1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính chất cực hạn trong truyện ngắn của phan triều hải

135 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 34,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, các tác giả đương đại cũng có nhiều truyện ngắn viết theo lối cực hạn như Cao Duy Sơn với Ngôi nhà xưa bên suối, Phong Điệp với Thời gian toi đa, Nguyễn Ngọc Thuần với Những

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác.

Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đê có được bản luận vãn hoàn chỉnh này, tôi xin bày tỏ lòng biêt

ơn chân thành, sâu sắc đến PGS TS Bùi Thanh Truyền đã hướng dẫn tận tâm, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện.

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô của Trường Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Thầy Cô thỉnh giảng của Trường Đại học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân vãn, Đại học Quốc gia• • • • • • cThành phổ Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, quý Thầy

Cô ở phòng Sau đại học đã nhiệt tình giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ

đế tôi có thể hoàn thành luận văn.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, giáo viên Trường Trung học Cơ sở Tam Bình - Thủ Đức, những người thân trong gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi chia sẻ với tôi những khó khăn và giúp đỡ tôi rất nhiều đê tôi có được thành quả như ngày hôm nay.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2021

Tác giả luận văn

Đặng Thu Hà

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐÀU 1

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TÍNH cực HẠN VÀ NHÀ VĂN PHAN TRIỀU HẢI 11

1.1 Khái lược về tính cực hạn trong tác phẩm văn học 11

1.1.1 Khái niệm cực hạn 11

1.1.2 Biểu hiện về tính cực hạn trong tác phẩm văn học 17

1.1.3 Ý nghĩa của tính cực hạn trong tác phẩm văn học 24

1.2 Phan Triều Hải - nhà văn thành công với lối viết cực hạn trong truyện ngắn 25

1.2.1 Đường đời và đường văn Phan Triều Hải 25

1.2.2 Truyện ngắn - mảng sáng tác thành công cua Phan Triều Hải 29

1.2.3 Tính khả dụng của việc tiếp cận truyện ngắn Phan Triều Hài từ lý thuyết của tính cực hạn trong văn học 30

Tiểu kết chưong 1 32

Chươngơ 2 NHÂN VẬT VÀ HOÀN CẢNH cục HẠNTRONG TRUYỆN NGẮN PHAN TRIỀU HẢI 33

2.1 Nhân vật và hoàn cảnh trong truyện ngắn 33

2.1.1 Nhân vật trong truyện ngắn 33

2.1.2 Hoàn cảnh trong truyện ngắn 34

2.1.3 Mối quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh trong truyện ngắn 40

2.2 Nhân vật cực hạn trong truyện ngắn Phan Triều Hải 41

2.2.1 Cực hạn về ngoại hình 42

Trang 4

2.2.2 Cực hạn về hành động 51

2.2.3 Cực hạn trong tâm lý 58

2.3 Hoàn cảnh cực hạn trong truyện ngắn Phan Triều Hải 66

2.3.1 Thời gian cực hạn 66

2.3.2 Không gian cực hạn 71

Tiểu kết chương 2 78

Chương 3 CỐT TRUYỆN VÀ NGÔN NGỮ cực HẠN TRONG TRUYỆN NGẮN PHAN TRIỀU HẢI 79

3.1 Cốt truyện và ngôn ngữ trong truyện ngắn 79

3.1.1 Cốt truyện trong truyện ngắn 79

3.1.2 Ngôn ngữ trong truyện ngắn 82

3.2 Cốt truyện cực hạn trong truyện ngắn Phan Triều Hải 83

3.2.1 Sự kiện hạn chế, đon giản 83

3.2.2 Mâu thuẫn không phong phú, ít phức tạp 87

3.2.3 Kết thúc mở và kết thúc bất ngờ 93

3.3 Ngôn ngữ cực hạn trong truyện ngắn Phan Triều Hải 101

3.3.1 Lượng từ cực hạn 101

3.3.2 Cú pháp cực hạn 108

3.3.3 Giọng điệu cực hạn 119

Tiểu kết chương 3 122

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 5

rã đám của nghệ thuật và đôi khi nó được dùng như một khái niệm mang ý nghĩa miệt thị Tuy thế, những sáng tác mang tính chất cực hạn không vì những ý kiến tranh luận trái chiều mà không ra đời, thậm chí, ngày càng triển

nở trong văn chương thế giới và Việt Nam Trên thế giới, lối viết cực hạn bắt đầu manh nha từ nhà văn người Nga, Anton Chekhov với các tác phẩm nổi tiếng như Người đàn bà và con chó nhỏ, Một chuyện đùa, Sau đó các tác giả viết theo khuynh hướng cực hạn chủ yếu xuất hiện ở Mỹ như Sherwood Anderson, Tobias Wolff với tập truyện ngắn Chuyện chúng ta bat đầu, Tim

O’Brien với Những thứ họ mang và cả Leslie Marmon, Trong số những nhà văn Hoa Kỳ ấy, thành công nhất với lối viết cực hạn này phải kể đến Raymond Carver với các tác phẩm tiêu biểu như Mình đang gọi từ đâu, Điều

thành công nhất những nét tiêu biểu của lối viết cực hạn Ở Việt Nam, các tác giả đương đại cũng có nhiều truyện ngắn viết theo lối cực hạn như Cao Duy Sơn với Ngôi nhà xưa bên suối, Phong Điệp với Thời gian toi đa, Nguyễn Ngọc Thuần với Những dự định của nàng vào thứ bảy tuần này, Phan Việt

Và Phan Triều Hải cũng là một trong những nhà văn có lối viết như thế

Phan Triều Hải là cây bút quen thuộc của làng văn Việt Nam trong

Trang 6

những năm của thập niên 90 ở thê kỷ XX Là nhà văn của giai đoạn đâu thời

kì đổi mới, hội nhập, ông cùng với Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Danh Lam, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Đình Tú, Đồ Bích Thúy, Phong Điệp, “là thế hệ nhiều giằng níu, họ khác với các cây bút sau này, mạnh mẽ quyết liệt và dứt khoát hon, họ đến từ một miền đất vùng quê nào đó vừa hòa vào vừa lạc giữa thị thành, vừa lưu luyến vừa rời bỏ trang giấy sang bàn phím, tuổi trưởng thành của họ vấp luôn vào thời kinh tế thị trường, vừa hướng tới hội nhập, vừa muốn níu giữ quá vãng, Những tác phẩm của họ xoay quanh trạng thái day dứt, tự vấn, hoài nhớ, buồn đau, của con người cá nhân.” (Đồ Hải Ninh, Những thế hệ nhà văn Việt Nam thời

trở, suy tư của thế hệ mình vào những trang văn, Phan Triều Hải đã để lại dấu

ấn sáng tạo của cá nhân mình bằng lối viết cố gắng lược đi cảm xúc, kể một câu chuyện mà người đọc tự cảm thấy hoặc ám ánh, không có tác động thêm của người viết Đó là lối viết mang đặc điềm của lối viết cực hạn trong sáng tác truyện ngắn Các sáng tác của ông gồm: Vào đời (1994), Những linh hồn

lạc (1995), Quán bò rừng (1995), Có một người nằm trên mái nhà (1997), Đi học (1999), Những con đường không đến Seattle (2005), Mỗi người một chỗ

ngồi (2018) “Mỗi sáng tác của Phan Triều Hái, theo mốc tuần tự thời gian, đều phản ánh sự trưởng thành, thay đổi từng bước trong nhận thức, thái độ và quan niệm sống Dầu vậy, có một điều gần như không thay đổi là mạch cảm xúc, chất suy tư, nhu cầu tôn vinh vẻ đẹp của thế giới nội tâm cùng một bản thể không chấp nhận sự trộn lẫn vào đám đông.” (Thoại Hà, Năm cuốn sách

Với phong cách viết mang những nét đặc trưng của lối viết cực hạn, tác phẩm của Phan Triều Hải nếu được tìm hiếu ở góc nhìn này sẽ mang lại những tiềm năng to lớn Việc nghiên cứu sẽ giúp đánh giá đúng những đóng góp đầy sáng tạo của nhà văn, đồng thời cũng mở ra hướng tiếp cận có triển

Trang 7

vọng cho một lý thuyêt tuy không còn mới trên thê giới nhưng còn ít được tiếp cận ở Việt Nam Đó là lí do mà chúng tôi xin đề xuất hướng nghiên cứu tác phẩm của nhà văn Phan Triều Hải dưới góc nhìn của chủ nghĩa cực hạn

2 Lịch sử vấn đề

Ở Việt Nam, khái niệm “hậu hiện đại” lần đầu tiên được đề cập đến trong nghiên cứu văn học là bài viết Từ văn bản đến tác phẩm văn học và giả trị thẩm mỹ của Trương Đăng Dung, được công bố lần đầu trên Tạp chí Văn học, số 11, 1995, sau đó được tác giả đưa vào công trình Từ văn bán đến tác

“hậu hiện đại” được đề cập đến là ở ấn phẩm Văn hóa nghệ thuật thế kỷ XX những hiện tượng — trào lưu - nhãn vật tiêu biêu trong 100 năm qua, Nguyền Nam và Lê Huy Khánh biên soạn (Nhà xuất bản Văn học, 1999) Những bài viết này có tính chất giới thiệu chung nhất về chủ nghĩa hậu hiện đại mà chưa

đi sâu vào nghiên cứu tìm tòi bản chất cùa chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn chương trong đó có chù nghĩa cực hạn (tối giản)

Năm 2000, tác giả Phương Lựu có bài viết Tìm hiểu chủ nghĩa hậu hiện đại trên Tạp chí Nhà văn, sổ 8, sau đó được đưa vào bộ sách Cdtt học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết (2003) Bài viết của Phương Lựu

đã bàn về các vấn đề của chủ nghĩa hậu hiện đại, được xem như bước khới động cho hoạt động nghiên cứu, phê bình văn hóa, văn học hậu hiện đại ở Việt Nam

Năm 2005, Lê Huy Bắc giới thiệu công trinh nghiên cứu Truyện ngắn -

Lý luận - Tác gia và tác phẩm (Nhà xuất bản Giáo dục) Ngoài việc trình bày

về lịch sử thể loại, các quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại, những đặc trưng của nó, trong phần diễn giải các kiểu truyện ngắn hậu hiện đại, tác giả đã trình bày về chủ nghĩa cực hạn trong sáng tác của Raymond Carver Với công trình nghiên cứu này, bước đầu tác giả Lê Huy Bắc giới thiệu những đặc trưng

Trang 8

của chủ nghĩa cực hạn trong sáng tác của một tác giả văn học nước ngoài cụ thể

Năm 2012, Lê Huy Bắc tiếp tục ra mắt công trình Văn học hậu hiện đại

- lý thuyết và tiếp nhận (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm) Chuyên luận được cấu trúc thành 21 chương, 7 chương diễn giải về lý thuyết, chương cuối với những suy nghĩ có tính định hướng về văn học hậu hiện đại Việt Nam, 13 chương gắn lý thuyết với phân tích cấu trúc tác phẩm hậu hiện đại, trong đó

có 8 chương về văn học nước nhà Trong đó, chương 6, những khuynh hướng chính trong văn xuôi hậu hiện đại, đã trình bày một cách ngắn gọn và cô đọng

về nguồn gốc của chủ nghĩa cực hạn, lịch sử cũng như những đặc trung bản chất của chủ nghĩa cực hạn để thể nghiệm sáng tác này trở thành một đặc tính trong sáng tác của chủ nghĩa hậu hiện đại Và để làm rõ đặc trưng của chủ nghĩa cực hạn, Lê Huy Bắc đã minh họa bằng những sáng tác của nhà văn Mỹ Raymond Carver

Năm 2018, bài viết Bàn về chủ nghĩa tối giản trong văn học của tác giả Lương Thị Hồng Gấm được đăng trên trang điện tử của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã trình bày, phân tích một cách chi tiết về nguồn gốc và lịch

sử nghiên cứu lý thuyết của chủ nghĩa cực hạn Bắt đầu hình thành từ trong các lĩnh vực hội họa, điêu khắc và âm nhạc, chù nghĩa cực hạn xuất hiện trong văn chương và thu hút được nhiều nhà nghiên cứu Không chỉ trình bày theo trình tự thời gian về lịch sừ nghiên cún, tác giả bài viết trình bày khá chi tiết quan niệm của một số nhà nghiên cứu phương Tây và một nhà nghiên cứu ở Việt Nam là tác giả Lê Huy Bắc Bài viết có cái nhìn toàn diện này giúp ích nhiều cho việc nghiên cứu ứng dụng cụ thể

Ớ Việt nam, trước đây cũng như những năm gần đây, việc nghiên cứu văn xuôi đương đại Việt Nam dưới góc nhìn của chủ nghĩa cực hạn không nhiều Sự thiếu vắng của hướng nghiên cứu này có lẽ do nhiều nguyên nhân

Trang 9

Trước hêt, chủ nghĩa cực hạn, vê lý thuyêt, đã có từ lâu trên thê giới, đặc biệt

là ở những nước Châu Âu và Châu Mỹ tuy nhiên lý thuyết này còn khá mới

mẻ với chúng ta Thêm nữa, những nhà văn đương đại Việt Nam viết theo phong cách cực hạn không nhiều hoặc họ có sáng tác theo lối cực hạn nhưng chưa trở thành một điểm nhấn đặc biệt trong toàn bộ sáng tác của các tác giả Trong số ít những nghiên cứu ấy, nổi bật nhất phải kể đến bài viết Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong vãn học Việt Nam qua sáng

tác của Nguyên Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài của Lã Nguyên (La KhăcHòa) được công bô lân đâu tiên trên Báo Nghiên cứu văn học, sô 12/2007 Đây là bài viết có đóng góp quan trọng trong việc nhận diện khuynh hướng văn học hậu hiện đại của nước nhà Qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài, Lã Nguyên đã nêu ra và nhấn mạnh khái niệm “hậu hiện đại” như một phạm trù thầm mỹ Phạm trù này quy chiếu những nguyên tắc nhận thức và phản ánh mới, định tính cho một khuynh hướng văn học Việt Nam xuất hiện vào những năm 80 của thế kỷ trước, được thể hiện ban đầu trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài Lã Nguyên đã khẳng định: “Sự xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam nói chung, trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài nói riêng, chắc chắn không phải là hiện tượng vay mượn, ngoại nhập Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài cung cấp đủ tư liệu cho phép rút ra kết luận: những điều kiện lịch sử, xã hội trong vòng 30 nãm nay đã làm nảy sinh tâm trạng, cảm quan và loại hình văn hóa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam” (Lã Nguyên, Những dẩu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn

học Việt Nam qua sảng tác của Nguyền Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài,

2007)

Trong tiểu luận, Lã Nguyên cũng đã phân tích một số yếu tố cực hạn được thể hiện trong các tác phẩm của hai nhà văn Đó là kiểu nhân vật, giọng

Trang 10

điệu kê chuyện cực hạn, ông viêt “Khó tìm thây nhân vật chính diện trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài Đọc truyện ngắn, truyện dài của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp ta thường nghe thấy một giọng điệu kể chuyện lạnh lùng, khinh bạc, thậm chí tàn nhẫn Trong sáng tác của

họ, nhân vật người kể chuyện nhiều khi xuất hiện ở ngôi thứ nhất số ít, tự xưng “tôi”, và có vé như không tiếc lời tự xỉ vả bản thân, cấu trúc ấy, giọng điệu ấy xem ra rất phù họp với câu chuyện mà họ mang đến cho người đọc”

(Lã Nguyên, Những dẩu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học

Tính chất cực hạn trong sáng tác của hai nhà văn còn thể hiện ở nhiều yếu tố khác như kết cấu tự sự trở nên mờ nhạt, khó nhận ra lô gíc nhân quả theo trật

tự thời gian, sự vênh lệch giữa nghĩa của văn bản và nhan đề của nó như thế kết cấu tự sự trở nên mờ nhạt, không có xung đột, mâu thuẫn giữa hai tuyến nhân vật chính diện;

Nhà văn Phan Triều Hải sáng tác từ những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ XX, những năm gần đây, nhà văn tiếp tục sáng tác Tác phẩm của ông ngày càng được nhiều bạn đọc quan tâm Có nhiều bài viết trên các trang mạng như: Nhà văn Phan Triều Hải tái xuất sau 13 năm, được đăng ngày 11/04/2018 https://www.maxreading.com/sach-hay/cac-nha-van-viet-nam- the-ky-20/phan-trieu-hai-8075.html; bài viết Đi mãi rồi cũng phải dừng, đăng vào ngày 09/06/2019 của tác già Hồ Anh Thái, nguồn https://www.tienphong.vn/van-hoa/di-mai-roi-cung-phai-dung-1426230.tpo;

bài viết Nhà văn, dịch giả Phan Triều Hải tuyên chọn và dịch trong tuyển tập

https://cuoituan.tuoitre.vn/tin/20190727/nha-van-chi-co-mot-viec-la-

viet/1537087.html hay bài viết 5 cuốn sách của Phan Triều Hải được in tuyển

tập đăng ngày 22/09/2018 trên báo điện tử Hải Dương của tác giả Thoại Hà

Trang 11

Tất cả những bài viết này chỉ ngừng lại ở chỗ giới thiệu sơ nét về tiểu sử, những nhận xét về phong cách viết cũng như nội dung các sáng tác của nhà văn Phan Triều Hải một cách chung nhất Chẳng hạn như trong bài Phan

Gòn có đoạn: “Với phong vị văn chương "lạnh, sắc và tinh tế", mỗi truyện ngắn, mồi nhân vật của Phan Triều Hải dầu có buồn, lẻ loi cũng vẫn hiện lên

vẻ đẹp, chất thơ hay nhũng băn khoăn về tồn tại vượt thoát trên những lao xao của hoàn cảnh thực tại Phan Triều Hải — truyện ngan, sẽ giúp độc giả quay trờ lại với không khí của một “thế hệ” đã qua - ngốn ngang không ngừng, suy

tư không ngừng - nhưng không đánh mất cảm giác sống, không làm thất lạc

sự tự tại trong cuộc kiếm tìm cái thuần khiết, tươi mới của nội tâm trước cuộc đời Nơi đó, những chàng trai, cô gái chưa xài điện thoại thông minh và chưa

tự bào mòn nội tâm của mình trên các trang mạng xã hội Họ tự nhiên sống, yêu đương, trắc ẩn, mộng mơ (thậm chí, “hoang đàng”) trong một bối cảnh không gian đô thị bắt đầu dồn nén bởi những áp lực nội sinh và từ bên ngoài Mồi câu chuyện là một mảnh ghép được ráp nối khéo léo, trong một tinh thần ung dung.” (Doanh nhân Sài Gòn, tháng 9/2018) Hay nổi bật nhất là nhận xét của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Hải đang sống với thời hiện tại và hình như trong vô thức đã mang chịu một trách nhiệm nói hộ những câu chuyện riêng

tư của thế hệ mình” (Trịnh Công Sơn, Phan Triều Hái- một cõi thực hư,

1994)

Tóm lại, nghiên cứu chủ nghĩa hậu hiện đại nói chung và chủ nghĩa cực hạn nói riêng đã được quan tâm, làm sáng rõ nhiều mặt và ngày càng hoàn thiện Tuy nhiên, việc nghiên cứu ứng dụng chủ nghĩa cực hạn vào toàn bộ sáng tác của một tác giả ở Việt Nam như một nét đặc trưng trong phong cách sáng tác của tác giả đó còn rất ít Vì vậy, trong đề tài này, chúng tôi đề xuất việc nghiên cứu ứng dụng lý thuyết của chủ nghĩa cực hạn trong sáng tác của tác giả Phan Triều Hải như một bước thể nghiệm Chúng tôi mong rằng đề tài

Trang 12

Tỉnh chât cực hạn trong truyện ngăn của Phan Triêu Hải sẽ có đóng góp nhât định trong việc nghiên cứu dưới góc nhìn này

Từ những lý do chọn đề tài và thực tiễn tình hình nghiên cứu về đề tài, chúng tôi xác định mục tiêu thực hiện đề tài cũa mình như sau:

lý thuyết được úng dụng: Chủ nghĩa cực hạn trong nghiên cứu tác phẩm truyện ngắn

dựng tác phẩm truyện ngắn trong sáng tác của Phan Triều Hải, bao gồm: thực tiễn văn học Việt Nam và bối cảnh Việt Nam những năm 1990 thế kỉ XX Bên cạnh đó, phân tích, làm rõ các yếu tố trong sáng tác của Phan Triều Hải dưới góc nhìn của chủ nghĩa cực hạn Từ đó, cho thấy những đóng góp của nhà văn trong việc xây dụng nền văn học Việt Nam

Thứ ba, bước đầu ứng dụng và đề xuất ứng dụng nghiên cứu văn học với

lý thuyết của chủ nghĩa cực hạn trong thực tiễn môi trường Việt Nam như một hướng nghiên cứu triển vọng, có hiệu quả

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khảo sát các sáng tác của Phan Triều Hải để thấy được tính chất cực hạn trong truyện ngắn của nhà văn Cụ thể là các tập truyện: Vào đời (1994), Những linh hồn lạc (1995), Quán bò rừng (1995), Có một người nằm trên mái nhà (1997), Những con đường không đen Seattle (2005), Mỗi

Chúng tôi sẽ khảo sát tất cả các tập truyện ngắn của Phan Triều Hải Tuy nhiên trong quá trình trình bày chúng tôi không trình bày việc phân tích tất cả sáng tác của nhà văn mà chỉ lựa chọn những tác phẩm nồi bật mang

Trang 13

đậm dâu ân của chủ nghĩa cực hạn của tác giả

Để thực hiện đề tài, chúng tôi lựa chọn và áp dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu khác nhau sao cho hiệu quả nhất, cụ thể như sau:

5.7 Phương pháp loại hình

Phương pháp này giúp tìm hiểu truyện ngắn cùa Phan Triều Hải từ việc nghiên cứu đặc trưng của thể loại truyện ngắn

Phương pháp này giúp cho việc làm nối bật các khía cạnh trong sáng tác của tác giả trong viếc so sánh với những sáng tác khác

Phương pháp này được chúng tôi vận dụng đề phân tích, diễn giải sự ảnh hưởng, tác động của các vấn đề văn hóa đến sáng tác của nhà văn cũng như những quan niệm trong xây dựng hình ảnh của tác giả có mối tương quan với lĩnh vực nghệ thuật nghe nhìn gồm hội họa, điêu khắc và âm nhạc

6 Đóng góp mói của đề tài

9

mã toàn bộ sáng tác của một tác giả cụ thê

Đưa ra những dân giải vê cơ sở hình thành phong cách riêng trong sáng tác của nhà văn; đồng thời, xác định và trình bày cách xây dựng truyện ngắn của tác giả Phan Triều Hải dưới dưới góc nhìn của chủ nghĩa cực hạn như một phong cách riêng và chứng minh qua các dẫn chứng cụ thể Qua đó, luận văn góp phần đánh giá những đóng góp của nhà văn trong nền văn học hiện đại

- Kiểm chứng tính khả thi cũng như cho thấy triển vọng của phương pháp nghiên cửu văn học dựa trên lý thuyết của chủ nghĩa cực hạn nói riêng

và chủ nghĩa hậu hiện đại nói chung tại môi trường Việt Nam

Trang 14

7 Câu trúc của đê tài

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn được triển khai thành ba chương như sau:

Chương 1: Khái lược về chủ nghĩa cực hạn và nhà văn Phan Triều HảiNhằm có những cơ sở vững chắc thực hiện đề tài, ở chương này, chúng tôi tiến hành triển khai những vấn đề lý thuyết mang tính nòng cốt, có liên quan trực tiếp đến đề tài Trước tiên, chúng tôi trình bày tổng quan về lý thuyết cực hạn, lịch sử hình thành cũng như vận dụng lý thuyết, cả những yếu

tố đặc trưng của lý thuyết cũng như cơ sở xã hội và nét đặc trưng trong sáng tác của Phan Triều Hải

Chương 3: Côt truyện và ngôn ngữ cực hạn trong truyện ngăn của Phan

rp - T T ? *

Triêu Hái

Chương này tiếp tục làm rõ đặc trưng của chủ nghĩa cực hạn về cốt truyện và ngôn ngữ trong sáng tác truyện ngắn của tác giả Phan Triều Hải

Trang 15

Chương 1 KHÁI LƯỢC VÈ TÍNH cực HẠN

VÀ NHÀ VĂN PHAN TRIỀU HẢI

Thuật ngữ "chủ nghĩa cực hạn” thường được các nhà phê bình nghệ thuật

âm nhạc trực quan sử dụng để mô tá kỳ thuật "lược bó" một phần của tác phẩm để cho phép người xem và người nghe tập trung hoàn toàn vào các yếu

tố quan trọng và cơ bản của tác phẩm Thuật ngừ này đã trở nên phổ biến trong thế giới nghệ thuật trực quan vào đầu những năm 1960, khoảng một thập kỷ trước khi “chủ nghĩa cực hạn” thường được gắn với các tác phẩm văn chương

Chủ nghĩa cực hạn là khái niệm được sử dụng đầu tiên trong hai lình vực hội họa và điêu khắc Năm 1929, D Burliuk, một nhà thơ, nghệ sĩ, nhà báo và người vẽ tranh minh họa sách người Nga và Ukraina đã sử dụng thuật ngữ cực hạn trong bài viết có tên M Allen ck ’s John Graham’ s Sys em and Dialectics in Art (Hệ thong và biện chứng trong nghệ thuật M Allentuck của John Graham - 1971) khi ông viết về những bức tranh của họa Nga - Mỹ John Graham (1881-1961) Sau đó, thuật ngữ này thật sự không được ai dùng đến Cho đến hơn ba mươi năm sau, vào những năm 1960, thuật ngữ “cực hạn” lại xuất hiện như một hiện tượng và được sử dụng một cách rộng rãi Năm 1967, trong một ấn phẩm của tờ The New Yorker, Harold Rosenberg, một nhà văn, nhà giáo dục, nhà triết học và nhà phê bình nghệ thuật người Mỳ lưu ý ràng:

“Tính mới lạ của chủ nghĩa cực hạn mới không chỉ nằm ở các kỳ thuật giản lược mà còn nằm trong những quyết định có tính nguyên tắc của nó để thanh lọc hội họa và điêu khắc của bất kỳ ai, ngoại trừ những kinh nghiệm hình thức” (Harold Rosenberg, The New Yorker, 1967) Từ đây, tính chất cực hạn

Trang 16

cố xóa mọi dấu vết của ảo ảnh hội hoạ, thành tố tưong phản và quy chiếu sinh vật Thay vào đó nó sử dụng những mảng hình khối gốc, rộng lớn để thu hút

sự chú ý của người xem” (Encyclopedia Americana, 1985). Như thế có nghĩa rằng từ cách thức sáng tạo cho đến quá trình sáng tác, những họa sT và nhà điêu khắc trong các tác phẩm cùa mình phái mang đến cái nhìn khách quan nhất mà không có sự hiện hữu của những yếu tố mang tính hư cấu, gợi mở, tức là những tác phẩm hội họa và điêu khắc cực hạn ấy phải làm sao phô ra những đường nét hay những hình khối cơ bản nhất để người thưởng thức chúng tha hồ tự do khám phá Như thế trong phát biểu này của họ chỉ rõ hai yêu cầu, đối với người nghệ sĩ phải tập trung vào việc loại bỏ dấu ấn chủ quan của họ, đối với người thưởng thức phải cho họ tham dự, đồng sáng tạo

Trong công trình: Small Worlds: Minimalism in Contemporary French

Pháp), tác giả Warren Motte cũng chỉ ra cách mà chù nghĩa cực hạn áp dụng đối với tác phẩm nghệ thuật thị giác: “Nghệ thuật tối giản đề xuất hội họa và kiến trúc theo lối hình khối, giản lược xuất hiện tại Hoa Kỳ vào những năm

1960 Nguyên tắc tổ chức chủ yếu của nó bao gồm các góc vuông, hình vuông

và các hình khối, trả lại cho chúng một mức độ tối thiểu nhất của sự vốn có Trong những ví dụ tiêu biểu nhất của nghệ thuật cực hạn, các nghệ sĩ thường tập trung vào việc xóa đi tất cả những dấu vết tiếp nhận trần thuật, ẩn dụ và hình ảnh để cung cấp cho người xem một trải nghiệm mở và trục tiếp” (Warren Motte, Small Worlds: Minimalism in Contemporary French

Trang 17

Literature, 1999)

Quyển The New Encyclopedia Britannica (Bách khoa toàn thư Anh mới) cũng cho rằng: “Trong nghệ thuật thị giác tối giản, các thành tố điệu bộ, mang tính cách cá nhân đều bị chối bò nhằm bộc lộ sự tồn tại khách thể, những thành tố thị giác thuần khiết của hội họa và điêu khắc” {The New

và hội họa là những đường nét, màu sắc, hình khối nguyên sơ, không có sự can thiệp của ý tưởng cá nhân người nghệ sĩ

Năm 1968, nhà soạn nhạc Michael Nyman sử dụng thuật cực hạn để mô

tả một loại thử nghiệm âm nhạc mới • • • • - âm nhạc cực hạn.• • •

Trong bài viết có tên là “Âm nhạc mới ở New York”, trích từ The Voice

of New Music: New York City 1972-1982 (Tiếng nói của âm nhạc mới: Thành pho New York 1972 - 1982) của Tom Johnson, một một nhà soạn nhạc người

Mỹ, nhà phê bình âm nhạc, nhà lý luận, một người tuân thủ chủ nghĩa cực hạn trong âm nhạc, đã đưa ra định nghĩa về âm nhạc cực hạn như sau: “Bất kỳ sản phấm âm nhạc nào hoạt động với vật liệu nghèo nàn hoặc giảm thiếu: những bản nhạc chỉ sử dụng một vài nốt, những bản nhạc chỉ có một vài từ, hay những tác phẩm được viết dành cho những loại nhạc cụ rất giản đơn, chẳng hạn như những cái chũm chọe cổ, bánh xe đạp, hoặc ly whisky Nó bao gồm những bản nhạc duy trì một thứ âm thanh trầm trầm đơn điệu trong một thời gian dài Nó bao gồm những bản nhạc làm chậm tiến độ xuống đến hai hoặc

ba nốt cho mỗi phút” (Tom Johnson, The Voice of New Music: New York City

những biểu hiện vô cùng mộc mạc nhưng cực kỳ hấp dẫn của âm nhạc cực hạn Sức hấp dẫn ở đây là bởi chính sự cực hạn nhưng tinh tế của nó, phải là một người biết lắng nghe mới có thể cùng tham gia và cùng sáng tạo với những âm thanh tưởng chừng như đơn giản kia trong một bản nhạc

Cũng nhấn mạnh về vai trò đồng sáng tạo của người thưởng thức đối với

Trang 18

các tác phâm mang tính cực hạn ờ tât cả các lĩnh vực, Warren Motte giáo sư tiếng Pháp và văn học so sánh tại Đại học Colorado Boulder cho ràng: “Tạo nên sự giao thoa giữa người thưởng thức với tác phẩm mới là vấn đề then chốt Chủ đề của một tác phẩm cực hạn là chính bản thân nó và cuộc gặp gỡ giữa khán thính giả với nó” (Warren Motte, Small Worlds: Minimalism in

các nghệ sĩ đã giúp người thưởng thức tham gia vào hành trình trải nghiệm thú vị, bổ ích mà các tác phẩm nghệ thuật mang lại

Vậy sự khác biệt giữa âm nhạc cực hạn và âm nhạc truyền thống là gì? 77ze New Encyclopedia Britannica (Bách khoa toàn thư Anh mới) chỉ rõ:

“Trong âm nhạc tối giản, cách xử lý truyền thống về dạng thức và phát triển chủ đề, bằng cách ùng hộ những khám phá về âm sắc và nhịp điệu - những thành tố âm nhạc rất xa lạ với người thưởng thức phương Tây” (The New Encyclopedia Britannica, 1994) Những sự khác biệt giữa âm nhạc cực hạn và

âm nhạc truyền thống vừa xa lạ với người thưởng thức vừa thách thức họ trong tư duy nhạy bén của việc thưởng thức âm nhạc

Thuật ngữ “chủ nghĩa cực hạn” lần đầu tiên được áp dụng cho các tác phẩm văn học Mỳ ở những năm 1960, nhưng một số nhà văn nồi tiếng trước đây đã sử dụng lối viết này trong cả tiểu thuyết và truyện ngắn Trong

Minimalism and the Short Story, Cynthia Hallett kể tên năm nhà văn nổi tiếng, có ảnh hưởng lớn, là tiền thân của phong trào cực hạn những năm 1960 Hallett viết: “Những mầm mống của nghệ thuật khơi nguồn cho cả chủ nghĩa tối giản và truyện ngắn có thể được bắt nguồn từ nhiều nhà văn như Edgar Allan Poe, Anton Chekhov, James Joyce, Samuel Beckett và Ernest Hemingway - tat cả của họ đều được thiết kế theo quy tắc loại bỏ bớt nhận thức để khiến khán giả được cảm nhận nhiều hơn là được hiếu: khái niệm của Poe về sự thống nhất và tính đơn nhất của tác động; Châm ngôn của Chekhov

là anh ấy phải tập trung vào phần cuối của một câu chuyện ngắn và xây dựng

Trang 19

'một cách nghệ thuật' ở đó sự ân tượng vê tông thê tác phâm; Sự phụ thuộc cực hạn của Joyce vào quan niệm truyền thống của cốt truyện được thể hiện qua sự từ bỏ những câu chuyện có nhiều cốt truyện cao với các tình tiết có vẻ tĩnh và các 'lát cắt' của thực tiễn; Những nồ lực của Beckett “để trình bày sự chắt lọc cuối cùng về thế giới quan không thể bắt chước của mình để nén nội dung và làm giảm tải [tinh lọc] các thế loại truyền thống” (Hutchings 86);

Và phương pháp của Hemingway về diễn đạt các trạng thái cảm xúc phức tạp bằng sự mô hình hóa một cách đơn giản các chi tiết có hình ảnh cụ thể, cái mà ông gọi là hiệu ứng 'đỉnh của tảng băng trôi” (Cynthia Hallett, Minimalism

and the Short Story, 1996)

Theo các xu hướng đã hình thành trước đây trong nghệ thuật và âm nhạc, các nhà văn đã ngày càng quan tâm đến chù nghĩa cực hạn như một phong cách văn học vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980 Trong thời gian này, số lượng nhà văn xuất hiện trong danh sách học thuật của các nhà văn theo chủ nghĩa cực hạn đã tăng lên theo cấp số nhân Các nhà phê binh khác nhau có đưa ra những danh sách khác nhau của các nhà văn theo chủ nghĩa cực hạn, nhưng các nhà văn đương đại sau đây của tiểu thuyết Mỹ thì luôn được đề cập và coi là quan trọng đối với việc nghiên cứu văn học chủ nghĩa cực hạn: Alice Adams, Frederick Barthelme, Ann Beattie, Raymond Carver, Bret Easton Ellis, Amy Hempel, Bobbie Ann Mason, Chuck Palahniuk, Grace Paley, Mary Robison, Elizabeth Tallent và Tobias Wolff

Mặc dù thuật ngữ “chủ nghĩa cực hạn” áp dụng cho văn học đã được chấp nhận từ thế giới của nghệ thuật trực quan và âm nhạc, vẫn có những khác biệt nhất định tồn tại giữa một câu chuyện " cực hạn " và tác phẩm điêu khắc hoặc tác phẩm âm nhạc "cực hạn" Hallett viết, “xu hướng tối giản trong nghệ thuật trực quan là đề tránh bất kỳ hàm ý hoặc ý nghĩa vượt ra ngoài chủ

đề hoặc đối tượng và nhàm vào một loại hiện tượng học thuần túy, trong khi khuynh hướng trong văn học là gợi lên trong một quy mô tối giản một số vấn

Trang 20

đề lớn hơn bằng các liên tưởng tượng hình” (Cynthia Hallett, Minimalism and

cực hạn hoặc người nghe sáng tác âm nhạc cực hạn được mời tham gia vào một các tiếp cận theo kiểu "những gì bạn thấy (hoặc nghe) là những gì bạn nhận được", một người đọc một văn bản cực hạn phải chấp nhận phương pháp tiếp cận theo kiểu "có nhiều hơn là những gì đang ở trước mắt” để tim kiếm ý nghĩa xuyên suốt trong văn bản Hallett nói rõ thêm về bản chất nghĩa bóng của chủ nghĩa cực hạn trong văn học khi thảo luận mối quan hệ giữa tác phẩm cực hạn và truyện ngắn nói chung: “Cả phong cách văn học tối giản và truyện ngắn đều ở cấp độ cơ bản nhất và ở một định dạng gọn gàng Cả hai đều nhỏ gọn, cô đọng và thống nhất trong thiết kế; cả hai đặc biệt phụ thuộc vào ngôn ngữ tượng hình và các liên kết biểu tượng như là các kênh để mở rộng nghĩa ” (Cynthia Hallett, Minimalism and the Short Story, 1996) Hallett sau đó đề cập đến vai trò quan trọng rằng người đọc các văn bản cực hạn phải dấn thân vào các câu chuyện để tìm thấy ý nghĩa "phong phú" và xuyên suốt ẩn trong các văn bản: “Ở lần đọc đầu tiên, nhiều các câu chuyện có thể dường như bị ngắt kết nối nội bộ, các câu văn bị tách biệt nhau, dòng kết thúc có nhiều ý bắt đầu như dòng đầu tiên; nhưng khi những câu chuyện được đọc kỹ càng, các tham chiếu xiên vẹo và thiết kế mờ ảo lại kết hợp thành một kết cấu phong phú của phép chuyển nghĩa - thể hiện một khuôn mẫu ý nghĩa ý nghĩa trong cấu trúc biểu tượng” (Cynthia Hallett, Minimalism and the Short Story, 1996)

Người đọc các văn bản cực hạn trước tiên phải khám phá hoặc thậm chí

có thể bắt đầu hiểu các khuôn mẫu cụ thể ẩn trong "các tham chiếu xiên và thiết kế mờ" theo đúng với các văn bản cực hạn trước đây đế nắm được tác giả muốn nói gì trong câu chuyện của họ Sau khi khuôn mẫu độc nhất hoặc các khuôn mẫu khác được sử dụng trong văn bản cực hạn được khám phá, độc giả được mời kết hợp các ý tưởng "đơn giản" được thể hiện trong câu chuyện với trải nghiệm sống phức tạp của riêng họ, cuối cùng dẫn đến sự kết hợp có ý

Trang 21

nghĩa giữa câu chuyện hư câu và thực tê mà độc giả quan tâm

Trong Small Worlds, Warren Motte thảo luận tại sao các nhà văn theo chủ nghĩa cực hạn có thể chọn định hướng và tập trung vào những thứ "đơn giản" trong tác phẩm của họ, chẳng hạn như cốt truyện đơn giản, nhân vật bình thường và cuộc đối thoại đơn giản và thậm chí vắn tắt giữa các nhân vật Giống như Hallett, Motte cố gắng phản biệt lại chủ nghĩa phi cực hạn khi chủ nghĩa này lập luận ràng "sự đơn giản" tự nó có thể gợi ý rằng một tác phẩm là chưa hoàn thành hoặc thậm chí có thề không hoàn thành Theo Motte:

“Những thứ đơn giản là những thứ không phức tạp, không mưu mẹo, không bị thêm thắt, không bị ảnh hưởng, mang nghĩa rõ ràng Những thứ đơn giản rõ ràng là vô nghệ thuật, và thực sự là lời chỉ trích về sự thiếu tính nghệ thuật là một trong những mối nguy hiểm đang chờ đợi bất kỳ cam kết cực hạn nào Tuy nhiên, điều quan trọng cần hiểu là nghê thuật cực hạn không định giá sự thiếu tính nghệ thuật như vậy Đúng hơn, sự thiếu tính nghệ thuật là ảnh hưởng bề mặt của một quá trình tránh né và hạn chế có chủ ý để loại bỏ các phép tu từ thông thường trong một nồ lực để ước tính những yếu tố cần thiết” (Warren Motte, Small Worlds: Minimalism in Contemporary French

Literature, 1999).

Kỹ thuật cực hạn hay cực hạn lần đầu tiên được áp dụng trong văn học

Mỹ vào những năm 1960 tuy nhiên trên thực tế thì khuynh hướng này trong văn học hậu hiện đại đã có mầm mống từ lâu, thậm chí còn tạo nên thành công cho các sáng tác của một số tác giả trước đây trong cả truyện ngắn và tiểu thuyết Chính nhà văn người Mĩ có ảnh hưởng lớn đến văn học cực hạn của Mỹ những năm 1960, Cynthia Whitney, đã từng khẳng định: “Những hạt giống của kỹ xảo trong cả nghệ thuật cực hạn và truyện ngắn đều có thế được truy nguồn từ các nhà văn như Edgar Allan Poe, Anton Chekhov, James Joyce, Samuel Beckett, và Ernest Hemingway Tất cả trong số họ đều có một

Trang 22

Chủ nghĩa cực hạn trong văn học phương Tây tuy xuất hiện muộn hơn so với hai lĩnh vực nghệ thuật nghe nhìn như đã trình bày ở trên nhưng thể nghiệm sáng tác này lại có sức lôi cuốn rất lớn đối với các nhà nghiên cứu văn học Trong Austere Style in Twentieth Century Literature: Literary

Minimalism (Phong cách chân phương trong văn học thế kỷ hai mươi: Văn học tối giản), James Dishon McDermott đã viết “Chủ nghĩa tối giản đề cập đến một câu chuyện ngắn hoặc rất ngắn gần như không có cốt truyện, thể hiện những khoảnh khắc bị cô lập hoặc những sự kiện tầm thường, ngẫu nhiên được miêu tả ấn tượng và kịch tính hơn là diễn giải hay bịa đặt; không dẫn đến đâu cả hoặc không có cao trào, và ủng hộ thì hiện tại Nhân vật sống trong môi trường lao động điền hình cho việc bị tước đi quyền kinh tế và làm nhũng công việc trống rồng tầm thường; một nền văn hóa tiêu dùng tràn ngập những thương hiệu toàn cầu và đài truyền hình ồn ào; gia đình bất thường và tạm bợ; bạo lực; nghiện rượu và lạm dụng ma túy; mất gốc; và cảm giác lạnh lùng của cạm bẫy Ngôn ngữ “cực hạn” có tính năng đơn giản về mặt ngôn từ

và cú pháp, một giọng điệu rồng, tính sướt mướt phô diễn ngay trên bề mặt, những mục đích tẻ nhạt, và đặc tính tỉnh lược” (James Dishon McDermott, Austere Style in Twentieth Century Literature: Literary

Minimalism, 2006)

Trang 23

Dan Pope trong bài The Post-Minimalist American Short Story or what

Carver) cũng đã diễn giải về tính cực hạn trong văn học như sau: “Sự ưu ái của các nhà văn dành cho thời hiện tại và đồng thời họ thờ ơ với bối cảnh xung quanh hay việc giăng giải lịch sử các tình huống chưa được giải quyết cùng với cảm giác mơ hồ của sự trống rồng và tâm lý vỡ mộng của nhân vật” (Dan Pope, The Post-Minimalist American short Story or What Comes After

văn Carver, Stefan Colibaba trong bài viết Raymond Carver’s Minimalism

(Chủ nghĩa toi giản của Raymond Carver) cho rằng nghệ thuật cực hạn đã

“phản ánh về tình trạng phân mảnh và xa lạ của cái tôi trong thế kỷ XX” bởi

lẽ, ông nêu rõ: “Những nhà văn tối giản vốn dĩ lớn lên trong một thế giới đã

có sẵn một cảm quan hậu hiện đại” (Stefan Colibaba, Raymond Carver’s

Minimalism, 1997) Tâm lý chung của các nhân vật và nhà văn cực hạn ấy là

hệ quả tất yếu của một thời đại hậu công nghiệp phát triển mạnh mẽ kéo theo những tệ nạn, những cạm bẫy cũng như những đổ vỡ trong các mối quan hệ gia đình, xã hội Quan trọng và ấn tượng hơn cả là trong bài viết, Stefan Colibaba còn chỉ ra những yêu cầu dành cho các nhà văn khi sử dụng tính chất cực hạn trong sáng tác: “Lời giáo huấn then chốt của sự tối giản có lẽ chính là yêu cầu về việc tác phẩm phải tước bở sự phán xét và không có sự phán quyết; nó xóa bở bất kỳ dấu hiệu nào có thể nhìn thấy được của tác phẩm với vai trò cung cấp thông tin cho người đọc Nhà văn viết truyện ngắn cực hạn phải giấu kín mọi thứ, không được giải thích vì anh có thể chọn để truyền tải một nhân sinh quan về cuộc sống trong đó những điều cảm nhận được nhưng lại không nói ra mới là có giá trị” (Stefan Colibaba, Raymond

John Barth trong một bài viết tiêu biểu của ông bàn về tính cực hạn A Few Words About Minimalism (Vài lời về chủ nghía tối giản). Ông miêu tả

Trang 24

văn chương cực hạn là: “Ngăn gọn, gián tiêp, hiện thực hay siêu thực, côt truyện mỏng mảnh, có tính hướng ngoại và vẻ bề ngoài cộc lốc”, Barth còn nhận định: “Văn xuôi hư cấu cũ hay mới đều có thể mang tính tối giản bằng cách này hay cách khác”, ông cho rằng có một số tiêu chí nhận diện một tác phẩm văn học cực hạn: “Có những sự tối giản về đơn vị, hình thức và quy mô: lời ngắn gọn, câu và đoạn văn ngắn, những câu chuyện siêu ngắn Có những sự tối giản về phong cách: đánh rơi ngôn từ, cú pháp nhằm tránh những câu bóng bẩy và có những sự tối giản về chất liệu: ký tự tối thiểu biểu đạt tối thiểu” (John Barth, A Few Words About Minimalism, 1986)

Có thể nói, trong văn học nói chung, truyện ngắn là nơi tiêu biểu để chủ nghĩa cực hạn thể nghiệm mình một cách thành công và rõ nét nhất Điều này

đã được Cynthia Whitney Hallett khẳng định trong bài viết Minimalism and

học, thuật ngữ “tối giản” không chỉ đề cập đến một phong cách tiết giảm nhất định của văn chương hư cấu, mà còn tập trung vào những đặc trưng được ưu

ái dành cho truyện ngắn, cả bút pháp tối giản lẫn truyện ngắn đều bị chi phối bởi thẩm mỹ loại trừ (aesthetic of exclusion)” (Cynthia Whitney, Minimalism

and the Short Story: Raymond Carver, 1999) Cũng trong bài viết này, ông cũng trích lời cùa một nhà văn nổi tiếng với phong cách cực hạn, Amy Hempel, Hempel cho rằng: “Rất nhiều lần những gì không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm cùa bạn lại quan trọng hơn so với những gì thực sự xuất hiện trên trang giấy Thông thường trọng tâm vận động của câu chuyện là một số

sự kiện cơ bản mà có thể không được mô tả hay thậm chí không được nhắc tới trong truyện” (Cynthia Whitney, Minimalism and the Short Story: Raymond

Carver, 1999) Hempel tiep rang: “Trong thực tế, nhà văn bằng cách nào đó phải dành ra một khoảng không gian “rồng” đủ để người đọc có ít nhất một cơ hội mờ nhạt cho sự suy luận từ những gì đã bị tác giả bở qua Người đọc được đưa cho cái mà, từ tất cả sự tái hiện, chỉ là một phạm vi hiện thực của những

Trang 25

vấn đề hoặc sự kiện không quan trọng Mặc dù phiên bản cuối cùng giống với hiện thực bên ngoài, nhưng cách thức tái hiện cho thấy ràng có nhiều câu chuyện hơn từ các chi tiết ít ỏi được thuật lại” (Cynthia Whitney, Minimalism

Cynthia Whitney Hallett với quyển Minimalism and the Short Story: Raymond Carver, Amy Hempel, and Mary Robinson (Chủ nghĩa tối giản và

điểm khác biệt giữa các ngành nghệ thuật cực hạn khác với văn học cực hạn Ông viết: “Những xu hướng với chủ nghĩa tối giản trong giới nghệ sĩ thị giác

là để tránh bất kỳ hàm ý hay ý nghĩa nào đó vượt ra ngoài chủ thể/ đối tượng của chính nó và để hướng đến một loại hiện tượng học thuần tuý; trong khi

đó, xu hướng trong văn học là để gợi lên trong khoảng rất nhỏ, một số vấn đề rộng hơn bằng phương tiện liên tưởng hình tượng” Ông khẳng định thêm:

“Nói chung, các nhà văn tối giãn xuất hiện để tạo ra càng nhiều câu chuyện trong một văn bản càng nhỏ càng tốt” Trong khi đọc một câu chuyện tối giản, Hallet khẳng định rằng chúng ta phải “suy từ cái phần được trưng ra, chính xác những gì đã được bỏ” (Cynthia Whitney Hallett, Minimalism and the

Michael Trusler cũng có một nghiên cứu giá trị về lý thuyết cực hạn gắn liền với nhà văn Raymond Carver với tiểu luận The narrowed voice:

phấm nghệ thuật nghe nhìn cực hạn bàng việc dẫn lời của những nhà phê bình nổi tiếng, về âm nhạc, ông nhắc lời của Rockwell rằng tính chất cực hạn là

“sự lặp lại theo khuôn mẫu, chiều dài dường như vô tận và từ chối đến cao trào thông thường” Với nghệ thuật thị giác, Michael Trusler trích lời Kim Levin rằng: “khuynh hướng tối giản là nghệ thuật không có mối quan hệ nội

bộ, một nghệ thuật giản lược của những đối tượng hình khối cô lập, tĩnh và

Trang 26

những dạng thức nguyên khôi dửng dưng khuynh hướng tôi giản là kẻ cuôi cùng trong số những phong cách thực sự độc nhất, kẻ kết thúc dòng chính của nghệ thuật hiện đại” Còn với văn học, dẫn lời của Frederick R Karl, ông viết: “trong một số tác phẩm, người đọc đặc biệt chú ý đến những khoảng cách giữa các câu chữ, bởi nó tượng trưng cho sự im lặng Và tất cả các tác phấm văn học tối giản là một nghệ thuật của sự liều lĩnh táo bạo: đó là sự cố gắng tiết lộ hay thể hiện bằng cách phủ nhận sự thật” (Michael Trusler, The

narrowed voice: minimalism and Raymond Carver, 1994)

Trong tiểu luận Chủ nghĩa cực hạn và Raymond Carver, Lê Huy Bắc, người tiên phong trong nghiên cứu chủ nghĩa cực hạn ở Việt Nam, đã phân tích đặc trưng của chủ nghĩa cực hạn trong văn học Ông cho rằng: “Bản chất của chủ nghĩa tối giản trong văn học là nói được nhiều từ cái ít Có nghĩa, nhà văn không có tham vọng bao quát mọi vấn đề (theo kiểu Hugo, Balzac chẳng hạn) hoặc hướng tới một luận đề triết học có trước nào đó (như Camus) mà chỉ cốt phản ánh chân thật những gì diễn ra xung quanh một cách chính xác nhất, không hề bày tò thái độ dẫu cho vấn đề / sự kiện được đề cập là to tát hay nhỏ bé, tích cực hay tiêu cực đến đâu Các nhà cực hạn chấp nhận nguyên tắc ngẫu nhiên của tồn tại Họ không hề can thiệp, không hoài nghi, không định hướng, không khao khát đưa ra kết luận cuối cùng” Ông viết tiếp: “điển hình của lối viết này là hủy bỏ cốt truyện truyền thống”, “Chủ nghĩa tối giản

đề cao tính vô ngã trong sáng tạo Dấu ấn chủ quan của tác giả càng đến gần hon với độ không của lối viết (Roland Barthes) thì tác phẩm càng có giá trị thuyết phục cao hơn” Từ đây, Lê Huy Bắc cho rằng: “Chủ nghĩa tối giản trong văn học đã đáp ứng được yêu cầu của chủ nghĩa hậu hiện đại ở chồ đã chủ trương hạn chế tối đa khả năng hư cấu, khả năng tự sự chủ quan, khả năng bao quát mọi vấn đề mà theo cách gọi của Jean-Franẹois Lyotard là đại tự sự” (Lê Huy Bắc, Truyện ngắn lý luận tác giả tác phẩm tập 2, 2005)

Nguyễn Thanh Tâm trong nghiên cứu Chủ nghĩa tối giản và thơ Việt

Trang 27

Nam đương đại cho răng nguôn gôc sâu xa sự lên ngôi của chủ nghĩa cực hạn trong nghệ thuật có nguồn gốc trong đời sổng thực của con người Tác giả nhận định: “Sự tối giàn trong hội họa, kiến trúc, văn chương thể hiện cấu trúc tinh thần của con người trong những động thái hướng đến sự tối giản của đời sống” “Chủ nghĩa tối giản phản ứng lại với chủ nghĩa cầu toàn trong một thế giới phồn tạp, có quá nhiều thứ để con người quan tâm, mọi thứ bị cuốn trong

mớ bòng bong của đời sống khiến con người luôn cảm thấy mỏi mệt, đa mang không thoát ra được” “Phải can đảm để rũ bỏ những thứ không cần thiết, giữ lại những điều thiết yếu nhất Đó là phong cách sống tối giản” Tác giả lý giải thêm: “Ve bàn chất, sự đa bội trong thế giới toàn cầu hóa dễ dẫn con người đến sự vô cảm, thờ ơ, hời hợt với tất cả mọi thứ Tối giản trả cho con người

cơ hội được sống với những điều thiết yếu nhất” (Nguyễn Thanh Tâm, Chủ

Tổng hợp từ tất cả những thông tin nêu trên, có thể nói, tính chất cực hạn trong truyện mang những đặc điểm khu biệt cả về hình thức và nội dung Truyện ngắn sáng tác theo thể nghiệm cực hạn xét về nội dung là những câu chuyện rất ngắn thể hiện những khoảnh khắc hiện tại của con người trong những sự kiện đời thường đầy tính ngẫu nhiên Những sự kiện được trình bày trong truyện không dẫn đến một kết thúc nào cà cũng không có những tình huống cao trào, gây cấn Những mẩu chuyện cực ngắn xoay quanh cảm giác lạc lõng của con người trong tất cả các mối quan hệ từ gia đình, bạn bè, tình yêu, công việc, Không hề có sự tồn tại của việc diễn giải lịch sử, không có việc tái hiện các sự kiện lớn lao mang tính thời đại, không mong muốn đưa ra những kết luận Thế nhưng những tác phẩm mang tính chất cực hạn lại có khả năng làm xuất hiện trong tác phẩm của họ nhiều câu chuyện trong văn bản

Các tác phẩm mang tính cực hạn không chỉ bỏ qua những đánh giá, phán xét mà bỏ qua cả việc cung cấp thông tin, sự kiện cho người đọc Dấu ấn chủ quan của người viết được lược bở càng nhiều thì tác phẩm lại càng thành

Trang 28

công Người đọc là người đông sáng tạo đê những triêt lý nhân sinh hiện ra trong chính bản thân người tiếp nhận Trọng tâm của những truyện mang tính cực hạn lại nằm ở những sự kiện không được mô tả hay nhắc tới Lời văn trong các tác phẩm mang tính chất cực hạn thường ngắn gọn, các câu văn, đoạn văn rất ngấn Cách thức này gần với mô hình “tàng băng trôi” trong đề xuất của Hemingway

Cực hạn là một kỹ thuật viết điêu luyện, yêu cầu người viết phải có tài năng thật sự Stefan Colibaba khẳng định: “Lời giáo huấn then chốt của sự tối giản có lẽ chính là yêu cầu về việc tác phấm phải tước bỏ sự phán xét và không có sự phán quyết; nó xóa bỏ bất kỳ dấu hiệu nào có thể nhìn thấy được của tác phẩm với vai trò cung cấp thông tin cho người đọc Nhà văn viết truyện ngắn tối giản phải giấu kín mọi thứ, không được giải thích vì anh có thể chọn để truyền tải một nhân sinh quan về cuộc sống trong đó nhũng điều cảm nhận được nhưng lại không nói ra mới là có giá trị” (Stefan Colibaba,

tạo ra môi trường tiếp nhận tác phẩm vô cùng dân chủ

Lê Huy Bắc trong Truyện ngắn ỉỷ luận tác giả tác phẩm tập 2 cũng nêu

rõ quan điểm: “Chù trưong đon giản hóa nghệ thuật đến mức tối đa, khiêm tốn trong trần thuật, hướng đến tiểu tự sự tức là nghệ sĩ không thực hiện sự bao quát đối với tác phẩm, cách trần thuật hướng trọng tâm vừa đến văn bản vừa đến người đọc, người kể không trùm lấp nhân vật, văn bàn tạo nhiều đất

để người đọc tham gia đồng sáng tạo, để văn bản được kiến tạo nhiều lần Chính cái tôi phân mảnh của lối viết này đã khẳng định được tính dân chủ trong tự sự và tiếp nhận.” (Lê Huy Bắc, Truyện ngan lý luận tác giả tác phâm

tập 2, 2005)

Ông khắng định: “Văn chương cực hạn hậu hiện đại khước từ đại tự sự được thể hiện rõ trong việc lựa chọn vị trí và thái độ của người kể đối với câu

Trang 29

chuyện của mình Chủ thê trân thuật luôn ý thức che khuât cái tôi trân thuật của mình, biến cái tôi chủ quan thành cái tôi khách quan, biến câu chuyện của mình thành chuyện tự nó theo cách một câu chuyện tự kể về chính bản thân Trong trường hợp này, truyện biết nhiều hơn người kể, người kể trở thành người chứng cho chính mạch tự sự của mình.” (Lê Huy Bắc, Truyện ngắn lý luận tác giá tác phẩm tập 2, 2005)

Như vậy từ cách nói ít hơn những gì cần nói trong sáng tác mang tính cực hạn mà dường như vai trò của người đồng sáng tạo, những bạn đọc, được thể hiện rõ hơn Người đọc không chì chờ đợi một kết thúc mà đồng hành,

“sống” cùng những khoảnh khắc của nhân vật mà thấu được những điều chính mình cảm thấy, là quá trình tự trải nghiệm những điều đơn giản trong cuộc sống

Và mặc dù, những nhà văn mà sáng tác của họ mang tính chất cực hạn dường như không nói gì nhiều về quan điểm, tư tưởng cùa mình, cũng chẳng dẫn dắt bất kì câu chuyện nào đến một kết thúc đúng nghĩa thể nhưng chính những khoảng không ấy lại gợi ra muôn vàn điều, muôn vàn ý tường và cả những đúc kết mang tính quy luật của thế giới nhân sinh

1.2 Phan Triều Hải - nhà văn thành công vói lối viết cực hạn trong

Phan Triều Hải, Sinh 13.2.1969 tại Huế Năm 1991, ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, sau đó trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Tuổi trẻ của ông gắn liền với giai đoạn đất nước chuyển mình với nhiều gian khó lẫn đối thay Đắm mình trong giai đoạn văn chương có tính chuyền tiếp ấy với những chông chênh của con người nhưng vô cùng chân thực trong sáng tác phải kể đến những cái tên cùng thời với ông như Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Châu Giang, Lưu Sơn Minh, ở giai đoạn này viết trở thành nhu cầu bộc bạch đầy tự nhiên và

Trang 30

trong sáng của các tác giả tuôi đôi mươi trong đó có Phan Triêu Hải

Phan Triều Hải có nhiều tập truyện được độc giả yêu thích như: Vào đời (1994), Những linh hồn lạc (1995), Quán bò rừng (1995), Có một người nằm trên mái nhà (1997), Những con đường không đến Seattle (2005) Ngoài các tập truyện ngắn, ông còn có tập truyện dài Đi học (1999) - góp nhặt trải nghiệm khi nhận học bống khóa viết văn ở thành phố Iowa, Mỹ

Năm 2003, lần đầu tiên một hợp tuyển tác phẩm văn xuôi đương đại của các nhà văn tiêu biểu trong nước được dịch sang tiếng Anh do NXB Curbstone (Mỹ) xuất bản Cuốn sách với tựa đề Love After War (Tình yêu thời hậu chiến) được bình chọn là một trong 100 cuốn sách hay nhất năm

2003 của hai nhà văn tâm huyết Hồ Anh Thái và Wayne Karlin (Mỹ) Trong họp tuyển này, chúng ta nhận ra những tên tuổi lớn cùa văn xuôi đương đại Việt Nam, như Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Kiên , Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, những nhà văn mà kinh nghiệm sống sâu sắc nhất của họ được tích lũy, nảy sinh từ trong chiến tranh như Bảo Ninh, Trung Trung Đỉnh, Ngô Thị Kim Cúc, Lê Minh Khuê, Tạ Duy Anh ; cùng những nhà văn trẻ lớn lên sau chiến tranh đang sung sức như Võ Thị Xuân Hà, Phan Thị Vàng Anh, Phan Triều Hải, Nguyễn Ngọc Tư Truyện ngắn Có một người nằm trên mái nhà cùa Phan Triều Hải cũng góp mặt trong tuyển tập

Năm 2008, ông dịch Hội hè miên man (tiểu thuyết, hồi ký của Hemingway), tham gia viết một vở nhạc kịch với nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ cho Nhạc viện Hà Nội và Nhạc viện Malmo (Thuỵ Điển) vào 2008, sách dịch Nghề viết qua các kiệt tác phỏng vẩn (Nxb Hội Nhà văn)

Tập truyện ngắn mới nhất của Phan Triều Hải, Mỗi người một chỗ ngồi,

được xuất bản năm 2018 gồm sáu truyện: Bia lạnh, Cái tên biến mất, Mèo

Địa lý Đây là lần trở lại đầu tiên của nam tác già kể từ cuốn Những con

Trang 31

Đông Bắc được sáng tác từ 2008, năm truyện còn lại là tác phẩm mới

Phan Triều Hải cho rằng viết lách là một cái thú rất riêng, khi được viết lách là khi con người ông được tận hưởng Vì thế điều mà nhà văn mong muốn nhất là viết một tác phẩm không tiểu thuyết rất nhiều hiện thực nhưng mang tính văn chương Mang quan điểm sáng tác ấy mà mỗi tác phẩm của ông mở ra những số phận, từ số phận mở ra một số phận khác nhưng mãi không có hồi kết thúc Những con người ấy mang trong mình một một sự day dứt, lưng chừng của chọn lựa, chọn lựa một chồ đứng, chọn lựa một chồ ngồi trong dòng đời đầy hổi hả, xô bồ thế nên ta bắt gặp trong các tác phẩm của ông một sự lưng chừng bởi lẽ tác giả không trình bày những trải nghiệm đã qua mà là ông đang sống với một “mặt đời còn lênh chênh giữa hư và thực, yêu chưa phải yêu, hờn oán chưa phải hờn oán Cái giọng điệu đời riêng ấy cứ lưng chừng, nhợt nhạt một không khí vô sắc mà hơi hám buồn rầu Tuy nhiên cái hơi hám buồn rầu kia chỉ trong giây phút ngắn ngủi lại bày biện ra một không gian khác: một thứ dừng dưng hư không lơ lửng trong từng dòng chữ Một thứ hư vô của những cái nhìn bất định về tương lai, về một con đường trước mặt không biết sẽ khép mở thế nào” (Trịnh Công Sơn, Phan

tính chất cực hạn của nhà văn gốc Huế này

Đi tìm câu trả lời cho những yếu tố hình thành nên tính chất cực hạn trong các sáng tác của ông, ta có thể lý giải ở hai yếu tố Một là, giai đoạn nhà văn sống là thời kì sau đối mới của đất nước, sự đan xen giữa mới và cũ, giữa tiêu cực và tích cực, giữa niềm tin và sự hoài nghi khiến cho những người trẻ, trong đó có những nhà văn như ông ít nhiều phải trải qua những tăn trở suy tư

về sự thay đổi của xã hội và sự thích ứng của bản thân trong thời kì mới

Sự cởi trói trong sáng tác của các chính sách chính trị liên quan đến văn hóa nghệ thuật cũng giúp cho các nhà văn nói riêng mà nghệ sĩ nói chung tực

Trang 32

do sáng tạo, thê hiện cái nhìn riêng vê thê giới và phong cách sáng tác

Năm 2008, dịch phẩm Hội hè miên man (A Moveable Feast) hồi ký của Hemingway ra đời và nhận được nhiều lời khen cũng là một trong những nhà văn có ảnh hưởng trong sáng tác mang tính chất cực hạn của ông Bởi vì như trên đã trình bày nguyên tắc sáng tác “tảng băng trôi” trong các sáng tác của Hemingway cũng rất gàn với tính chất cực hạn trong nghiên cứu của đề tài

Yếu tố quan trọng khác chính là yếu tố bên trong tức là bản thân nhà văn Trong bài viết Đi mãi rồi cũng phải dừng đăng trên báo Tiền Phong số ra ngày 13-6-2019, nhà văn Hồ Anh Thái với lối viết dí dỏm kể lại nhùng kỷ niệm với Phan Triều Hải đã giúp độc giả hình dung về con người của Phan Triều Hải, đó là người thích tìm tòi, quan sát, sống với hiện thực cỏn con của cuộc đời như nếm trải, nhâm nhi sống ở Hà Nội gần năm năm cho đến trước đại hội nhà văn năm 2010, “trong năm năm ấy, Hải ra hẳn Hà Nội, thỉnh thoảng có việc mới vào Sài Gòn ít ngày Y cày cho hết những đường phố ngõ hẻm Hà Nội Ãn tượng với hồ Tây ở những đoạn như Võng Thị, nhiều lúc mặt hồ nổi sóng như biển Những quán cóc trên vỉa hè phố Tây phố cổ ” Chia tay Hà Nội về với Sài Gòn, những lá thư điện tử gửi Hồ Anh Thái cũng thể hiện cái nhìn và tính cách của ông, điều ấy ảnh hưởng ít nhiều trong sáng tác “Thỉnh thoảng y lại gửi thư điện tử cho tôi, kể những chuyện vẩn vơ Sài Gòn vài bữa nay có mưa, người nghẽn lại ở nơi đường này đường nọ Tự nhiên nhớ mưa Hà Nội Tháng này là mùa thu Hà Nội, tự nhiên lại nhớ hồ Tây Thảng hoặc y lại có dịp ra Hà Nội chấm bài cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi, hoặc công việc của công ty, đấy là những dịp đế cho y bớt được nỗi nhớ nhung Rồi chuyển sang định cư ở Bắc Carolina, y vẫn thỉnh thoảng

đi về Sài Gòn và ghé qua Hà Nội” (Hồ Anh Thái, Đi mãi rồi cũng phải dừng,

2019)

Có thể thấy, sự quan sát những khoảnh khắc của cuộc sống nó không chỉ

là thói quen mà đã trở thành phong cách không thể thiếu của Phan Triều Hải

Trang 33

trong các sáng tác của ông Những mảnh đời thoáng xuât hiện trong phút giây, miên man trong suy tưởng của nhà văn đã tạo nên nét riêng độc đáo gần với phong cách viết của chủ nghĩa hậu hiện đại

Trong số các tác phẩm của Phan Triều Hái, ngoại trừ hai bản dịch, một là hồi ký, một là một bài phỏng vấn các nhà văn nước ngoài và một tập truyện dài Đz‘ học (1999), còn lại tất cả những sáng tác của ông đều là truyện ngắn Tất cả những tác phẩm viết vào thập niên 1990 của thế kỷ trước và những tác phẩm viết vào những năm 2000 đếu có một điểm giống nhau đem lại thành công cho nhà văn, đó là việc ông chỉ tái hiện những lát cắt mỏng manh của cuộc sống, những khoảnh khắc bắt gặp của con người thế nhưng nhân tình thế thái vẫn hiển hiện mồn một trong ấy Những câu chuyện không có những sự kiện gây cấn, cũng chẳng đi đến đâu, đôi khi chẳng cung cấp cho người đọc một thông tin gì từ từng con chữ, ấy vậy mà cả một hành trình trăn trở suy tư

vê cuộc đời, vê con người cứ đau đáu nôi niêm

Đem lại những trài nghiệm mở cho người đọc như đã nêu ờ trên, nhà văn Phan Triều Hải đã sử dụng các diễn đạt khách quan, không bộc lộ cảm xúc, ông đế bản thân các sự kiện cứ thế diễn ra như tự nhiên cuộc sống của nó vốn vậy Ngôn ngữ cực ngắn, sử dụng nhiều câu đơn, không miêu tà, không cao trào, không kết thúc, giới hạn mọi thông tin kể, Truyện thường tập trung vào nội dung phản ánh cuộc sống, những lát cắt mỏng manh cùa cuộc sống con người, những khoảnh khắc khó quên hay chỉ là những lát cắt rất bình thường Đó có thế chỉ là cuộc gặp gỡ ngắn ngủi thoáng qua không hẹn trước hoặc có sắp đặt

Đe tài truyện ngắn của Phan Triều Hải xoay quanh những việc trong cuộc sống của con người mà chủ yếu là dân thành thị, từ chuyện học hành, chuyện đi làm, chuyện tình cảm gia đình, chuyện tình yêu đến chuyện công việc Nhân vật thể hiện trong tác phẩm cũng đa dạng phong phú, là những

Trang 34

Cùng với những nhà văn khác, Phan Triều Hải, với những tác phẩm mang phong cách riêng của mình, đã đóng góp không nhỏ cho diện mạo văn học nước nhà, đặc biệt sau thời kỳ Đồi mới Tiếp cận tác phẩm của nhà văn cũng là một cơ hội để ghi nhận sự sáng tạo của ông.

Tính chất cực hạn - một phương diện ưu trội của chủ nghĩa hậu hiện đại

- là mảnh đất màu mỡ cho việc nghiên, định vị văn học đương đại Việt Nam

Và truyện ngắn Phan Triều Hải, theo chúng tôi, là một đại diện tiêu biểu cho cách nghiên cứu trường hợp (case study) này Sáng tác của ông mang nhiều đặc điểm của văn học có tính cực hạn cả về nội dung và hình thức nghệ thuật

Đó là những câu chuyện cực ngắn, không cốt truyện, không kết thúc, lược bở mọi đánh giá, yếu tố miêu tả mờ nhạt, loại bỏ hoàn toàn dấu ấn của nhà văn, dàn trải trên những câu văn là thì hiện tại, dẫu viết về quá khứ cũng từ hiện tại, vì hiện tại, Vì vậy tiếp cận các sáng tác của ông từ góc nhìn này giúp chúng tôi không chỉ phát hiện được phong cách nhà văn mà còn góp phần khá tốt những đóng góp của ông cho văn học đương đại Việt Nam

Ớ Việt Nam, việc nghiên cứu, tiếp cận các tác phấm văn học Việt Nam nói chung và nghiên cứu văn chương của Phan Triều Hải nói riêng bằng lý

Trang 35

thuyêt của chủ nghĩa hậu hiện đại đặc biệt ở thê nghiệm sáng tác cực hạn chưa nhiều, riêng ở nhà văn Phan Triều Hải thì chưa từng có Vì thế, trong bước đi đầu tiên của mình, chúng tôi hi vọng luận văn của mình sẽ mở ra một hướng tiếp cận mới không chỉ đối với những sáng tác của nhà văn Phan Triều Hải

Trang 36

Tiêu kêt chương 1

Tính chất cực hạn trong văn chương nói chung ờ các nước phương Tây

đã thu hút sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu, đặc biệt sự quan tâm

ấy dành cho những nhà văn Mỹ tiêu biểu cho phong cách sáng tác này Song

ở Việt Nam, việc nghiên cứu tính chất cực hạn trong các sáng tác của nhà văn đương đại rất ít, thậm chí trước đây chưa từng có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến thể nghiệm sáng tác này trong sáng tác của Phan Triều Hài

Có thế nói, luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên về việc khảo sát, nghiên cứu các sáng tác của nhà văn Phan Triều Hải dưới góc nhìn của chủ nghĩa cực hạn Đây thực sự vừa là một khó khăn cũng là cơ hội cho chúng tôi trong việc nghiên cứu

Trang 37

Chương 2 NHÂN VẬT VÀ HOÀN CẢNH cục HẠN TRONG TRUYỆN NGẮN PHAN TRIỀU HẢI

Nhân vật trong văn xuôi nói chung và trong truyện ngắn nói riêng là một trong những yếu tố quan trọng của tác phẩm Nghiên cửu văn chương từ việc tiếp cận các nhân vật giúp người đọc phát hiện nhiều điều về tác phẩm như thề loại, trào lưu, phong cách sáng tác của nhà văn, Từ lâu người ta coi nhân vật phương tiện cơ bản để người nghệ sĩ miêu tả đời sống và thể hiên quan điểm, tư tưởng của họ về đời sống

Nhân vật trong văn học là con người được nhà văn xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, nhân vật là con người với tên gọi đầy đủ hoặc không có tên gọi, nhân vật có thể là đồ vật, con vật, cây cối, có hành động, suy nghĩ như con người Nhân vật quan trọng trước hết bởi nó là sợi dây dẫn đắt con người vào thế giới cuộc sống mà nhà văn tái hiện trong tác phẩm cùa mình Qua nhân vật, nhà văn cũng gửi gắm cả nhũng suy tư, trăn trở về cuộc sống

Các nhà văn ở mỗi thời đại văn học đều có cách thế hiện nhân vật khác nhau Trong văn học truyền thống, nhân vật được thể hiện qua nguồn gốc, lai lịch, công việc, tính cách, các mối quan hệ,

Một số nhà cấu trúc chủ nghĩa từ Tz Todorov, R Barhtes, c Bremond, A.J Greimas đều xem nhân vật như một vai chức năng để tạo câu chuyện Họ cho rằng vai trò mà nhân vật đảm nhiệm là cái duy nhất khiến người ta quan tâm, ví như người trợ thủ, kẻ phục thù, người môi giới, kẽ trọng tài, Đến thế kỷ XIX, các nhà tiểu thuyết và phê bình văn học lại xem nhân vật như là một cá tính, một nhân cách, một thế giới có tính độc lập với câu chuyện Câu chuyện chỉ nhằm mục đích làm phát lộ con người trong nhân vật Bản thân

Trang 38

sự sẽ đạt được hiệu quả trong việc thế hiện nhân vật, thế hiện quan điếm cá nhân cũng như phản ánh thế giới.

Nhân vật theo quan niệm văn học truyền thống là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ là sự thể hiện của con người qua những đặc điểm Nhân vật có sức sống hay không phụ thuộc vào tính cách của nhân vật Mà mỗi tính cách chỉ được thể hiện một cách đầy đủ và sinh động quan hoàn cảnh Hoàn cảnh trong tác phấm văn học không phải sự phản ánh một cách máy móc hoàn cảnh thực tế mà được khái quát hóa, cá biệt hóa khi đưa vào tác phẩm Hoàn cảnh ấy bao gồm cả hai yểu tố thời gian và không gian

Thời gian và không gian theo quan niệm của triết học là hình thức tồn tại của vật chất Con người cũng là một hình thức của vật chất vì thế con người cũng luôn tồn tại và thể hiện mình trong thế giới bốn chiều gồm ba chiều không gian và một chiều thời gian Tồn tại trong khoảng thời gian và không gian ấy, con người luôn phải linh hoạt để thích nghi với mọi sự biển đối của thời gian và không gian Trong sự thích nghi với môi trường ấy, con người phải nắm một điều qua trọng rằng thời gian và không gian có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau, không thể có thời gian mà không có không gian và ngược lại

Thời gian được nói đến trong các tác phẩm văn học nói chung và trong

Trang 39

truyện ngăn nói riêng là thời gian nghệ thuật Có nhiêu quan niệm khác nhau

về thời gian nghệ thuật Từ điển thuật ngữ văn học chỉ ra rằng sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thờigian, được biết qua thời gian trần thuật Sự phối hợp của hai yếu tố thời giannày tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật Như vậy định nghĩa trên chỉ rõ thời gian nghệ thuật trong tác phẩm truyện chính là sự kết hợp giữa thời gian trần thuật và thời gian câu chuyện Thời gian ấy mang tính ước lệ

về đặc trưng của thời gian nghệ thuật, Từ điên thuật ngữ Vãn học cũng chỉ rõ: “Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tưcmg lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại

có thể kéo dài cái chốc lát lại vô tận Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp đi lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia tay, mùa này, mùa khác tạo nên nhịp điệu tác phẩm” (Lê Bá Hán, Từ điên thuật ngữ Văn học,

2007) Như vậy thời gian nghệ thuật không tuân theo trình tự như thời gian vật lý, nó không theo trình tự trước sau mà hoàn toàn phụ thuộc vào ý tưởng của người nghệ sĩ, nhanh hay chậm, ngắn hay dài, tương lai hay quá khứ đều

là câu chuyện của người sáng tác Cách thức thể hiện của thời gian nghệ thuật cũng rất đặc biệt, có khi là phút giây, là ngày tháng năm, có khi lại là một buổi sáng, lúc buổi chiều, khi lại là hôm ấy, ngày nọ, có khi lại được đánh dấu bằng sự sống, cái chết hay cuộc chia ly, Như thế thời gian nghệ thuật không chỉ giúp người đọc nhận thức về thế giới hiện thực mà còn khám phá được tư tưởng của người nghệ sĩ

Thời gian nghệ thuật cũng được quan niệm một cách cụ thể trong Dần

luận thi pháp vãn học của Trần Đình Sử Theo tác giả “Thời gian nghệ thuật

Trang 40

là một phạm trù của nghệ thuật Đó là thời gian mà ta có thê trải nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều dài là hiện tại, quá khứ hay tương lai” (Trần Đình Sử, Dần

luận thi pháp vãn học, 2017) Thời gian nghệ thuật là hình tượng nghệ thuật, sản phẩm sáng tạo của tác giả, gắn liền với sự cảm thụ của người đọc Thiếu

sự cảm thụ, tưởng tượng của người đọc về độ dài, nhịp điệu, trình tự của thời gian thì thời gian nghệ thuật không tồn tại Nhưng thời gian nghệ thuật cũng không phải là một hiện tượng tâm lí cá nhân người đọc mà là một sáng tạo khách quan trong chất liệu Nếu như một tác phẩm có thể gây hiệu quả hồi hộp đợi chờ thì đối với ai, lúc nào, khi cảm thụ, thời gian ấy đều xuất hiện Là hình thức của hình tượng nghệ thuật, thời gian nghệ thuật thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật thực chất cùa người nghệ sĩ “Người nghệ sĩ có thể chọn điểm bắt đầu và kết thúc, có thể nhanh hay chậm, có thể xuôi hay đảo ngược, có thể chọn điểm nhìn từ quá khứ, hiện tại, tương lai Có thể chọn độ dài, một khoảnh khắc hay nhiều thế hệ, nhiều cuộc đời Thời gian thể hiện ý thức sáng tạo của nghệ thuật” (Trần Đình Sử, Dần luận thi pháp văn học, 2017)

Quan niệm về thời gian nghệ thuật cũng được Trần Đình Sử trình bày trong Một sổ vấn đề thì pháp học hiện đại'. “Thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, thể hiện phương thức tồn tại và triển khai của thời gian nghệ thuật”; “Thời gian nghệ thuật là cái thời gian được càm nhận bằng tâm lý, qua chuỗi các biến đồi (biến cố) có ý nghĩa thấm mĩ xảy ra trong thế giới nghệ thuật” (Trần Đình Sử, Một số vẩn đề thi pháp học hiện đại

1993)

Đáng lưu ý, Trần Đình Sử cho rằng “Thời gian nghệ thuật được xây dựng theo cách cảm nhận thời gian của con người” Quan niệm này xem thời gian nghệ thuật thuộc hình thức tổ chức nghệ thuật trong tác phẩm - một phạm trù đặc trưng của văn học Dấu hiệu nhận biết thời gian trong trong tác phẩm văn học được thể hiện bằng nhiều phương tiện như: các trạng từ thời

Ngày đăng: 02/08/2022, 12:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w