Một số yếu tố liên quan đến tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng của phụ nữ trongđộ tuổi sinh đẻ tại xã Nam Điền, Nghĩa Bình, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định....30TÀI LIỆU THAM KHẢO Phụ lụ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái ni ệ m tình tr ạ ng dinh d ưỡ ng
Tình trạng dinh dưỡng hiện đang là mối quan tâm của xã hội trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Đây là kết quả của việc thực phẩm sử dụng được chuyển hóa trong cơ thể và đồng thời sẽ phản ánh lên tình trạng sức khỏe Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc và hóa sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [9].
Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng [20] Tỷ lệ trên nhằm đưa ra tình trạng dinh dưỡng của toàn bộ quần thể dân cư ở cộng đồng đó, từ đó có so sánh với các cộng đồng khác.
1.1.2 Ph ươ ng pháp đ ánh giá tình tr ạ ng dinh d ưỡ ng Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu đó [20] Từ đó có thể dự đoán tình trạng sức khỏe của cá thể hay quần thể một cách sơ bộ cụ thể hơn, hỗ trợ cho việc lập kế hoạch can thiệp một số bệnh mạn tính không lây hay bệnh thiếu, thừa dinh dưỡng nhằm cải thiện bệnh.
Hiện nay, có một số phương pháp nhanh để đánh giá tình trạng dinh dưỡng một cách căn bản như: nhân trắc học, khảo sát khẩu phần ăn 24 giờ.
1.1.2.1 Phương pháp khảo sát khẩu phần ăn 24 giờ:
-Đây là phương pháp dựa vào khẩu phần ăn trong 1 ngày (24 giờ) từ đó có thể đánh giá lượng thực phẩm, gia vị hàng ngày đã đưa vào cơ thể nhiều, ít hay trung bình với mỗi cá thể Phương pháp này gồm các bước như sau:
+ Ghi nhớ lại thực đơn ngày cần khảo sát.
+ Mô tả chi tiết từng món ăn: kích thước, độ dày của mỗi thực phẩm; số miếng, số gắp; gia vị nêm như thế nào nhiều hay ít; ăn món gì trước;
+ Dựa vào bảng thành phần thực phẩm, từ đó có thể tính được năng lượng và dưỡng chất của khẩu phần vừa điều tra.
+ Nhận định kết quả đã sau khảo sát.
Nhân trắc học xuất hiện trong hầu hết các điều tra cơ bản, đó là chỉ số cân nặng, chiều cao, kích thước vòng eo, vòng mông Từ đó có thể áp dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và kích thước cơ thể theo tuổi của đối tượng điều tra Cùng với đó, nhân trắc học còn là phương pháp đơn giản, an toàn, dễ thực hiện trên mẫu lớn, trang thiết bị không quá đắt và dễ vận chuyển.
Hiện nay, tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã có khuyến nghị về việc xác định tình trạng dinh dưỡng người trưởng thành bằng cách dùng chỉ số khối cơ thể ( Body Mass Index, BMI) [26] Chỉ số trên được tính dựa trên chỉ sổ cân nặng và chiều cao.
Cân người lớn: nam giới chỉ mặc quần đùi, cởi trần, không đi giày dép; nữ giới mặc quần áo gọn gàng và phải trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả Người được cân đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng phân bổ đều cả hai chân Cân đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí cân bằng ở số 0 Hàng ngày phải kiểm tra cân hai lần bằng cách dùng quả cân chuẩn (hoặc vật tương đương, ví dụ một can nước) để kiểm soát độ chính xác, độ nhậy của cân Cân nặng được ghi với 1 hoặc 2 số lẻ, thí dụ 11,2kg tùy theo loại cân có độ nhạy 100g hoặc 10g [7].
+Chọn cân có độ chính xác đến 100g.
+Đặt ở nơi bằng phẳng chắc chắn, thuận tiện cho đối tượng bước lên bước lên cân.
+Chỉnh cân về số 0 trước khi cân.
+Cân vào một thời điểm nhất định trong ngày, tốt nhất là vào buổi sáng, lúc vừa ngủ dậy, sau khi đi tiểu, đại tiện, vẫn chưa ăn gì.
+Mặc quần áo tối thiểu, bỏ dày dép, mũ nón và các vật nặng khác trong người. +Đứng giữa bàn cân mắt nhìn thẳng, không cử động (bàn cân).
+Người đọc nhìn thẳng chính giữa mặt cân, đọc khi cân thăng bằng, ghi số theo kg với 1 số thập phân (ví dụ 10,6kg, 9,5kg ).
- Kỹ thuật đo chiều cao[7]:
+Đặt thước đo chiều dài nằm ở vị trí bằng phẳng, chắc chắn.
+Thước đo chiều cao đứng phải được đóng chắc chắn trên một mặt phẳng thẳng đứng và phải đảm bảo thước về số 0 khi chạm đất.
+Bỏ guốc, giầy, dép, mũ nón, bờm tóc, khăn, búi tóc
+Đo đứng: Đứng quay lưng vào thước đo, 2 chân sát vào nhau.
+Đo đứng cần đảm bảo các điểm chạm vào mặt phẳng của thước: 2 gót chân, 2 bụng chân, 2 mông, 2 vai và chẩm Trục cơ thể trùng với trục thước đo, mắt nhìn thẳng, 2 tay buông thõng 2 bên.
+ Kết quả đo được lấy đơn vị là cm với 1 số lẻ.
Dựa vào chỉ số BMI có thể phân loại tình trạng dinh dưỡng của đối tượng theo bình thường, thiếu năng lượng trường diễn và béo phì như sau:
Bảng 1.1 Tình trạng dinh dưỡng theo BMI
Tình trạng dinh dưỡng Chỉ số BMI
* WHR (Waist-to-hip ratio):
Chỉ số BMI được toàn thế giới sử dụng rộng rãi và là thước đo béo phì, suy dinh dưỡng nhưng lại không thể phân biệt tỷ lệ mỡ trong cơ thể nhưng chỉ số WHR đo tỷ lệ vòng eo và mông được đánh giá với độ tin cậy cao để phân tích phần trăm mỡ từ đó nói lên một phần tình trạng sức khỏe của cơ thể [23].
Nhiều nghiên cứu đưa ra mối liên quan giữa tỷ lệ vòng eo/mông với sức khỏe của mỗi cá thể WHR ở nữ khoảng 0.7 phản ánh sức khỏe tốt và sẽ ít mắc các bệnh nguy hiểm như đái tháo đường, rối loạn tim mạch,
- Kỹ thuật đo vòng eo:
+ Đặt đầu thước dây cố định tại đỉnh xương hông, sau đó quấn thước dây quanh vòng eo, ngang mức rốn.
+Thước dây quấn không quá chặt và thẳng ngay cả ở phía sau lưng, không nín thở trong khi đo.
+Kiểm tra số đo trên thước dây ngay sau khi thở ra.
- Kỹ thuật đo vòng mông:
+Đo phần chu vi lớn nhất của mông bằng thước dây.
+Trong lúc đo dây không bị xoắn hay dây đo bị lệch
= ũ à () ò ô () Dựa trên tỷ lệ vòng eo-mông đánh giá được nguy cơ sức khỏe của mỗi quần thể và mỗi cá thể như sau:
Bảng 1.2 Tình trạng sức khỏe theo WHR
Nguy cơ sức khỏe Nữ giới Nam giới
Thừa cân béo phì
Định nghĩa của thừa cân, béo phì theo Tổ chức Y tế Thới giới (WHO) đã đưa ra như sau:
- Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng lý tưởng được xác định theo chiều cao của từng đối tượng [30].
- Béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [30].
Thừa cân, béo phì là biểu hiện của dinh dưỡng không hợp lý dẫn đến tình trạng mỡ quá mức tại một vùng hay toàn cơ thể và là yếu tố chính dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh mãn tính không lây như cao huyết áp, đái tháo đường, [30].
Nhưng hiện tại một số bệnh nhân không mắc thêm các bệnh lý liên quan và được gọi là “béo phì khỏe mạnh” [24] Mặc dù vậy, theo các nghiên cứu dài hạn thì có đến một nửa hoặc hơn nửa những người này sẽ phát triển những bệnh liên quan đến béo phì trong suốt cuộc đời của họ [16] Vì vậy, trọng lượng cơ thể có mối liên hệ mật thiết với sức khỏe mỗi đối tượng.
1.2.1 Nguyên lý d ẫ n đế n tình tr ạ ng th ừ a cân, béo phì
1.2.1.1 Nguyên lý điều hòa năng lượng
Cơ chế bệnh sinh của thừa cân, béo phì là do mất cân bằng về năng lượng nạp vào và năng lượng tiêu hao, trong đó năng lượng nạp vào lớn hơn năng lượng tiêu hao Khi mất cân bằng năng lượng, một trong hai xu hướng xảy ra là: tăng cân (năng lượng hấp thụ nhiều hơn năng lượng tiêu hao) hoặc giảm trọng lượng (năng lượng hấp thụ ít hơn năng lượng tiêu hao) Trong giai đoạn tăng cân, mất cân bằng năng lượng trong một thời gian dài vì năng lượng hấp thụ cao hơn năng lượng tiêu hao nên sẽ có hiện tượng tăng cân Trong giai đoạn cân được giữ ổn định do năng lượng hấp thụ cân bằng với năng lượng tiêu hao nên cân không có nhiều thay đổi Giai đoạn duy trì trọng lượng, các đối tượng lặp lại sự cân bằng năng lượng ở mức cao hơn mức cũ khiến cho cơ thể quen dần với việc tăng cân, bao gồm cả chất béo và khối lượng cơ, sẽ có xu hướng duy trì cân nặng này.
Năng lượng ăn vào Năng lượng tiêu hao
Tăng cân Giảm cân ổn định
Hình 1.1 Mô hình nguyên nhân và c ơ ch ế sinh b ệ nh c ủ a béo phì
1.2.1.2 Mô mỡ hoạt động như một cơ quan nội tiết
Sự tích tụ mỡ của tế bào trong năng lượng dư thừa từ thức ăn tạo ra sự tăng kích thước tế bào, đồng thời tăng số lượng mỡ để chứa chất béo dư thừa đã nạp vào
[19] Sự gia tăng số lượng và khối lượng mỡ là những tổn thương của các bệnh lý béo phì do sự phân bổ mỡ bất thường như ở tim, nội tạng, cơ bắp dẫn đến khả năng lưu trữ đạt mốc tối đa.
Kháng insulin là tình trạng insulin không gắn được thụ thể trên tế bào ở mô đích làm cho Glucose không được hấp thu vào tế bào Béo phì nội tạng (mỡ quanh
9 bụng) có ảnh hưởng trực tiếp đến kháng insulin ở cả người lớn và trẻ em đặc biệt trong độ tuổi dậy thì và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ [21].
Trong cùng một môi trường một số người béo phì còn một số thì không và được giải thích do yếu tố di truyền Các gen khác nhau có thể được kích hoạt hoặc áp đặt có chọn lọc như một phần của sự phát triển của thời ấu thơ hoặc do tương tác với điều kiện môi trường xung quanh khiến thay đổi kiểu hình Hơn nữa còn có sự khác biệt sâu sắc giữa các nền tảng di truyền và môi trường sống xung quanh ở hiện tại [29].
1.2.2 M ộ t s ố y ế u t ố liên quan đế n th ừ a cân, béo phì
- Khẩu phần là tiêu chuẩn ăn của một người trong đó các chất dinh dưỡng và nhu cầu năng lượng đảm bảo đáp ứng đủ, cân đối và hợp lý cho từng cá thể Vì vậy thừa cân, béo phì không chỉ liên quan đến hàm lượng calo mà còn do sự mất cân đối về các thành phần dinh dưỡng, với chế độ ăn giàu lipid hay đậm độ năng lượng cao có ảnh hưởng mật thiết tới gia tăng tỷ lệ thừa cân, béo phì; một phần do các thức ăn chứa nhiều chất béo tạo cảm giác ngon miệng nên có thể ăn dư thừa mà không hay biết [1].
- Thói quen ăn uống một trong các yếu tố tác dụng trực tiếp đến trọng lượng cơ thể, chịu ảnh hưởng do môi trường sống, hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế, thói quen ăn uống từ nhỏ, tập quán gia đình hoặc do sự tiếp thị quảng cáo từ các nhà bán và sản xuất thực phẩm Từ đó có thể làm gia tăng tình trạng tăng trọng lượng cơ thể hoặc giảm không phù hợp với mỗi cá thể qua thói quen ăn uống hằng ngày hoặc chịu ảnh hưởng của môi trường xã hội bên ngoài tác động.
- Hoạt động thể lực: hoạt động thể lực và cân bằng năng lượng đóng vai trò quan trọng với sức khỏe mỗi cá thể Sự suy giảm mức độ hoạt động thể lực do lười vận động và có lối sống tĩnh tại có tỷ lệ ngày càng tăng cao (xem phim, chơi điện tử, lướt mạng xã hội, ) Năng lượng nạp vào dần tích tụ nhưng năng lượng tiêu hao lại giảm không nhiều do lối sống ít vận động kéo theo lượng mỡ dư thừa và tích lại trong cơ thể làm gia tăng khả năng thừa cân béo phì của đối tượng.
Bảng 1.3 Ảnh hưởng của lối sống hiện đại đối với hoạt động thể lực (n0)
Dạng hoạt động Ảnh hưởng Tác động lên TCBP
Vận chuyển Có nhiều xe ô tô, xe máy, Giảm đi bộ, giảm đi xe đạp Trẻ xe đạp điện được cha mẹ chở đến trường.
Tại nhà - Tăng sử dụng thực phẩm - Tăng sử dụng thức ăn nhanh ăn liền là nguyên nhân góp phần cho
- Tăng thời gian xem truyền thừa cân, béo phì hình, chơi trò chơi vi tính, - Giảm sử dụng thời gian rảnh làm việc vi tính rỗi để hoạt động chân tay
- Tăng sử dụng các thiết bị - Giảm lao động chân tay hiện đại (máy giặt, lò vi không có cơ hội làm việc chân sóng, máy hút bụi…) tay trong gia đình
Nơi công cộng Tăng sử dụng các loại thang Giảm hoạt động leo cầu thang máy, thang cuốn
-Yếu tố di truyền: đến nay mối liên quan của gen và béo phì đã được xác định. Tình trạng béo phì là bệnh đa yếu tố, là sự kết hợp của yếu tố môi trường và di truyền.
Di truyền béo phì được chia làm 3 nhóm: béo phì hội chứng (syndromic forms of obesity), béo phì đa gen (polygenomic forms of obesity) và béo phì đơn gen (monogenic forms of obesity)[14].
Thiếu năng lượng trường diễn
Thiếu năng lượng trường diễn là tình trạng một cá thể ở trạng thái thiếu cân bằng giữa năng lượng nạp vào và năng lượng tiêu hao dẫn đến cân nặng và dự trữ năng lượng của cơ thể thấp, khi tình trạng thiếu năng lượng kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng thiếu năng lượng trường diễn Những đối tượng thiếu năng lượng trường diễn thường có chuyển hóa năng lượng không cao, hoạt động thể lực ít, khẩu phần ăn vào thấp hơn lượng bình thường [27].
Khẩu phần trong một bữa ăn không nạp đủ năng lượng cho cơ thể, không đảm bảo được vệ sinh an toàn thực phẩm, thiếu chất dinh dưỡng do thiếu kiến thức về dinh dưỡng, dịch vụ y tế kém là một phần nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu năng lượng trường diễn cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ Vì vậy, nguyên nhân gây
13 ra tình trạng thiếu năng lượng trường diễn có rất nhiều nguyên nhân xung quanh ảnh hưởng và tác động.
Thiếu năng lượng trường diễn gây ra nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng lao động, trí não, khả năng sinh đẻ của phụ nữ độ tuổi sinh đẻ.
-Ảnh hưởng đến tình trạng phát triển của thai nhi: trong nghiên cứu đã ghi nhận rằng tình trạng dinh dưỡng, thể trạng của mẹ đi kèm với cân nặng là vấn đề quan trọng quyết định đối với cân nặng, chiều cao của trẻ sau sinh [5].
-Sức khỏe bị ảnh hưởng: Những phụ nữ thấp bé, thiếu năng lượng trường diễn thường có khả năng lao động thấp, dễ mắc bệnh hơn và thậm chí có nguy cơ tử vong hơn so với người bình thường [18, 28] Khi đối tượng thiếu dinh dưỡng có thể ảnh hưởng đến tuổi kinh nguyệt, kéo dài thời gian tiền mãn kinh, tuổi mãn kinh đến sớm hơn hoặc có thể gây ra suy kiệt vào độ tuổi sinh đẻ.
-Ảnh hưởng đến cân nặng trẻ sơ sinh: Với những mẹ có BMI thấp trước mang thai là một trong số các nguyên nhân gây ra tình trạng nhẹ cân ở trẻ sơ sinh và trẻ có nguy cơ suy dinh dưỡng rất cao, dễ mắc bệnh khi trưởng thành.
-Thiếu năng lượng trường diễn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lao động ảnh hưởng đến kinh tế trong gia đình và sẽ ảnh hưởng không tốt với nhiều thế hệ từ dinh dưỡng đến kinh tế, từ sức khỏe tinh thần đến sức khỏe thể chất.
Do đó, vấn đề cải thiện tình trạng của người phụ nữ trong thời kỳ sinh đẻ có thể góp phần giảm chi phí trong chăm sóc y tế, tăng khả năng nhận thức, tăng năng xuất lao động của người trưởng thành; cùng với đó góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Một trong những nguyên nhân nghiêm trọng gây ra tình trạng thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ đó là thiếu máu dinh dưỡng Đây là yếu tố chính ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và thể chất trở nên suy yếu hơn.
1.3.3 Thi ế u máu dinh d ưỡ ng
Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng hàm lượng Hemoglobin trong máu xuống thấp hơn mức bình thường do thiếu một số chất tinh dưỡng cần thiết trong quá trình tạo máu bởi mọi nguyên nhân HIện tại, tình trạng thiếu máu phổ biến xảy ra với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là do thiếu sắt, và chỉ có số ít do thiếu hụt vi chất dinh dưỡng nào.
Thiếu máu do thiếu sắt là khi hồng cầu bị giảm cả về số lượng và chất lượng do thiếu sắt [32] Mức đánh giá tình trạng thiếu máu dinh dưỡng được chia như sau:
Bảng 1.4 Bảng đánh giá tình trạng thiếu máu
Thiếu máu nhẹ Hb≥10g/dl -