1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Tâm lý học: Kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên ở các học viện, trường đại học Công an nhân dân

235 8 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 235
Dung lượng 5,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án Tiến sĩ Tâm lý học Kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên ở các học viện, trường đại học Công an nhân dân trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên ở các học viện, trường đại học Công an nhân dân, đề xuất các biện pháp tâm lý sư phạm phát triển kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ cho sinh viên, góp phần nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

TRẦN HƯƠNG LIÊN

Kü N¡NG HäC TËP THEO HäC CHÕ TÝN CHØ CñA SINH VI£N

ë C¸C HäC VIÖN, TR¦êNG §¹I HäC C¤NG AN NH¢N D¢N

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

TRẦN HƯƠNG LIÊN

Kü N¡NG HäC TËP THEO HäC CHÕ TÝN CHØ CñA SINH VI£N

ë C¸C HäC VIÖN, TR¦êNG §¹I HäC C¤NG AN NH¢N D¢N

Chuyên ngành: Tâm lý học

Mã số : 931 04 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS TS Nguyễn Đình Gấm

2 PGS TS Nguyễn Thị Tình

HÀ NỘI - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận

án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trần Hương Liên

Trang 4

1.2 Các công trình nghiên cứu về kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ 22 1.3 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG HỌC TẬP THEO HỌC

CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN Ở CÁC HỌC VIỆN,

2.1 Đặc điểm hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên

2.2 Lý luận về kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên ở

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ

của sinh viên ở các học viện, trường đại học Công an nhân dân 68

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ KỸ NĂNG

HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN

Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG AN

4.1 Thực trạng kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên ở

4.2 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng học tập theo học

chế tín chỉ của sinh viên ở các học viện, trường đại học Công an

học chế tín chỉ cho sinh viên ở các học viện, trường đại

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Biểu hiện KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học

Bảng 3.1 Độ tin cậy của thang đo kỹ năng lập kế hoạch học tập

Bảng 3.5 Kỹ năng lập kế hoạch học tập theo học chế tín chỉ của sinh

viên lớp D52C - Học viện An ninh nhân dân trước

Bảng 3.6 Tổng hợp mức độ biểu hiện KNHT theo HCTC của

sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND 106 Bảng 4.1 KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại

Bảng 4.2 Kết quả giải bài tập tình huống học tập theo HCTC của sinh

Bảng 4.3 So sánh đánh giá của sinh viên với đánh giá của giảng

viên, cán bộ quản lý đào tạo, cán bộ quản lý học viên

Bảng 4.4 Kỹ năng lập kế hoạch học tập theo HCTC của sinh viên

Bảng 4.5 So sánh đánh giá của của sinh viên với đánh giá của

giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo, cán bộ quản lý học viên về kỹ năng lập kế hoạch học tập theo HCTC 122 Bảng 4.6 Đánh giá chung về kỹ năng thực hiện hoạt động học tập

theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại

Bảng 4.7 Kỹ năng học trên lớp của sinh viên ở các học viện,

Bảng 4.8 Kỹ năng tự học của sinh viên ở các học viện, trường

Trang 7

Bảng 4.9 Kỹ năng điều chỉnh hoạt động học tập theo HCTC của

sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND 135 Bảng 4.10 Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố đến KNHT theo

HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học

Bảng 4.11 Hệ số hồi quy mức độ tác động của các yếu tố ảnh

hưởng đến KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 4.1 Tương quan giữa các KNHT theo HCTC của sinh

Sơ đồ 4.2 Tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng với kỹ năng

học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên ở các học

Biểu đồ 4.1 So sánh KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học

viện, trường đại học CAND theo kết quả học tập 113 Biểu đồ 4.2 So sánh KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học

Biểu đồ 4.3 So sánh KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học

viện, trường đại học CAND dân theo năm đào tạo 115 Biểu đồ 4.4 So sánh kỹ năng học tập theo HCTC của sinh viên ở các

học viện, trường đại học CAND theo cơ sở đào tạo 116 Biểu đồ 4.5 So sánh kỹ năng lập kế hoạch học tập của sinh viên ở các

học viện, trường đại học CAND theo kết quả học tập 122 Biểu đồ 4.6 So sánh kỹ năng lập kế hoạch học tập theo HCTC của sinh

viên ở các học viện, trường đại học CAND theo giới tính 123 Biểu đồ 4.7 So sánh kỹ năng lập kế hoạch học tập theo HCTC của

sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND theo

Biểu đồ 4.8 So sánh kỹ năng lập kế hoạch học tập theo HCTC của

sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND theo cơ

Trang 8

Biểu đồ 4.9 So sánh kỹ năng thực hiện hoạt động học tập theo HCTC

của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND theo

Biểu đồ 4.10 So sánh kỹ năng thực hiện hoạt động học tập theo

HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học

Biểu đồ 4.11 So sánh kỹ năng thực hiện hoạt động học tập theo HCTC

của sinh viên ở các học viện, trường đại học Công an

Biểu đồ 4.12 So sánh kỹ năng thực hiện hoạt động học tập theo HCTC

của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND theo

Biểu đồ 4.13 So sánh kỹ năng điều chỉnh hoạt động học tập theo

HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học

Biểu đồ 4.14 So sánh kỹ năng điều chỉnh hoạt động học tập theo

HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học

Biểu đồ 4.15 So sánh kỹ năng điều chỉnh hoạt động học tập theo

HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học

Biểu đồ 4.16 So sánh kỹ năng điều chỉnh hoạt động học tập theo

HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học

Biểu đồ 4.17 Kỹ năng lập kế hoạch học tập của sinh viên trước và

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Hình thức đào tạo theo tín chỉ được chính thức triển khai rộng rãi tại các cơ sở giáo dục ở Việt Nam từ năm 2010, tuy nhiên, tại các học viện, trường đại học CAND, hình thức đào tạo này mới chỉ được áp dụng vài năm gần đây Với hình thức học tập này, sinh viên có quyền tự đăng ký môn học, tự quyết định kế hoạch học tập cho mình, linh hoạt học tập các môn theo khả năng, sở trường và chủ động điều chỉnh tiến độ học tập phù hợp với bản thân Với số lượng tiết thực hành, thảo luận, seminar và bài tập nhóm lớn, đòi hỏi người học phải thực sự tích cực, nỗ lực và có những kỹ năng học tập cần thiết

Từ khi được triển khai đến nay, học chế tín chỉ đã phát huy được tính ưu việt, bộc lộ nhiều mặt tích cực, tuy nhiên trong các học viện, trường đại học CAND, nhiều sinh viên vẫn chưa có kỹ năng học tập hiệu quả Một số sinh viên chưa phát huy được tính chủ động và tích cực học tập, vẫn phụ thuộc vào giảng viên, thiếu các kỹ năng học tập theo HCTC như: chưa biết cách lập kế hoạch học tập, thiếu linh hoạt, chủ động trong tìm kiếm và khai thác thông tin, chưa hợp tác tốt trong làm việc nhóm, lãng phí thời gian trong giờ tự học, chưa chuẩn bị chu đáo nhiệm vụ học tập trước khi lên lớp, chưa biết cách điều chỉnh hoạt động học tập cho phù hợp… Mặt khác, hoạt động học tập của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND phải lĩnh hội nhiều kiến thức và kỹ năng đặc thù của ngành công an, phải nghiên cứu và tiếp cận nhiều tài liệu thuộc danh mục bí mật của nhà nước, môi trường học tập mang tính kỷ luật, gò bó… khiến việc học tập theo HCTC gặp nhiều khó khăn trong việc trao đổi tài liệu, tiếp cận nguồn thông tin; tiến trình học tập các môn học khó sắp xếp linh hoạt Những thiếu sót trên đã dẫn tới một số hạn chế trong quá trình học tập theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

Sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND là những cán bộ công

an trong tương lai, sẽ có nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự

an toàn xã hội Trong xu hướng hội nhập toàn cầu, đòi hỏi họ phải phát huy

Trang 10

năng lực cá nhân, chủ động trong nghiên cứu, tìm tòi và hình thành các kỹ năng cần thiết, linh hoạt và có trách nhiệm với nhiệm vụ Mặt khác, quán triệt thực hiện Nghị quyết số 18 - NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) về

“Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”[21]; Nghị quyết số 19-NQ/TW về

“Một số vấn đề tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”[22], ngành

Công an có nhiều thay đổi về mặt cơ cấu tổ chức nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả công tác, xây dựng Bộ Công an theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở” Đặt trong bối cảnh chung của ngành, các học viện, trường đại học CAND cũng có nhiều thay đổi, chỉ tiêu tuyển sinh giảm mạnh, chất lượng tuyển sinh đầu vào nâng cao Thực tế trên vừa là thuận lợi đồng thời cũng đặt ra một số khó khăn cho các học viện, trường đại học CAND trong việc tổ chức hoạt động giáo dục theo HCTC

Kỹ năng là vấn đề cơ bản trong tâm lý học và trong thực tiễn Kỹ năng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của con người nói chung và nâng cao hiệu quả hoạt động học tập nói riêng Hình thành kỹ năng học tập cho sinh viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng cần được quan tâm Việc nghiên cứu kỹ năng và ứng dụng vào các hoạt động đa dạng của con người, đặc biệt là hoạt động dạy và học luôn là đòi hỏi cấp bách, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo

Đặc biệt, trong học tập theo học chế tín chỉ, sinh viên phải chủ động thực hiện các hoạt động học tập, việc hình thành và phát triển các kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ là rất cần thiết Kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ giúp sinh viên tiến hành các hành động học tập trôi chảy, đầy đủ, sáng tạo, phù hợp với hình thức đào tạo tín chỉ, từ đó nâng cao hiệu quả học tập, giúp sinh viên tích lũy được nhiều kiến thức và hình thành được nhiều kỹ năng nghề nghiệp trong khoảng thời gian nhất định Đối với sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND, thời gian học tập và rèn luyện không chỉ diễn ra trên lớp mà thường xuyên diễn ra ở không gian thao trường và hoạt động thực

Trang 11

tiễn, việc phát triển KNHT theo HCTC để sinh viên có thể học mọi lúc, mọi nơi là rất cần thiết

Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về KNHT của sinh viên và một số công trình nghiên cứu về KNHT theo HCTC Các công trình này đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản của kỹ năng nói chung và KNHT nói riêng, chỉ ra các biểu hiện và mức độ của KNHT, làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tới KNHT của sinh viên Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về KNHT theo HCTC của sinh viên các học viện, trường đại học CAND

Do đó, nghiên cứu kỹ năng học tập theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND, đề xuất giải pháp phát triển KNHT theo HCTC cho sinh viên ở các các cơ sở đào tạo này, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo là cấp thiết

Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên ở các học viện, trường đại học Công an nhân dân”

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND, đề xuất các biện pháp tâm lý sư phạm phát triển KNHT theo HCTC cho sinh viên, góp phần nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên

Nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng mức độ, biểu hiện KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

Đề xuất các biện pháp tâm lý - sư phạm nhằm phát triển KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

Trang 12

Tổ chức thực nghiệm tác động một số biện pháp phát triển KNHT theo HCTC cho sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện và mức độ KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND; Các yếu tố ảnh hưởng đến KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

Khách thể nghiên cứu

Sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

Giảng viên, cán bộ quản lý học viên và cán bộ quản lý đào tạo tại 03 cơ

sở đào tạo: Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Đại học

Kỹ thuật - Hậu cần CAND

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung:

KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

có nhiều kỹ năng thành phần, luận án chỉ tập trung nghiên cứu các kỹ năng rất

cơ bản như: kỹ năng lập kế hoạch học tập theo HCTC; kỹ năng thực hiện hoạt động học tập theo HCTC; kỹ năng điều chỉnh hoạt động học tập theo HCTC

Về địa bàn nghiên cứu:

Nghiên cứu trên sinh viên 03 học viện, trường đại học Công an nhân dân: Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Đại học Kỹ thuật - Hậu cần CAND

Về khách thể nghiên cứu:

Nghiên cứu tổng số 503 sinh viên đại học hệ chính quy tại các Học viện, trường đại học CAND Trong đó: 172 sinh viên Học viện An ninh nhân dân, 181sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân, 150 sinh viên Đại học Kỹ thuật - Hậu cần CAND; 35 giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo, cán bộ quản lý học viên tại các học viện, trường đại học CAND

Trang 13

4 Giả thuyết khoa học

KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

ở mức trung bình, các nhóm KNHT theo HCTC ở mức độ khác nhau, trong

đó kỹ năng thực hiện hoạt động học tập theo HCTC ở mức cao nhất, kỹ năng lập kế hoạch học tập theo HCTC ở mức thấp nhất

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến KNHT theo HCTC của sinh viên Trong

đó, yếu tố tính tích cực, chủ động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên có ảnh hưởng nhiều nhất; cách thức tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ có ảnh hưởng ít hơn các yếu tố còn lại

Có thể phát triển KNHT theo HCTC cho sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND bằng cách nâng cao nhận thức cho sinh viên về cách thức tổ chức các hành động học tập theo HCTC; cho sinh viên rèn luyện qua giải quyết các nhiệm vụ học tập cụ thể

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về

về giáo dục, đào tạo nói chung, và về học tập, kỹ năng học tập nói riêng làm

cơ sở lý luận; Các quan điểm, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng ủy Công an Trung ương về công tác giáo dục, đào tạo

Cách tiếp cận của tâm lý học được sử dụng trong nghiên cứu luận án bao gồm:

Tiếp cận hoạt động: Các KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học

viện, trường đại học CAND được thực hiện thông qua hoạt động học tập trong

và ngoài giờ lên lớp Việc nghiên cứu KNHT này phải thông qua thực tiễn hoạt động học tập của sinh viên Tức là nghiên cứu thông qua quan sát, nghiên cứu hành động học tập của sinh viên giải các bài tập tình huống và

đánh giá kết quả hành động học tập của sinh viên

Tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu các KNHT theo HCTC của sinh viên

ở các học viện, trường đại học CAND trong mối quan hệ tương hỗ của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: Yếu tố tâm lý cá nhân, yếu tố

Trang 14

tâm lý xã hội, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, điều kiện kinh tế của xã hội…Vì vậy, việc nghiên cứu các KNHT theo HCTC của sinh viên như một hệ thống cấu trúc nhiều thành tố, mối quan hệ giữa các thành tố bằng một hệ thống phương pháp tiếp cận và phải nghiên cứu trong mối

quan hệ tương hỗ của nhiều yếu tố

Tiếp cận phát triển: Việc rèn luyện và phát triển các KNHT theo HCTC

của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND cần đặt trong bối cảnh phát triển chung của nền kinh tế xã hội và của hệ thống giáo dục cũng như trong quá trình phấn đấu đạt mục tiêu tín chỉ hóa nền giáo dục đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay Mặt khác, việc rèn luyện KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND cần đặt trong bối cảnh có nhiều thay đổi của lực lượng CAND hiện nay

Tiếp cận liên ngành: Đề tài sử dụng kiến thức của nhiều ngành tâm lý: Đào

tạo sinh viên ngành công an gắn với dạy các kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ công

an Khi nghiên cứu KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND cần phối hợp những thành tựu của nhiều ngành khoa học, như: Tâm lý

học Dạy học, Tâm lý học Sư phạm, Tâm lý học phát triển, Giáo dục học…

Phương pháp nghiên cứu

Trong phạm vi luận án, chúng tôi sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa,

khái quát hóa các tài liệu nhằm thu thập, khai thác các thông tin để xây dựng

cơ sở lý luận của luận án

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát; phương

pháp điều tra bằng bảng hỏi; phương pháp phỏng vấn sâu; phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động (thông qua giải bài tập tình huống); phương pháp thực nghiệm tác động;

Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Số liệu thu được

sau khảo sát thực tế được xử lý bằng chương trình SPSS dùng trong môi trường Window phiên bản 20.0

Trang 15

6 Những đóng góp mới của luận án

Đóng góp về lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung lý luận cơ bản về KNHT, KNHT theo HCTC của sinh viên Công an nhân dân Luận án đã nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận của Tâm lý học nói chung, Tâm lý giáo dục nói riêng Cụ thể, kết quả nghiên cứu đã xác định 3 KNHT theo HCTC thành phần, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND Luận án cũng đã đưa

ra những đặc trưng cơ bản trong hoạt động học tập theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

Đóng góp về thực tiễn

Luận án làm sáng tỏ thực trạng biểu hiện và mức độ KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND; chỉ ra các mặt hạn chế của các kỹ năng đó Các nhóm sinh viên có KNHT theo HCTC ở mức độ khác nhau

và chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố đến KNHT theo HCTC của họ Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND có

kỹ năng thực hiện hoạt động học tập theo HCTC ở mức cao nhất, kỹ năng lập kế hoạch học tập theo HCTC ở mức thấp nhất Quá trình phát triển KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến các yếu tố như: Động cơ học tập theo HCTC của sinh viên; hiểu biết của sinh viên về học tập theo HCTC; tính tích cực, chủ động học tập theo HCTC của sinh viên; kinh nghiệm hướng dẫn của cố vấn học tập; năng lực và phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên; cách thức tổ chức đào tạo theo HCTC; cơ sở vật chất phục vụ học tập theo HCTC

Luận án đề xuất được một số biện pháp tâm lý sư phạm phát triển KNHT theo HCTC của sinh viên bằng việc nâng cao nhận thức cho sinh viên

về cách thức tổ chức các hành động học tập theo HCTC; rèn luyện KNHT theo HCTC cho sinh viên thông qua giải quyết các nhiệm vụ học tập cụ thể Thực nghiệm nâng cao KNHT theo HCTC ở nhóm thực nghiệm

Trang 16

7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Luận án là tài liệu tham khảo cho đội ngũ giảng viên, cán bộ làm công tác đào tạo ở các học viện, trường đại học CAND trong quá trình đào tạo sinh viên, là tài liệu tham khảo cho sinh viên để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ học tập, rèn luyện

Luận án cung cấp thêm cơ sở khoa học cho Đảng ủy, Ban Giám đốc, Ban Giám hiệu và các lực lượng giáo dục ở các học viện, trường đại học Công an nhân dân vận dụng vào thực tiễn công tác quản lý, tổ chức đào tạo nhằm phát triển KNHT theo HCTC cho sinh viên, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

8 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (13 tiết), kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình công bố, phụ lục

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu về kỹ năng học tập

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về vai trò của kỹ năng học tập

Các tác giả M.W Brenna, L.C.Susan, C.B.Scott, R Carol (1986), "Ảnh hưởng của các khóa tập huấn kỹ năng học tập đến hiệu quả học tập của sinh viên" [95] Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: "Các khóa tập huấn kỹ năng học tập có tác động tích cực đến hiệu quả học tập của sinh viên" [95, tr33] Những sinh viên tham gia khóa học có mức độ hiệu quả học tập ban đầu thấp hơn so với nhóm sinh viên đối chứng nhưng sau khi tham gia khóa tập huấn lại có kết quả học tập bằng hoặc cao hơn so với nhóm sinh viên đối chứng

H.John, B John, P Nola (1996), "Ảnh hưởng của kỹ năng học tập đối với việc học" [107] Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu bằng cách giúp sinh viên phát triển một kỹ năng hoặc kết hợp nhiều kỹ năng học tập Trong đó tập trung vào các kỹ năng liên quan đến giải quyết nhiệm vụ học tập, quản lý việc học, tạo động lực học tập cho sinh viên Các tác giả khẳng định, học tập không chỉ dừng lại

ở việc giúp sinh viên ghi nhớ đơn giản nội dung bài học, mà quan trọng là giúp người học giải quyết được các nhiệm vụ học tập, thúc đẩy được người học hoạt động tích cực, từ đó phát triển khả năng nhận thức Nghiên cứu của tác giả đã chứng minh kỹ năng học tập có khả năng giúp người học đạt được thành công

Như vậy, các tác giả cùng chung quan điểm cho rằng kỹ năng học tập

có tác động tích cực đến hoạt động học tập của sinh viên và góp phần vào thành công của sinh viên

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về biểu hiện của kỹ năng học tập

Các tác giả nghiên cứu biểu hiện của kỹ năng học tập theo hai hướng chính

Hướng thứ nhất, nghiên cứu theo quá trình tiến hành hoạt động học tập:

L Simpson, R.C Hynd, L.S.Nist, I K Burrel (1997), "Chương trình và

bài tập thực hành hỗ trợ học tập đại học" [129] Các tác giả đưa ra quan điểm

Trang 18

"học để học", đề cao mô hình học tập phát triển kỹ năng học tập có kế hoạch

và kỹ năng tự điều chỉnh của sinh viên

Lê Khánh Bằng (1999),“Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả

của quá trình tự học theo quan điểm giáo dục học hiện đại" [4] đưa ra quan điểm người học phải rèn luyện các kỹ năng cơ bản như kỹ năng định hướng, kỹ năng thiết kế, kỹ năng thực hiện kế hoạch, kỹ năng tự kiểm tra,

tự đánh giá quá trình học tập của bản thân

Trần Quốc Thành (1995), “Kỹ năng học tập của Sinh viên sư phạm trong điều kiện học theo chế độ học phần” [71], đưa ra một hệ thống các kỹ năng cần rèn luyện cho sinh viên, trong đó có kỹ năng định hướng, kỹ năng thiết

kế, kỹ năng thực hiện, kỹ năng kiểm tra đánh giá Theo tác giả, "muốn hình thành được KNHT này, giáo viên cần phải tổ chức và bồi dưỡng cho sinh viên trong quá trình dạy học" [71, tr.37-42]

Lê Hải Nam (2009), Kỹ năng học của sinh viên đại học đào tạo theo hình thức từ xa [52] chỉ ra các kỹ năng cần hình thành ở người học gồm: kỹ

năng lập kế hoạch học; kỹ năng tổ chức việc học; kỹ năng kiểm tra, đánh giá việc học của bản thân

Nguyễn Thị Tuyết (2018), Kỹ năng học tập của sinh viên Sư phạm Kỹ thuật [79] chia kỹ năng học tập thành 4 nhóm: Nhóm kỹ năng tiếp nhận thông tin

môn học; Nhóm kỹ năng xử lý thông tin môn học; Nhóm kỹ năng sử dụng thông tin môn học; Nhóm kỹ năng làm việc phối hợp nhóm học tập

Hướng thứ hai, nghiên cứu theo các hành động học tập người học cần tiến hành:

M N Xcátkin (1980), Lý luận dạy học của trường phổ thông [17], đã

xem những kỹ năng, kỹ xảo học tập là cách thức tiến hành các công việc học tập, đọc sách, lập biểu đồ tính toán, tra cứu tài liệu, kế hoạch hóa, tổ chức công việc… [17, tr.73]

L Marjorie và M Peggy (2008), Kỹ năng học tập cần thiết cho xã hội

[113], cho rằng sinh viên cần hình thành kỹ năng sử dụng công nghệ thông

Trang 19

tin, kỹ năng làm bài thi, kỹ năng viết báo cáo/tiểu luận, kỹ năng thuyết trình,

kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng phỏng vấn xin việc

Đặng Thành Hưng (2004), “Hệ thống kỹ năng học tập hiện đại” [38] đã phân chia thành 3 nhóm KNHT cần hình thành cho học sinh: Nhóm kỹ năng nhận thức, nhóm kỹ năng giao tiếp và quan hệ học tập, nhóm kỹ năng quản lý học tập

Nguyễn Văn Phương (2008), Kỹ năng học tập các môn lý luận chính trị của học viên cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung tại học viện chính trị khu vực

II [59] đã phân chia kỹ năng học tập thành 3 nhóm: Nhóm kỹ năng học tập trên

lớp; nhóm kỹ năng đọc tài liệu học tập; Nhóm kỹ năng Seminar

Quách Nguyễn Bảo Nguyên (2016), Xác định và rèn luyện hệ thống kỹ năng học tập cho học sinh trong dạy học phần điện học, vật lý 11 [54], đã chia

KNHT gồm các kỹ năng thành phần: Nhóm kỹ năng nhận thức học tập, nhóm

kỹ năng giao tiếp học tập, nhóm kỹ năng quản lý học tập

Bên cạnh đó, biểu hiện của từng kỹ năng học tập cụ thể cũng được các tác giả quan tâm nghiên cứu Trong đó, các kỹ năng được đề cập nhiều nhất gồm kỹ năng tự học, kỹ năng học tập nhóm, kỹ năng tự đánh giá, kỹ năng học tập các môn học cụ thể

Trong các công trình nghiên cứu của B.P Exipov (1960), Công tác tự học của học sinh trong giờ lên lớp [25]; M N Xcatkin (1980), Lý luận dạy học của trường phổ thông [ 17]; A M Machiuskin (1986), Các tình huống có vấn đề trong tư duy và trong dạy học [50], đã chỉ rõ trong quá trình dạy học, giáo viên phải tổ chức, bồi

dưỡng, hình thành kỹ năng tự học cho sinh viên Các tác giả khẳng định: việc giao và giải bài tập nhận thức của sinh viên trong thời gian tự học là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên trong tự học

D W Johnson và R.T Johnson (1975), Học cùng nhau và học một mình, hợp tác, cạnh tranh và cá nhân hóa [108] đã đưa ra nhiều dẫn chứng về

lợi ích của học tập nhóm Trong đó, giao tiếp và tư duy là hai yếu tố được phát triển rất hiệu quả trong học tập nhóm

Trang 20

J.Z Barry (1998) , "Nghiên cứu học tập và phát triển kỹ năng cá nhân: Quan điển tự điều chỉnh" [93] chỉ ra vai trò quan trọng của tự học trong việc phát triển các kỹ năng trong cuộc sống, trong đó có hoạt động học tập Ngoài ra, nghiên cứu đề cập tới ảnh hưởng tích cực của tự học đối với động cơ học tập và thành tích đạt được của cá nhân

C.Athony, E Gaalen (2004), Bản chất của dạy học và tự học [90] nhấn

mạnh tự học là một trong những vấn đề cơ bản, là nền tảng để sinh viên có thể thực hành các kỹ năng nghề nghiệp Nếu không có tự học thì việc học tập của sinh viên chỉ đơn thuần là sự bắt chước, học thuộc các kiến thức đã có Tự học,

tự nghiên cứu là con đường giúp sinh viên hiểu được các nội dung học tập và vận dụng vào các hoạt động nghề nghiệp cụ thể

Khi nghiên cứu kỹ năng đọc sách, các tác giả L.P Doblaev (1970), Những khía cạnh tâm lý của việc đọc sách [22] và Primanov (1976), Phương pháp đọc sách [63] cũng chỉ ra kỹ năng này là một trong kỹ năng quan trọng trong tự học

của người học Hai ông đã phân tích những cơ sở khoa học tâm lý và những điều kiện làm ảnh hưởng tối ưu đến quá trình đọc sách

B.David (1995), Tăng cường học tập thông qua tự đánh giá [97] cho rằng

trong quá trình học tập, sinh viên luôn phải tự kiểm tra, đánh giá Tự kiểm tra, đánh giá giúp sinh viên biết được trình độ nhận thức, kỹ năng học tập cũng như kỷ luật tham gia học tập của mình - những điều mà kiểm tra chính thức của giảng viên đôi khi không đánh giá được Tự đánh giá của sinh viên liên quan tới hai yếu

tố chính (1) Kiến thức người học tích lũy được để đáp ứng các tiêu chí của hoạt động học tập; (2) Đánh giá được các hoạt động liên quan có đáp ứng được các tiêu chí hay không Kỹ năng tự đánh giá là nền tảng quan trọng để một người học tập suốt đời, có thể tiếp tục học tập sau khi tốt nghiệp

Bùi Thị Hạnh Lâm (2010), Kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông [47] cho rằng kỹ năng tự đánh giá kết quả học

tập sẽ giúp người học biết được mức độ kiến thức, kỹ năng và thái độ học tập của bản thân đã đáp ứng được yêu cầu của quá trình học tập hay chưa, nhờ đó có thể điều chỉnh quá trình học tập đúng hướng, nâng cao hiệu quả học tập

Trang 21

C B Raja (2011), Chương trình giảng dạy y tế tích hợp [121]; Trần Thị Minh Hằng (2003), Một số vấn đề tâm lý cơ bản trong tự học của sinh viên Cao đẳng sư phạm [34] cùng thống nhất chỉ ra các hoạt động sinh viên cần tiến

hành khi tự học gồm: đặt ra các mục tiêu học tập; xây dựng kế hoạch để đạt được mục tiêu; thực hiện kế hoạch và tự kiểm tra, tự giám sát hoạt động học tập; điều chỉnh mục tiêu hoặc kế hoạch khi gặp trở ngại mà người học không khắc phục được

Đỗ Thị Phương Thảo (2013), Phát triển kỹ năng tự học toán cho sinh viên các trường đại học đào tạo giáo viên Tiểu học [72] Tác giả phân chia

kỹ năng tự học thành 2 nhóm kỹ năng gồm: nhóm kỹ năng nhận thức và nhóm

kỹ năng hoạt động

Phạm Thị Bình (2016) , "Phát triển năng lực tự học cho sinh viên sư phạm địa lý" [5] Tác giả đã chỉ ra hai nhóm năng lực tự học cần phát triển cho sinh viên là: năng lực tổ chức kế hoạch tự học (trong mỗi học phần, mỗi học kỳ, cả năm học

và toàn khóa học); Năng lực tự định hướng, tự đề ra mục tiêu, cách thức phát triển

và hoàn thiện bản thân

Lê Trọng Tuấn (2016), Phát triển kỹ năng tự học cho học sinh các trường dự bị đại học dân tộc [78], chỉ ra hệ thống các kỹ năng thành phần của

tự học gồm: Kỹ năng lập kế hoạch tự học; kỹ năng khai thác các tài liệu học tập; kỹ năng tự học trên lớp; kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả tự học

B David (1995), Tăng cường học tập thông qua tự đánh giá [97], tác giả

đã cho rằng những sinh viên có kỹ năng tự đánh giá thường có những biểu hiện sau: Mong muốn được tiếp tục học tập; tiếp tục học tập sau khi tốt nghiệp; giám sát hiệu quả học tập của mình mà không cần sự hỗ trợ của các chuyên gia;

có trách nhiệm với hoạt động học tập và quyết định của mình

Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2011), Kỹ năng học tập hợp tác của sinh viên sư phạm [35], chỉ ra cấu trúc của kỹ năng hợp tác trong học tập gồm: nhận thức, thiết

Trang 22

kế, kết cấu, giao tiếp, tổ chức Đồng thời đề xuất quy trình hình thành kỹ năng

gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, yêu cầu, điều kiện, phương tiện, cách thức thực hiện hành động, thao tác cấu thành hành động; Giai đoạn 2: Quan sát mẫu và thực hành; Giai đoạn 3: Luyện tập thuần thục các thao tác để tiến tới thực hiện thành thạo kỹ năng

Nguyễn Thị Quỳnh Phương (2012), "Kết quả rèn luyện kỹ năng học hợp tác cho sinh viên sư phạm trong hoạt động nhóm" [58], đã xác định hệ thống kỹ năng học hợp tác cần rèn luyện cho sinh viên gồm 4 nhóm: Nhóm kỹ năng hình thành nhóm hợp tác; nhóm kỹ năng giao tiếp học tập trong nhóm; nhóm kỹ năng xây dựng và duy trì sự tin tưởng lẫn nhau; nhóm kỹ năng giải quyết bất đồng trên tinh thần xây dựng

Nguyễn Thị Thanh (2013), Dạy học theo hướng phát triển kỹ năng học tập hợp tác cho sinh viên Đại học Sư phạm [69], đã chia kỹ năng học tập hợp tác

thành 4 nhóm kỹ năng thành phần: Nhóm kỹ năng xác lập vị trí của cá nhân trong hoạt động nhóm; Nhóm kỹ năng biểu đạt và tiếp nhận thông tin học tập; Nhóm kỹ năng xây dựng và duy trì bầu không khí thân thiện tin tưởng lẫn nhau; Nhóm kỹ năng giải quyết những bất đồng

Các tác giả đều thống nhất cho rằng kỹ năng học tập là hệ thống phức hợp rất nhiều kỹ năng cấu thành như nhóm kỹ năng định hướng: kỹ năng tiếp nhận và phát hiện vấn đề, kỹ năng lập kế hoạch học tập; nhóm kỹ năng thực hiện hoạt động học tập: Kỹ năng đọc sách, kỹ năng nghiên cứu tài liệu học tập, kỹ năng giải quyết các bài tập nhận thức, kỹ năng thực hành…; nhóm kỹ năng kiểm tra đánh giá hoạt động học tập Hoặc dựa trên các hoạt động học tập người học cần thực hiện: kỹ năng học tập trên lớp, kỹ năng đọc tài liệu học tập và kỹ năng seminar

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển kỹ năng học tập cho sinh viên

V.V.Tsêbưsêva (1973), Tâm lý học dạy học lao động [77] nghiên cứu các

điều kiện và các bước hình thành kỹ năng Tác giả nghiên cứu vai trò tích cực

Trang 23

của người học trong quá trình hình thành kỹ năng Khi huấn luyện, nếu giảm dần vai trò của nhà giáo dục để người học tự làm lấy thì kỹ năng sẽ hình thành nhanh chóng và ổn định hơn

I.F Kharlamov (1978), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào [43] cho rằng để giờ học đạt chất lượng cao, nhiệm vụ trọng tâm là

phát huy tính tích cực học tập của người học, người học phải chủ động tìm tòi tri thức Tác giả kết luận rằng học sinh muốn nắm vững kiến thức một cách sâu sắc thì phải "thực hiện đầy đủ một chu trình trí tuệ bao gồm những hành động: tri giác tài liệu, thông hiểu, ghi nhớ, luyện tập kỹ năng, kỹ xảo và cuối cùng là hành động khái quát hóa hệ thống hóa kiến thức nhằm xác lập mối quan hệ trong từng đề tài, giữa các đề tài và các môn học" [43, tr.29]

Các tác giả V.Okon (1961), Những cơ sở dạy học nêu vấn đề [55] và A.V Petrovxki (1982) Tâm lý học lứa tuổi sư phạm [56], cho rằng để có được kỹ năng học tập, trước hết phải biết xây dựng, lập kế hoạch học tập và thực hiện

nghiêm túc theo kế hoạch đó Đây là yếu tố quan trọng trong hoạt động học tập của sinh viên nhằm đạt hiệu quả cao

W Mary và W Alan (1992), "Kỹ năng học tập và năng lực học tập: Cần được ưu tiên" [114], nhận định để phát triển kỹ năng học tập cho sinh viên, không chỉ cần cung cấp những kiến thức về kỹ năng học tập mà phải hình thành những năng lực cá nhân như sự tự tin, tự nhận thức, khả năng tư duy phản biện, tư duy độc lập, tư duy sáng tạo

A Thomas (1993), Kỹ năng học tập [136], khẳng định vai trò của kỹ

năng học tập đối với hoạt động học tập của sinh viên Người học là những chủ thể tích cực, luôn có nhu cầu cải thiện kết quả học tập Việc hướng dẫn kỹ năng học tập có hệ thống sẽ giúp sinh viên phát triển được kỹ năng học tập và cải thiện kết quả học tập Để hình thành được kỹ năng học tập, bên cạnh việc hướng dẫn cho sinh viên, còn cần có môi trường học tập thuận lợi, lập kế hoạch học tập khoa học, biết cách giải tỏa cảm xúc căng thẳng, đồng thời thực hiện tốt các kỹ năng học tập truyền thống như nghe, đọc hiểu, ghi chép Tác giả nhấn

Trang 24

mạnh vai trò của việc phát huy vai trò tự kiểm tra, đánh giá, tự giám sát, quản

lý và điều chỉnh hoạt động học tập của sinh viên

D Semra, K Mehmet, D Ali (2011), "Ảnh hưởng của khóa học phát triển kỹ năng học tập đối với thành tích học tập và kỹ năng học tập của sinh viên" [126] Tác giả chỉ ra rằng các chương trình giảng dạy để phát triển kỹ năng học tập hiệu quả có thể giúp người học nâng cao thành tích học tập Do

đó, việc tổ chức các khóa học nhằm hình thành và phát triển các kỹ năng học tập cho người học là rất cần thiết

Điểm qua các công trình nghiên cứu, nhìn chung các nhà khoa học đều thống nhất: Để học tập thành công, người học phải có các kỹ năng học tập cần thiết Kỹ năng học tập được hình thành trên cơ sở những hiểu biết, tri thức của người học về hoạt động học tập Kỹ năng học tập được cấu thành bởi các kỹ năng thành phần

Tóm lại, KNHT đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ: Ảnh hưởng của KNHT đối với người học, biểu hiện của một số kỹ năng học tập, các biện pháp phát triển KNHT cho người học Một số KNHT cụ thể như kỹ năng

tự học, kỹ năng ghi nhớ, kỹ năng ôn tập, kỹ năng đọc sách… đã được một số tác giả đi sâu nghiên cứu tìm ra biện pháp rèn luyện Trong đó, quan điểm chung của các tác giả là đánh giá cao vai trò và mức độ ảnh hưởng của KNHT đối với hoạt động học tập nói riêng và đối với người học nói chung Các KNHT nói chung và các KNHT cụ thể được cấu thành bởi các kỹ năng thành phần Để phát triển KNHT nói chung và KNHT cụ thể cho người học, các tác giả đã đề xuất nhiều biện pháp, quy trình khác nhau, trong đó quan điểm thống nhất là ưu tiên việc tạo điều kiện tổ chức cho sinh viên rèn luyện các kỹ năng

1.2 Các công trình nghiên cứu về kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về vai trò của kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ

W B Tuckman (2003), "Ảnh hưởng của việc đào tạo chiến lược học tập và động lực học tập đối với thành tích của sinh viên đại học" [142] trong

Trang 25

hoạt động học tập theo tín chỉ khẳng định kỹ năng học tập là điều kiện cần thiết để sinh viên có thể thành công ở trường đại học Các nhiệm vụ học tập ở bậc đại học có xu hướng đòi hỏi sinh viên phải tư duy cao hơn và tự học nhiều hơn so với nhiệm vụ gặp phải ở trường trung học Do đó, sinh viên cần

có kỹ năng học tập để hoàn thành các nhiệm vụ này [142, tr 437]

W Ursula (2006), "Bỏ qua kỹ năng học tập trong giảng dạy ở giáo dục đại học" [144], khẳng định kỹ năng học tập là một trong những kỹ năng quan trọng cần hình thành và phát triển cho sinh viên trong quá trình học tập theo tín chỉ ở trường đại học "Kỹ năng học tập là một thành phần đảm bảo cho sự phát triển lâu dài của sinh viên, hỗ trợ sinh viên trong tất cả các hoạt động học tập tại trường đại học và giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động này" [144, tr.469]

Lâm Quang Thiệp (2007), "Về học chế tín chỉ và việc áp dụng ở Việt Nam"[73] nhấn mạnh việc đào tạo theo HCTC nhằm "tạo một học chế mềm dẻo hướng về sinh viên để tăng cường tính chủ động và khả năng cơ động của sinh viên, đảm bảo sự liên thông dễ dàng trong quá trình học tập và tạo ra những sản phẩm có tính thích ứng cao với thị trường sức lao động trong nước"[ 73, tr.3]

P Kadir (2012), "Nghiên cứu mối quan hệ giữa kỹ năng học tập của sinh viên với điểm học tập trung bình" [109] Kết quả nghiên cứu trong điều kiện học tập theo HCTC khẳng định kỹ năng học tập có mối tương quan thuận đối với điểm học tập trung bình của sinh viên, có nghĩa là, những sinh viên có kỹ năng học tập tốt sẽ có điểm trung bình học tập cao và ngược lại

Bên cạnh đó, các tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của từng kỹ năng học tập cụ thể trong học tập theo học chế tín chỉ:

B B Bahram (2004), Tích lũy tín chỉ và chuyển giao tín chỉ [91], nhấn

mạnh: Nếu sinh viên có khả năng tích lũy tín chỉ, họ có thể tiến hành hoạt động học tập ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào [91, tr.11]

D S Sajeewanie (2015), "Mô- đun khóa học kiến thức về tín chỉ dành cho sinh viên chưa tốt nghiệp" [124], tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin tới hiệu quả học tập theo học chế tín chỉ của

Trang 26

sinh viên Tác giả chỉ ra rằng, các kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin giúp cải thiện đáng kể hiệu quả học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên [124, tr.26]

N.J Galson và L R Oliker Ph.D (1976), Đánh giá kinh nghiệm học tập trong quản trị kinh doanh [103] Nghiên cứu tiến hành tại Đại học Syracuse đã

mô tả cách đánh giá để cấp chứng chỉ cho sinh viên Trong đó, đánh giá của giảng viên không chỉ là nguồn thông tin duy nhất, mà tự đánh giá của sinh viên cũng là một trong những căn cứ để cấp chứng chỉ Trên cơ sở tự đánh giá của sinh viên, giảng viên có vai trò xác nhận những thông tin này để làm cơ sở đánh giá kết quả học tập cho họ Do đó, trong học tập theo tín chỉ, sinh viên cần

có kỹ năng tự đánh giá hoạt động học tập của mình

B J Zimmerman và D H Schunk (2004), Quá trình tự điều chỉnh và kết quả tư duy: theo quan điểm của nhận thức xã hội [144]; P.Ernesto, J Anders, S Jan-Willem (2016), Tự học thông qua tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng: hướng dẫn thực hiện trên lớp [102] nghiên cứu về kỹ năng tự

đánh giá đã nhận định tự đánh giá giúp sinh viên thúc đẩy sự tự điều chỉnh trong học tập,tăng cường sự tham gia của sinh viên trong việc đánh giá hoạt động học tập, tăng cường việc giám sát và quản lý hoạt động học tập của bản thân, nhờ đó thúc đẩy thành tích học tập

A Heidi và V Anna (2009), "Thúc đẩy học tập và nâng cao thành tích thông qua tự đánh giá" [105], đề cao kỹ năng tự đánh giá trong hoạt động học tập Theo tác giả, "tự đánh giá là một quá trình, trong đó người học thu thập thông tin về kết quả hoạt động hoặc sự tiến bộ của bản thân; so sánh nó với các tiêu chí, mục tiêu hoặc

tiêu chuẩn được nêu rõ ràng; và sửa đổi cho phù hợp" [105, tr.12] Tự đánh giá giúp

sinh viên suy nghĩ về chất lượng học tập của chính mình thay vì chỉ dựa vào nhận định của giáo viên Mục đích của việc tự đánh giá là để xác định những điểm mạnh

và điểm yếu của bản thân người học để cải thiện và thúc đẩy học tập

K K Tan Heng (2012), Hoạt động tự đánh giá của sinh viên[133] đưa

ra quan điểm tự đánh giá giúp nâng cao chất lượng học tập của người học khi học tập theo tín chỉ Tác giả khẳng định lợi ích tích cực của việc người học tự đánh giá hoạt động học tập của mình [133, tr.29]

Trang 27

V Seppo (2009), "Tăng cường kỹ năng tự học của sinh viên kỹ thuật trên nền tảng học tập trực tuyến" [127] Trong thực nghiệm, trên cơ sở chương trình học tập theo tín chỉ, thời lượng giảng lý thuyết được cắt giảm, thay vào đó sinh viên được giao các nhiệm vụ để làm việc độc lập và làm việc theo nhóm Kết quả cho thấy, sinh viên có sự nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ hơn trước, điểm

số học tập cũng được cải thiện, điều này chứng minh tác dụng của tự học đối với hoạt động học tập của sinh viên

Nhóm tác giả R Abilkhamitkyzy, Zh.A Aimukhambet, K.K Sarekenova (2014), "Tổ chức học tập độc lập của sinh viên trong học chế tín chỉ" [119] đề cao kỹ năng tự học của sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ Theo tác giả, tự học giúp sinh viên làm chủ tài liệu hiệu quả, hứng thú với thông tin, phát huy được khả năng sáng tạo, tính độc lập, tự chủ và có động lực học tập hơn [119, tr.278]

A T Ilkey, D Melek (2018), "Một cuộc điều tra về công trình các kỹ năng tự học của sinh viên đại học" [106] được tiến hành trong môi trường học tập theo học chế tín chỉ Kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ năng tự học có ảnh hưởng lớn đến hoạt động học tập của sinh viên Trong đó, tự học ảnh hưởng tích cực đến các kỹ năng tư duy cấp cao như kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề và tư duy phản biện Muốn học tập suốt đời, sinh viên phải

có năng lực tự quyết định, tự đánh giá, sẵn sàng học hỏi, xác định chiến lược học tập phù hợp để học…

Tác giả Bùi Thị Thùy (2019) ,“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La theo phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ” [74], nhấn mạnh bản chất của đào tạo theo học chế tín chỉ là phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên, trong đó tự học là yếu tố quyết định

"Nếu tự học hợp lý, đúng đắn, khoa học, chất lượng, hiệu quả sẽ giúp nâng cao hiệu quả học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên" [74, tr.50]

E S Rachel, J C Corey, M Jason (2016), "Trách nhiệm giải trình của sinh viên trong học tập nhóm" [120] Theo các tác giả, học tập nhóm thúc đẩy giao tiếp giữa các thành viên và thúc đẩy tính tích cực của từng thành viên Trong

Trang 28

đó, việc đánh giá nhóm và đánh giá các thành viên trong nhóm là rất cần thiết Các tác giả tiến hành nghiên cứu thông qua đánh giá của 211 học sinh, cho thấy, việc đánh giá tạo ra tính tích cực làm việc của các thành viên, buộc sinh viên phải sắp xếp thứ bậc cho các thành viên, giải trình lý do sắp xếp thứ bậc đó Đánh giá nhóm thúc đẩy tinh thần làm việc của tập thể, làm tăng cường sự hợp tác của các thành viên và thúc đẩy cá nhân chủ động học hỏi

Tác giả Nguyễn Thị Thanh (2010), “Dạy kỹ năng hợp tác cho sinh viên nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo tín chỉ” [68], nhấn mạnh "đây là kỹ năng hết sức cần thiết trong trong học tập để giải quyết thành công các nhiệm vụ học tập theo HCTC" [68, tr.23]

Như vậy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều nhấn mạnh vai trò tích cực của kỹ năng học tập nói chung và các kỹ năng học tập nói riêng đến hiệu quả học tập của sinh viên Các tác giả đều thống nhất quan điểm kỹ năng học tập là yếu tố giúp sinh viên tiến hành hiệu quả các hoạt động học tập, tạo hứng

thú cũng như động lực cho sinh viên trong quá trình học tập

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về biểu hiện của kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ

M Gettinger & J.K Seibert (2002), "Ảnh hưởng của kỹ năng học tập đến năng lực học tập" [104], đã phân chia kỹ năng học tập thành bốn nhóm: kỹ năng dựa trên sự lặp lại nội dung; kỹ năng nghiên cứu quy trình học tập; kỹ năng nhận thức và kỹ năng siêu nhận thức

Nguyễn Quý Thanh (2008), "Sự thích ứng với phương thức đào tạo theo tín chỉ tại Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - ĐHQG Hà Nội" [67], đã nhấn mạnh việc tăng các cường kỹ năng thực hành cho sinh viên trong học tập

Bùi Kim Chi (2010), “Kỹ năng học tập của sinh viên Luật trong đào tạo theo học chế tín chỉ” [10], đã phân chia KNHT theo tín chỉ thành 4 nhóm: Nhóm các kỹ năng định hướng; nhóm các kỹ năng thiết kết (lập kế hoạch); nhóm các kỹ năng thực hiện kế hoạch và nhóm các kỹ năng kiểm tra đánh giá

Trang 29

Lưu Thị Trí (2011),“Một số vấn đề về kỹ năng học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ” [76], đã khẳng định mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ đề cao phương pháp học tập tích cực, tự học là chính tuy nhiên sinh viên hiện nay vẫn thiếu các kỹ năng học tập như: Lập thời gian và kế hoạch tự học, kỹ năng tìm tài liệu, tra cứu sách, kỹ năng đọc sách, hệ thống hóa kiến thức

B.Tom và S Sandra (2012), Các kỹ năng học tập cần thiết: Hướng dẫn đầy đủ để thành công ở trường đại học [140], đã hệ thống các kỹ năng cần

phát triển cho sinh viên gồm: kỹ năng nghiên cứu tài liệu, kỹ năng đối phó với căng thẳng, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm bài kiểm tra, kỹ năng viết luận văn

W Linda (2014), Kỹ năng học tập cần thiết [112] đã hướng dẫn các chiến lược

đọc sách giáo khoa, sử dụng các kỹ thuật ghi nhớ, kỹ năng làm bài kiểm tra, kỹ năng sử dụng công nghệ trong học tập, kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng học tập trực tuyến

Nguyễn Mai Hương (2015), Kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên một số trường Sư phạm [40], cho rằng kỹ năng học tập theo HCTC là kỹ

năng phức hợp gồm nhiều kỹ năng biểu hiện, trong đó biểu hiện đặc trưng qua 4

kỹ năng thành phần: Kỹ năng lập kế hoạch tích lũy tín chỉ; kỹ năng tích lũy tín chỉ đã lựa chọn; kỹ năng hợp tác trong học theo nhóm để hoàn thiện tín chỉ đã lựa chọn; kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ Các kỹ năng thành phần được đánh giá dựa trên 4 tiêu chí: tính đầy đủ, tính thuần thục, tính linh hoạt

Nguyễn Tuấn Khanh (2017), Rèn luyện kỹ năng học tập cho sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ [42], đã xác định kỹ năng học tập của sinh viên trong đào tạo

theo tín chỉ là tổ hợp các hành động hướng đến mục đích tích lũy tín chỉ một cách chủ động, tích cực, tự giác của mỗi cá nhân thông qua các hoạt động học tập trên lớp và cả ngoài giờ lên lớp [42, tr.43-48] Vì vậy, để thực hiện tốt các hoạt động học tập trong đào tạo theo tín chỉ thì cần thiết phải rèn luyện các kỹ năng học tập thích ứng gồm: kỹ năng lập kế hoạch học tập; kỹ năng lắng nghe, ghi chép bài giảng; kỹ năng tìm kiếm tài liệu; kỹ năng đọc sách; kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng thuyết trình; kỹ năng kiểm tra và tự kiểm tra kết quả học tập

Trang 30

C Stella (2020), Dạy kỹ năng học tập và hỗ trợ hoạt động học tập [131],

đã chỉ ra rằng, giảng viên và cố vấn học tập cần dạy kỹ năng học tập cho sinh viên

và tạo môi trường tích cực để phát triển kỹ năng học tập cho sinh viên Trong đó, các kỹ năng học tập nổi bật cần phát triển cho sinh viên khi học tập theo tín chỉ gồm kỹ năng học tập nhóm, kỹ năng ôn tập và thi, kỹ năng ghi chép, kỹ năng ghi nhớ, kỹ năng phản biện

R Abilkhamitkyzy, Zh.A Aimukhambet, K.K Sarekenova (2014), "Hoạt động tự học trong học tập theo tín chỉ" [119], chỉ ra nhiệm vụ tự học của sinh viên gồm: hoàn thành bài tập về nhà, chuẩn bị trước cho nội dung học tập của buổi hôm sau, phân tích nội dung học tập đã được nghe giảng, chuẩn bị báo cáo, thực hiện bài báo cáo, phản biện nội dung báo cáo của các thành viên khác, tìm kiếm tài liệu và nghiên cứu tài liệu, phân tích sâu các tài liệu khoa học và phương pháp học tập, xây dựng kế hoạch học tập cho bản thân Việc tự học cần đảm bảo tính vừa sức, dự kiến thời gian hợp lý

J Cobbe (2008),“Ý nghĩa của hệ thống tín chỉ đối với trường đại học

và các khoa, đối với sinh viên, phụ huynh và các nhà tuyển dụng” [11], đã đề cập đến các kỹ năng làm việc theo nhóm, tự lên kế hoạch làm việc cho bản thân, khởi xướng các hoạt động mới, biết cách xử trí trong quan hệ với cấp trên và cấp dưới, biết quản lý thời gian, và biết cách nghiên cứu để tìm câu trả lời nếu nó không có sẵn

Bùi Ngọc Lâm (2014), Phát triển kỹ năng lập kế hoạch học tập cho sinh viên đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ [46], đã chỉ ra kỹ năng lập

kế hoạch học tập trong đào tạo tín chỉ bao gồm kỹ năng nhận diện bản thân và các điều kiện học tập; kỹ năng xác định mục tiêu học tập; kỹ năng xác định nội dung công việc học tập và biện pháp thực; hiện kỹ năng lập thời gian biểu học tập; kỹ năng viết ra kế hoạch học tập; kỹ năng thực hiện kế hoạch học tập; kỹ năng theo dõi, đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh kế hoạch

Tạ Nhật Ánh (2018), Kỹ năng hợp tác trong học tập nhóm của sinh viên, [2, tr.46] Nghiên cứu tiến hành trên khách thể là sinh viên các trường đại học học

Trang 31

tập theo tín chỉ, chỉ ra biểu hiện của kỹ năng này gồm: Kỹ năng phối hợp hành động; kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng điều chỉnh giao tiếp

Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2012), Kỹ năng học tập hợp tác của sinh viên

sư phạm [35] xác định các kỹ năng thành phần gồm: Nhóm kỹ năng thuộc

thành phần nhận thức; nhóm kỹ năng thuộc thành phần thiết kế; nhóm kỹ năng thuộc thành phần kết cấu; nhóm kỹ năng thuộc thành phần giao tiếp; nhóm kỹ năng thuộc thành phần tổ chức

Trần Minh Hải (2007), Tài liệu phục vụ chuyên đề rèn luyện kỹ năng sống cho sinh viên thiệt thòi trường Đại học An Giang [31], xác định kỹ năng làm việc

nhóm của sinh viên gồm các kỹ năng thành phần: Tìm hiểu nhau; xây dựng nhóm; quản lý cá nhân để hòa nhập nhóm; điều hành buổi họp nhóm; lắng nghe và truyền đạt thông tin; giải quyết mâu thuẫn/xung đột trong nhóm; ra quyết định trong nhóm; đưa và nhận thông tin phản hồi

Lê Thị Tuyết Hằng (2019), "Rèn luyện kỹ năng tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng cho học sinh trong dạy học phần sinh học vi sinh vật, sinh học 10" [33], xác định kỹ năng tự đánh giá của học sinh gồm: Thực hiện tự kiểm tra; tự nhận xét; ra quyết định và điều chỉnh việc học

Phạm Văn Cường (2018) ,“Một số yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” [16], chỉ ra 4 thành phần của học tập nhóm theo học chế tín chỉ: thích ứng với hoạt động lập nhóm; thích ứng với việc phân chia nhiệm vụ giữa các thành viên trong nhóm; thích ứng với thảo luận nhóm; thích ứng với việc kiểm tra, đánh giá kết quả trong học tập nhóm Tác giả chỉ ra 5 yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất: Hứng thú học tập nhóm, động cơ học tập nhóm, phương pháp học tập nhóm, kỹ năng học tập nhóm, yêu cầu học tập nhóm

Như vậy, các tác giả nghiên cứu theo hướng quy trình thực hiện xác định biểu hiện của kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ gồm nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết kế; nhóm kỹ năng thực hiện và nhóm kỹ năng tự

Trang 32

kiểm tra, đánh giá Các tác giả nghiên cứu theo hướng các hành động học tập cần thực hiện xác định biểu hiện của kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ gồm các kỹ năng đặc trưng như: kỹ năng nghiên cứu tài liệu, kỹ năng tự học, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng ghi chép, kỹ năng đọc sách, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình,

kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng làm bài kiểm tra, kỹ năng viết luận văn

1.2.3 Các công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ cho sinh viên

H Dreyfus (1980), "Mô hình năm giai đoạn của các họat động tinh thần liên quan đến lĩnh hội kỹ năng được hướng dẫn" [101] cho rằng kỹ năng học tập theo tín chỉ có 5 mức độ Theo đó, mức thấp nhất thường thấy ở người bắt đầu từ con số không trước khi học; mức cuối cùng có thể thấy ở những chuyên gia, những người đạt đến trình độ thuần thục về kỹ năng tới mức trực giác Mô hình này chỉ ra để đạt được mức độ “Chuyên gia”, chúng ta cần phải tích cực luyện tập, tích lũy kinh nghiệm và không ngừng tiếp nhận và sáng tạo các tri thức mới”

K David (1984), Học tập trải nghiệm: trải nghiệm nguồn gốc của học tập và phát triển [98], cho rằng để hình thành kỹ năng học tập cho sinh viên

cần quan tâm đến kinh nghiệm của người học Tác giả chỉ ra rằng kinh nghiệm

là nguồn gốc của việc học tập và phát triển Ông đã phát triển một mô hình học tập kinh nghiệm gồm bốn bước: Kinh nghiệm rời rạc, quan sát có phản hồi, khái niệm hóa trừu tượng và thử nghiệm tích cực

E Thomas (2003), Tín chỉ và khối lượng công việc phải làm ở một khoa đào tạo [137], cho rằng: “Phương pháp giảng dạy mới có một vai trò đặc biệt,

trước hết nó mang lại sự thống nhất hữu cơ, một hệ thống sinh động cho HCTC”

và tạo ra sức sống, sự mềm mại, năng động của hình thức tín chỉ”[137, tr.47]

John Dewey (2008), Dân chủ và giáo dục [18], đã nhấn mạnh các nguyên

lý dân chủ hoá giáo dục, đại chúng hóa giáo dục trong đó quan tâm nhiều đến nhu cầu, sở thích của người học, lấy người học làm trung tâm Sau này tư tưởng của John Dewey đã trở thành nguyên lý cơ bản của việc đào tạo theo học chế tín chỉ

Trang 33

Z Michelle (2009), “Chuyển sang học chế tín chỉ: Cần thay đổi chương trình đào tạo và vai trò của giáo viên” [51] nhấn mạnh việc phải chú trọng đến một số kỹ năng cần hình thành cho sinh viên năm cuối, đây là thời điểm mà kết quả học tập của họ cần khớp với mục tiêu học tập Tác giả đề xuất các biện pháp khi xây dựng các môn học và tín chỉ phản ánh nội dung học tập, kỹ năng và nỗ lực tương đương nhau trên phạm vi quốc tế Việc giảng dạy và học tập đem lại kết quả về kỹ năng và kiến thức tương đương với kết quả đào tạo của các cơ sở giáo dục khác

F H Allyson & H W Philip (2012), Thúc đẩy các kỹ năng học tập ở sinh viên đại học [89], đã đưa ra mô hình phát triển kỹ năng học tập cho sinh viên đại

học gồm 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: Xác định chính xác và đầy đủ nhiệm vụ học tập; giai đoạn 2: lập kế hoạch, đặt ra các mục tiêu, yêu cầu; giai đoạn 3: thực hiện

kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch để đạt được mục tiêu; giai đoạn 4: đánh giá và điều chỉnh nhiệm vụ học tập Trong mỗi giai đoạn, sinh viên đều phải tự đánh giá,

tự điều chỉnh, tự quản lý hoạt động học tập

S K Alka và R Lakshmy (2014), "Hệ thống tín chỉ dựa trên sự lựa chọn: Lợi hay hại?" [88], đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả học tập theo học chế tín chỉ gồm: Tổ chức quy mô lớp học với sĩ số vừa phải (khoảng 50 sinh viên/lớp); bổ nhiệm trợ giảng cho mỗi tiết học để hỗ trợ giảng viên trong việc đánh giá sinh viên; nên ra đề thi theo hướng đánh giá khả năng hiểu của sinh viên, không cần sinh viên học thuộc lòng; giảng viên nên đưa ra các chủ đề cho sinh viên tự học; cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động học tập theo tín chỉ

S.Y McGuire (2015), Cách học của sinh viên: Các chiến lược có thể kết hợp vào bất kỳ khoa học nào để cải thiện siêu nhận thức, kỹ năng học tập

và động lực của sinh viên [115], đã chỉ ra rằng có thể cải thiện kỹ năng học

tập của sinh viên bằng cách giảng dạy các giờ lý thuyết trên lớp về quy trình học tập Sinh viên cần xem trước tài liệu trước khi tham gia học tập trên lớp, tích cực tham gia vào các hoạt động tranh luận trong học tập

Đặng Xuân Hải (2007), "Về tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của sinh viên

và giảng viên trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ” [31], cho rằng: giảng

Trang 34

viên phải thường xuyên kiểm tra kỹ năng đọc tài liệu tham khảo nói riêng và quá trình tự học của sinh viên nói chung và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học theo học chế tín chỉ [31, tr.7]

Nguyễn Tuấn Khanh (2017), Rèn luyện kỹ năng học tập cho sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ [42] đã đề xuất quy trình rèn luyện KNHT theo HCTC cho

sinh viên thông qua ba con đường là dạy học chuyên đề "Rèn luyện KNHT cho sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ"; qua dạy học bộ môn và thông qua công tác

cố vấn học tập Cả ba quy trình đều hướng đến việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm

Phạm Thành Vinh (2018), “Một số biện pháp tăng cường khả năng tự học cho sinh viên khi học theo học chế tín chỉ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An” [85], đưa ra một số biện pháp tăng cường khả năng tự học cho sinh viên khi học theo học chế tín chỉ, trong đó tác giả nhấn mạnh việc bồi dưỡng kỹ năng tự học và kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên

Nguyễn Thúy Vân (2021), Phát triển năng lực tự học cho sinh viên trong dạy học theo học chế tín chỉ ở trường đại học [83], cho rằng có thể phát triển

năng lực tự học cho sinh viên trong học tập theo tín chỉ bằng cách bồi dưỡng kiến thức tự học cho sinh viên thông qua chuyên đề phát triển năng lực tự học và thông qua tương tác dạy học học phần

Nghiên cứu của tác giả Bùi Ngọc Lâm (2014), Kỹ năng lập kế hoạch học tập theo tín chỉ [46], đã chỉ ra quy trình và biện pháp phát triển kỹ năng

lập kế hoạch học tập cho sinh viên, nếu đáp ứng được những điều kiện bên trong của sinh viên và tạo ra môi trường trải nghiệm, cơ hội rèn luyện của chính sinh viên thì sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển kỹ năng lập kế hoạch học tập của sinh viên trong đào tạo tín chỉ

Tóm lại, có rất nhiều công trình nghiên cứu về KNHT theo HCTC nói chung và các KNHT theo HCTC cụ thể Các tác giả đều thống nhất khẳng định

Trang 35

vai trò quan trọng của KNHT theo HCTC đôi với hiệu quả hoạt động học tập của sinh viên KNHT theo HCTC được biểu hiện thông qua nhiều kỹ năng thành phần, trong đó các tác giả chủ yếu đề cập đến các kỹ năng lập kế hoạch học tập, kỹ năng

tự học, kỹ năng học tập nhóm, kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Nhiều biện pháp phát triển KNHT theo HCTC nói chung cũng như phát triển các KNHT theo HCTC cụ thể được đề xuất Điểm chung của các công trình là đều nhấn mạnh việc đổi mới phương pháp dạy học theo học chế tín chỉ theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về KNHT theo tín chỉ của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND và phân tích sự khác biệt đặc thù so với KNHT của sinh viên theo niên chế

1.3 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu

1.3.1 Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan

Phân tích các tài liệu về kỹ năng học tập, KNHT theo HCTC của sinh viên, chúng tôi rút ra các nhận xét sau:

Kỹ năng nói chung và kỹ năng học tập nói riêng của sinh viên là vấn đề được rất nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, từ việc nghiên cứu ảnh hưởng, biểu hiện đến các biện pháp phát triển kỹ năng học tập

KNHT theo HCTC được cấu thành bởi nhiều kỹ năng thành phần Trong

đó một số kỹ năng được quan tâm nghiên cứu là: kỹ năng lập kế hoạch học tập,

kỹ năng tự học, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng học tập hợp tác, kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, kỹ năng học tập các môn học cụ thể

KNHT theo HCTC có vai trò quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động học tập theo HCTC của sinh viên Hoạt động học tập theo HCTC của sinh viên đạt hiệu quả cao khi các kỹ năng học tập thành phần được thực hiện tốt Tuy nhiên các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu về đặc điểm và bản chất tâm lý của kỹ năng học tập theo tín chỉ, các thành phần cơ bản cấu thành kỹ năng học tập của sinh viên xét về phương diện tâm lý học Các công trình chủ yếu đưa ra phương pháp, lời khuyên hoặc từ thực nghiệm rút ra kết luận

Trang 36

Các tác giả cũng đã đề xuất rất nhiều phương pháp tổ chức hoạt động dạy học để nâng cao kỹ năng học tập của sinh viên, tuy nhiên ít tác giả làm

rõ cách thức, quy trình tổ chức rèn luyện KNHT theo HCTC cho sinh viên Mặt khác, công cụ để rèn luyện KNHT theo HCTC cho sinh viên chưa được thiết kế cụ thể

Các công trình nghiên cứu về kỹ năng học tập nói chung, kỹ năng học tập cụ thể nói riêng đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận vào thực tiễn và giải quyết được nhiều vấn đề cấp thiết của thực tiễn giáo dục ở Việt Nam trong điều kiện đào tạo theo HCTC đang được thực hiện phổ biến ở các trường đại học

Hiện nay, các học viện, trường đại học CAND đã tiến hành đồng bộ hình thức đào tạo theo HCTC Do tính chất đặc thù về mục tiêu đào tạo, môi trường đào tạo, nội dung, chương trình đào tạo… việc tổ chức đào tạo theo HCTC của các học viện, trường đại học CAND vừa mang đặc điểm chung của đào tạo theo HCTC, vừa mang những đặc điểm riêng của ngành Công an Hiện nay chưa có công trình nào đề cập đến KNHT theo HCTC của sinh viên tại các cơ sở đào tạo này Đây là một lĩnh vực rất cần được quan tâm nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học của ngành Công an, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu giữ gìn an ninh quốc gia và đảm bảo trật tự an toàn xã hội hiện nay

1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục nghiên cứu

Khi tiến hành nghiên cứu luận án “Kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên ở các học viện, trường đại học Công an nhân dân”, chúng tôi

xác định những vấn đề cần giải quyết như sau:

Thứ nhất, xây dựng, hệ thống hóa khái niệm công cụ để phục vụ cho quá trình nghiên cứu luận án như: kỹ năng; kỹ năng học tập; kỹ năng học tập theo học chế tín chỉ; sinh viên CAND; KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

Thứ hai, xác định những thành tố của KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND; biểu hiện, tiêu chí đánh giá

Trang 37

KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND Trong phạm vi luận án, KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND là vấn đề trọng tâm Để khảo sát được thực trạng KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND được khách quan, khoa học, từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp, đòi hỏi phải xác định được biểu hiện cụ thể từng KNHT thành phần, xây dựng tiêu chí đánh giá các kỹ năng

Thứ ba, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố Hoạt động học tập của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND chịu sự tác động của nhiều yếu tố Việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá các yếu

tố này là cơ sở quan trọng để tìm hiểu nguyên nhân thực trạng, đề xuất các giải pháp nâng cao kỹ năng học tập theo HCTC cho sinh viên

Thứ tư, khảo sát thực trạng KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND Luận án cần sử dụng đa dạng các phương pháp để khảo sát thực trạng KNHT theo HCTC của sinh viên như quan sát, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, nghiên cứu sản phẩm hoạt động… Từ kết quả khảo sát thực trạng,

đề xuất các biện pháp tâm lý sư phạm để nâng cao các kỹ năng còn yếu

Thứ năm, tổ chức thực nghiệm tác động nhằm chứng minh tính khả thi, đúng đắn và hiệu quả của các biện pháp tâm lý sư phạm nhằm phát triển KNHT theo HCTC cho sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

Trang 38

Kết luận chương 1

Kỹ năng học tập nói chung, KNHT theo HCTC nói riêng là vấn đề được các nhà tâm lý học, giáo dục học nước ngoài và Việt Nam rất quan tâm nghiên cứu Kết quả các công trình nghiên cứu về KNHT, KNHT theo HCTC trong thời gian qua đã góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm hệ thống lý

luận, thực tiễn về KNHT và KNHT theo HCTC

Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra được các biểu hiện của KNHT và KNHT theo HCTC của sinh viên; các biện pháp phát triển KNHT cho sinh viên Tuy nhiên, từ kết quả nghiên cứu của các tác giả chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến KNHT theo HCTC của các nhóm khách thể học tập tại các học viện, trường đại học CAND

Mỗi công trình nghiên cứu hay bài báo khoa học đều có ý nghĩa rất quan trọng, giúp chúng tôi tổng hợp, chọn lọc, so sánh, kế thừa, từ đó có thể khái quát các biểu hiện của KNHT, làm tiêu chí đánh giá KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

Trên cơ sở tổng quan những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

về KNHT và KNHT theo HCTC, chúng tôi mở rộng thêm cách tiếp cận trong việc khái quát, phân tích, lý giải những vấn đề khoa học có liên quan, đồng thời rút ra được những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện và phát triển trong luận án của mình Thông qua đó, làm sáng tỏ thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến KNHT theo HCTC của sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND

Trang 39

2.1.1 Đặc điểm sinh viên ở các học viện, trường đại học Công an nhân dân

Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng La tinh là “student”, nghĩa

là người làm việc, học tập nhiệt tình, tìm kiếm, khai thác kiến thức Trong

tiếng Việt, theo Hoàng Phê (1994), Từ điển tiếng Việt [57], thuật ngữ sinh

viên dùng để chỉ những người đang theo học ở bậc đại học [57, tr.44 - 69]

Thực tế, sinh viên (đào tạo hệ chính quy) là những người có độ tuổi từ

18, 19 đến 23 và 25, là những người đã trưởng thành về tâm sinh lý nói chung Sự phát triển về cơ thể đã hoàn thành và ổn định Về sự phát triển tâm lý xã hội, đây là thời kỳ chuyển tiếp, chuẩn bị cho việc sinh viên độc lập tham gia vào một cộng đồng xã hội và hoạt động nghề nghiệp ổn định Vì vậy, họ tiếp tục chịu tác động giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội và tự giáo dục, rèn luyện nhằm hoàn thiện nhân cách của bản thân đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp tương lai Sinh viên là những người đang chuẩn bị tham gia vào quá trình lao động sản xuất với trình độ chuyên môn cao, hoăc có thể

họ đang chuẩn bị tham gia vào giới tri thức Như vậy, sinh viên là người trưởng thành cả về thể chất, nhận thức, tâm lý, họ có định hướng nghề nghiệp, việc họ học một ngành, một trường nào đó gắn với nhu cầu và lợi ích của mình Đặc biệt, sinh viên có khả năng tự học, tự nghiên cứu Qua những phân tích trên, có thể quan niệm:

Sinh viên là những người trưởng thành về thể chất, tâm lý, đang học tập tại các trường đại học, học viện hay các trường cao đẳng nhằm tích lũy kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp

Trang 40

Sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND là những người đang học tập tại các học viện, trường đại học CAND, thuộc biên chế của ngành công an, đang tích cực học tập, rèn luyện theo chương trình đào tạo nghề công an nhằm tích lũy những kiến thức cơ bản và nghiệp vụ công an

Sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND mang những đặc điểm của sinh viên nói chung, đồng thời có những đặc trưng của lực lượng CAND

Sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND đáp ứng các

tiêu chuẩn nghiêm ngặt của ngành công an Sinh viên ở các học viện, trường

đại học CAND là những người đang học tập, bồi dưỡng, rèn luyện tại các học viện, trường đại học CAND Bao gồm những học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học, chiến sĩ nghĩa vụ, cán bộ công an các đơn vị, địa phương trong lực lượng công an đã trúng tuyển trong các kỳ thi tuyển sinh theo quy chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục Đào tạo, quy định của Bộ Công an hoặc được các đơn vị công an cử tuyển về trường để đào tạo, bồi dưỡng trở thành những cán bộ làm công tác bảo vệ

an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội Để được xét tuyển vào các học viện, trường đại học CAND, người học phải có phẩm chất đạo đức tốt, lí lịch trong sạch, xác định rõ mục đích học tập để công tác và phục vụ lâu dài trong lực lượng công an Trước khi tham gia xét tuyển vào các học viện, trường đại học CAND, người học được công an địa phương thẩm tra, xác minh lí lịch Trong những năm học trung học phổ thông hoặc tương đương phải đạt học lực khá trở lên Đồng thời, để được tham gia tuyển sinh vào các học viện, trường đại học CAND, người học phải đảm bảo các tiêu chuẩn về sức khỏe, chiều cao, cân nặng

Thứ hai, sinh viên ở các học viện, trường đại học CAND ngay từ khi nhận quyết định nhập học đã thuộc biên chế của lực lượng công an, mang trọng trách của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó đối với sự nghiệp Bảo vệ An ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội Sinh viên ở các

học viện, trường đại học CAND vừa phải nắm vững các kiến thức xã hội

cơ bản vừa phải trang bị những kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ đặc thù của ngành công an Sinh viên được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần

Ngày đăng: 02/08/2022, 11:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Kim Ánh (2012), Rèn luyện kỹ năng dạy học theo hướng tăng cường năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên khoa hóa học ngành sư phạm ở các trường đại học, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹ năng dạy học theo hướng tăng cường năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên khoa hóa học ngành sư phạm ở các trường đại học
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Ánh
Năm: 2012
2. Tạ Nhật Ánh (2018), Kỹ năng hợp tác trong học tập nhóm của sinh viên, Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng hợp tác trong học tập nhóm của sinh viên
Tác giả: Tạ Nhật Ánh
Năm: 2018
3. Lê Khánh Bằng (1993), Tổ chức quá trình dạy học ở đại học, Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục, Hà Nội, tr.11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức quá trình dạy học ở đại học
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Năm: 1993
4. Lê Khánh Bằng (1999), “Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình tự học theo quan điểm giáo dục học hiện đại”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học theo quan điểm giáo dục học hiện đại, Hà Nội, tr.78-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình tự học theo quan điểm giáo dục học hiện đại”, "Kỷ yếu Hội thảo khoa học theo quan điểm giáo dục học hiện đại
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Năm: 1999
5. Phạm Thị Bình (2016), “Phát triển năng lực tự học cho sinh viên sư phạm địa lý”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới phương pháp giảng dạy trong các trường sư phạm theo hướng phát triển năng lực người học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, tr.37-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực tự học cho sinh viên sư phạm địa lý”, "Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới phương pháp giảng dạy trong các trường sư phạm theo hướng phát triển năng lực người học
Tác giả: Phạm Thị Bình
Năm: 2016
6. Bộ Công an (2009), Kế hoạch số 149/KH-BCA-X11 ngày 4/12/2009 về việc triển khai thí điểm (giai đoạn 1) đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong giáo dục đại học Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 149/KH-BCA-X11 ngày 4/12/2009 về việc triển khai thí điểm (giai đoạn 1) đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong giáo dục đại học Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2009
7. Bộ Công an (2015), Kế hoạch số 207/KH-BCA-X11 ngày 18/8/2015 về tổ chức đào tạo đại học, cao đẳng theo hệ thống tín chỉ trong các học viên, trường đại học, cao đẳng Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 207/KH-BCA-X11 ngày 18/8/2015 về tổ chức đào tạo đại học, cao đẳng theo hệ thống tín chỉ trong các học viên, trường đại học, cao đẳng Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2015
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ - BGD&ĐT) ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
9. Dương Huy Cẩn (2009), Tăng cường năng lực tự học cho sinh viên hóa học ở trường Đại học Sư phạm bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực tự học cho sinh viên hóa học ở trường Đại học Sư phạm bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun
Tác giả: Dương Huy Cẩn
Năm: 2009
10. Bùi Kim Chi (2010), “Kỹ năng học tập của sinh viên Luật trong đào tạo theo học chế tín chỉ”, Tạp chí Luật học, (Số 7), tr.55 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng học tập của sinh viên Luật trong đào tạo theo học chế tín chỉ”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Bùi Kim Chi
Năm: 2010
11. J. Cobbe (2008), “Ý nghĩa của hệ thống tín chỉ đối với trường đại học và các khoa, đối với sinh viên, phụ huynh và các nhà tuyển dụng”, Tạp chí Giáo dục, (Số 203), tr.55 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa của hệ thống tín chỉ đối với trường đại học và các khoa, đối với sinh viên, phụ huynh và các nhà tuyển dụng”," Tạp chí Giáo dục
Tác giả: J. Cobbe
Năm: 2008
12. R. Colin (2007), Kỹ năng học tập siêu tốc thế kỷ XXI: Kế hoạch sáu bước để làm chủ trí tuệ của bạn, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng học tập siêu tốc thế kỷ XXI: Kế hoạch sáu bước để làm chủ trí tuệ của bạn
Tác giả: R. Colin
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2007
14. V.A Cruchetxki (1981), Những cơ sở của tâm lý học sư phạm, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của tâm lý học sư phạm
Tác giả: V.A Cruchetxki
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
15. Phạm Văn Cường (2011), "Tìm hiểu tính tích cực học tập của sinh viên dân tộc thiểu số trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ", Tạp chí Giáo dục, Số 262 (kỳ 2 - tháng 5/2011), tr. 24-25, 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tính tích cực học tập của sinh viên dân tộc thiểu số trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả: Phạm Văn Cường
Năm: 2011
16. Phạm Văn Cường (2018), “Một số yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc”, Tạp chí Giáo dục, (Số đặc biệt tháng 9), tr.93 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Phạm Văn Cường
Năm: 2018
17. M.A. Danhilop & M.N. Xcatkin (1980), Lý luận dạy học của trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học của trường phổ thông
Tác giả: M.A. Danhilop & M.N. Xcatkin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1980
19. Phạm Tất Dong (1984), Giáo trình tâm lý học lao động, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học lao động
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
20. Tạ Quang Đàm (2015), Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội
Tác giả: Tạ Quang Đàm
Năm: 2015
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Nghị quyết số 18-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) về "Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2017
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Nghị quyết sô 19-NQ/TW về "Một số vấn đề tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w