để khám và được điều trị.
- Điều trị rối loạn lipid máu: Điều trị bằng thuốc phải kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống nhằm điều chỉnh rối loạn lipid máu, trong đó đặc biệt làm giảm cholesterol Những người trên 45 tuổi cần được kiểm tra lipid máu định kỳ 6-12 tháng/lần
- Dùng thuốc và có chế độ khám định kỳ đúng theo đơn.
- Thuốc lá: Hút thuốc làm tăng khả năng mắc đột quỵ Nicotine trong thuốc lá góp phần làm tăng huyết áp, đồng thời khói thuốc cũng gây tích tụ mỡ ở động mạch cổ Điều này khiến máu đặc hơn và dễ hình thành cục máu đông.
Qua khảo sát 40 thân nhân người bệnh đột quỵ đang điều trị đột quỵ tại khoa Nội Thần Kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định tôi nhận thấy:
1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
- Về độ tuổi của đối tượng nghiên cứu , người nhà đa số thuộc lứa tuổi >= 65 tuổi với tỉ lệ 80%, lứa tuổi còn lại chiếm tỉ lệ 20% Đa phần đối tượng nghiên cứu thuộc lứa tuổi người cao tuổi do đối tượng còn lại đang trong độ tuổi lao động phải đi làm.
- Về giới tính người nhà là nữ chiếm tỉ lệ cao hơn với tỉ lệ 55% , người nhà là nam chiếm tỉ lệ 45% vì nam giới thường là trụ cột chính trong nhà nên phải tham gia lao động sản xuất.
- Về nơi ở: Đối tượng nghiên cứu ở nông thôn chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn với tỉ lệ 72,5%, tỉ lệ người nhà ở thành thị chiếm tỉ lệ 27,5% và không có nơi ở khác.
- Về trình độ học vấn : số lượng người nhà trình độ trung học phổ thông và tiểu học chiếm tỉ lệ cao nhất 40% , sau đó đến trình độ cao đẳng (12,5%), trình độ đại học sau đại học chiếm tỉ lệ là 7,5%, không có đối tượng nào là mù chữ.
- Về nghề nghiệp: tỉ lệ người nhà là nông dân chiếm phần trăm cao nhất là 35%, chiếm tỉ lệ thấp nhất là hưu trí với tỉ lệ 7,5% , còn lại là các nghề nghiêpl khác với tỉ lệ là buôn bán tự do (25%), công nhân (22,5%), viên chức công chức (10%) Có thể thấy đối tượng nghiên cứu thuộc các ngành nghề đa dạng khác nhau.