1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng nhân vật trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ dưới góc nhìn văn hóa ứng xử giới (Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ)

102 33 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 10,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đành rằng sự hạn chế trong nhận thức cùng với những định kiến xã hội bị ảnh hưởng bởi tư tưởng nam quyền đã tác động không nhỏ đến văn hoá ứng xử giới, song cần có cái nhìn lịch sừ về cá

Trang 1

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC sĩ NGÔN NGŨ , VĂN HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sô liệu

và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nào khác.

Trang 3

LÒI CẲM ƠN

Băng sự kính trọng và lòng biêt ơn sâu săc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Thu Yến, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn và Phòng Sau Đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu tại trường.

Xin chân thành cảm ơn thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn không thể tránh được những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp quan tâm đến luận văn này.

Thành phố Hồ Chí Minh, thảng 4 năm 2021

Tác giả

Huỳnh Hoàng Phương Uyên

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời căm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 nhũng ván đè chung 14

1.1 Khái lược về Nguyễn Dữ và tác phẩm “Truyền kì mạn lục” 14

1.1.1 Tác giả Nguyễn Dữ 14

1.1.2 Tác phẩm Truyền kì mạn lục 17

1.2 Khát quát về “giới” 19

1.2.1 Khái niệm “giới” 19

1.2.2 Bản chất của “giới” 22

1.2.3 Phân biệt “giới” và “giới tính” 24

1.3 Văn hoá ứng xử giới 25

1.3.1 Quan niệm về ứng xử của nữ giới thời trung đại 25

1.3.2 Quan niệm về ứng xử của nam giới thời trung đại 30

Chương 2 NHŨNG BIÉU HIỆN CỦA VĂN HOÁ ÚNG xử GIỚI TRONG “TRUYỀN KÌ MẠN LỤC” 38

2.1 Hình tượng nhân vật nam dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới 38

2.1.1 Người đàn ông lý tưởng 38

2.1.2 Người đàn ông ham mê sắc dục 43

2.1.3 Người đàn ông với tư tưởng nam quyền 46

2.2 Hình tượng nhân vật nữ dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới 51

2.2.1 Người phụ nữ tòng thuộc, bị động 51

2.2.2 Người phụ nữ là liệt nữ 54

Chương 3 ĐỐI SÁNH HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG

“TRUYỀN KÌ MẠN LỤC” VỚI HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT

Trang 5

TRONG MỘT SỎ KHÚC NGẢM, TRUYỆN THƠ NÔM TIÊU BIÊU

TRÊN PHƯƠNG DIỆN VĂN HOÁ ƯNG xử GIỚI 65

3.1 Văn hoá ứng xử giới của nhân vật nam trong “Truyền kì mạn lục” và các truyện thơ Nôm, khúc ngâm ở giai đoạn sau 65

3.1.1 về công danh sự nghiệp 65

3.1.2 về sự chung thuỷ trong tình yêu 68

3.1.3 về sự nhất quán trong tính cách 71

3.2.Văn hoá ứng xử giới của nhân vật nữ trong “Truyền kì mạn lục” và các truyện thơ Nôm, khúc ngâm ở giai đoạn sau 73

3.2.1 về vấn đề nữ sắc 73

3.2.2 về ý thức đấu tranh của nhân vật nữ 79

KÉT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 6

Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tố chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sửa ngôn từ, để tái tạo thành những thiên truyện mới Toàn bộ tác phẩm đã thấm sâu tinh thần và màu sắc của con người trong đời sống Phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn đề của

xã hội và đặc biệt là về con người được đề cập tới Với "Truyền kì mạn lục’’, văn học cổ điển Việt Nam đã đạt tới đình cao trong văn xuôi chữ Hán vào những thập kỉ đầu của thế kỉ XVI.

Con người và giới tính là một trong những vấn đề quan trọng luôn được mọi người quan tâm Giới tính ở đây không chỉ là sự phân biệt dựa trên cơ chế sinh học là nam hoặc nữ, mà còn có tác dụng giúp con người xác định được bổn phận và chức nàng của minh trong đời sống cộng đồng Từ đó giúp con

Trang 7

người hình thành một cách ứng xử phù hợp với chuân mực đê giúp xã hội ngày một hoàn thiện và tốt đẹp hon Văn hoá ứng xử giới là công cụ đế thúc đấy sự phát triển của con người và xã hội, thế hiện trong tư tưởng, ý thức và hành động Chính vì điều này, biểu hiện của văn hoá ứng xử giới được thể hiện ở khá nhiều mặt trong các loại hình nghệ thuật, nhưng có lẽ không có loại hình nghệ thuật nào thế hiện được vấn đề giới tính một cách đầy đủ, trọn vẹn, có chiều sâu như trong văn chương Đặc biệt là khi trong lịch sử, có một thời kỳ lâu dài, xã hội phương Đông nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng vận hành theo kiểu xã hội nam quyền, người nam giới đã thống ngự nữ giới và áp đặt các chuẩn mực của họ về cái đẹp, về hành vi, về đức hạnh cho người phụ nữ Từ đó, tạo nên những bất công cho người phụ nữ và có lợi cho nam giới Và văn học chính là chiếc gương soi phản chiếu thực tế cuộc sống đó, nhiều tác phẩm đã phản ánh được hiện thực xã hội thông qua hình tượng nhân vật nam giới và nữ giới Cụ thể là vào nhũng thế kỷ đầu tiên của nền văn học viết Việt Nam, kiểu nhân vật chủ yếu là những người đàn ông, họ có thể là các thiền sư, các nho gia hay có thể là đạo sĩ Mặc dù

có sự hiện diện của nhân vật người phụ nữ nhưng họ vẫn thường bị nhìn qua lăng kính của tư tưởng nam quyền Ngoài ra ngày trước còn có quan niệm thường coi người phụ nữ như là nguồn gốc của sự cám dỗ, có thể đe dọa công phu tu trì đạo đức của nhà tu hành, đe dọa lý tưởng “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của thánh nhân quân tử Và có thể nói “Truyền kĩ mạn lục ” cúa Nguyễn Dữ đã truyền tài đầy đủ thông điệp ấy Đọc tác phẩm này, chúng ta không chỉ thấy được bối cảnh của thời đại với những hiện thực phức tạp Bên cạnh đó còn gợi ra một cách nhìn nhận về thái độ ứng xử cùa con người trong xã hội phong kiến Từ đó chi phối mồi cá nhân trong vai trò hoàn thành chức năng phận vị cùa mình Song song với nội dung đó, tác phấm cũng góp phần mở ra một cái nhìn mới, rõ nét hơn về hình tượng nhân vật nam giới và nữ giới trong văn học trung đại.

Trang 8

Đó là những lí do thôi thúc chúng tôi lựa chọn “Hình tượng nhân vật trong

“Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới” làm

đề tài nghiên cứu cho luận văn này.

2 Mục đích nghiên cứu

Qua mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc, con người trong đời sống cũng như trong văn học nói riêng đều có những tư tưởng, tình cảm, quan niệm chính trị, văn hoá, đạo đức, thẩm mĩ và những mối quan hệ đa dạng Con người nhìn từ góc độ văn hoá ứng xử giới tất nhiên là con người thuộc về một giới xác định - nam hoặc nữ Nhưng văn hoá ứng xử giới là một hiện tượng lịch sử

xã hội Nó hình thành, biến đối trong thời gian và không gian, không hoàn toàn giống nhau, từ đời này qua đời khác, từ dân tộc này đến dân tộc khác.

Đành rằng sự hạn chế trong nhận thức cùng với những định kiến xã hội bị ảnh hưởng bởi tư tưởng nam quyền đã tác động không nhỏ đến văn hoá ứng xử giới, song cần có cái nhìn lịch sừ về các hiện tượng văn học ấy trong tương quan với thời đại văn hoá nó ra đời Ngoài ra, nghiên cứu văn hoá ứng xử giới cũng chính là đi tim hiểu một phần văn hoá của thời đại, lật lại từng trang lịch

sử dân tộc, qua từng trang văn để hiểu và cảm nhận rõ ràng, sâu sắc hơn về hiện thực cuộc sống trong xã hội cũ.

Tóm lại, thông qua việc tìm hiểu nhân vật nam và nữ dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới, chúng tôi mong muốn sẽ đóng góp thêm kiến thức phong phú hơn về bối cảnh thời đại và văn hoá cũng như cách ứng xử giữa người với người trong tương quan giữa hai kiểu nhân vật nam giới và nữ giới trong nền văn học trung đại Từ đó, ứng dụng kết quà nghiên cứu này vào công tác giảng dạy để thêm phần hiệu quả Tôi mong rằng đề tài này sẽ góp một phần nhỏ vào khoa học nghiên cứu văn học Việt Nam, mảng vãn học trung đại, lĩnh vực vãn xuôi, khơi gợi thêm được sự hứng thú của mọi người về văn hoá ứng xử giới trong tác phẩm văn học trung đại nói riêng cũng như nền văn học nước nhà nói chung

Và sẽ có thêm nhiều công trình khoa học có giá trị về vấn đề này.

Trang 9

3 Lịch sử vân đê

Việc nắm được lịch sử vấn đề là một việc rất quan trọng, không thể thiếu

góc độ văn hoá ứng xử giới” Đặc biệt là khi tác phẩm này rất thu hút các nhà nghiên cứu Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về tác phẩm “Truyền

kì mạn lục ”, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều công trình tâm huyết đã được thực hiện Ở đây, chúng tôi xin chia lịch sử vấn đề thành hai mảng chính, đó là: Những nghiên cứu về tác phẩm “Truyền kì mạn lục” và những nghiên cứu

3.1 Nhũng nghiên cún về tác phẩm “Truyền kì mạn lục”

Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Vũ Khâm Lân, đều là những tác giả sớm

dư tiệp kí” đã từng gọi đó là “ thiên cổ kỳ bút”, còn Phan Huy Chú trong “ Lịch triều hiến chương loại chi" đã coi đây thật sự là “áng văn hay của bậc đại gia” Tuy vậy, họ chú ý nhiều đến văn phong, nghệ thuật, chứ thật chưa chú ý đến nội dung, nhất là “hình tượng nhân vật” trong tác phẩm.

Gần đây, Trần ích Nguyên (Đài Loan) đã có một công trình nghiên cứu công phu: Nghiên cứu so sảnh “Tiền đãng tân thoại” và “Truyền kỳ mạn lục (Trần ích Nguyên, 2000) Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu khai thác, tìm

đó cho thấy ý nghĩa của việc nghiên cứu so sánh “Tiền đãng tân thoại và Truyền

kỳ mạn lục Trong bài viết của mình, Trần ích Nguyên luôn đưa ra sự đối sánh

về nguồn gốc, nội dung tư tưởng và nghệ thuật của hai tác phẩm sau đó chốt lại bài viết bằng những nhận định khách quan mang tính phát hiện “Truyền kỳ

mạn lục” được coi là tác phẩm phóng tác từ “Tiễn đăng tân thoại”, tuy nhiên

sự vay mượn chủ yếu là trên phương diện cốt truyện Đối với tác giả bài viết

Trang 10

thì: “Tóm lại, việc lây tài liệu của bât kỳ một tác phâm văn học nào đêu có thê

là từ nhiều nguồn Chỉ cần các tác giả không thỏa mãn với việc mô phỏng, thì

dù có tiếp thu ảnh hưởng của nước mình hay nước ngoài thì cũng chẳng làm tổn hại gì đến tính sáng tạo độc đáo” (Lưu Cự Tài, 2001) “Truyền kỳ mạn

lục ” cùa Nguyễn Dừ không chỉ là tác phẩm để thỏa mãn tính hiếu kỳ của người đọc mà còn gửi gắm triết lí nhân sinh và tỏ bày thái độ chính trị - xã hội Đặc

bình của tác giả ở cuối mỗi truyện - một đoạn vãn nghị luận ngắn (Trừ Kìm

Hoa thi hoại ký) Phần lời bình này thể hiện quan điểm của người viết và có

lục ” của Trần ích Nguyên giúp ta có cái nhìn tổng quát giữa hai tác phẩm này

đề nhận ra điểm tương đồng và sự sáng tạo riêng của từng tác giả Tuy nhiên, bài viết chỉ chú trọng nhiều đến việc so sánh hai tác phẩm mà không đi sâu nghiên cứu về đặc sắc trong một khía cạnh cụ thể, chẳng hạn như cách xây dựng hình tượng nhân vật của “Tiễn đăng tân thoại ” hay “Truyền kỳ mạn lục

Năm 2008, PGS.TS Trần Nho Thìn đã có một bài viết về “Truyền kỳ mạn

quan hệ giữa cái kỳ và cái thực Ớ bài viết này khi tìm hiếu thế giới nhân vật

nhân vật nhân vật phụ nữ, tác giả bài viết nhận định: “Các loại nhân vật chủ yếu mà chúng ta vừa xem xét trên đây biểu hiện tư tưởng chính trị đạo đức và quan niệm về con người cùa ông” (Trần Nho Thìn, 2008) Đặc biệt, khi bàn về

“Tất cả các truyện đều có hai phần, phần kể chuyện cuộc sống hiện thực và phần kể chuyện có yếu tố kỳ” (Trần Nho Thìn, 2008) Yếu tố kỳ xuất hiện để khai thông mạch truyện khi cuộc sống hiện thực vận động đến chỗ bế tắc Với

cách đọc “Truyền kỳ mạn lục” từ nhiều góc độ khác nhau, người đọc sẽ có

những cảm nhận phong phú và toàn diện về tác phẩm này.

Trang 11

3.2 Những nghiên cứu về tác phẩm “Truyền kì mạn lục” dưới góc nhìn văn hoá úng xử giói

Đến thế kỉ XX, với biên độ mở rộng của văn hoá nói chung cũng như của

soi chiếu dưới những góc nhìn đa dạng, phong phú hơn Đặc biệt là hình tượng nhân vật và cách ứng xử của họ bước đầu cũng được tìm tòi khám phá.

Các nhà nghiên cứu Bùi Kỷ và PGS Bùi Duy Tân thể hiện thái độ khen ngợi những người phụ nữ chính chuyên, “tam tòng tứ đức”, đáp ứng chuẩn mực Nho gia và tuyệt đối lên án, phê phán những người phụ nữ vượt ngoài lễ giáo

Khuê Ngô Văn Triện), Bùi Kỷ đã có một vài nhận xét, đánh giá sơ lược về các câu chuyện trong tác phẩm Chẳng hạn như đối với Kìỉoái Châu nghĩa phụ

truyện và Nam Xương nữ tử truyện - ông đã viết: “Tả rõ phụ nữ ở xã hội cũ, dù

ăn ở thuỷ chung với chồng thế nào cũng chịu một thân phận hèn kém: Một đằng

vì thua bạc mà gán vợ, một đằng vì ngờ vực hão huyền để vợ phải quyên sinh Đáng giận thay! Cái thuyết “tòng phu” đã làm hại bao nhiêu bạn quần thoa trong bao nhiêu thế kỉ!” (Nguyễn Dữ, 2002) Tuy có đề cập đến thân phận thấp hèn của người phụ nữ trong tương quan với nam giới, nhắc đến bất công trong đạo “Tam tòng” nhưng ông không nhấn mạnh những đặc điểm này mà chú ý nhiều hơn đến ngợi khen, thương xót những người phụ nữ tiết hạnh.

Trong khi đó, PGS.TS Trần Thị Băng Thanh khi viết lời tựa cho “Truyền

kỳ mạn lục ” đã • có cái nhìn nhân bản khi nhận định về số phận các nhân vật và • • X • • cách kết thúc truyện Nhà nghiên cứu đã bày tỏ sự cảm thông với những nhân vật nữ giới dù là chuyện tình yêu của họ có đi ngược lại lễ giáo phong kiến:

“Kết quả là người dân lương thiện, đặc biệt là người phụ nừ phải chịu nhiều đau khổ Nguyễn Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này Dưới ngòi bút của ông, họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi thảm Đen cả loại nhân vật “phản

Trang 12

thụ truyện), các hồn hoa (Tây viên kỳ ngộ ký) và "Xương Giang yêu quái lục”

cũng đều vì số phận đưa đẩy, đều vì “nghiệp oan” mà đến nồi trở thành ma quái Họ đáng bị trách phạt, nhưng cũng đáng thương” Lời tựa này giúp người đọc trút bỏ bớt cái nhìn khắt khe đối với những nhân vật xưa nay bị xa lánh như

ma nữ Tuy nhiên, lời tựa mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá với cái nhìn đầy nhân bản và thiên về khai thác hình tượng nhân vật nữ giới nhiều hơn so với nam giới Do vậy, việc đánh giá thái độ ứng xử giới cũng như bổn phận, trách nhiệm giữa người nam và nữ trong xã hội lúc bấy giờ vẫn còn chưa được khai thác đầy đủ và được tiếp nhận một cách toàn diện.

Nguyễn Phạm Hùng cũng là một trong những nhà nghiên cứu quan tâm

khuynh hướng sáng tác trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ”, ông đã đưa

ra một số nhận định về vấn đề người phụ nữ trong tập truyện này Nhà nghiên cứu đã đánh giá: “Tựu trung, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam người phụ

lẫn tình cảm, nhu cầu khát vọng sống với chính mình, Nếu trước đây, hình ảnh người phụ nữ quý tộc có đi vào sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Húc v.v thì thường chỉ dừng lại ở sự nhận thức trên binh độ tâm lý, còn ở đây, nó

là một đối tượng nhận thức, đối tượng thẩm mỳ trọn vẹn, thành vấn đề người phụ nữ trong văn học, ” (Nguyễn Phạm Hùng, 2001) Ông nhấn mạnh bi kịch của nhân vật nừ, nêu ra những nguyên nhân phá huỷ khát vọng hạnh phúc chân chính của người phụ nữ để khẳng định lòng nhân đạo của Nguyễn Dữ Những khao khát hạnh phúc chân chính của người phụ nữ thường dẫn họ đến chỗ chết,

và thường tự tận “Cái chết đeo đuối hầu hết các số phận người phụ nữ trong

"Truyền kì mạn lục Dường như đó là giải pháp phổ biến và cũng là giải pháp cuối cùng của tác giả khi giải quyết vấn đề này - đó là bế tắc đến cùng cực cùa Nguyễn Dữ trước những vấn đề con người trong xã hội đó Rất ít số phận người

Trang 13

phụ nữ trong tác phâm được sông sót,và sự sông sót đó hâu như cũng không đem lại một tương lai tươi sáng nào” (Nguyễn Phạm Hùng, 2001).

Nói chung, những phát hiện của Nguyễn Phạm Hùng về nhân vật nữ trong

‘'''Truyền kì mạn lục” trình bày trong bài viết trên đã đóng góp thêm tiếng nói

trong lịch sử nghiên cứu vấn đề này Qua bài viết nhà nghiên cứu đã khẳng định

vị trí đặc biệt cùa “Truyền kì mạn lục” trong tiến trình văn học ở đề tài người phụ nữ và chỉ ra tinh thần nhân đạo của Nguyễn Dữ về họ Tuy nhiên, những nhận xét này còn khá sơ lược, và mới chỉ dừng lại ở số phận người phụ nữ.

Ngoài ra về vấn đề văn hoá ứng xử giới, đây được xem là một khái niệm

đã được PGS.TS Trần Nho Thìn nhắc đến trong công trình nghiên cứu

‘‘Phươngpháp tiếp cận văn hoá trong nghiên cứu giảng dạy văn học Qua đó

giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về văn hoá ứng xử giới trong suốt chiều dài tiến trình văn học từ văn học dân gian, văn học trung đại và vãn học hiện đại Giáo sư Trần Nho Thìn đã đưa ra một nhận định về việc tiếp cận văn bản dưới góc nhìn văn hoá ứng xử giới cần phải chú ý đến sự tương tác giữa cả hai hình tượng nhân vật nam và nữ, sự quy định lẫn nhau trong không gian văn hoá cũa bối cảnh thời đại (Trần Nho Thìn, 2018) Điều này khác biệt hoàn toàn so với những quan điếm trước đó Đây cũng chính là thông điệp cơ bản của công trình nghiên cứu này Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đó vẫn còn mang tính khái quát

và chưa tập trung cụ thể vào một tác phẩm nào.

Nguyễn Đăng Na cũng là một người dành nhiều tâm huyết khi nghiên cứu

tự sự Việt Nam trung đại ”, nhà nghiên cứu chia nhân vật nữ trong Truyền kì mạn lục thành ba kiểu nhân vật “có thể hạnh phúc” và đưa ra hướng tiếp cận

từ hai góc độ chính là thi pháp học và xã hội học Ngoài ra, ông đã ít nhiều dứng từ góc độ nữ giới đế nhìn nhận số phận người phụ nữ Tuy nhiên ở công trình này nhà nghiên cứu cũng chưa đặt ra vấn đề nghiên hệ thống nhân vật ớ mức độ khái quát, toàn diện cà hai giới.

Trang 14

Tóm lại, đã có không ít những nhà nghiên cứu với những bài viêt có quy

mô về “Truyền kỳ mạn lục ” và bước đầu đề cập đến khái niệm văn hoá ứng xử giới, tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa thật chú ý đến vai trò của hình tượng người nam và người nữ trong tác phẩm dưới sự chi phối cúa khái niệm “giới” nhằm làm tròn chức năng, nghĩa vụ với xã hội Trường quan sát của những nhà nghiên cứu này không hoặc ít bao hàm vấn đề về giới Chính vì thế mà luận văn của chúng tôi hy vọng sẽ góp phần làm gợi ra hướng nghiên cứu về văn hoá ứng xử giới theo hướng toàn diện và khái quát dưới góc nhìn của nhân vật nam và nhân vật nữ trong một tác phẩm cụ thề - mà ở đây là “Truyền kĩ mạn

hai kiếu nhân vật trên trong tập truyền kì này.

4 Đối tưọìig và phạm vi nghiên cún

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu cùa chúng tôi là nhân vật nam và nhân vật nừ trong

Để có cái nhìn đầy đủ và khách quan hơn, chúng tôi chọn nghiên cứu thêm hình tượng nhân vật nam và nữ trong một vài tác phẩm văn học Việt Nam trung

sử, tư liệu văn hoá để so sánh khi cần thiết Một số tư liệu tiêu biểu là: Truyện

Kiều — Nguyễn Du, Lục Vân Tiên — Nguyễn Đình Chiểu, Chỉnh phụ ngâm khúc

(Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều),

Phạm Công - Cúc Hoa (khuyết danh),

4.2 Phạm vi nghiên cún

Với đề tài “Hình tượng nhân vật trong Truyền kĩ mạn lục dưới góc nhìn văn hoá ửng xử giới”, chúng tôi sẽ khảo sát và phân tích thông qua hai mươi câu chuyện trong tác phẩm:

1 Hạng Vương từ ký (Câu chuyện ờ đền Hạng Vương)

2 Khoái Châu nghĩa phụ truyện (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu)

Trang 15

3 Mộc Miên thụ truyện (Chuyện cây gạo)

4 Trà Đồng gián đản lục (Chuyện gã trà đồng giáng sinh)

6 Long Đình đối tụng lục (Chuyện đối tụng ở Long cung)

7 Đào Thị nghiệp oan ký (Chuyện nghiệp oan của Đào Thị)

9 Từ Thức Tiên hôn lục (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên)

iữ.Phạm Tử Hư du thiên tào lục (Chuyện Tử Hư lên chơi Thiên tào)

12.Na Sơn tiều đối lục (Chuyện đối đáp của tiều phu ở núi Na)

ỉ3.Đông Triều phế tự lục (Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều)

14 Thuý Tiêu truyện (Chuyện nàng Thuý Tiêu)

15 Đà giang dạ âm ký (Chuyện bừa tiệc đêm ở Đà Giang)

ỉ9.Kim Hoa thi hoại ký (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa)

20 Dạ Xoa bộ soái lục (Chuyện tướng Dạ Xoa)

Bên cạnh đó ở chương ba, chúng tôi còn sử dụng thêm một số truyện thơ Nôm và các khúc ngâm như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Thoại Khanh - Châu

Tuấn, Phạm Công - Cúc Hoa, Nhị độ mai, Nàng Phương Hoa, Hoàng Trừu, Cung oán ngâm khúc, đối sánh với Truyền kì mạn lục, đế cung cấp một cái

nhìn khái quát và toàn diện hơn về nội dung của đề tài.

5 Phuong pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp tiếp cận văn hoá học, phương pháp hệ thống, phương pháp

so sánh kết hợp với thao tác thống kê.

Trang 16

- Phương pháp tiếp cận văn hoá học: Trong xã hội phong kiến Việt Nam

sự anh hường cua Nho giáo là rất lớn Do dó xà hội Việt Nam truyền thống nếu xét lừ quan diem giới là xã hội nam quyên Đây là một kiêu xà hội mà trong

dó các chuân mực dạo đức cua người nữ do người nam áp đật (.'hãng hạn như: người nữ phai tiết hạnh, ca dời chi được có một chồng duy nhất, “xuất giá tòng phu", còn người nam thì không bị ràng buộc như vậy; trong tình yêu nam giới thường là người chu dộng, còn nữ giới luôn ở thê bị động Chinh hệ thống giáo lý phong kiến đó đủ chi phối cách nhìn nhận, cách đánh giá cua xã hội đoi VỚI vai trò của nam và nừ trong xả hội phong kicn Bưi vậy phương pháp náy giúp người viết luụn vân có góc nhìn cụ the vờ bối cánh thời đại

■ Phương pháp so sanh, đoi chiểu: giúp người Viet luận vàn có cái nhìn khách quan và toàn diện trong quá trình nghiên cứu Chúng tòi so sánh nhân vụt trong câu chuyện này với nhân vật trong câu chuyện khác hoặc so sánh nhân vật cùa Nguyền Dử với nhân vật cùa lác gia khác de thấy được các mồi liên hệ

da dạng, đa chiều cũng như nét chung, nét riêng độc dáo cua hình lượng nhân vật nam và nừ Chúng tôi dự kiến sê so sánh hình tượng nhân vật trong "Truyền

kì mạn lục" với nhân vật trong một số khúc ngâm và truyện thơ Nôm

- Phương pháp phân tích, tống hợp: dựa trên cơ sở dà phân tích, từ đô người viết luận Vãn dưa ra những dành giá tổng quan VC hỉnh tượng nhân vật trong tác phẩm dưới góc nhìn vãn hoá ứng xứ giới

Ben cạnh dó luận vàn còn sư dụng thao tác thống kê phân loai: Chúng tối sư dụng thao lác nảy dê khảo sát và thống kê hình tượng nhãn vật nam và

nừ trong "Truyền kì mụn lục ", từ dó phân loại nhân vật tìm hiẽu tính cách, so phận cua họ trong tác phàm này

Trang 17

trung dạt nói chung Từ đó tìm hiểu và lý giãi cách miêu lả cách nhìn nhận về vai ưò, chức nàng cua một con người trong xả hội phong kiến Dồng thời, đề tài cùng có một plìãn đối sánh với các tác phâin thuộc thê loại truyện thư Nôm

và ngâm khúc để thấy được sự phát triền cùng như tiếp thu vãn hoa ứng xu giới giữa các thê loại từ thế ki XVI đến cuối tlìế ki XVUI

7 Cấu trúc cúa luận vãn

Ngoài phần Mư đầu Ke! luận Tài liệu thum kỉião, luận văn dược triển

khai trong ba chương:

Chương I: Khừng vấn đề chung

Chương náy bước đầu sè cung cáp một số kiến thức về tác gia Nguyen Dừ

và tác phâm "Truyền kì mạn lục" NỘI dung tiếp theo là làm lô một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến “giới” và quan niệm “vãn hoá ứng xử giới” giữa nam v& nử trong vãn học nói chung cùng như trong vãn học trung dại nói riêng.Chtrơng 2: Hình tượng nhân vật trong truyền kì mạn lục dưói góc nhìn văn hoá ứng xứ giói

Trong chương náy chúng tôi sè đi kháo sát các hình tượng nhân vật nam

và nừ trong Truyền kì mạn lục dưới góc nhìn vàn hoá img xữ giới, tương ứng với các đặc điếm trong tư tướng, giao tiếp Thông qua đó, the hiện được vai trò thái dộ hành vi ứng xư và các giá trị cùa nam giới và nữ giới trong xã hội phong kiển Đồng thời, củng sỉ tìm hiểu dươc nguyên nhân chi phối các biểu hiện dó

dê hoàn chinh cái nhìn toàn diện hơn VC chức nàng phận vị cua con người theo ứng xư giới trong văn học trung đại

Chương 3: Doi sánh hình tượng nhân vật trong truyền ki mạn lục với hình tượng nhân vật trong một số khúc ngâm, truyện thơ Nôm tiêu biếuChương náy 50 sánh hĩnh tượng nhãn vật nam vã nữ trong “Truyền ki mụn

lục " cua Nguyền Dữ VỚI nhân vật nam và nừ trong một số truyện thơ Nỏm và khúc ngâm tiêu biêu dê thây dược các môi liên I1Ộ đa dạng cũng như nét chung, nét l iêng độc đáo sự tiếp thu biểu hiện vân hoá ứng xư giới ở giai đoạn trước

Trang 18

và những phát hiện tiến bộ mới mè được kế thừa và phát huy ớ giai đoạn sau Qua đó luận văn mong muốn giúp người đọc có được cái nhìn toàn diện về sự tiếp thu và phát triển tư tướng ván hoá ứng xử giói trong vân học trung đại qua từng thời kì

Trang 19

Chương 1 NHỮNG VÁN ĐÊ CHUNG

1.1 Khái lưọc về Nguyễn Dữ và tác phẩm “Truyền kì mạn lục”

1.1.1 Tác gia Nguyễn Dũ

Tài liệu vè Nguyễn Dừ cũng như cuộc dời và sự nghiệp cùa ông dền nay không có nhiều Theo các tài liệu ghi chép từ trước đến nay Nguyễn Dừ là người xả Dường Lâm huyện Gia Phúc Hồng Châu, nay là xà Đoản l úng, huyện Thanh Miện, tinh Hai Dương Chưa rò ông sinh và mai nám nào, chi biềl ông là con trai cả Nguyền Tường Phiêu, l ien sì khoa Binh Thìn, nicn hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) VỚI vồn hiêu biết thâm thuý, có thông tin cho rằng ông có thê là học trò cùa Nguyễn Binh Khiêm (BÙI Duy Tân 2001), cùng có thể là bạn đồng học cua Phùng Khác Khoan (Nguyen Lộc 1976) về vấn dề này một sổ nhà nghiên cứu đã dưa ra các giã thuyết:

- Dựa theo lời của Nguyền Phương De trong "Công dư tiệp ki", Lê Quý

Đôn trong “Kiến vàn tiểu lục” Bill Huy Bích trong ‘'Hoàng Việt thi tuyến "cho

ràng Nguyền Dữ là học trò cùa Nguyền Binh Khiêm Gia thuyết này hiện đang tồn tại trong Giáo trình cua Đại học Sư phạm Hà Nội và Đai học Khoa học Xã hội và Nhân văn

- Lai Văn Hùng dần theo Trần ich Nguyên trong "Nghiên cứu so sánh

Tiễn dàng tân thoại vù Truyền kỳ mụn lục" lại cho rang Nguyen Dừ la người dóng thời với Nguyen Binh Khiêm Ông dự đoán “Nguyền Dừ sinh vào khoảng thập niên cuối the ki XV và mãt khoáng thãp niên thử tư the ki XVI thọ 50 tuổi" vá không thê là học trò cua Nguyền Binh Khiêm

Dù còn có những diêu không rõ như trên nhưng chững ta cỏ thê khàng đinh ràng: Nguyen Dừ sinh ra vào khoang cuối the ki XV và lớn lên vào nưa đầu the ki thứ XVI Dấy là thời ki nhà nước phong kiên Việt Nam bảt đàu đi vào con dường suy yếu, và sự suy yếu dà nhanh chóng trơ nên trầm trọng Chi trong vòng ba mươi nâm tứ khi Lê Thánh 'Lông mất đen khi Mạc Dâng Dung cướp ngôi vua đã có tới 6 ông vua lên ngôi rồi bị giết hoặc b) phe truất Có V|

Trang 20

bị coi là "vua quy' có vị bị coi là "vua lợn** Nhừng gì mà Lê Thánh Tòng - vị vua dược COI là anh minh số một cùa nen phong kiến Việt Nam - dẩy cõng xây dựng đà nhanh chóng sụp dó Lê Hiển Tông dà từng than thờ về lình trạng quan trường hư nát vá dù dà có chẩn chinh nhưng vần không cứu vàn được tình trạng suy vi dó “i)ại Việt sữ kí toàn thư" dã viết: " Sao mà những ke tại chức đều bị

vị không nghi den phép tẩc cua triều dinh Người vì nước quên nhà thi ít người

bo phận thiếu chức thỉ nhiều, tha giàu bát nghèo, không chứa thói cũ tham tiên khoét cua vẩn theo lối xưa" The ròi "chính sự phiền hà lóng dân oán hận”, “thổ mộc bừa bải*' lại thêm đại hạn đỏi khô, nhân dân thất nghiệp, trộm cắp nồi dậy Vua hoang dâm xa xi, bàt lực hoặc chết yểu Trong "Dại Việt sữ ki toàn thư"

có ghi chép rằng: “các quyền thẩn đánh lần nhau, giết nhau dưới cứa khuyết, dây máu chồn kinh sư” Chiền tranh loạn lạc xáy ra khắp nm: năm 1511, Thân Duy Nhạc dấy quân ở Kinh Bắc Trằn Tuân làm loạn ờ Sơn Tây niìm 1512, Nguyền Nghiêm loạn ớ Sơn Tây Hưng Hoá nủm 1515 loạn Phùng Chương ơ Tam Dao loạn DỊng Hân Dăng Ngậl ở Thanh Hoá loạn Trần Công Ninh ớ Yên Ung Trần Cáo khới binh đánh nhủ Lê Những cuộc chiên tranh ấy díì khiên cho suổt cho ca vùng Hái Dương, Sơn Nam Sơn Tày đen Thanh Hoá và cá kinh đò Thảng Long chìm đảm trong khói lứa chiến tranh Thêm vào nừa là cuộc chiến tranh Lê - Mạc một cuộc chiến tranh dai dâng, quyết liệt một cuộc chiền mà Nguyen Binh Khicm dă từng viết:

Cà đám sè bụi vỉ ui đuơi Nũi xương sóng máu thâm day »*ơí.

tNgụ ý - Nguyền Binh Khiêm)Tinh trạng ây gây nên một sự xuống cáp suy thoái trong hãng ngũ Nho

sì Lẽ Quý Dõn dà từng than thơ: "Từ năm Doan Khánh trơ về sau IỠ1 bân luận sáng suồt bẵng di thói cầu cạnh mồi ngày một thịnh, người có chức ít giừ dược phong độ thanh liêm, nhún nhường, trong triều đình không nghe có lời can gián, gộp có việc thì rụt rè câu thả thày lúc nguy thi bán nước đé toàn thân, dầu

Trang 21

người gọi là bậc danh nho cũng đều yên tâm nhận sùng vinh phi nghĩa, rồi nào thơ nao ca trao dôi khoe khoang, tán tụng lan nhau, tập tục sĩ phu thối nát đen the là cùng "

Đưng trước một luện thực như vậy nhùng nhà nho có khí tiết không thê tránh khoi sự ngơ ngác, sự chân chường bời sự dô vỡ cua niềm lin li tướng Không ít người dã từ quan mà về què trong số ấy có Nguyền Dữ Là con cua Nguyễn Tưởng Plnêu - một bậc dại khoa, tước vị vào hàng nhất phẩm - Nguyễn

Dừ dà cáo quan mà về phan ứng ấy cua ồng lù bicu luện cua một sụ "phát phản" cua một trí thức, một danh sĩ trước thời cuộc Nguyen Dừ cam thầy xă 11Ộ1 ấy không có chồ cho mình Cáo quan về viết ‘Trựyển kỳ mạn lục ”, đầy là một hiện tượng "phát phần trứ thu” (phát phan viết sách) cua ông Nguyền Dữ đà dồn vào tác phẩm cua mình tẩt cà nhùng điều mắt tháy tai nghe VỚI một mong muốn khuyến khích điều thiện, răn phụt cái ác thương xót kẽ cùng quần, oan khuất

Như vậy Nguyền Dừ đỏ dạt và từng lảm quan dưới triều Hậu Lê nhưng chắc chán không làm quan dưới thởi nhà Mạc và có thái độ chống đối tân triều quyết liệt Ông không chọn que hương, chồn minh sinh ra làm nơi ấn dật nhir bao danh sĩ khác Nguyền Dữ tim đen ần minh nơi núi rừng Thanh Hoá xa xôi

và yen tình Đây là quê ngoai, nơi ông ườ ve phụng dường mẹ già Nhà Nho ẩn dật Nguyen Dữ tò ra hết sức gắn bó và am hiếu vùng đất nảy và nơi dây cùng trờ thành khồng gian cho rất nhiêu tác phâm cua óng

Tất cả nhùng diều trên đây giai thích với chúng ta vì sao "Truyền kỳ mạn lục " tuy lã nhùng câu chuyện kì ao sưu tàm trong dân gian nhung lại phan ánh hiộn thực một cách sinh động và sâu sãc Người dọc khi tìm hiểu tác phàm này không chi có thêm cái nhìn chân thật hơn về bồi canh xã hội thời đại dương thời, bên cạnh dỏ còn hoà vào thế giới nhàn vật rẩt phong phú do Nguyền Dữ xây dựng trong tác phàm cua mình đặc biệt là dưới góc nhìn văn hoâ ứng xư giới khá rỏ ràng và đặc sắc Có thê nói đèn Nguyễn Dử thè loại truyền ki đđ

Trang 22

đạt đến dinh cao và "Truyền ki mạn lục" cũng dược xem là tác phàm sáng giá

nhất trong sự nghiệp sáng tác văn chương cua ông Giáo sư Nguyễn Dàng Na

đả từng nhận xét vè tác phãin này: "Đen VÓI Truyền kì mạn lục Nguyền Dừ đà phóng thành công con táu nghệ thuật vãn xuôi tự sự vào quỳ đạo nghệ thuật, bắt đầu cho việc lẩy dồi tượng lã con người làm đỗi tượng và trung tâm phan ánh" (Nguyễn Đãng Na 1997)

1.1.2 Tác phàm Truyền kì mạn lục

Theo nhưng tư liệu được biết cho đèn nay Nguyễn Dừ còn đè lại duy nhát inột tập truyện vân xuôi chừ Hán "Truyền kì mạn lục Từ các công trình nghiên cứu vè tác phàni này cho thay hiện đang có nhiều vàn ban Ngoài ban được khắc in nàm 1712 (có bài tựa cua Hà Thiện Hán viết nãm Vinh Định so niên 1547) còn có một sổ ban chép tay Các ban này ngoài phần ngnyên vãn chừ Hán cùa Nguyễn Dũ còn có phần lủng bô giúi âm tập chú có chú thích diên

cổ và chừ khó

Dựa vào thòi điềm mà Hà Thiện Hán viết lời tựa cho tác phấm này nủm

1547 vầ kết hợp vời tư liệu cuộc đời Nguyền Dừ có thế thấy "Truyền kỳ mạn lục" ra đời vào nứa đầu thế kỳ XVI (khoảng nhừng nâm 20 - 30) Đấy là lúc

mà giai cáp thỗng trị thì tranh giành quyền lực, chém giết lần nhau Tất cả đều già dối vô dạo tham lam dộc ác và dcu có kết cục bi thảm hoặc bi trứng phạt, hoặc bị phu nhận, hoặc bị lên ân chê cười Trong xã hội ấy các tầng lóp khác dặc biột là người phụ nừ chính là nan nhân đau khố nhất của thiết chế xã hội cua quan mệm NI1O giáo 111Ọ1 hành vi ứng xử dcu bị chi phoi bơi tư tương nam quyền khắc nghiệt Trong so ấy có người dược lẽn xcm tiên cành, dược thành tiên, dược giai oan vi dưc độ vì trung thực, vì nhùng phàm chat tot đẹp Cũng

có người phái ngậm ngủi đau khỏ vì chính những hành dộng cũa mình

về bỗ cục "Truyền kì mạn lục "gồm 20 truyện, chia lâm 4 quyên Trong truyện có xen nlìừng bái thơ ca từ biền văn; trừ truyện số 19 "Kun Hoa tiu

íhdựi kỉ" (Cuộc nói chuyện thơ ờ Kim Hoa) còn lại mỏi truyện đèu có "LỜI

Trang 23

Việt Nam mà còn cho cả sự phát triển của thể loại truyền kì khu vực Đông Á.

gồm đủ mọi loại từ vua, quan như Hạng Vương, Hồ Tông Thốc, Nguyễn Trung Ngạn, Trụ quốc họ Thân Đen cả những con người bình thường như Vũ Thị Thiết, Thị Nghi, Đào Thị, Lệ Nương, Phần lớn các nhân vật trong “Truyền

kỳ mạn lục ” là những con người thuộc tầng lớp bình dân, trí thức bình dân hoặc phụ nữ “Neu Lê Thánh Tông hướng văn học vào việc phản ánh con người, lấy con người làm đối tượng trung tâm phản ánh thì, Nguyễn Dữ đi xa hơn một bước: phản ánh số phận con người, chủ yếu là số phận bi kịch của người phụ

nữ Nhờ đó mà Nguyễn Dữ đã mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại Thông qua số phận các nhân vật, Nguyễn Dữ đi tìm lời giải đáp của xã hội: Con người phải sống ra sao để có hạnh phúc? Làm thế nào để nắm bắt hạnh phúc? Hạnh phúc tồn tại ở thế giới nào? (Thiên tào, cõi tiên, cõi trần, thế giới bên kia?) Nguyễn Dữ đưa ra rất nhiều giả thiết, nhưng tất cả đều bế tắc” (Nguyễn Đăng Na, 1997).

Dữ đã “tuân thủ những nguyên tắc loại hình được chấp nhận bằng văn ngôn, song chi tuân thủ bề ngoài, ông đã phá vỡ những quy tắc lâu đời về hình thức thể loại và tạo ra nhũng tác phẩm theo kiểu tự do hơn Tập họp từ “mạn lục” trong nhan đề đã chỉ ra sự độc đáo về loại hình tác phẩm” (Bùi Duy Tân, 1992).

Trang 24

Ý kiến đánh giá này đã khắng định sự sáng tạo của Nguyễn Dữ về phương diện nghệ thuật truyền kỳ Nguyễn Dữ là tác giả đầu tiên khẳng định vị trí của thể truyền kỳ trong văn xuôi Việt Nam, đưa vào thể loại này những yếu tố của văn học dân gian tạo ra màu sắc riêng của thể loại truyền kỳ Việt Nam Nói như giáo

sư Bùi Văn Nguyên thì “Tất cả hai mươi truyện trong “Truyền kỳ mạn lục ”, nếu được phân tích tỉ mỉ, bộc lộ ít nhiều yếu tố văn học dân gian đúng với bút pháp của thể truyền kì” (Bùi Văn Nguyên, 1986) Rõ ràng có một sự kết hợp hài hoà giữa thể loại truyền kỳ - một thể loại ngoại lai với các yếu tố của vãn học dân tộc trong ngòi bút của Nguyễn Dữ.

Với nội dung phong phú, mang tính hiện thực cao, cùng thủ pháp nghệ

thuật đặc sắc, “Truyền kỳ mạn lục ” thực sự trở thành áng văn “thiên cổ kỳ bút”

hiện ra giá trị muôn mặt của nó và cũng từ đó càng hiểu hơn những điều mà Nguyễn Dữ gửi gắm với bao thế hệ mai sau.

1.2 Khát quát về “giói”

1.2.1 Khái niệm “giói”

Trong các công trình nghiên cứu, có nhiều định nghĩa về khái niệm

“giới” Ớ đây, chúng tôi không đi sâu phân tích từng định nghĩa mà chỉ hướng tới đưa ra một quan niệm đáng tin cậy nhằm làm chồ dựa trong quá trình thực hiện luận văn này.

Theo M.L Andersen - một giáo sư xã hội học, định nghĩa giới được hiếu như sau: “Giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính Trong khi con trai và con gái là những yếu tố sinh học thì việc trở thành một phụ nữ hay một nam giới là một quá trình văn hóa” (Hoàng Bá Thịnh, 2008) Như vậy theo M.L.Andersen khái niệm “giới”

bị chi phối bởi hoàn cảnh văn hoá xã hội.

Một định nghĩa khác được sử dụng trong bài báo của GS.TS Lê Thị Quý: “Giới là nhũng khác biệt giữa nữ giới và nam giới trong cùng hộ gia đình,

Trang 25

trong và giữa các nên văn hóa, là câu trúc xã hội - văn hóa có thê biên đôi theo thời gian Nhũng khác biệt này được phản ánh trong các vai trò, trách nhiệm, khả năng tiếp cận các nguồn lực, nhũng sức ép, nhũng ưu tiên, các nhu cầu, nhận thức và quan điểm được thấy trong cả hai giới Do vậy, giới không đồng nhất với phụ nữ

mà được xem là cả nữ giới và nam giới cùng những mối quan hệ tương tác của họ”.

Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam định nghĩa: “Giới là phạm trù chì quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ Xã hội tạo ra gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điếm giới rất đa dạng và có thể thay đối được” (Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, 2005).

Một sổ định nghĩa trên đây về giới cho phép ta hình dung cách tiếp cận đa dạng về thuật ngữ này Tuy nhiên, chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng:

“Khái niệm giới không chỉ đề cập đến nam và nừ mà cả mối quan hệ giữa nam và

nữ Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho mồi giới Những quy định/mong đợi xã hội này phù họp với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo; vì thế

nó luôn biến đối theo các giai đoạn lịch sử và có khác biệt giữa các cộng đồng, xã hội” (Hoàng Bá Thịnh, 2008).

Như vậy khái niệm “giới” mà chúng tôi đề cập trong luận văn này sẽ

là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai trò, thái độ, hành

vi ứng xử và các giá trị Vì vậy, “giới” là sản phẩm của xã hội - văn hóa.

Nghiên cứu về giới không phải xu hướng mới trong lịch sử nhân loại học Nó có thể đã được nói đến từ thời cổ đại cả ở phương Đông lẫn phương

khắng định “Các học giả Trung Hoa cồ đại đã bàn luận tới giới tính công khai

và nghiêm túc như một trong những đề tài quan trọng nhất của sự nghiên cứu con người” (Paul Rakita Goldin, 2002) Quả thực, cho đến nay, khoa học về giới đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: Người ta nghiên cứu giới

Trang 26

theo quan điêm sinh lý, chỉ ra sự khác biệt vê câu tạo cơ thê, vê sức khoẻ, vê tính dục giữa nam và nữ đế ứng dụng vào y học, sinh học Nguời ta cũng có thể nghiên cứu giới theo quan điểm xã hội để ứng dụng trong phân công lao động xã hội giữa nam và nữ, giải quyết vấn đề ngành nghề cho nam và nữ, so sánh và cân đối thu nhập giữa nam và nữ, đo luờng độ tuồi nghỉ hưu phù hợp cho nam và nữ, Giới cũng có thế được nghiên cứu trong tâm lý học đế chỉ ra được đặc trưng dị biệt trong tâm lý giữa phái nam và phái nữ, Giới cũng có thể được nghiên cứu theo quan điểm vãn hoá để chi ra cái nhìn về giới của nam

và nừ đối với nhau, chỉ ra địa vị gia đình và xã hội của nam giới và nữ giới,

Trong nghiên cứu văn học, người ta có thể vận dụng phương pháp nghiên cứu giới của nhân vật văn học để tìm hiểu các kiều hình tượng nam/nừ Chẳng hạn, nhân vật người anh hùng Lục Vân Tiên trong tiểu thuyết cùng tên nghĩa khí, có học thức, chính trực, khuôn phép, nhân hậu, trọng ân nghĩa Đó

là hình ảnh của một chàng trai vừa rời trường học bước vào đời, lòng đầy hăm

hở muốn lập công danh, mong thi thố tài năng cứu người, giúp đời, giữa đường bênh vực kẻ yếu, ra tay nghĩa hiệp, “vị nghĩa vong thân”, chiến thắng nhiều thế lực bạo tàn Lục Vân Tiên xứng đáng là hình mẫu lý tưởng cho nam giới trong

xã hội Nho gia lúc bấy giờ Hay nghiên cứu nhân vật phụ nữ như nàng Kiều

trong “Truyện Kiều” từ quan điểm giới, người ta có thể thấy quan niệm trinh

tiết nghiệt ngã của Nho giáo đã trói buộc nàng Kiều, khiến nàng mang mặc cảm tội lỗi vì mình không còn trong trắng, và từ chối sống tình vợ chồng với Kim Trọng sau mười lăm năm ly biệt, chờ đợi Qua đó, hiếu được một cách toàn diện những nguyên nhân dẫn đến bất hạnh của Kiều, từ nguyên nhân xã hội đến nguyên nhân thuộc về quan niệm giới Nói khác đi, vấn đề giới giúp cho việc nhận thức nhân vật toàn diện hơn Trước đây, nhân vật nam hoặc nữ thường chỉ được nhìn theo quan điểm giai cấp, áp bức hay bị áp bức, theo quan điểm đạo đức, đáng khen hay đáng chê thì với điểm nhìn giới, chúng ta thấy thêm những phương diện khác của nhân vật.

Trang 27

1.2.2 Bán chất cua “giói"

Vai trò giới được biết đến thông qua quá trinh học tập và khác nhau theo từng nen vãn hóa và thời gian, do váy giới có the thay đôi được Nhùng đặc diêm có thê hoán đôi đo là những khái niệm, nep nghi và tiêu chuẩn mang tinh chất xã hội Chúng thay dối từ nên văn hoá này sang nền vãn hoá khác trong một bói canh cụ the cua một xã hội do cãc yếu tổ xã hội lịch sử tôn giáo, kinh

tế quyết định Vi vậy địa vị cua người phụ nữ phương Tây khác với địa vị cùa người phụ nừ phương Đông, địa vị xà hội cùa phụ nừ Việt Nam khác với địa VỊ

xả hội cua phụ Iiừ HÔI giáo, địa vị cua phụ nữ nông thôn khác VỚI đìa vị cùa phụ nừ vung thành thị

Quá trình thay đồi các đặc diêm cua “giới” thường cần nhiều thời gian bơi

vi nó đòi hôi một sự thay đổi trong tư tưởng, định kiến, nhận thức, thói quen và cách cư xử vốn dược coi là mẫu mực của ca xã hội Sự thay dổi về một Xíl hội này thưởng diễn ra chậm và phụ thuộc vào mong muốn và quyết tâm thay đổi của con người

Trong vùn học ý thức ve giới thường hị chi phối bởi tư tướng hệ và bị tác động bời hoàn cành lịch sứ vàn hoá xà hội Trai qua nhùng quá trinh lâu dài con người cùng có những quan niệm riêng VC chức nãng phận vị của mình khi

ý thức về giói Chăng hạn người phụ nữ trong xã hội phong kiến luồn là nạn nhân cùa tư tường nam quyền, chịu nhiều bất công, ngang trái, thậm chí khi nhác đốn người phụ nừ trong các tác phẩm văn học ơ giai doạn dầu trước the

ki XVI chúng ta vần thây sự xuắt hiện cua họ rãl mờ nhạt Thay vào đó hình tượng người nam nhi luôn lá dôi tượng trụng tâm và dược các nhã vãn nhà thơ nhàc đến khá phò biên Ta sê làm một báng kháo sãt dê chứng minh diêu này:

Trang 28

Bảng thống kê tần suất mất hiện cúa nhân vật nữ trong một sỗ tập tác

phám tiêu biếu trước thề kv XVI

Như vậy, có thể nói, trước thể ký XVI, người phụ nCr vần còn xuất hiện

mở nhạt trong văn học Việt Nam Sự xuất hiện cua họ thường gắn với chức năng giáo huấn đạo đức Những VC đẹp hấp dẫn VC phương diện giới, những khát vọng, quyền lợi riêng tư cùa họ cũng chưa dược các tác gia thời kỳ này trân trọng và chú ý miêu ta loàn bộ phàm chất, giá trị cũng như đời song linh thẩn và thể chất cua họ vần luôn được nhìn bang đôi mai cua nam quyên Hình tượng nam giới dóng vai trò chu dạo trong suốt quá trình nãy Trong bôi canh

“vãn hoã giới" đặc biệt đõ "Truyền kỳ mạn lục” xuầt hiện, với ti lộ xuất hiện giừa nhân vật nam giới và Iiừ giới được xem là khá dõng đèu Dó cũng chinh

là diêm mới rất dáng lưu tàm cua nhã vàn Nguyễn Dừ trong nen văn hục nước nhà lúc bấy giở

về sau khi vân hục có cái nhìn rộng và cởi mờ hơn người phụ nữ cùng xuất hiện khá phô bién ngoài ra còn được bộc lộ khát vụng cá nhân, được các nhà vãn nhà th«T tràn trọng và đồng cám chia se nhiều hơn như trong các tác phẩm: "Truyện Kiền” của Nguyền l)u "CttnỊỊ nân nịỉâm khúc" cùa Nguyễn

Gia Thiều, "Chinh phụ ngâm" cua Dậng Trằn Côn, Như vậy qua từng giai

Trang 29

đoạn, văn hoá ứng xứ giới sẻ luôn vận động, phát triền, và yếu tố văn hoá xà hội có vai trò quyết định quá trinh thay đỏi ấy

1.2.3 Phân biệt “giói” và “giới tính”

Trong dời sống hãng ngày, thuật ngừ giới (gender) thường bị dùng lần lộn VỚI giời tính (sex) Thực chất dây là hai phạm trù tương lìỗ nhung không dồng nhất Neu giới tính chi nhấn mạnh đen tính (nam/nữ) (Trung vãn dịch là tính biệt) thì giới nhấn mạnh dèn sự phán biệt nam/nử trên ca phương diện xã hội (dịch sang Trung văn có nghĩa là xà hội “tính biệt” - giới tính nam/nữ xét trên phương diện xả hội) Sự khác biệt náy đả được Robert Stoller chi rỏ:

“Trong khi giông gan hen VỚI đặc diêm sinh lý, giới là yell to do vân hoá quy định, gồm toàn bộ những phán hồi được điều kiện hoá đối VỚI cái nhìn cúa xả hội về tính cách của nam và nữ” (Nguyền Himg Quốc, 2005)

Sự khác nhau giữa “giới” và “giới tính" có thề tóm tắt trong bàng dưới dây:

Giới hục thuật phàn biột hai khái niệm sex/gender và chúng tòi cùng sỏ dùng khái niệm tính (chi giới tính trên phương diỳ‘11 sinh hục) đê dịch se.x và

khái niệm lính biệt (sự khác biệt cùa giói tính vẻ phương diện vân hoá xả hội,

nói cách khác, vân hoá ứng xư giới) đe dịch gender (Trần NI1O Thìn, 2018).

- Khái niệm xà hội học - Khái niệm Sinh học

- Do giáo dục mà có - Bấm sinh nghía là sinh ra dà có

- Do các yểu tố xã hội tác dộng - Do các yếu tố sinh học chi phổi

- Có thè thay dổi được: - Không the thay dổi

Vi dụ: cá Nam và Nữ cố thế là Ví dụ: chi cỏ phụ nử mới cỏ thêthú tướng, giám đốc sinh con

-ỳ Đây là khái niệm dưực

nhắc den trong luận văn

Trang 30

Simone de Beauvoir có một luận diêm rất quan trọng: "Người ta không sinh ra là phu nừ ma người ta trở thành phụ nừ" Tính biệt không phái là liiện tượng bấm sinh, tự nhiên như thân thê sinh học niã là một hiện lượng vàn hoá

xà hội dược hình thành do nhiều nhân tổ như: chinh trị giáo dục đạo đức tòn giáo Mồi dàn tộc mỗi thời đại mỗi giai cap mỗi tàng lớp lại có vãn hoá ứng xư giới khác nhau

Trình bày cụ ihê hơn nội hám cùa tính biệt Kimmel Michael viết:

"Tính biệt không đơn gian là một hệ thống phân loại qua đó nam nữ xét

về một sinh học được phàn loại, được tách biệt, đưực xã hội hoá thành các vai trò lương đương, rinh biệt còn diễn đạt sự hất binh đàng phố quái giừa nam và

nữ Khi chúng ta nói về tính biệt, chúng ta I1ÓI về lớn ti VC quyền lực và bấi binh đãng chứ không đơn thuần là khác biệt Do vậy, hai nhiệm vụ cùa bât cứ nghiên cửu về giới nào theo tôi dều phíìi giai thích cà sự khác biệt và sự bấi binh đủng hay nói vãn hoa hơn sự khác biệt và sự thống trị Mọi sự giái thích lông quát về tính biệt đều phãi hưởng đến hai vằn đề trung tâm và các vấn đề phát sinh tir chúng" (Kimmel Michael 2011)

Như vậy, khái niệm giới mà chúng tôi sử dụng bao hàm cà khái niệm giới tính Nó không nhùmg chi giãi thích người đàn ông và phụ nừ ở khía cạnh sinh lý mà còn quan tâm đến cà phương diện vãn hóa - xã hội của họ như trong mối quan hê gia dinh, quan hệ nam nữ

1.3 Văn hoá ứng xử giới

1.3.1 Quan niệm về ứng xư cua nử giói thời trung dại

Người phụ nử trong xã hội phong kiên xưa là nhừng người phai chiu nhiêu thiệt thòi, áp bức bóc lột cua giai cắp cường quyền, thâm chí cuộc đời họ vướng vào nhiêu chõng gai sóng gió Người phụ nừ mang ve đẹp thanh thoát, nhẹ nhàng với tâm hỗn vã tinh yêu trong sáng nhưng họ luôn hị các thế lực tàn bạo vùi dỹp một cách không thương tiếc Sự bàt công dưới chê độ phong kiên càng

Trang 31

• Tam tòng: tam là ba: tòng lả theo Tam tòng là ba điều người phụ nừ phai theo, gồm: ' tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu phu tứ tòng tứ"

- Tại gia tòng phụ: người phụ nừ khi còn ờ nhà phái theo cha

- Xuất giá lòng phu: lúc láy chồng phải theo chồng

- Phu tư tòng tử: nếu chồng qua dời phài theo con

ơ Viet Nam thời trung dại tư tương “Tam tòng” dã ần sâu vào tiềm thức của toàn xă hội Ngoài phần tích cực lã giúp người phu nử tự rèn minh theo tiêu chuẩn dê hướng tới cái đẹp thi "Tam tòng" dà tạo ra áp lực buộc chặt người phu nù vào những khuôn phép khác nghiệt, khiên họ phai chịu nhiêu khô đau bắt hạnh

Trước lúc theo chồng, người phụ nữ phai phục tùng uy quyền tuyệt dối cua người cha nghe theo lời giáo huân cua cha mà không có quyên nêu chính kiến hay sổng theo sờ nguyện và khát vọng cá nhàn Diều người cha yêu cầu chu yếu

ở nguừi con gái không phải la tài nảng, sắc đẹp hay khát vọng riêng tư cua cô ta

mà lù những phàm hạnh đù được tông két trong những cuốn sách huân đạo giới

nừ Người cha cùng lá người quyết định loàn bộ V1ỘC hôn nhân của con gái, người phụ nữ "không có quyền tự do đỗi với việc hôn nhân của mình mà hoàn toàn do cha mẹ sắp dột" (Phương Yen 2(X)X) Khi về nhà chồng, người phụ nữ bị bó buộc bởi quan niệm “xuất giã tòng phu” Quan niệm này buộc người phu nữ khi lấy chồng phai hoàn toàn phục liing chòng, tuân theo mệnh lệnh của chồng mà không

Trang 32

có yêu cảu ngược lại Dù có lẩy phai người chồng không ra gì vần phái nhẫn nhục chịu đựng, pliai "cẩn răng chịu khổ” mà không được lên tiếng kêu than, không được ly hôn Ngoài ra tư tưởng " l ain tòng” không chi yêu câu ngưừi phụ nừ "tòng phụ”, “tông phu” mà còn đòi hoi họ phai "tòng tư" khi người chồng qua đời Đây

là luật lệ thè hiện thái độ không lán đồng việc người phụ nữ tái giá Vì vậy klìi tái giá người phụ nữ không chi bị phê phán về plìấm hạnh mà còn bị tước di những quyên lợi chinh dáng: “Một người dan bà chết chồng thì luật bát phai ra tay không, giao gia tài cho bên chảng, dau cứa ấy la của vợ chồng đong công ma tạo lập ra củng mặc Chồng chết, có con trai má đi lây chồng đè kiếm phương kế nuôi con sau lại VC ở VỚI con trong nhà chống trước luạl củng không nhìn người đàn bà ay

là vợ người chồng trước nữa diet đi, khòng được thờ chung với chồng vào tử đường" (Phan Khôi, 1929) Quan niệm yêu cầu người phụ nừ "tòng lử" chính là nguyên nhân dẫn đển hiện tượng sũng bối người dàn ba thú tiềt mà chúng tôi sê nói

rờ hơn khi phân lích hình tượng người liệt nữ trong phần sau

• Tứ đức: tứ là bốn: đức là tính tốt Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ

nừ phai có là: công - dung - ngôn - hanh

- Công: khéo léo trong việc làm

- Dung: hòa nhã trong sãc diện

- Ngôn: mem mại trong lới nói

- Hạnh: nhu mì trong lính net

Trong xã hội nam quyền ‘Tử đức" d.ì trư thanh liêu chí quan trọng không thê thiêu ơ ngươi phụ nừđírc hạnh:

Phận làm gái náy lởi giáo huân

Lẳng tui nghe cá truyện min nén

Hây xem xưa những hục dâu hiền

Kiêm íứđữc: (lung, công, ngân, hợnh.

Trang 33

Cổng lả du mùi xôi, thức bánh

Nhiệm nhặt thay dường chì mùi kim

Dưng lừ mặt ngọc trung nghiêm

Không thu thiết, không chiều lã lả.

Ngôn lù dạy trinh thưa váng dụ Hạnh là dường ngay tháo kính tin Xưa nay mấy ke dâu hiền

Dung câng ngôn, hạnh là liền phàm trân.

{Gia huẩn ca - Nguyen Trãi)

Tuân then công, dung, ngón, hạnh, người phụ nữ phái học hoi, làm theo

mong muốn cùa nam giói từ cách nấu nướng, may vá sao cho khéo léo:

Dồ ăn thức nấu cho vừa, Thường thường giữ lấy muối dưa ngon lành.

Nghề bánh trái chiều thanh vè lịch.

Cùng hạc dần thôi cách người ta

Vá may giừ nếp dán hà.

Mùi kim nhớ nhặt mởi là nữ câng.

(Gia huấn ca - Nguyen Trãi)

Den cách diem trang dung mao sao cho đoan trang, không được mỹ miều chài chuốt:

Ản mạc chứ mỳ miều chai chuốt.

Iỉình dung dừng ve vuồt ngiim trông

Một vừa hai phái thì xong.

Giọt dài giọt ngẩn cùng khùng ru gi?

(Gia huấn ca - Nguyền Trãi >

Trang 34

Rồi cách nói nàng sao cho dịu dàng, hoã mục:

Nói dừng chau mặt chau may

Nghe ru ngậm tiling nuốt cay hay nào Sách có chừ "nhập gia vấn húy"

Khi nôi năng phai kỹ kiêng khem Dịu dàng tiêng thuận lời mềm

Cứ lời chồng dạy mới yên cứa nhà

(Gia huấn ca - Nguyễn Trãi )

Và cách úng xu sao cho cung phụng, nhu thuận người chống:

Phạn con gái ớ nhà thi lễ.

IẦng mà nghe kê chuyện tam cương:

Dầu ái án cùng chiểu cùng giường

Dạo chồng sánh (fuân thán chi đạo.

(Gia huấn ca - Nguyễn Trãi)Li-Hsiang trong công trình nghiên cứu "Khống giãn và người phụ nữ-

một cách giai thỉch triết học '' điì khảng định: "Không giống như nam giới, ngưỏi phụ nừ tài nàng và có học thức không được chính thức ra ngoài xà hội

đề triều đình có the sử dụng, đè cài nâng, và học vẩn cùa họ có the được khang dinh Do không có cơ hội dược chứng minh, trình dộ học thức cao cùa người phu nữ thường bị coi là một sự dư thừa và vô dụng không mang tính xã hôi không phù hợp với tính chất giới hoặc những diet! tốt dcp dược mọi người chấp nhận" (Roscnlee & Li-Hsiang Lisa 2006) Rỏ ràng không phải người phu nữ không có đu tài náng đê hoạt dộng trên lĩnh vực giáo dục và chinh trị mã chinh thành kiến về giới tinh đà tạo một rào can vừng chác đẽ kìm hãm họ

Tóm lai dê cao "Tam tòng" "Tứ đức” ở người phụ nữ lá một trong nhùng dặc điềm quan trọng trong hệ thống quan diêm văn hóa về nừ giới ờ Việt Nam thời trung đại Quan diêm này yêu câu một chiêu ơ người phụ nừ sự phụ thuộc nam giới hoàn toàn và phai rèn mình theo tiêu chí nam giới yêu câu mà

Trang 35

không yêu cầu ngược lại ờ người dàn ông Bên cạnh một vài nét tích cực có thế chấp nhận được, ‘‘l am lóng" ” I ứ dửc" về cơ bàn là hệ thống lư lường gây ra nhiều bãt công, bàt lợi chư người phụ nừ đạc biột khi nó bị nam giới lạm dụng, yêu cầu đến mức cực đoan Theo tiêu chi cua nhà Nho, nhừng nguôi phụ nừ chính diện lý tương thường là những ngươi tuân theo công thức “Tam tông"

“Tứ dức” như dã phân tích trén dây ngược lại những người phụ nữ không tuân theo chuẩn mực nghiêm ngặt này bị Nho gia coi là người phụ nữ phan diện Xây dụng hình lượng người phụ nừ (rong "Truyền kỳ mụn lục" Nguyên Dữ chua thoát khói anh hướng cua lư lương này

Diều này đà đưực thê hiện rất nhiêu qua các tác phẩm vàn hục viết về chú

đề người phụ nữ:

Con ơi mẹ bão đây này Họe buôn học hán cho tày người ta Con đừng học thôi chua ngoa

Họ hàng ghét bó người ta chê cười

Dù no đù đói cho tươi Khoan án bớt ngủ, liệu bày lo loan Phòng khi gánh vác việc làng Tiếng thơm ỉ tai lợi rỡ ràng me cha Trước là đep mật chừ chồng Sau lã hụ mạc cũng không chẽ cười

(Ca dao)1.3.2 Quan niệm về ứng xứ cua nam giói thời trung dại

ơ phuơng Dõng, theo hệ tư tường Nho giáo nam giới thường la trụ CỘI cúa gia dinh, là try cột cua mọi môi quan hệ Trong xã hội phương Dông ca ngợi nhiều danh tướng tài gioi như Tần Thủy Hoàng Quan Vân Trường Không Minh ; ớ Việt Nam có Ngó Quyền, Lý Thường Kiệt Trân Hưng Dạo Trằn

Trang 36

“tam tòng”, “tứ đức” ràng buộc người phụ nữ khiên sự phàn biệt giừa nam và

nữ càng trớ nên triệt để Nam tôn nữ ty, nam cao nữ thấp, nam ngoại nữ nội

là những quy tấc mặc nhiên dược thừa nhận vã luân thủ Đàn ông là giời nắm dặc quyền về mọi mặt chính trị xâ hội kinh tế vãn hóa Chi có dàn ông mới dược di học và tham gia vào những ki thi chọn người ra làm quan Vì thế lực lượng sảng tác tuyệt đại đa sổ vàn là các nhà nho nam giời và mầu hình con người lý tướng trong văn học thời kỳ này là bậc thánh nhân, người quân lữ

♦Người quân từ trong học thuyết Nho giáo

Khổng Tử dạy: người quân tử không thuần túy chi địa vị xà hội của người

dó mà chù yểu chi phẩm chất dao đức mà người dó dạt dược Òng cho răng:

"Te Cảnh Công cỏ một ngàn cồ xe bốn chồ nhưng sau khi chết, dân không thấy

có còng dửc gì mà khen Bá Di và Thúc Tc chết đói ớ chân núi Thú Dương, nhưng đen nay dân hãy còn ca ngợi, "Thânh bất dĩ phú diệc chi dĩ dị” (thật chàng vì giàu, chi vi đức la), có lù là nói ve diều náy chàng” (Nguyền Then Lê 2002)

Khi dề cập dẽn mầu người quân tư Không Tư thường dưa ra những tiêu chuẩn khác nhau, song chung quy lại, người quân tư phải dạt dược chín điều sau:

Trang 37

(1) Nhìn thì phái dể ý nhìn sao cho sáng:

(2> Nghe thi phái láng tai nghe cho rỏ ràng;

(3) Sac mặt phai giừ cho ôn hòa;

(4> Tướng mạo thi phai giừ cho khiêm cung;

(5) Nói nàng phài giữ bề trung thực;

(6) Làm việc phải trọng sụ kính cằn;

(7) Có diêu nghi hoặc thi phái hôi han;

(8) Khi giận thi nghi đến sự hoạn nạn có thè xảy ra;

(9) Thấy lựi thi phai nghỉ lời điều nghĩa

Theo Không Tử chín điều náy phai có sự hái hòa VỜI nhau mà ông gọi là

“trung dung” Dê đạt được nhùng điều này, trước hết người quàn tử phai rèn luyện được 5 đức co bán: Nhân, Nghía, Lẻ, Trí, Tin Đây cùng là tư tưởng xuyên suốt dạo làm người cua Nho giáo nói riêng, hệ thống tư tưởng Nho giáo nói chung

Người quân từ theo Nho giáo phãt biết giừ đức nhân cùa minh, cỏ thể vì nhân mà sát thân chứ không the vi thân mủ hại nhân Đê gìn giừđírc nhãn người quản tứ phải tự kiềm chề minh de tuân theo le tiết cùa xà hội, vừng vàng như núi trước mọi thừ thách cùa cuộc đời “Khắc kỹ phục le vi nhãn", tức là điều gi không hợp với le thi dìmg nhìn, dửng nghe, dừng nói, dừng làm Theo Khổng

Tư là người ai cùng cỏ nỗi sợ hẫi của mình, bàn thân ông cùng nói nhiều dến chù "sợ" (úy); nhưng không cỏ chỗ nào ông khuyên người ta tham sống sợ chết

cà Ngược lại ông còn khuyên người có nhản và chí khí thì phai biết chọn cái Chet một cách xúng dang: “Người có chi khi vá người có đức nhãn không tham song má hại người Họ phai xa thân dê thánh nhân” De dạt dược tât ca những phàm chắt dạo dữc dó dê hãnh dộng như một người quăn tư giúp dời Không

Tư cho rảng người quân tư phái luôn lấy "tu thân" lãm đầu Tu thân là cơ sở

đê xây dụng nhãn cách cho minh, đẽ hãnh đụo giúp đời (tề gia trị quốc, binh thiên hạ) Sau khi tu thân xong, người quân tir phai có bòn phận phái "hãnh

Trang 38

dạo” Dạo không dơn giãn chi là đạo lí Nho gia hình dung cà vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức và "Dạo” ớ đây bao chứa cà nguyên lí vận hành chung của vũ trụ vẩn đe là nguyên lí đó lá nhừng nguyên li đạo đức đo Nho gia đe xướng và cần phai luân theo

Những diều quan trọng nhất trong các kinh sách cùa Nho giao được tóm gọn lại trong chín chữ; tu thân, te gia trị quốc, bình thiên hạ Nho giáo “dào tạo” ra những người nam nhi mang trong minh tinh thần, trách nhiệm cao cá một sứ mệnh thiêng liêng VỜI xả hội là lãnh dụo và cầm quyền Người quàn tư

ra làm quan, cai trị theo Lieu Nho giáo chinh lá lí tường cua đạo Nho Yêu cầu cùa Nho giáo về tiêu chuẩn đạo đức đê con người tu thân là rất toàn diện Không những đề cao tinh thẩn lu thân, ban thân Không Tử còn là một tấm gương ve tu thân Ong muốn ca xã hội tu thân để tạo thánh một “vương quốc cua ngtrời quân tứ”

Trong mói quan hệ giữa vua vả bể tôi nguyên tăc dạo đức cùa Nho giáo,

về cơ bíin là quân nhân thần trung Cà quân và thằn đều phài đáp ứng những yêu cầu sau:

Thử nhất, phai chinh danh Dửng trước thực trạng xà hội rối ren Không

Tử cho rang, đó không phài là nguyên nhân một sớm một chiều, mả là một quá trình bắt nguồn từ sự sa dọa của các the lực cầm quyền, lãm cho “danh" không dược “chính", tức là "danh" không phù hợp với "thực" Vi vậy ông yêu cầu vua trước het phái “chính danh" Chính danh là “vua cho ra vua", nếu danh bất chính thi lới nói không đúng dan dần den việc làm sai khi đó người VỚI người trong xà hội không kinh trọng nhau, không tòn hòa khí luật pháp long leo và người dãn sẽ mát nơi tin cậy nhờ va Khi dân không côn trông cậy nhờ vã thi dãn sè không còn tin ỡ bậc câm quyền, lúc dó du muỗn hay không thì xà tẩc cùng khó tránh bề suy sụp (Nguyễn Hiển Lê, 2002)

Trang 39

Thứ hai phai có sự tôn trọng cùa cá hai phia VỚI nhau Không Từ yêu cầu:

"Nha vua sai khiển bề tôi thì dựa vào điều lẻ be tôi phụng sự nhá vua thì dựa vào dicu trung” (Quán sử thần dĩ lề thằn sự quăn dĩ trung)

Thử ba cà vua vá be tôi đều được Không Tứ coi là người cằm quyên; họ phai dạt dược ca nhàn dạo vã thiên đạo Bởi lẽ một õng vua dồng thời cùng phai là người thầy cùa dân phai là người nhân dữc nhất trong những người nhàn dức Người làm chinh trị mà có dức nhãn thi như dứng vào vị trí cua sao Bấc đâu vị trí mà tất ca các ngôi sao khác đều phái hướng đến Vua phai dam bao cho dân đưực no ảm phai xây dựng được lực lượng quàn sự hùng hậu và đặc biệt, phái có được lòng tin cúa dân Không nhùng thè, vua phai làm cho dân giàu và biết giáo hóa dân Vua sáng còn là người biết trụng dụng người đức

độ, tài nâng, phai biết rộng lượng đối VÓI bể tôi của mình Vua phai là người hết lòng vì dân chúng Mạnh Tử dã khuyên các bộc vua chúa: "Ngài vui cái VUI của dân thì dân cùng VUI cái vui cùa minh, ngải lo cãi lo cùa dân thi dân cũng

lo cái lo cùa mình Vì thiên hạ mủ vui vi thiên hạ rnà lo thể mà không lãm vinmg thì chưa có vậy”

Trong đạo lâm lôi, Không Tử để cao chừ “Trung”, nhấn mạnh lỏng biết

ơn sự phục tùng, tinh thần phục vụ hết lòng het sức cùa be tôi đối với vua với quốc gia Theo ông người làm tôi làm quan trước het phải là người có đức trong mọi hành dộng, có thái dộ dũng ớ mọi nơi mọi lúc chứ không phai khi nhận chức tước mới lá làm quan Khi chứng kicn cành xả hội có chiến tranh, huynh độ lương lan Mạnh Từ đã phê phán những ke làm quan mà không đúng danh phận cua mình, chi biêl hùa theo diêu ác cua vua phò vua chi biết sưa soạn binh dao di dành chiếm nước khác, gây chiên tranh Ong kêt tội: “I lũa theo diêu ác cua vua mà không can ngân lã tội nhó xúi giục diêu ác cua vua lã tội lờn Những quan dụi phu thòi nay dèu xúi giục diều ác cua vua cho nên bão ràng quan đại phu thời nay là người có tội lớn” (Gian Chi & Nguyền Hiên Lê 2<K)5) Với lời kết tội này ỏng đả liêu lèn tư tương về "Dạo làm quan": “Khi

Trang 40

thiên hạ cỏ đạo thi đem dạo theo thân mà ra làm quan Khi thiên hạ không có đạo thì dem thân theo dạo mà lui về ớ ấn” ông cũng thẳng thản nói: ‘Thà ở bậc dưới lá dân không chịu dem mình là người hiền mà thờ õng vua vô dạo”

Tứ dó ông đà nêu ra ba trưởng hợp nén ra lãm quan và ba trướng hợp nên tử quan (Sờ tựu tam sơ khử tam) Thứ nliầt lãm quan khi thầy có thè hãnh dạo dược Thứ hai, làm quan vi giao tế có lề Thứ ba lâm quan khi vua biết trọng dụng, nuôi dường Khi ra lam quan rồi thi phai trung VỚI vua hết lòng hết sức thớ vua nhưng cũng không vì vậy mà biến minh thành ke "ngu trung” Người làm tỏi trung còn là người biết can gián vua khi vua làm điều trai đạo; không nhùng the còn có the phe truất ngòi vua, khi thấy vua là kẽ vò đạo: “Đói VỚI vua hụ vừa lã nô lộ, vừa là lè nông, vừa là tá đicn Họ b| tước mất nhân cách, đúng ra là chưa có đề mà mất chưa có đu đê mã câm thầy sự mất mát"(Gián Chi & Nguyền Hiền Lè 2005)

Với Nho giáo thỉ nhân, lề nghĩa, tri tin dược dột ra trong quan hệ cùa con người với chính ban thân minh đế IU thân, dế trở thành người quân tư, còn chinh danh là yêu cầu đạo đức được dật ra trong quan hệ với người khác (vein xà hội)

để mồi người thực hiện đúng việc, đúng phận sự cua mình làm cho xà hội ổn định, phát triển Các nhà nho ngày xưa ticn đến đường công danh bang khoa cữ vãn chương, người quàn tử cùng vậy muốn giúp dời trước het phai tự ren luyện bàn thân dể cai trị đất nước, de giúp nhân dàn có cuộc sống yen binh, ấm no hạnh phúc Con người hành dạo mang trong mình hộ thống giáo lí cua Nho giao, những vấn de thuộc phạm tru đạo lí khuyên ràn con người sống có nhàn cách, giừ vừng trật lự cương thường: nhãn - lề - nghĩa - tri - tin; vua - tôi cha

- con vợ chõng

Có thế thấy trong xã hội phong kiến người nam dều tham gia mọi moi quan hệ xã hội giữ những vị trí quan trọng trong xã hội vì vậy má nam giới được COI trọng còn nừ giời lụi bị coi thường Quan niệm "nhất nam viết hừu, thập nừ viết vò" the hiện rỏ điêu đó Nghĩa là có một người con trai cùng lã có

Ngày đăng: 02/08/2022, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w