1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.

163 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thân Thể Trong Thơ Trữ Tình Việt Nam Sau 1986
Tác giả Chung Thị Thúy
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Lưu Oanh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.Thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

CHUNG THỊ THÚY

THÂN THỂ TRONG THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM SAU 1986

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Hà Nội - 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

CHUNG THỊ THÚY

THÂN THỂ TRONG THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM SAU 1986

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 9.22.01.20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Lưu Oanh

Hà Nội - 2022

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của luận án 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và hướng tiếp cận của luận án 2

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án 3

5 Đóng góp mới của luận án 4

6 Cấu trúc của luận án 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÂN THỂ 5

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.1 NGHIÊN CỨU VỀ THÂN THỂ Ở PHƯƠNG TÂY 5

1.1.2 NGHIÊN CỨU VỀ THÂN THỂ Ở TRUNG QUỐC 12

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 15

1.2.1 NGHIÊN CỨU THÂN THỂ TRONG VĂN HỌC 15

1.2.2 NGHIÊN CỨU THÂN THỂ TRONG THƠ SAU 1986 19

1.3 Quan niệm về thân thể trong nghệ thuật 23

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2: THÂN THỂ TRONG VĂN HỌC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THÂN THỂ TRONG THƠ CA VIỆT NAM 29

2.1 Thân thể trong văn học 29

2.1.1 KHÁI NIỆM 29

2.1.2 BIỂU HIỆN CỦA THÂN THỂ TRONG VĂN HỌC 31

2.1.3 ĐẶC TRƯNG CỦA THÂN THỂ TRONG VĂN HỌC 35

2.2 Một số vấn đề về thân thể trong thơ ca Việt Nam 47

2.2.1 THÂN THỂ TRONG THƠ CA 47

2.2.2 THÂN THỂ TRONG THƠ CA VIỆT NAM 50

Tiểu kết chương 2 59

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN CỦA THÂN THỂ TRONG THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM TỪ SAU 1986 ĐẾN NAY 60

3.1 Phương diện tự nhiên của thân thể 61

3.1.1 THÂN THỂ LÀ MỘT PHẦN CỦA THẾ GIỚI TỰ NHIÊN 61

3.1.2 CON NGƯỜI CẢM NHẬN THẾ GIỚI TỰ NHIÊN QUA THÂN THỂ 66

3.1.3 THÂN THỂ IN DẤU ẤN QUÊ HƯƠNG BẢN QUÁN 69

3.2 Phương diện xã hội của thân thể 71

3.2.1 DI CHỨNG CHIẾN TRANH TRÊN THÂN THỂ 71

3.2.2 DẤU ẤN CỦA ĐÓI KHÁT TRÊN THÂN THỂ 74

3.2.3 DẤU ẤN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TRÊN THÂN THỂ 75

3.3 Phương diện cá nhân của thân thể 78

Trang 4

3.3.2 KHÁT VỌNG SÁNG TẠO 80

3.3.3 Ý THỨC VỀ CĂN TÍNH 82

Tiểu kết chương 3 96

CHƯƠNG 4: NGUYÊN TẮC KIẾN TẠO THÂN THỂ 98TRONG THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM SAU 1986 98

4.1 Nguyên tắc gắn kết thân thể với tự nhiên 98

4.1.1 THÂN THỂ GẮN KẾT VỚI THẾ GIỚI ĐỘNG VẬT 98

4.1.2 THÂN THỂ GẮN KẾT VỚI THẾ GIỚI THỰC VẬT 101

4.1.3 THÂN THỂ GẮN KẾT VỚI CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN KHÁC 103

4.2 Thân thể gắn với tính giao 108

4.3 Nguyên tắc trần trụi, lãng mạn hoá thân thể 111

4.3.1 NGUYÊN TẮC TRẦN TRỤI HÓA THÂN THỂ 111

4.3.2 NGUYÊN TẮC LÃNG MẠN HÓA THÂN THỂ 113

4.4 Nguyên tắc tượng trưng, siêu thực hóa thân thể 114

4.4.1 NGUYÊN TẮC TƯỢNG TRƯNG HÓA THÂN THỂ 114

4.4.2 NGUYÊN TẮC SIÊU THỰC HÓA THÂN THỂ 116

4.5 Nguyên tắc gắn kết thân thể với các biểu tượng, ẩn dụ 120

Tiểu kết chương 4 123

KẾT LUẬN 125

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 130

TÀI LIỆU THAM KHẢO 131

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Thân thể có vai trò tiên quyết trong đời sống con người, chính vì thế, thân thể trở thành đối tượng tác động của nhiều lĩnh vực trong đời sống, đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, từ y học, tâm lí học, khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội nhân văn Đến nay, nghiên cứu về thân thể trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn đã

có những đột phá quan trọng, đặc biệt là triết học Triết học ngày càng khẳng định vai trò của thân thể đối với đời sống con người, đi ngược quan niệm của tu trì và triết lý thượng

cổ Hy Lạp như “coi thân xác là xấu xa, tội lỗi, thấp hèn…” hay “xác thuộc thế giới hữu hình và có thể bị tan dã, tiêu diệt, còn tinh thần, linh hồn thuộc về thế giới vô hình, trường tồn, bất tử” [174, tr.13] Triết học hiện đại cho rằng thân thể đã tạo dựng nên toàn

bộ khả năng của con người, bất kể thân thể đó là thế nào hay thân thể là cơ sở, là điểm xuất phát của tinh thần và mọi triết lí cao siêu… Những kết quả nghiên cứu đó mang lại một cách nhìn mới về thân thể trong văn học.

1.2 “Văn học là nhân học” (M.Gorki), đối tượng của văn học là con người Văn học từ cổ chí kim, khi quan tâm đến con người, không chỉ quan tâm đến đời sống tinh thần, mà còn quan tâm đến cả ngoại hình, cử chỉ, điệu bộ, đến nhu cầu của thân thể, đến những gì mà thân thể phải chịu đựng… Có nghĩa là thân thể từ lâu đã trở thành đối tượng của văn học Tuy nhiên, khi xuất hiện trong tác phẩm văn học, thân thể không chỉ là đối tượng mà còn trở thành phương tiện để thể hiện tư tưởng nghệ thuật, xây dựng thế giới nghệ thuật… Thân thể trở thành một loại ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù trong tác phẩm văn học, hay nói cách khác, thân thể trở thành một loại

kí hiệu thẩm mĩ đặc thù trong tác phẩm văn học Loại kí hiệu thẩm mĩ này là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, chịu sự chi phối bởi cá tính sáng tạo, quan niệm nghệ thuật về con người, chịu sự chi phối của bối cảnh thời đại… Chính vì thế, trong sáng tác của mỗi nhà văn, ở từng giai đoạn văn học nhất định, thân thể cũng hiện lên với những đặc điểm khác nhau.

1.3 Thơ trữ tình Việt Nam sau 1986, dưới sự tác động của hoàn cảnh lịch sử và

xu hướng của xã hội hiện đại đã có những cách tân đáng kể, không chỉ về mặt hình thức kĩ thuật thuần túy mà là sự đổi mới ở chiều sâu quan niệm của chủ thể sáng tạo

về thế giới, về nghệ thuật và về con người Đó là quan điểm giải phóng thân thể, giải

Trang 6

phóng con người khỏi những quy định, khuôn phép trong việc thể hiện tư tưởng, cảm xúc, chủ trương không gò bó, không giới hạn ở lối biểu hiện thân thể trong thơ Vì thế, thân thể trong thơ sau 1986 có nguyên tắc kiến tạo riêng, hình thành những kiểu loại riêng, và biểu đạt ý nghĩa riêng.

Nghiên cứu thân thể trong thơ sau 1986, luận án muốn tiếp cận thân thể trong thơ ca như một loại ngôn ngữ nghệ thuật, một hệ thống kí hiệu thẩm mĩ đặc thù Mặc

dù đến nay, số lượng công trình nghiên cứu về thơ Việt Nam sau 1986 không hề ít, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu thân thể trong thơ từ góc độ này.

2 Mục đích nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích đầu tiên mà luận án hướng tới là xác lập một hệ thống lí thuyết

về thân thể trong văn học, bao gồm khái niệm, biểu hiện, đặc trưng của thân thể trong văn học, bước đầu chỉ ra sự khác biệt giữa thân thể trong thơ ca và thân thể trong văn xuôi, chỉ ra đặc điểm của thân thể trong thơ ca Việt Nam, từ đó xác lập phương pháp luận nghiên cứu thân thể trong văn học nói chung và thơ ca nói riêng.

2.2 Tiếp nữa, luận án hướng tới chỉ ra và phân tích một số phương diện cơ bản của thân thể trong thơ trữ tình sau 1986 Thông qua so sánh đặc điểm của thân thể trong thơ trữ tình sau 1986 với thân thể trong thơ trữ tình giai đoạn trước chỉ ra sự vận động, biến đổi của quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của thời đại.

2.3 Cuối cùng, luận án hướng tới chỉ ra và phân tích các nguyên tắc kiến tạo thân thể trong thơ trữ tình sau 1986 Ở một mức độ nhất định, luận án hướng tới chỉ ra: những nguyên tắc kiến tạo thân thể đó được thực hiện thông qua phương thức đặc trưng của thơ trữ tình Đồng thời, thông qua so sánh với nguyên tắc kiến tạo thân thể trong thơ ca giai đoạn trước, luận án chỉ ra ở phương diện này, thơ trữ tình sau 1986

có sự vận động, biến đổi, sự vận động biến đổi đó cũng thể hiện sự vận động, biến đổi của quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và hướng tiếp cận của luận án

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận án là thân thể trong thơ Việt Nam sau 1986 Phạm

vi nghiên cứu của luận án là thơ trữ tình Việt Nam sau 1986.

3.2 Hướng tiếp cận

3.2.1 Tiếp cận lí thuyết

- Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu về thân thể trong các lĩnh vực như triết

Trang 7

học, tôn giáo, mĩ học, lí luận văn học, luận án xác lập định hướng nghiên cứu thân thể trong văn học Mặc dù mỗi lĩnh vực đều có những cách thức nghiên cứu riêng, nhưng vẫn có một điểm khá tương đồng là coi thân thể là một loại kí hiệu, bản thân thân thể

đã truyền đạt những thông điệp về chính nó và ngoài nó.

- Luận án dùng các từ “thân thể”, “cơ thể”, “thân xác” đều với cùng một nghĩa (body) Tuy nhiên, luận án tập trung sử dụng khái niệm “thân thể” vì khái niệm “thân xác” (vốn được Nguyễn Văn Trung sử dụng từ khá lâu), thường khiến người ta chỉ nghĩ đến phần xác thịt vô hồn, còn “thân thể” mang cả ý nghĩa tràn đầy

3.2.2 Tiếp cận thực tiễn

Luận án xuất phát từ thực tiễn sáng tác thơ ca để chỉ ra một số kiểu loại thân thể trong các giai đoạn văn học, trên cơ sở đó làm nổi bật đặc điểm thân thể trong thơ

ca Việt Nam sau 1986.

Trọng tâm của luận án là khảo sát thực tiễn thơ ca Việt Nam sau 1986, cụ thể là nghiên cứu các biểu hiện cũng như các nhân tố chi phối sự hình thành các loại thân thể cơ bản và những nguyên tắc kiến tạo thân thể.

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Để hoàn thành đề tài này, luận án đã sử dụng phối hợp các phương pháp chính sau đây:

- Phương pháp kí hiệu học: Luận án coi thân thể như một hệ thống kí hiệu đa nghĩa về tự nhiên, xã hội, con người Vì vậy, việc đọc ra các ý nghĩa của thân thể luôn được đặc biệt chú ý Đây là phương pháp được sử dụng triệt để trong luận án.

- Phương pháp thi pháp học: Luận án sử dụng phương pháp này để nghiên cứu các nguyên tắc kiến tạo nghệ thuật, sự chi phối của quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới đối với các phương diện miêu tả thân thể.

- Phương pháp loại hình: Luận án bước đầu tìm ra những kiểu loại thân thể

Trang 8

trong các giai đoạn văn học, đặc biệt là các loại thân thể cơ bản trong thơ ca Việt Nam sau 1986 với những nét nghĩa và các cách thức miêu tả chung nhất, phổ biến nhất.

- Phương pháp lịch sử, văn hóa: Luận án nghiên cứu bối cảnh văn hóa thời đại,

sự biến động của lịch sử đã chi phối tới việc xuất hiện các kiểu loại thân thể tương ứng.

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận án đã hệ thống vấn đề lí thuyết về thân thể trong văn học và định hướng vận dụng nghiên cứu thực tiễn văn học.

- Luận án đã hệ thống được một số kiểu loại thân thể trong các giai đoạn văn học Việt Nam.

- Luận án đã chỉ ra và phân tích một số loại thân thể cơ bản và một số nguyên tắc kiến tạo thân thể trong thơ Việt Nam sau 1986.

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án

được triển khai theo 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về thân thể

Chương 2: Thân thể trong văn học và một số vấn đề thân thể trong thơ ca Việt Nam

Chương 3: Một số phương diện của thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam từ sau

1986 đến nay

Chương 4: Nguyên tắc kiến tạo thân thể trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1986

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÂN THỂ

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1 Nghiên cứu về thân thể ở phương Tây

1.1.1.1 Nghiên cứu về thân thể trong truyền thống phương Tây

Trong lịch sử tư tưởng phương Tây, đã từng có những cách hiểu khác nhau về thân

thể Triết học Hy Lạp cổ đại phân biệt “thân thể” và “tinh thần” Thân thể thuộc về thế giới

hữu hình, có thể bị tan rã, tiêu diệt, còn tinh thần, linh hồn thuộc thế giới vô hình, trườngtồn, bất tử Thân thể phản ánh sự sa đọa của tinh thần và linh hồn, là cái hữu hạn, dễ bị cám

dỗ Chỉ có phần hồn mới là cái cao cả, trác tuyệt của con người, vì vậy cần cứu rỗi conngười và tinh thần ra khỏi tù ngục thân thể để vươn tới cái vĩnh hằng, bất tử

Platon cũng phân biệt “thân thể” và “tinh thần” Ông đề cao tinh thần, cho rằng thânthể chỉ là phần vật chất, mang tính hữu hạn, nơi trú ngụ, là vật chứa đựng của linh hồn, tinhthần, còn tinh thần là cái vĩnh viễn, thậm chí có trước con người: “ta đã có tri thức về sự vậttrước khi sinh ra làm người, nghĩa là khi ta còn là những tinh thần trên thế giới thần linh”[35, tr.9] Như vậy, triết học phương Tây cổ đại luôn xem thân thể là cái thấp hèn và luôn

tìm cách đè nén, bài xích thân thể

Theo R Descartes, triết gia Pháp kỷ 17, con người là cấu trúc nhị nguyên, có phần

tinh thần và có phần thể xác Với quan điểm nổi tiếng “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại”, ông

khẳng định, xác thịt là vật không thể tư duy, là thứ tương phản với tinh thần, là gông cùmcủa linh hồn, có thể bị hỏng, bị bỏ đi, không có giá trị, chỉ có tinh thần mới là cái đáng coitrọng Mô hình đối lập tư duy/ thân thể của Descartes tôn sùng tư duy trừu tượng, hạ thấp nhucầu thân thể; nằm ở vị trí trung tâm của tư duy trừu tượng là tư tưởng lí tính; còn thân thể thìtượng trưng cho tình cảm, dục vọng, đối lập với tinh thần và tư duy Chỉ có linh hồn là bất tử,còn thân thể là cái sẽ bị hủy hoại, không đáng coi trọng Theo Hegel, con người tách rời phầnhồn và phần xác, thể xác là xấu, tinh thần là tốt mang tính thần thánh Duy lý là hoạt độngcao nhất của con người Con người duy lý là cao nhất, là chúa tể Tư tưởng đề cao tinh thần

coi nhẹ thể xác đã trở thành một xu hướng tư tưởng chính, mang tính thống trị trong triết

học phương Tây đến thế kỷ 19

Thiên chúa giáo (còn gọi là Kitô giáo, Cơ Đốc giáo) lại chủ trương đề cao sự tồn tại

Trang 10

của thân xác, cho rằng cả vật chất, xác thịt đều do Thiên chúa tạo dựng, vì vậy đều tốt đẹp.Con người là một thể thống nhất toàn diện, nếu linh hồn bất tử thì thân xác cũng bất tử, hơnnữa, họ còn cho rằng: “xác là đền thờ của Thánh linh” [174, tr.13,14] Tuy nhiên trong thực

tế giữ đạo, tu đức, chịu ảnh hưởng triết lí Hy-lạp, trong nhận thức và quan điểm giáo dục,đức tu của Thiên chúa giáo cũng phân biệt hồn và xác, đề cao linh hồn và miệt thị thân xác.Thiên chúa giáo xem thân thể như yếu tố phụ trợ, là phương tiện như ngôi nhà của trí tuệ vàlinh hồn Thân thể là cái sẽ bị hư hoại, biến mất, chỉ có linh hồn là còn mãi, bất diệt Trongquan niệm về khổ hạnh, “người đi theo dòng tu nghĩ rằng, càng làm khổ thân xác bao nhiêucàng làm đẹp lòng Chúa bấy nhiêu, càng khinh miệt xác thịt bao nhiêu, càng đề cao ThiênChúa bấy nhiêu Đời sống tu hành miệt thị thân xác vì xem thân xác là xấu xa, tội lỗi, thấphèn và là nguồn gốc của tội ác khác” [174, tr.16]

Có thể nói, từ thời cổ cho đến Kant, Hegel, triết học và tôn giáo phương Tây đều phổbiến quan niệm nhị nguyên về con người, phân biệt hồn và xác thành hai thực thể và chỉ chútrọng đến mặt tinh thần, mặt linh hồn, coi thường và miệt thị về thân xác

Vấn đề thân thể không phải là một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ, nó đã có lịch sử lâu đời,nhưng do thân thể từng bị coi nhẹ so với tinh thần, nên nghiên cứu về thân thể còn nhiều hạnchế Từ Nietzsche, “thân thể” đi vào phạm vi nghiên cứu của đông đảo học giả, rất nhiều họcgiả của các ngành khoa học như triết học, xã hội học, nhân loại học, tôn giáo học, phân tâm học,

nữ quyền học… ở Anh, Pháp, Mỹ, Đức… đều coi nó là một nội dung quan trọng của lí luận

1.1.1.2 Bước ngoặt nghiên cứu về thân thể ở phương Tây

Vấn đề thân thể được coi trọng bắt đầu từ Nietzsche Nietzsche là triết gia đầu tiênđặt thân thể vào vị trí nổi bật trong triết học Ông coi thân thể là cái mang tính quyết định

Từ góc độ thân thể, nhìn lại lịch sử, nghệ thuật, lí tính, ông thấy tất cả những thứ đó đều làsản phẩm có liên quan đến thân thể Chính vì thế, thế giới và thân thể có liên hệ mật thiết,thế giới chính là sự diễn giải của thân thể, là sản phẩm của thân thể, của ý chí quyền lực.Nietzsche tuyên bố: “Cần phải lấy thân thể làm chuẩn mực” Nietzsche đã lật ngược vấn đề,

hạ thấp chủ thể ý thức, bởi đề cao ý thức là siêu hình, phải kìm hãm và lãng quên thân xác,

dù thân xác là cái hiện diện trong con người từng phút từng giây Nietzsche cho rằng, tôi vàanh khác nhau không phải là cá tính mà bằng thân thể Đây chính là tư tưởng mang tínhbước ngoặt về vấn đề thân thể Tư tưởng của Nietzsche đã có ý thức đề cao thân thể, cộinguồn của việc giải phóng thân thể Tư tưởng coi trọng thân thể thời hiện đại chính là tư

Trang 11

tưởng mang bản chất lật đổ tư tưởng Kito giáo.

Người xưa thường thông qua thân thể của mình để suy tư về vũ trụ và thông qua vũtrụ để suy tư về thân thể của mình [199, tr.9] Còn chúng ta luôn đối lập thân thể và thế giới,lấy thân phận của chủ thể để nhận biết và xây dựng thế giới không thuộc về chúng ta.Maurice Merleau-Ponty là nhà nghiên cứu hiện tượng học thân thể trong mô hình thân thểthế giới, coi tồn tại của con người xác lập thành thế giới mang tính thân thể Ông muốn từcảm giác và đặc trưng của nó làm điểm xuất phát để diễn giải về tính khả năng và phươngthức giao hòa lẫn nhau giữa thân thể và linh hồn, chủ thể và khách thể, thân thể và thế giới

Merleau Ponty trong Hiện tượng học tri giác (1945) đã nói: “Thân thể là phương tiện chung

để chúng ta chiếm hữu thế giới” Bản chất của thân thể là một “không gian biểu đạt” Tínhkhông gian của thân thể là điều kiện để hình thành thế giới ý nghĩa của con người Nghệ thuật

là sản phẩm sáng tạo của trực giác, mà trực giác luôn luôn gắn liền với thân thể Không cótrực giác bên ngoài thân thể Theo M Ponty, nhờ thân thể mà chúng ta nhận thức được thếgiới thông qua cảm giác Con người không chỉ nhận biết thế giới bằng năm giác quan màbằng cả cơ thể Cơ thể không phải chỉ là thể xác, không lý tính, mà vẫn đầy lý tính vì ý thức

và lý tính bắt nguồn từ thân thể Ông đã chứng minh được tinh thần bắt nguồn từ thân thể Tưtưởng này kéo thế giới mỹ học từ siêu hình xuống thấp Thân thể là một đối tượng để conngười chiêm ngưỡng, bàn luận So với cái chết, thân thể là sự sống, là cơ thể sống, so vớiđộng vật, thân thể con người là một cơ thể có tâm hồn, ý thức

Sau M Ponty, Foucault cho rằng thân thể mang tính chính trị, hoạt động thực tiễn tổ

chức xã hội đều xoay quanh thân thể: hành hạ, trừng trị thân thể nhằm hạn chế tinh thần,khống chế thân thể Tất cả đều lấy thân thể làm tiêu điểm và quy hoạch thế giới Trong tiếntrình quy hoạch thân thể, mọi bí ẩn của lịch sử, xã hội quyền lực đều thể hiện ra hết (thí dụnhà tù) Foucault đã diễn giải lịch sử thân thể bị tàn phá và áp chế, từ sự trừng phạt thể xácthời cổ đại đến sự trừng phạt tinh thần thời hiện đại Thân thể, từ góc nhìn của Foucault, làđối tượng chịu sự tác động của quyền lực

Nhà xã hội học John 0'Neill trong cuốn Five bodies: Re-figuring Relationships,

(London: Sage Publications, 2004) đã chỉ ra thân thể có hai phương thức tồn tại không thểphân tách: thân thể sinh lí và thân thể mang tính giao tiếp Thân thể giao tiếp là thân thểchúng ta học cách suy nghĩ và sở hữu, là cầu nối chung của thế giới, lịch sử, văn hóa vàkinh tế chính trị [199, tr.4] và có thể phân chia thêm một bước thành: thân thể thế giới, thân

Trang 12

thể xã hội, thân thể chính trị, thân thể tiêu dùng và thân thể y học 0.Niell thông qua hìnhthái thân thể cuối cùng, tức là thân thể y học, trong mỗi một giai đoạn của chu kì sinhmệnh, từ hoài thai, ra đời, dưỡng dục, hành vi sex, sinh bệnh, đau khổ, già và qua đời, thânthể đều bị điều trị hóa và xã hội hóa, bị quản lí thống nhất bởi trung tâm chuyên nghiệp rơivào trong sự khống chế của thể chế quyền lực Người viết cho rằng từ thế kỉ 20, các nhà líluận thân thể đều không lí giải thân thể giản đơn là thân thể sinh lí, mà phải thông qua thânthể mang tính giao tiếp để suy tư về tính đa nguyên của thân thể với các phương phápnghiên cứu đa dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực rộng lớn và có những thành tựu đáng kể.

Shaun Gallagher năm 2005, công bố bài How the Body Shapes the Mind Oxford:

Oxford unviversity Press, 2005, [197, tr.103] là thành quả nghiên cứu mang tính xây dựng

của hiện tượng học và triết học tri nhận của Maurice Merleau-Ponty Ông phân biệt ý thứcthân thể và đồ thức thân thể, bàn luận tường tận về tác dụng của nó trong hoạt động hìnhthành ý thức, đồng thời muốn xây dựng lí luận chủ thể tác động lẫn nhau trên cơ sở lí luận

về sự liên quan đến thân thể

Thân thể thế giới lấy kết cấu của thân thể nhân loại để tạo ra kết cấu và thuộc tínhcủa thế giới Thân thể xã hội là từ góc độ thân thể để lí giải, suy tư về quan hệ giữa cá thể và

xã hội Sryan S.Turner năm 1984 xuất bản cuốn Thân thể và xã hội có cống hiến rất lớn đối

với việc xây dựng xã hội học thân thể Ông đề xuất con người sống trong xã hội mang tínhthân thể (Somaticsociety) Thân thể không chỉ là tất cả phần vật chất của con người mà còn

là bản thân con người Con người có quyền uy tối cao chi phối thân thể của mình, nhưngđồng thời trật tự văn minh và các nhân tố xã hội lại tham gia vào việc cấu thành thân thể.Các vấn đề về dục vọng, tôn giáo, hình thái gia đình, sản xuất kinh tế, ăn uống và bệnh tật,thể chế chính trị, về căn bản đều được tái hiện thông qua thân thể Thân thể do đó là mộtmấu chốt, vừa là thể hữu cơ vật chất của cá thể, vừa là một ẩn dụ, là tập hợp các thân thểtrong xã hội [201, tr.346] Cuốn Thân thể và lí luận xã hội xuất bản năm 1993 (Chris

Shilling) có thể được coi là một bước thử nghiệm mới về xã hội học thân thể của Turner.Sau khi lược thuật vị trí của thân thể trong xã hội học cổ điển và hiện đại, Shilling khảo sátchủ nghĩa tự nhiên trong nghiên cứu xã hội học thân thể và quan niệm thân thể của lí luậnxây dựng xã hội và cách dung hợp giữa hai thứ đó, đồng thời đề xuất thân thể là “hiện tượngchưa hoàn thành kiêm tính sinh vật và tính xã hội” [202, tr.166] Nội hàm của định nghĩa

này bao gồm ba phương diện, thứ nhất, thân thể từ khi sinh ra đã là sản phẩm của quá trình

Trang 13

tiến hóa, đồng thời chịu ảnh hưởng của quá trình mang tính sinh vật và quá trình mang tính

xã hội; thứ hai, nhân tố xã hội trong một giới hạn nhất định thao túng và chuyển hóa sự pháttriển của thân thể; thứ ba, thân thể là cơ sở nền móng xây dựng các quan hệ xã hội, đồngthời hòa vào trong quá trình xây dựng [202, tr.188]

Khác với nghiên cứu lí luận của hai học giả trên về xã hội học thân thể, Nhục thể và

đá – thân thể và thành thị trong văn minh phương Tây (1994) của Richard Sennett lại có góc

độ nghiên cứu vô cùng đặc biệt Cuốn sách cho rằng, kết cấu thân thể đã phân chia lịch sửvăn minh nhân loại thành ba giai đoạn: “sức mạnh của thanh âm và mắt”, “vận động củatâm tạng” và “động mạch và tĩnh mạch”, kết hợp lí trí của dân tộc, lịch sử và xã hội học đểkhảo sát quan hệ tương hỗ giữa thân thể và thành thị trong lịch sử diễn tiến của văn minh

Mô hình thiết kế thành phố hiện đại nhấn mạnh sự thông thoáng, tốc độ và thoải mái, nhưnglại làm yếu đi sự thể nghiệm và sự tham dự mang ý thơ của thân thể Thông qua miêu tả bahình thái thành thị, Sennett đã chứng minh, “quan hệ tương hỗ giữa thể nghiệm thân thể vàhình tượng thành thị, trong đó thể nghiệm thân thể tạo thành hình tượng thành thị, ngược lạihình tượng thành thị lại hồi ứng và làm mạnh thêm thể nghiệm thân thể” [205, tr.2], đồng thời

đã biểu đạt ưu tư về sự khuyết thiếu thể nghiệm thân thể trong văn minh hiện đại

Từ góc độ giới và giới tính, nghiên cứu thân thể chính trị đã làm phong phú thêmrất nhiều nghiên cứu thân thể hiện đại, sự đa dạng, quan điểm phức tạp và mâu thuẫn lẫnnhau của chủ nghĩa nữ quyền Nhưng các nghiên cứu đều thống nhất và thể hiện xã hội vàvăn hóa phụ quyền xây dựng thân thể nữ tính, và thân thể làm thế nào để có thể đối kháng

và phản kích quy huấn quyền lực, trong diễn ngôn y học, triết học và tôn giáo, trong nghệthuật, văn học và các văn bản văn hóa khác, tiếp tục suy tư về năng lực lật đổ của thân thể

Tiêu dùng trở thành văn hóa chủ lưu của thế kỉ 20 và trở thành sức mạnh chủ yếu chiphối tư tưởng, hành vi, tình cảm, dục vọng, tự ngã của chúng ta, toàn dân đều khát vọng,

theo đuổi và hưởng thụ khoái cảm của thân thể tiêu dùng JeanBaudrillard trong Xã hội tiêu dùng đã đưa kí hiệu học vào lĩnh vực kinh tế tiêu dùng, thông diễn tính kí hiệu của thân thể

Trang 14

tôn giáo… Trong Triết học nghệ thuật, ông nhận thấy các nhân vật trong điêu khắc cổ Hy

Lạp đều không có con ngươi trong mắt, đấy chính là biểu hiện của hình ảnh các vị thần vốnrất an nhiên, tâm hồn phẳng lặng, uy nghiêm Đó là hình ảnh của thân thể mang tính thầnthánh Chỉ đến giai đoạn sau đó, thời Phục Hưng, hình ảnh thân thể mới mang tính trần thế,phàm tục: Chúa Giêsu bị đóng đinh, người đau đớn quằn quại, máu nhỏ ở những vết đóngđinh!

Hướng nghiên cứu văn học: Trong Sáng tác của F Rabelais và nền văn hóa dân gian trung cổ và phục hưng của M.Baktin có chương nói tới hình tượng thân xác kì dị trong sáng

tác của Rabelais và nguồn gốc của nó Ở đó, M.Baktin nhận định rằng: Trong sáng tác củamình, Rabelais quy tụ hình ảnh vũ trụ vào con người Những nhân vật lí tưởng trong sángtác của Rabelais thường là người có kích thước khổng lồ, mỗi người là một vũ trụ với trăngsao, sông núi, ruộng đồng, làng mạc, dân cư… Quan niệm thân thể như một vũ trụ bắtnguồn từ kinh nghiệm đấu tranh của con người trước những hiện tượng thiên nhiên Hơnnữa theo Rabelais “hết thẩy những gì tốt đẹp, những gì có giá trị thì đều phải dồi dào, đềuphải có kích thước to lớn Mặt khác, sự dồi dào, sung túc về lượng là dấu hiệu của tínhphong phú, đa dạng về chất Cái hay, cái tốt, cái đẹp đồng thời là cái to tát, cái giầu tínhchất, cái vượt quá giới hạn của mình” [98, tr.481]

Ở phương Tây, cơ sở lí luận hình thành cho hướng nghiên cứu về thân thể bắt đầuthịnh hành ở cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, nó như là một lí thuyết thể hiệnphong trào đấu tranh cho nữ quyền ở các nước phương Tây, đặc biệt sau cuộc Cách mạngtình dục ở Mĩ (1968) Đây cũng là câu trả lời cho việc, vì sao thân thể trong văn học nóichung chủ yếu nói về thân thể phụ nữ, ca ngợi vẻ đẹp của phụ nữ, nếu có đàn ông, cũng chỉ

là những đối sánh để thấy được tính nữ quyền mà thôi Trong tác phẩm Tiếng cười nàng Medusa, Hélène Cixous đã thúc giục người phụ nữ cầm bút: “Hãy kiểm soát thân thể mình

cùng một lúc với việc kiểm soát hơi thở và lời nói Hãy viết về chính bản thân bạn Thể xáccũng cần phải được lắng nghe” Khuynh hướng này đã tạo nên ý niệm của các nhà phê bình

nữ quyền về lối viết thân thể (body writing) trong văn học phương Tây

Trong The body in literature (Thân thể trong văn học - David Hillman và Ulrika

Maude biên soạn) [196] đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu sâu sắc về thân thể Cuốn sáchcung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu, các quan điểm nghiên cứu về thân thể,cách thức văn học phân tích, diễn giải về thân thể Cuốn sách cũng cung cấp nhiều kiến thức

Trang 15

lí luận mới mẻ góp phần hữu hiệu cho việc nghiên cứu văn học Cuốn sách gồm mười bảybài viết về các vấn đề như: Thân thể thời trung cổ (Medieval Somatics của BillBurgwinkle); Thân thể khuyết tật (Disability, tác giả: Jonathan Hsy); Ngôn ngữ và thân thể(Language and the body, của Andrew Bennet); Văn học tính dục (Literary Sexualities, củaHeike Bauer); Thân thể, nỗi đau và bạo lực (The body, Pain and Violence của Peter Fifield);

Đồ ăn, trọng lượng thân thể và văn học (Eating, Obesity and Literature, của tác giả MaudEllmann); Văn học và thần kinh học (Literature and Neurology, của Ulrika Maude); Thânthể mang tính chủng tộc (The Racialized body của David Marriott); Thân thể trong phântâm học (Psychoanalytic Bodies, bài viết của Josh Cohen); Văn học, khoa học và những ýnghĩa (Literature, technology and the Senses, của Steven Connor); Thân thể già hóa (TheAgeing body của Elizabeth Barry)… Bài văn học tính dục (Literary Sexualities) của HeikeBauer cho rằng: trong kho tàng văn học tính dục chúng ta thấy những diễn ngôn tình yêu,những hiểu biết tính dục, khái niệm về giới, chuyển giới… Ông dẫn chứng từ tác phẩm nổitiếng như: Woolf của Orlando (1928); phần về Crice trong tiểu thuyết Ulysses của James Joyce(1922)… Bài viết về thân thể thời trung cổ (Medieval Somatics) của tác giả Bill Burgwinkle, thânthể là dấu hiệu mà ở đó có biểu hiện cuộc đấu tranh muôn thủa giữa cảm giác và nhận thức, lí trí

và khát vọng, con người và thần linh…

Ở một số trường Đại học Anh Mỹ hiện nay, hướng nghiên cứu về thân thể trong văn họcnghệ thuật nói chung đang trở thành một hướng nghiên cứu được chú ý nhiều Ngay thời điểm

này, khóa học mùa xuân 2019 - 2020 tại trường ĐH Kent, ở UK, đang có khóa học về Thân thể trong văn học (Reading The Body In Eighteenth Century Literature - EN633) với Giới thiệu

chung: Trọng tâm của chúng tôi sẽ tập trung vào cách đọc và xây dựng thân thể trong vănhọc thế kỷ thứ mười tám và cách các công trình này phản ánh những mối quan tâm khácnhau về giai cấp, chủng tộc, giới tính và tình dục Các chủ đề thảo luận sẽ bao gồm khuyếttật và dị dạng, chủng tộc, cơ thể tình cảm, trang phục và cơ thể, cơ thể như văn bản và mốiquan hệ giữa cơ thể và chính trị Trọng tâm chính của tùy chọn này sẽ là văn học [200]

Còn đây là một nội dung của một khóa học vào tháng 2/2018 tại trường Đại họcEdinburgh cũng ở UK: Course: Body in Literature (ENLI10110): Mục đích của khóa học này

là giới thiệu một số sách có ảnh hưởng nhất mà văn học đã mô tả và khám phá thân thể conngười, và khám phá những ý tưởng như bản sắc, giới tính, ham muốn, tình dục, bạo lực, sắcđẹp và sự quái dị Thân thể con người đã được mô tả theo nhiều cách khác nhau trên mộtloạt các góc độ văn hóa và lịch sử Nó đã được mô tả, một cách đa dạng, như một thực thể

Trang 16

sinh học, vỏ bọc cho linh hồn, một địa chỉ tạo thành văn hóa, một cấu trúc tâm lý và mộtgiới hạn vật chất Mỗi cách tiếp cận khác nhau này mang đến một loạt các diễn ngôn vềnhân chủng học, chính trị, thần học và tâm lý học để khám phá và xây dựng bản sắc và vị tríchủ thể Thân thể ngay lập tức là một địa điểm của sáng tạo và tự thể hiện, và cũng là mộtđối tượng của sự thống trị và kiểm soát Trong văn hóa đương đại, nó cũng nằm ở trung tâmcủa các cuộc tranh luận về chủng tộc, giới tính và tình dục [195].

Tổng hợp ở trên cho thấy, nghiên cứu thân thể hiện nay ở phương Tây liên quan đếnrất nhiều lĩnh vực, góc độ khác nhau Các nhà lí luận đều cố gắng xây dựng lí luận và lĩnh vựcnghiên cứu của mình với hạt nhân là thân thể, chứng minh tính quan trọng của thân thể trongđời sống, tri nhận, văn hóa, lịch sử, văn học Có thể liệt kê một số nội dung nghiên cứu vềthân thể như sau: nghiên cứu ý nghĩa của những ẩn dụ thân thể, nghiên cứu thân thể như làbiểu hiện các ý nghĩa xã hội của nó; Sự biểu hiện (expression) chủ quan của thân thể, nhưcuốn Civelizing Process” (Tiến trình văn minh) của tác giả Norbert Elias; nghiên cứu sex vàgiới tính của thân thể, tiêu biểu là các tác giả Judith Butler, Gayatri Chakravorty Spivak, LuceIrigaray, Hèlène Cixous, Elizabeth Grosz ; Chính trị thân thể (Politics of the flesh); Y học vàthân thể; Thân thể và vấn đề tự sự; Thân thể như là một hệ thống kí hiệu; Thân thể trong vănhọc và nghệ thuật từ chủ nghĩa cổ điển đến chủ nghĩa hiện đại; Thân thể trong văn hóa truyềnthống…

1.1.2 Nghiên cứu về thân thể ở Trung Quốc

Từ thời cổ đại, Trung Quốc đã có những nghiên cứu về thân thể Trong quan niệmcủa Nho giáo về con người, có thể nói, đến Mạnh Tử thì vấn đề mặt “vật”, mặt thể xác mớibắt đầu được đặt ra và nghiên cứu Mạnh Tử là người đầu tiên quan tâm đến việc làm rõkhái niệm “thân”, chỉ ra nguồn gốc và kết cấu của nó Trước Mạnh Tử, mặc dù rất đề caocon người và cho rằng, con người là do trời đất sinh ra, và tồn tại của con người là tất yếu,nhưng Nho giáo không quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu sự hình thành con người mà chỉ

đi sâu tìm hiểu mặt “tâm”, mặt tư tưởng mà không chú trọng đến mặt thể xác của họ

Mạnh Tử vượt lên bậc tiền bối ở chỗ đã làm sáng tỏ khái niệm “thân” ở những mức

độ nhất định Theo ông, mỗi cá nhân con người gồm có hai phần: tâm trí và thể xác Thể xác

đó được hiểu là kết cấu sinh học của con người, gồm các bộ phận giác quan như: tai, mắt,mũi, miệng, tay, chân… nghĩa là ông chỉ hiểu thể xác ở kết cấu bên ngoài của nó Trong conngười, ông đề cao phần tâm mà coi thường phần xác Ông coi phần tâm trí là cái đại thể, cái

Trang 17

quý trọng, cái to lớn, còn phần vật (thể xác) là cái tiểu thể, cái khinh tiện và nhỏ nhen.Nhưng cả hai cái đó “đều do trời ban cho mình tất cả” (Thử thiên chi sở sử ngã giả) [18,tr.170] Theo ông, kẻ nào không biết chăm lo bồi dưỡng bản thân, kẻ đó là người không biết

yêu quý bản thân mình, không biết suy nghĩ chín chắn… Trước Mạnh tử, Tăng tử cũng đã ýthức rất rõ điều này Khi ông bị bệnh nặng bèn triệu tập các môn đệ lại và dạy rằng: “Hãy dởtay ta ra xem hãy dở chân ta ra xem (đó là ta giữ toàn vẹn cái thân thể do cha mẹ ta sinh ra)”[19, tr.120] Ông cho rằng, phải giữ gìn cái thân thể do cha mẹ sinh ra như thế mới là con

người có hiếu Đây chính là tư tưởng quý thân Nhưng về cơ bản, Nho giáo vẫn cho rằngthân thể và tinh thần tách rời nhau, coi thường thân thể, phải kiềm chế thân thể, khống chếdục vọng thể xác

Tháng 7-2000, Trung Quốc xuất hiện tập san Nửa thân dưới (Hạ bán thân) với

“tuyên ngôn”: “Nửa thân dưới phải thanh toán Nửa thân trên như: tri thức, văn hóa, truyền

thống, thi tứ, trữ tình, triết lý, suy tư, kế thừa, sứ mệnh, đại sự, kinh điển” (Thẩm Hào Ba);Tạp Ngư cũng có cùng quan điểm khi phát biểu: “Viết về nửa thân dưới trước hết phải vứt

bỏ sự quản chế của nửa thân trên đã tha hóa bởi tri thức, luật lệ, truyền thống, để trở về vớitrạng thái xung động mang tính sinh vật nguyên thủy Viết về nửa thân dưới là một loại viếtvăn nhục thể phi văn hóa, một loại viết văn từ bỏ ý thơ, học thức, truyền thống, để biểu hiệnbản chất không che đậy Hãy bắt đầu cũng như kết thúc đều phải từ nhục thể cả” [95]

Vì chưa có khả năng bao quát được mảng tư liệu của văn học Trung Quốc nên chúng

tôi chủ yếu dựa vào tài liệu của Âu Dương Sáng Sáng, trong cuốn Phê bình việc nghiên cứu thân thể ở Âu Mĩ hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Bắc Kinh, Trung Quốc, 2015 (Trần Đình

Sử lược dịch) Bà đã tổng kết về việc nghiên cứu thân thể ở Trung Quốc hiện nay như sau:

Người Trung Quốc đã quan tâm đến thân thể từ rất sớm, từ những năm 1937, TiềnTrung Thư đã đề cập đến thân thể trong văn học cổ điển Trung Quốc Gần đây có Ngãi ThịDuyên với “Quan niệm thân tâm của văn hóa Trung Quốc và mĩ học (1991)” và Tôn TàiQuốc với “Bàn về lý thuyết thân thể - chủ thể của M Ponty” Từ năm 2000 trở lại đây côngtrình nghiên cứu thân thể xuất hiện ngày càng nhiều ở các khuynh hướng sau:

1- Nghiên cứu quan niệm về thân thể trong văn hóa truyền thống Trung Quốc Hộithảo quốc tế về quan niệm thân thể trong lịch sử tư tưởng cổ đại Trung Quốc 1991 Côngtrình “Thân thể tự nhiên – quan niệm thân thể trong tác phẩm “Hoàng đế nội kinh” của TháiBích Danh (1997); “Quan niệm thân thể của nhà Nho” của Dương Nho Tân (1998); “Quan

Trang 18

niệm thân thể của nhà nho thời Tiên Tần và ý nghĩa thẩm mĩ của nó” của Trương DiễmDiễm (2005); “Vấn đề thân thể trong mĩ học đời Hán” của Lưu Thành Kỉ (2005) Nhìnchung các nghiên cứu quan niệm thân thể trong tư tưởng văn hóa Trung Quốc phần lớn làthực hiện theo kinh nghiệm thân thể phương Tây, cho nên, sự khác biệt phương pháp làkhông nhiều.

2- Nghiên cứu chính trị thân thể: Chính trị thân thể là chỉ quyền lực lấy hình thứcdiễn ngôn và tri thức về thân thể làm phương tiện để thao túng và giáo dục thân thể dẫn đếnquyền lực tràn ngập trong quá trình sinh thành của thân thể Quyền lực thể hiện cả vi mô và

vĩ mô trong đời sống con người Cội nguồn của lí thuyết này bắt nguồn từ Foucault

Việc nghiên cứu thân thể của Trung Quốc nghiêng về nghiên cứu chính trị thân thể.Ứng Tinh với “Chính trị thân thể và vấn đề tính hiện đại” (năm 2003) dùng góc độ sử họckhảo sát mối quan hệ phức tạp giữa kĩ thuật và tính hiện đại của chính trị thân thể ở TrungQuốc nửa đầu thế kỉ XX Uông Dân (chủ biên) “Chính trị học văn hóa của thân thể” (2003)

và “Hậu thân thể: chính trị học văn hóa, quyền và sự sống” (2003) Uông Dân An với “Thânthể, không gian và tính hiện đại” (2006) chủ yếu vận dụng lí thuyết của Foucault và DeleuzeDuluz Lí luận thân thể của Foucault cũng khơi gợi cho học giả Trung Quốc nhìn sâu vàoquá trình đổi thay của thân thể ở phương Tây Lưu Tiểu Phong với công trình: “Nhục thânnặng nề” (1998) Khang Anh với công trình: “Diễn giải lí luận thân thể trong ngữ cảnhphương Tây hiện đại” (2003) Hoàng Hoa với công trình: “Quyền lực thân thể và cái tôi,Foucault và phê bình văn học nữ quyền” (2005)

3- Nghiên cứu thân thể trong phạm vi hiện tượng học Chủ yếu nghiên cứu quanniệm triết học thân thể của M Ponty Tác giả Tiền Tiệp với công trình: “Diễn giải bản thể:phân tích khái niệm nhục thể của hiện tượng học M Ponty” (2001) và nhiều công trìnhkhác

4- Mĩ học thân thể (somesthetics) Mĩ học thân thể do học giả Mĩ RichardShusterman khởi xướng trong công trình “Mĩ học thực dụng” (2002) Ông nhấn mạnh thânthể một người với tư cách là nơi con người có thể hưởng thụ thẩm mĩ bằng cảm giác cũng là

sự sáng tạo do mình tạo nên, hàm ý mĩ học thân thể Ông nghiên cứu phê phán, cải thiệnkinh nghiệm và tác dụng của thân thể bởi thân thể con người là nơi do mình tạo ra để hưởngthụ thẩm mĩ bằng cảm giác và sáng tạo

Ở Trung Quốc, Bành Phủ Xuân và Vương Hiểu Hoa cũng nêu vấn đề mĩ học thânthể Bành Phủ Xuân có bài: “Thân thể và mĩ học thân thể” (2004), “Vấn đề cơ bản của mĩ

Trang 19

học thân thể” (2005) Ông cho rằng, mĩ học thân thể không chỉ là mĩ học về thân thể màquan trọng là mĩ học bắt nguồn từ thân thể, xuất phát từ thân thể Có nghĩa là, mĩ học trướchết phải suy nghĩ về thân thể tức là suy nghĩ về tính nhục thể, tính cá thể, tính ngẫu nhiêncủa thân thể Biểu hiện cơ bản nhất của thân thể là dục vọng Dục vọng đã xây dựng nên cácmối quan hệ và đường lối đi lại nguyên sơ giữa con người và thế giới.

Tóm lại, phần lớn học giả Trung Quốc đều đã phác họa mĩ học thân thể và họ đãdùng lí luận của Nietzsche, Ponty để làm cơ sở Nhưng nhìn chung, mĩ học thân thể vẫn còn

là khởi điểm Việc nghiên cứu thân thể ở Trung Quốc đến nay vẫn còn tản mạn, từ góc độ vănhọc mà xét thì những nghiên cứu này đang nằm ngoại vi văn học, nó chỉ xét như một góc độ,một điểm để nhìn vào văn học, dù có đề cập đến nhưng chưa có hệ lí thuyết và quan điểm tưtưởng rành mạch Việc ngoại vi hóa cho thấy vấn đề thân thể chỉ tập trung ở xã hội học, triếthọc, tư tưởng văn hóa là chính Về phương diện văn học chỉ nghiên cứu thân thể được biểuhiện trong tác phẩm văn học, dùng xã hội hóa thân thể lần ra phương diện nghiên cứu Rất ítcông trình từ phương diện lí luận đưa thân thể trở thành phương pháp sáng tác Vì vậy, việcnghiên cứu thân thể trong văn học cần được mở rộng hơn nữa (Âu Dương Sáng Sáng)

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.1 Nghiên cứu thân thể trong văn học

Nói đến văn học là nói đến quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm vănhọc dù tác phẩm đề cập đến đối tượng nào đi chăng nữa Khi nói đến con người thì thân thể

là bình diện, nền tảng quan trọng nhất của tồn tại người Trong văn học, thân thể có vai tròquan trọng trong việc kiến tạo giá trị nghệ thuật của tác phẩm, thậm chí là “không có thânthể thì không có miêu tả nghệ thuật” [134, tr.90] Sự bộc lộ của nhân vật trong bất kì một tácphẩm văn học nào cũng không thể không nói đến những biểu hiện như chân dung, trạngthái, hoạt động, tính chất…của thân thể con người Miêu tả các yếu tố, trạng thái của thânthể là cách để nhà văn thể hiện nội tâm của nhân vật Nhà văn thông qua việc tả các thuộctính tự nhiên bên ngoài của thân thể (như lứa tuổi, thân hình, nét mặt, màu tóc…), các biểuhiện về mặt xã hội, hoàn cảnh, truyền thống văn hóa của thân thể (như ăn mặc, kiểu tóc,trang điểm…), hoặc những biểu hiện cụ thể của thân thể như tư thế, động tác, cử chỉ, ánhmắt, giọng nói,…nhằm toát lên ý nghĩa cần khám phá của nhân vật và tác phẩm Sự lựachọn khía cạnh nào của thân thể để biểu hiện con người trong sáng tác phụ thuộc vào quanniệm của mỗi nhà văn, thể loại, thời kỳ, trào lưu văn học

Trang 20

Ở thể loại tự sự, kịch, thân thể nhân vật thường được miêu tả đầy đủ về diện mạo lẫnnội tâm, có tính cách, tiểu sử và sự thay đổi diện mạo của thân thể cũng gắn với những biến

cố, sự kiện, gắn với tính cách, số phận nhân vật của nhân vật Tác phẩm Phục sinh của

Tônxtôi, các biến cố, sự kiện gắn với quá trình đổi thay thân thể trong cuộc đời hai nhân vậtNhê–khơliuđôp và Maxlôva Hay sự biến đổi của thân thể Chí Phèo, từ lúc là đứa trẻ bị bỏrơi, khi lớn lên làm canh điền, đi ở tù, đến việc kết thúc sự tồn tại của thân thể Đó là sự đổithay của thân thể tự nhiên, thân thể xã hội, thân thể chính trị, thân thể cá nhân của nhân vậtđồng thời cũng gắn với biến cố, sự kiện trong cấu trúc tác phẩm Quá trình biến đổi củatruyện cũng là quá trình đổi thay, trừng phạt thân thể, ví như thân thể Cám làm mắm khi bịtrừng phạt, Êdip khi bi t s  th t đã t  tr ng ph t, ch c mù m t và r i b  ngai vàng, đi kh iế ự ậ ự ừ ạ ọ ắ ờ ỏ ỏthành Teb… Những chi tiết ban đầu miêu tả thân thể có khi là mấu chốt cho các quan hệ vàkết cục của nhân vật, chi phối toàn bộ tác phẩm Chẳng hạn, Trương Chi xuất hiện với đặcđiểm “Ngày xưa có anh Trương Chi Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay” thì cuộc đời củachàng cũng xoay quanh “công thức” ấy

Trong tác phẩm trữ tình, thân thể của nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tìnhthường không được khắc họa đầy đủ, trọn vẹn như trong thể loại tự sự mà chủ yếu mangtính gợi tả, chấm phá để bộc lộ cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận Tuy nhiên, cảm xúc làcảm xúc của thân thể, cảm xúc phải được biểu hiện qua thân thể, vì vậy dù sự miêu tả thânthể trong thơ trữ tình không đầy đủ, trọn vẹn thì vẫn cần yếu tố thân thể để bộc lộ cảm xúc

Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, ở Việt Nam, Trần Đình Sử là tác giả đầu tiên quan

tâm đến vấn đề thân thể như là một ngôn ngữ nghệ thuật Từ 1987, trong Thi pháp thơ Tố Hữu,

ông đã đề cập đến thân thể trong thơ Tố Hữu dưới góc độ “quan niệm nghệ thuật về conngười” Tác giả khẳng định vai trò của yếu tố thân thể con người trong văn học: “Không thể lígiải một hệ thống văn thơ mà bỏ qua con người được thể hiện trong đó Vấn đề quan niệmnghệ thuật về con người thực chất là vấn đề tính năng động của nghệ thuật trong việc phản ánhhiện thực, lí giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật, là vấn đề lí giải phạm vi chiếmlĩnh đời sống của một hiện tượng nghệ thuật, là khả năng lí giải nó vào các miền khác nhau củacuộc đời.” [126, tr.89,90] Theo ông, đặc trưng chung của thân thể trong thơ Tố Hữu là thân thểchính trị đã “đánh dấu một bước trưởng thành của con người Việt Nam trong thế giới hiện đại”,

đó là “con người chính trị kiểu mới, dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản”[126, tr.92] Tác giảcũng khẳng định thi pháp quen thuộc của thơ Tố Hữu là: “Ở đâu ta cũng gặp hình tượng con

Trang 21

người thể chất” và “một nguyên tắc tả người rất rõ trong thơ Tố Hữu là: toàn bộ cơ thể trở thành

cơ quan cảm thụ thế giới”[126, tr.97] Chính vì thế, nên “Nói hi sinh trước hết là hi sinh thânxác Sự hi sinh tính bằng “thây”, “xác”, “thịt hi sinh”, “tủy máu”, “xương”, “đầu”, “khốinão”

Tháng 2/2006, Trần Đình Sử với bài viết: Ngôn ngữ thân thể trong thơ Bích Khê, đã chỉ

ra ngôn ngữ thân thể là một phần của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Bích Khê Tác giả khẳngđịnh: “Đối với văn học thân thể là thân thể sống, nó không giản đơn là thân xác, xác thịt Xemthân thể chỉ là xác thịt có nghĩa là thu hẹp nó, tầm thường hoá nó Trong con người sống, thânthể thấm nhuần tâm hồn Chỉ xác thịt không phải là ngôn ngữ thân thể người, chỉ tính dục cũngkhông phải là ngôn ngữ thân thể người Chỉ có cảm xúc tâm hồn mới biến thân thể thành ngônngữ” [130]

Về lý thuyết, năm 2017, Trần Đình Sử đã đặt vấn đề xem thân thể như một khía cạnh của

quan niệm con người, trong Dẫn luận thi pháp học hiện đại Theo ông, “thân thể là trung tâm tồn

tại của con người trong xã hội Thân thể là chủ thể tri nhận về thế giới, là cội nguồn của tri giác vềthế giới Thân thể vừa là công cụ vừa là chủ thể để con người cảm thấy sự tồn tại của mình Chínhtrị là sự khống chế thân thể Thân thể được hiểu như là sản phẩm của tự nhiên, của văn hóa, của yhọc, của xã hội, chính trị, tiêu dùng Thân thể trở thành đối tượng miêu tả của nghệ thuật và do đótrở thành một ngôn ngữ để miêu tả về con người Thân thể trở thành một phương diện mới của thipháp” [134, tr.124]

Trong bài Văn chương với thân thể (Văn nghệ, số 4/2016), Phương Lựu đã chỉ ra mối

quan hệ giữa văn chương và thân thể, giữa thân thể và bản chất tự nhiên của con người (tính

dục) Tác giả cho rằng, không chỉ trong công trình Bản thảo kinh tế triết học 1844 của Mác

đề cập đến vấn đề tính dục như một bản năng tất yếu của con người mà ngay cả sách thánhhiền cũng không ngần ngại đề cập đến thân thể con người, đặc biệt là bộ phận sinh dụcngười phụ nữ và còn xem đó là “gốc rễ của trời đất” Để xác định cho mức độ mối quan hệgiữa thân thể và văn chương, tác giả đã đi đến kết luận: Dù sao thân thể trong văn chương,không phải chỉ là câu chuyện khỏa thân và tính dục, cho dù là khỏa thân và tính dục của conngười văn minh Thân thể trong văn chương còn là “cái được biểu đạt” trong số phận thăngtrầm của con người mà nó phân hưởng hoặc gánh chịu Hơn nữa, nó lại còn là “cái biểu đạt”những chỗ sâu kín từ tâm hồn con người chung quanh tấn trò đời muôn thuở xưa nay” [95]

Bài Tìm hiểu ngôn ngữ cơ thể cũng của Phương Lựu (in trong Kí hiệu học, từ lí thuyết đến

Trang 22

ứng dụng trong nghiên cứu và dạy học Ngữ Văn, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2016, HN) đã

bước đầu giải thích về ngôn ngữ cơ thể với những ý nghĩa của nó và ngôn từ thể hiện cáccấp độ của ngôn ngữ cơ thể Hai bài của Phương Lựu rất có ý nghĩa đối với việc triển khailuận án

Mai Anh Tuấn trong bài Tự sự thân thể trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp đã chỉ

ra đặc điểm và phong cách ngôn ngữ thân thể trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp là:

“Trong nhiều tác phẩm đặc sắc của ông, câu chuyện về cơ thể con người, một cách chủ ý,thường xuyên gắn liền với các điều kiện môi trường xã hội và vì thế, tính ngụ ý, hàm ẩn,bóng gió về sự đối kháng giữa truyền thống và hiện đại, tự nhiên và văn hóa, quá khứ vàđương thời,…có thể coi là một nét phong cách tự sự nổi bật Đau ốm, bệnh tật, cái chết, từchỗ là cảm xúc, quan sát về cơ thể con người, bằng cách hiệu ứng hóa nỗi sợ hãi, sự bithảm, khả năng ăn năn, sám hối hay kêu gọi phương thức dàn hòa giữa sống và chết, hiệnhữu và mất mát, tồn tại và hư vô, ý nghĩa và vô nghĩa của đời người thông qua những ràngbuộc tâm linh hay ý niệm về tôn giáo, đã trở thành tri nhận tương đối khác biệt giữa NguyễnHuy Thiệp so với các nhà văn trước đó.” [180, tr.75]

Nguyễn Văn Nguyên với bài Nhận diện “thân thể sáng tác” trong văn học đương đại Trung Quốc (2009), [107] đã có cái nhìn tổng thuật về vấn đề “thân thể tả tác” (lấy thân thể làmchất liệu sáng tác) trong “tự sự thân thể” của văn học đương đại Trung Quốc

Với bài viết Ngôn ngữ thân thể trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (2012), Trịnh Thị Lan cho rằng, ngôn ngữ thân thể trong Mẫu thượng ngàn mang tính chất lưỡng tính, vừa là thân thể, vừa là tâm hồn, “là sự thể nghiệm tâm hồn

thân thể hóa” Nó đã giúp nhà văn nhìn ra vẻ đẹp trần gian nơi con người Và đặc biệt, trong

nó còn ẩn chìm cái bề sâu của nền văn hóa Việt tràn đầy sức sống: Đó là cái bản năng mangtính Mẫu được kết tinh trong mỗi người vợ, người mẹ Việt Nam [79]

Tháng 1/2016, trong kỉ yếu hội thảo: Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường Sư phạm, Nguyễn Thị Minh Thương có bài: Từ lí luận thân thể của M Foucault đến chủ nghĩa nữ quyền [159] Ở bài này, tác giả đã sơ lược một số quan niệm vềthân thể của các học giả trước M.Foucault, đặc biệt là các học thuyết đã ảnh hưởng mạnh

mẽ đến quan điểm khoa học của ông và là nguồn gốc của chủ nghĩa nữ quyền Theo tác giả,nguồn gốc của chủ nghĩa nữ quyền hậu hiện đại là sự kế thừa quan điểm khoa học của nhiềuhọc giả đi trước nhưng lí luận và phương pháp của M Foucault được đánh giá cao hơn cả

Trang 23

Sở dĩ học thuyết đó của ông được đánh giá cao là bởi vì ông đã coi trọng lí luận về thân thểkhi nghiên cứu các vấn để xã hội Với lí luận này, ông đã đi ngược với truyền thống phươngTây và đã khẳng định tính quan trọng của thân thể và sự thể nghiệm của xác thịt.

Năm 2013, Mai Thị Hồng Tuyết trong Báo cáo Khoa học Công nghệ, Đại học Sư

phạm Hà Nội 2 với đề tài: Biểu tượng thân thể trong văn học Việt Nam (dưới góc nhìn kí hiệu học), có những ý kiến như sau: 1 Trong văn học dân gian và văn học trung đại: Coi

thường thân thể là một quan niệm phổ biến của thời đại (thân thể là nhân tố đối lập với nhâncách con người; vẻ đẹp thân thể như là mầm họa); Thân thể là biểu tượng của cái đẹp; Thânthể là biểu tượng của thân phận khốn khổ; Thân thể và dục vọng 2 Trong văn học ViệtNam hiện đại, thân thể gắn với những vấn đề căn bản của con người cá nhân và con người

xã hội: Thân thể gắn liền với thân phận; Thân thể và khát vọng tình yêu thể xác; Thân thể và

sự hiến sinh cho đất nước; Thân thể và nỗi đau chiến tranh Nhìn chung, đề tài đã đề cập đếnnhững nét nghĩa của thân thể trong văn học Việt Nam tương đối toàn diện

Có một số luận văn thạc sĩ và bài viết ở Đại học Sư phạm Hà Nội như Ngôn ngữ thân thể trong tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn, 2014 (Nguyễn Khánh Chi), Ngôn ngữ thân thể trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư, 2017 (Tạ Thị Thanh Tân) và một số bài viết như Những ý niệm hiện đại về thân thể trong sáng tác của Nhất Linh (Qua một số tiểu thuyết tiêu biểu trước Cách mạng tháng Tám 8 năm 1945) của Phú Thùy Hương, Xung quanh kí hiệu thân thể trong tiểu thuyết Thân phận tình yêu của Lê Trà My, Thân thể trong thơ Vi Thùy Linh từ góc độ kí hiệu học của Nguyễn Thị Minh Thương, Ngôn ngữ thân thể trong tác phẩm Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Nguyễn Thị Ngọc Huệ, bài

của Liễu Trương “Mỹ học và thân xác trong thơ Nguyên Sa”… đều đã ít nhiều đề cập đếnmột số nội dung của ngôn ngữ thân thể về lý thuyết cũng như biểu hiện của nó trong tácphẩm cụ thể

Ngoài những tài liệu viết thành văn, bài giảng về “Ngôn ngữ thân thể trong văn học”của GS Trần Đình Sử cùng hai buổi seminar (15/4/2015 và 12/8/2016) về vấn đề ngôn ngữthân thể tại Bộ môn Lí luận văn học Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chúngtôi đã thu được nhiều ý kiến của các nhà chuyên môn như GS.Trần Đình Sử, GS.PhươngLựu, PGS.La Khắc Hòa và TS.Trần Ngọc Hiếu, TS Đỗ Văn Hiểu

1.2.2 Nghiên cứu thân thể trong thơ sau 1986

Thơ Việt Nam giai đoạn sau 1986 được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng

Trang 24

cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu vấn đề thân thể Khi nghiêncứu về thơ Việt Nam sau 1986, các nhà nghiên cứu thường tập trung vào một số vấn đề như:Cái tôi trữ tình, thiên tính nữ, yếu tố sex trong thơ… Những công trình này ít nhiều đã bànđến các khía cạnh khác nhau liên quan đến thân thể.

Nghiên cứu về cái tôi trữ tình trong thơ, có các công trình tiêu biểu sau: Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990 của Lê Lưu Oanh, Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay những đổi mới cơ bản của Đặng Thu Thủy, Luận văn Những tìm tòi thể nghiệm của thơ nữ trẻ đương đại của Trần Thị Kim… Khi nghiên cứu về cái tôi trữ tình, các công trình đã bàn

đến một số khía cạnh liên quan đến vấn đề thân thể xã hội và thân thể cá nhân trong thơ sau

1986 Lê Lưu Oanh đề cập đến thân thể trong thơ giai đoạn 1980 – 1990 dưới góc độ Cái tôi thế sự đời tư, với nội dung Sự thức tỉnh những nhu cầu xã hội và cá nhân Đó là nỗi đau,

mất mát về thân thể, những khiếm khuyết, băng hoại về nhân cách và môi trường qua sốphận của những người thân, biểu hiện trực tiếp lên thân thể của những người thân, chuyênluận viết: “nhận thức về nỗi đau có thực với những mất mát về con người, về tinh thần ngàycàng thấm sâu” và “cảm nhận về trạng thái xã hội hiện tại với những khiếm khuyết, bănghoại về môi trường và nhân cách, chứa đầy những thông tin nhức nhối, xót xa về số phậncủa những con người cụ thể, bộc lộ trước hết qua cuộc đời những người thân: bà tôi, bố tôi,

mẹ tôi, vợ tôi, em tôi, thầy giáo tôi, bạn bè tôi” Hơn lúc nào hết, họ xác định, phải dấnthân, đi đến tận cùng sự thật, dùng thân thể trần trụi của để cảm nhận về con người, về cuộcsống: “Tôi lột hết ngôn ngữ bóng bảy, những áo xống triệu thần trong những tụng ca, nhữngbài thơ trẻ trung cởi áo dưới mặt trời làm nghĩa vụ công dân” (Thu Bồn), “Dẫu sinh nởmuộn màng, sự thật bật ra ứa máu, Đẹp như nụ cười mẹ sau những cơn đau” (Lê NhượcThủy) [115, tr.98, 100] Đặng Thu Thủy đã đề cập đến thân thể trong thơ sau 1986 dưới góc

độ Sự trở về của cái tôi cá nhân và Hướng đến một tình yêu trần thế Với Sự trở về của cái tôi cá nhân, thân thể được đề cập ở khía cạnh cái tôi trữ tình tìm kiếm mình và nghiêm khắc

định giá lại các giá trị của thân thể mình trong cuộc đời nhưng lại sớm thất vọng Các nhàthơ có xu hướng tự phác họa ra hình hài thân thể mình, đối diện với thân thể mình: “Tìnhyêu trong thơ trước đây chủ yếu là tình yêu tinh thần thuần túy Nay tình yêu gắn liền vớitình dục như là một sự bổ sung để đạt tới độ hài hòa toàn vẹn, viên mãn, chân thực Conngười là con – người nên không thể chối bỏ thân xác – nơi trú ngụ của linh hồn” [164, tr.73]

Nghiên cứu về thiên tính nữ và yếu tố sex trong thơ, có các công trình tiêu biểu sau:

Trang 25

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hồng Giang với đề tài: Về một đặc điểm tư duy thơ nữ gần đây: Ý thức phái tính (Qua Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh), Luận án Ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (Qua một số trường hợp tiêu biểu) của Nguyễn Thị Hưởng, Luận văn Những tìm tòi thể nghiệm của thơ nữ trẻ đương đại của Trần Thị Kim… Khi nghiên cứu về thiên tính nữ, các công trình đã bàn đến

một số khía cạnh liên quan đến vấn đề thân thể cá nhân Nguyễn Thị Hồng Giang đề cập

đến Cái Tôi thân xác - phương thức thể hiện khát vọng giải phóng tính dục (nội dung này được nghiên cứu ở phương diện: Thân xác là sự hiện hữu và Khát khao khoái cảm trực diện, cháy bỏng) Với mục Thân xác là sự hiện hữu, tác giả tập trung vào việc nữ giới phô

bày thân xác như một niềm tự hào, một cách để khẳng định mình và chống lại tư tưởng namquyền ngự trị ngàn đời trong lịch sử nhân loại, đồng thời tác giả cho rằng đấy là cách đểgiới nữ khẳng định “bản sắc của giới mình”: “Khi tình dục là quyền lực của đàn ông trên cảphương diện thể xác lẫn diễn ngôn thì cuộc giải phóng tính dục của nữ giới là một cuộc giảiphóng kép Nhằm gỡ đi bức bình phong che lấp tính dục nữ, các nhà thơ nữ những năm gầnđây bắt đầu phản kháng một cách trực tiếp, mạnh mẽ Họ viết về tính dục hay viết về cái Tôithân xác một cách nhiệt tình và đầy đam mê” và “Phô bày cái Tôi thân xác là cú hích đầutiên nhằm đẩy bức bình phong che khuất vẻ đẹp tự nhiên của thân thể người nữ.” [42, tr.42].Theo tác giả luận văn thì thơ của ba tác giả nữ đã ý thức cao độ về sự tồn tại của thân thểbởi họ cho rằng thân thể không chỉ là nơi để họ được tôn vinh và hoan lạc mà còn là nơi họcủng cố địa vị của mình trong xã hội: “Thân thể với người phụ nữ là để tôn vinh và để hoanlạc, thụ hưởng Sự hiện hữu được hiểu theo cả hai nghĩa: sự tồn tại về thể xác và sự mangchứa linh hồn Họ có những điểm nhấn về cơ thể, nơi đem lại cho họ niềm kiêu hãnh và suytư.” [42, tr.43] Ở phương diện “Khát khao khoái cảm trực diện, cháy bỏng”, tác giả luận

văn tập trung khai thác sự thể hiện khát khao khoái cảm của thân thể một cách trực tiếp vàmãnh liệt trong thơ của ba tác giả nữ: “các nhà thơ nữ nói thẳng, nói một cách mạnh mẽkhát khao khoái cảm của mình” và “Đấy là một nỗi khát cháy bỏng, khát nên lúc nào cũngthường trực tâm thế tìm kiếm người yêu Nhưng các nhà thơ nữ không hướng ngoại màhướng nội, tìm kiếm ngay trong chính thân thể mình, từ chính cơ thể mình.” [42, tr46] Luận

án Ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (Qua một số trường hợp tiêu biểu) của Nguyễn Thị Hưởng đã đề cập đến thân thể trong sự “Tự ý thức” (Tự ý thức về thân thể nữ như một ưu thế thiên tạo) Tác giả luận án cho rằng trong sáng tác của các cây bút

Trang 26

nữ trong thơ sau 1986 đã thể hiện rõ sự hãnh diện về vẻ đẹp thân thể của giới mình và xem đó

là một thế mạnh hiển nhiên mà tạo hóa đã ban tặng: “Phô diễn vẻ đẹp ngoại hình, thân thểđược xem là thế mạnh của các cây bút nữ những năm gần đây Có lẽ vốn được mệnh danh làphái đẹp nên các nhà thơ nữ đã chú ý đến những điểm nhấn mạnh đầy ấn tượng trên cơ thểmình như một đặc ân của tạo hóa ban cho để khẳng định vai trò và sự tồn tại của mình trongthế giới” và “Thoát khỏi mặc cảm thân xác, quan niệm thân xác là cái tầm thường, cái dơ bẩnkhông có giá trị gì so với tinh thần, phụ nữ hiện đại nhận thức được vẻ đẹp hình thể đặc biệt làcác bộ phận nhạy cảm giúp đời sống tình dục thăng hoa” [63, tr.73,74]

Khi nghiên cứu yếu tố sex trong thơ, các tác giả đã phần nào đề cập đến cách nói “trắngtrợn” về thân thể trong thơ sau 1986 Tác giả Nguyễn Thị Mai Anh viết: “Hiện tượng nữ giớilàm thơ ca ngợi thân thể và giới tính không phải là mới, nhưng vẫn “hot” trong đời sống vănnghệ” Và “Thơ xưa với kĩ thuật, thể loại cũng như phương tiện, ngôn ngữ, thường dùng cáchnói tế nhị gợi cảm, gợi hình… thơ nay thì trắng trợn như gợi nhục cảm và bày ra trước mắt” [4,tr.46]

Ngoài ra, cũng có những công trình trực tiếp nói đến vấn đề thân thể nhìn nhận ở góc

độ chơi chữ hay đánh giá vấn đề thân thể ở góc độ tiêu cực, tuy nhiên, số trang dành cho vấn

đề này rất ít Luận án Lí thuyết trò chơi và một số hiện tượng thơ Việt Nam đương đại của

Trần Ngọc Hiếu đã đề cập đến nội dung “ngôn ngữ thân thể” trong thơ Trần Dần được thểhiện ở lối chơi chữ, cách gieo vần trong thơ ông và theo tác giả thì đó là cách để nhà thơ biểuthị trạng thái “thân thể bị kìm nén” đang đòi được giải phóng: “Có thể bằng trực cảm để nhận

ra ở Trần Dần, các khuôn vần khơi gợi những liên tưởng tâm lí học gestalt về thân thể, về tínhdục, về các trạng thái chấn thương: “ức” – “ngực”, “eo” – “sẹo”, “ít” – “thịt”, “ú” – “vú”…Cách gieo vần liên tiếp, trong nhiều trường hợp chủ yếu là vần trắc, trong một ngữ đoạn kéotheo đó là sự xuất hiện dày đặc của lớp ngôn ngữ thân thể khiến lời thơ trở thành ám thị vềtrạng thái thân thể bị kìm nén thành những ẩn ức đang đòi được giải tỏa” [52, tr.151] Nguyễn

Đăng Điệp trong công trình Thơ Việt Nam hiện đại Tiến trình và hiện tượng (2014) đã đề cập đến nội dung Ngôn ngữ thân thể trong thơ Tuy nhiên, với dung lượng hơn một trang sách, tác

giả hầu như chỉ đề cập đến tính dục của thân thể và nhìn nhận vấn đề ở góc độ tiêu cực trongmột số sáng tác thơ trẻ hiện đại: “Nếu như việc miêu tả những yếu tố tính dục trong thơ sau

1975 ở giai đoạn đầu được coi là dấu hiệu cởi mở để phá bỏ cấm kị thì ở những năm cuối thế

kỉ XX đầu thế kỉ XXI việc miêu tả tính dục được đẩy lên đến mức nhiều người coi đó là quá

Trang 27

trình “sinh dục hóa thơ ca” Nhiều cây bút không những nói đến các bộ phận thân thể mà còndiễn tả các hành vi tính giao một cách “hiện thật” như thơ của nhóm Mở miệng hoặc Dự báophi thời tiết của nhóm Ngựa trời ở Sài Gòn” [31, tr.81].

1.3 Quan niệm về thân thể trong nghệ thuật

Đề cao vẻ đẹp tự nhiên của thân thể: Mặc dù ở cả phương Tây và phương Đông, cho

đến tận thế kỷ 19, quan điểm của các nhà triết học và giáo lí của các tôn giáo, hầu hết đềuchủ trương hạ thấp thân thể, nhưng thực tế trong sáng tác nghệ thuật, ta lại thấy có vẻ cácnghệ sĩ lại đi con đường khác

Thân thể là hạt nhân của nghệ thuật, gắn liền với quan niệm về con người tự nhiên

Từ thời cổ đại Hy Lạp La Mã, qua thời Phục hưng, rồi thế kỷ 19, và đến tận bây giờ, chắcchắn có một quan niệm về cái đẹp của thân thể thông qua nghệ thuật điêu khắc, hội họa, vũđạo, văn học… Điều đó thể hiện qua vẻ đẹp kiêu hãnh của “một thời đại một đi không trởlại” trên gương mặt Vệ nữ ở Milo, là vẻ đẹp khỏe khoắn thanh xuân của tượng David khỏathân (Michelangelo) Khóe môi hờ hững như mỉm cười như không của nàng Mona Lisa(Leonardo da Vinci) đã từng làm tốn bao giấy mực và lời bình của thiên hạ suốt hàng baothế kỷ qua, chỉ là để phẩm bình về vẻ đẹp bí ẩn của phụ nữ

Trong thần thoại và sử thi Hy lạp, các vị thần, các vị anh hùng luôn được miêu tả với

những vẻ đẹp rực rỡ và lộng lẫy: “Apollon bay tới Delphes Từ trên cỗ xe chàng đứng, ánh sáng tỏa ra ngời ngời, ánh sáng từ chiếc mũ vàng của chàng, ánh sáng từ cây cung bạc và những mũi tên vàng” Nữ thần Hera đẹp “lộng lẫy, uy nghiêm, có đôi mắt bò cái và cánh tay trắng muốt, phong thái đường bệ kiêu kỳ” Nữ thần Rạng đông “hiện lên với mười ngón tay hồng xinh đẹp”… Thời Phục hưng, lời Romeo ca ngợi sắc đẹp của nàng Juliet quả là những lời “có cánh”: “chẳng qua hai ngôi sao đẹp nhất bầu trời có việc phải đi vắng, đã thiết tha nhờ mắt nàng lấp lánh, chờ đến lúc sao về vẻ rực rỡ của đôi gò má nàng sẽ làm cho các

vì tinh tú ấy phải hổ ngươi”… (Romeo và Juliet - W Shakespeare).

Đề cao vẻ đẹp hài hòa thân thể: Nghệ thuật điêu khắc thể hiện điều này rõ nhất Các pho

tượng Hy Lạp, đặc biệt là các vị thần, dáng người đẹp, cân đối, da dẻ mịn màng, tay chân nuột

nà và có gương mặt thánh thiện, cao sang Có câu chuyện kể rằng, vào năm 1848, Gớt đã từngkhóc trong viện bảo tàng Luvro tại Paris trước bức tượng Vệ nữ ở Milo, vì ông nghĩ, không biếtbao giờ nghệ thuật còn có thể ghi lại được vẻ đẹp hài hòa đến như vậy của con người nữa

Trang 28

Cũng có những truyện cổ tích về những nhân vật mang vẻ ngoài khiếm khuyết như

Sọ Dừa, nàng Cóc, nàng tiên Ếch, Quái vật Nhưng phần thân thể xấu xí ấy chẳng qua làphép thử lòng người Và cuối cùng, cái hình hài xấu xí đã bị lột vỏ, họ hiện nguyên hình lànhững trai xinh gái đẹp, phù hợp với những phẩm chất đẹp đẽ của họ

Những nhân vật khuyết tật có khi để lại những dấu ấn không phai mờ trong kho tàngvăn học thế giới: Thằng Cười (V Hugo) có một số phận khủng khiếp và thằng Gù xấu xí ở

nhà thờ Đức bà Paris (V Hugo) lại mang một tâm hồn trong trắng Người nhạc sĩ mù của V.

Korolenko vì mù mà có một thính giác vô cùng nhậy cảm, và trở thành nhạc sĩ như một điềutất yếu

Thân thể và bản năng - Đề cao niềm vui sống và sự hưởng thụ khoái lạc cơ thể: Có

niềm khoái lạc thân thể như tính dục, ăn uống, trang phục, thậm chí bài tiết… Có những câuchuyện về khoái lạc nam nữ giữa các thầy tu và cô gái cắt cỏ cạnh tu viện, giữa hai người

trẻ tuổi yêu nhau trong Chuyện Mười ngày, Chim họa mi của Boccaccio Có khoái lạc ăn uống trong cuộc đọ ăn giữa Hiệp sĩ áo đen bí ẩn và vị tu sĩ trong Ivanhoe (W Scott) Hiệu ánh sáng của các bà (E Zola), kể về những trang phục quyến rũ phụ nữ đến không ngờ Truyện Trung Quốc cũng có những trang miêu tả tính dục như Kim Bình Mai, chuyện uống rượu, ăn thịt trong Thủy Hử, chuyện ăn uống, trang phục trong Hồng lâu mộng Ngoài ra còn có các bộ tranh hướng dẫn về sex của Nhật Bản, tranh dân gian Đông Hồ như Đánh ghen, Hứng dừa… cũng là để nói đến niềm vui sống này.

Bên cạnh đó còn có quan niệm đòi hỏi được giải phóng cơ thể và thân xác Trong

Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều) có những đòi hỏi của thân xác, có niềm tự hào của

người cung nữ khi mang vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, nhưng cũng đến ngày ý thức

được vẻ đẹp tàn phai của chính mình: “Nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheo” Cô gái trong Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự) đã phải “Khép cửa đẩy trăng giả trời” khi trong lòng ngùn ngụt lửa yêu đương Nữ tu sĩ của Diderot, thể hiện sự dằn vặt đau đớn của cô gái mới 20 tuổi

đã phải chôn đời mình trong tu viện

Thân thể là một phần của tự nhiên: Vấn đề này thường có hai nội dung Nội dung thứ

nhất là con người gắn bó với thiên nhiên (điều này sẽ được triển khai phần sau) Nội dung thứhai thường gắn với cái tự nhiên của con người như tuổi già, ốm đau, bệnh tật… Trong cáckhoa học khác, nội dung này thường gắn với khoa giải phẫu học, y học, bệnh lý học, dượchọc… Còn trong văn học, nghệ thuật đã có không ít tác phẩm nói đến nội dung này như

Trang 29

những trải nghiệm đau đớn mà con người phải trải qua (Bộ thánh cốt sống – S Turgheniev, Cái chết của Ivan Ilich – L Tolstoy, Đèn không hắt bóng – Junichi Watanabe, Thép đã tôi thế đấy – N Ostrovsky) Điện ảnh Hàn Quốc có thời thường dẫn motip ung thư như là một thử

thách lớn lao đối với đời sống tình cảm cũng như đời sống thể xác cá nhân con người

Thân thể là hàng hóa: Trong đời sống, người ta khai thác góc độ này để phục vụ

ngành thời trang, mỹ phẩm, thuốc thang chữa bệnh, các công cụ làm đẹp, giải phẫu thẩmmỹ… Buôn bán phụ nữ, trẻ em và sức lao động cũng là nội dung của tệ nạn xã hội nhiềuthời Trong văn học, đây là nội dung về cuộc đời các cô gái bán hoa, kỹ nữ, geisha…

(Truyện Kiều – Nguyễn Du, Những người khốn khổ - V.Hugo, Hồi ức của một Geisha –

Arthur Golden); là chuyện các cô gái đồng trinh bị chôn sống làm thần giữ của, bị mang

hiến tế trong những lễ nghi mông muội của bộ tộc, làng xã (Thần giữ của – truyện cổ tích Việt Nam), là chuyện người da đen bị bán làm nô lệ (Túp lều bác Tôm – H Stowe, Cội rễ -

A Haley)

Thân thể còn là cái để hy sinh vì gia đình Chuyện các cô gái bị gả bán lấy tiền cứu

gia đình là chuyện thường thấy ở bất cứ xã hội nào: Thúy Kiều bán mình chuộc cha (Truyện Kiều – Nguyễn Du), Fantine bán răng bán tóc bán thân nuôi con (Những người khốn khổ -

V Hugo), cái Tý và chị Dậu đều phải bán thân đi ở lấy tiền đóng sưu thuế (Tắt đèn – Ngô

Tất Tố)

Thân thể mang dấu ấn văn hóa: Thân thể do văn hóa kiến tạo nên Văn hóa ở đây là

cách sống, nếp suy nghĩ và quan niệm thể hiện qua phong tục, trang phục, ẩm thực, cư xử,đức tin, nghệ thuật… Thời Hy lạp, các bức tượng điêu khắc thường có thân thể rất đẹp,thậm chí, không mặc quần áo để phô trương cơ thể, gắn liền với quan niệm cần tôn vinh vẻđẹp thể chất của con người Nhưng đến khi Kitô giáo thống trị, thì điêu khắc lại dùng quần

áo để che hết cơ thể vì cho rằng cơ thể là cái xấu xa cần phải che đậy, cũng giống như phụ

nữ theo đạo Hồi che hết cả cơ thể bằng quần áo để bảo vệ phẩm giá, tiết hạnh của mình,tránh cám dỗ đàn ông

Thân thể và chính trị: Trong truyền thống lịch sử Trung Quốc, ta thường thấy các

dạng mỹ nhân kế (dùng sắc đẹp để phục vụ một lợi ích nào đó) Các trang mỹ nhân tuyệt sắcnhư Tây Thi, Điêu Thuyền, công chúa Văn Thánh, Chiêu Quân,… đều phải hy sinh tìnhriêng để mang sắc đẹp của mình giúp vào việc bang giao của các tộc người Còn lịch sử ViệtNam đã từng nhắc tới các nàng công chúa cũng như công nữ (con của chúa) như Huyền

Trang 30

Trân công chúa, An Tư công chúa, các công nữ như Ngọc Vạn, Ngọc Khoa… Văn học cũng

đã ghi nhận những công lao, sự hy sinh của những người phụ nữ này (truyền thuyết về

Huyền Trân công chúa), An Tư (tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng), Nàng công nữ Ngọc Vạn (tiểu thuyết dã sử của Ngô Viết Trọng)… Rồi truyền thuyết về người Ả đào với

giặc Minh thời Lê Lợi dấy quân, cũng là chuyện dùng sắc đẹp phụ nữ để mê hoặc kẻ thù…

Hi sinh thân thể vì lý tưởng cộng đồng là sự cống hiến, hi sinh cao cả nhất Lịch sửchống ngoại xâm của Việt Nam đã từng ghi nhận lời hịch của Trần Quốc Tuấn, trong đó Ngài

lấy thân thể ra giãy bày và thề nguyền: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng” Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi cũng dùng thân thể ghi nhận lòng căm thù giặc: “Đau lòng nhức óc”, “Nếm mật nằm gai”, “Quên ăn vì giận”… Rồi

thời kháng chiến chống xâm lược Pháp và Mỹ, có các anh hùng Phan Đình Giót, Trừ Văn Thốlấy thân mình lấp lỗ châu mai, Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo, Bế Văn Đàn lấy thânmình làm giá súng, La Văn Cầu chặt tay cho khỏi vướng để tiếp tục giết giặc…Tư tưởng quýthân của Nho giáo khiến cho con người khi hi sinh thân mình vì lí tưởng cũng chính là hi sinhcái quý giá nhất của chính mình! Văn học cũng đã ca ngợi việc hi sinh thân thể để xây dựngtương lai của một cộng đồng: Promethe chịu đau đớn vì đã đánh cắp lửa cho loài người

(Promethe bị xiềng - Thần thoại Hy lạp); chàng Đanko xé toang lồng ngực của mình làm ngọn đuốc dẫn đường cho cả bộ tộc (Bà lão Idecghin – M Gorki); “Mỗi thây rơi sẽ là những nhịp cầu/ Cho ta bước tới cõi đời cao rộng” (Tố Hữu).

Có các hình thức thể hiện về quyền lực của phong tục như xăm mình, xăm mặt, càrăng căng tai, nhuộm răng đen, nhuộm ngón chân ngón tay… hoặc tục bó chân như trong

Gót sen ba tấc (Phùng Kỳ Tài).

Bạo lực thân thể, bạo lực tình dục cũng là một chủ đề lớn về thân thể khi nghiên cứu

về mối quan hệ giữa thân thể và chính trị Trong lao động khổ sai, con người mất hết giới

tính (Một nửa đàn ông là đàn bà của Trương Hiền Lượng) Mạc Ngôn khai thác sự giết chóc man rợ của con người (Đàn hương hình) Thông qua nghệ thuật giết người, người ta

thưởng thức những đau đớn thể xác của người khác Hiện tượng này ở văn học cổ điểnTrung Quốc có vẻ nhiều với những cảnh ăn uống, ân ái bê tha và cảnh giết người man rợ

trong Kim Bình Mai, Thủy Hử.

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Từ xưa đến nay, vấn đề thân thể đã được chú ý nghiên cứu ở cả phương Tây lẫn phươngĐông Vấn đề thân thể xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực như triết học, tôn giáo, văn hóa, chínhtrị, xã hội, nghệ thuật… Trong chiều dài lịch sử, quan niệm về thân thể có sự vận động, biến đổi:

từ quan niệm cho rằng thân thể là cội nguồn của tội lỗi, chỉ đề cao thế giới tinh thần của conngười, đến quan niệm cho rằng thân thể là nền tảng, cơ sở của tinh thần, mọi yếu tố tinh thần đềubắt đầu từ thân thể Ở phương Tây, các nhà lí luận cố gắng chứng minh tầm quan trọng của thânthể trong đời sống, qua đó có thể tri nhận những vấn đề thuộc về văn hóa, lịch sử, văn học nghệthuật… Ở Trung Quốc, ngay từ thời xa xưa đã quan tâm đến vấn đề thân thể, đặc biệt là trongnhững năm cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21, vấn đề thân thể trở thành một trong những chủ đề đượcbàn luận sôi động nhất Ở Việt Nam, trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, vấn đề thân thể cũngsớm được quan tâm Các nhà nghiên cứu cho rằng thân thể trước hết là đối tượng được văn họcthể hiện, nó mang đến những thông điệp về tính cách, số phận con người Cùng với sự phát triển

mở rộng của các lí thuyết văn học, thân thể còn được coi là kí hiệu, là một loại ngôn ngữ riêng, nókhông chỉ truyền tải thông tin về nhân vật, mà còn truyền tải những thông tin về văn hóa, xã hội.Khi nghiên cứu về thơ trữ tình sau 1986, các nhà nghiên cứu đã chú ý đến khuynh hướng trực tiếpbộc lộ khao khát bản năng của con người Cũng chính ở khuynh hướng này, các hình ảnh thân thểgợi cảm, yếu tố sex… được nói đến nhiều hơn so với văn học giai đoạn trước góp phần tạo nêndiện mạo riêng của thơ ca thời kì sau đổi mới

Những quan niệm về thân thể trong triết học, mĩ học, xã hội học cũng ảnh hưởng đếnquan niệm về thân thể trong nghệ thuật Quan niệm về thân thể trong nghệ thuật có sự biếnđộng cùng với sự biến động của lịch sử Nghệ thuật quan tâm đến vẻ đẹp tự nhiên của thânthể, quan tâm đến nhu cầu bản năng của thân thể, quan tâm đến nhu cầu giải phóng thân thểcon người… Trong nghệ thuật, đã xuất hiện quan niệm coi thân thể con người là một phầncủa thế giới tự nhiên, nhưng đến thời kinh tế thị trường, thì thân thể lại bị coi là một loại hànghóa; thân thể là thứ cao quý thuộc về cá nhân, và cá nhân có thể hi sinh nó vì gia đình, cộngđồng; thân thể còn mang đậm dấu ấn văn hóa, chính trị…

Trang 32

CHƯƠNG 2 THÂN THỂ TRONG VĂN HỌC

VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THÂN THỂ TRONG THƠ CA VIỆT NAM

2.1 Thân thể trong văn học

2.1.1 Khái niệm

Thân thể trong văn học là một loại kí hiệu thẩm mĩ đặc biệt, nó được cấu tạo, đượcsắp xếp, có tổ chức, có tính thẩm mỹ cao, mang nhiều tầng ý nghĩa phức tạp, thể hiện nhữngthông tin về con người, lịch sử, xã hội, văn hóa…Có những vẻ đẹp thân thể kỳ lạ tượng

trưng cho sức mạnh cộng đồng: trong truyền thuyết về ông Gióng, cậu bé ba tuổi “không biết nói biết cười”, vụt biến thành chàng trai cao lớn, ăn hết “bảy nong cơm, ba nong cà, uống một hơi nước cạn đà khúc sông” ấy là nói đến sức mạnh ẩn giấu trong những con

người bé nhỏ, khiêm nhường, bình dị, nhưng khi có giặc ngoại xâm thì bỗng như có sứcmạnh lạ kỳ, để có thể đuổi giặc gìn giữ non sông

Thứ hai, thân thể trong văn học có những nguyên tắc kiến tạo riêng Trong từng thời kìlịch sử khác nhau, nguyên tắc, quy luật, công thức, kiến tạo thân thể trong văn học cũng khácnhau Nguyên tắc kiến tạo thân thể trong văn học gắn với quan niệm nghệ thuật về con người,

một kiểu mô hình thế giới riêng biệt Trong thơ cổ, người con gái đẹp thường được miêu tả

gắn với vẻ đẹp âm nhu, với những nét thanh, mềm mại: mặt hoa da phấn, lưng ong, má hồng,

gót sen, dáng liễu, dáng hoa, bóng hồng, khuôn trăng, làn thu thủy, nét xuân sơn, tóc mây:

“Đôi gò bồng đào sương còn ngậm/ Một lạch đào nguyên suối chửa thông” (Hồ Xuân Hương); “Run rẩy kẻ đào thơ còn mảnh mảnh” (Nguyễn Công Trứ) Còn tả kẻ anh hùng,

đấng trượng phu thì gắn với vẻ đẹp cương kiện với đường nét cứng, nét đậm, hành động phi

thường: râu hùm, hàm én, mày ngài, đội trời đạp đất, xẻ núi lấp sông, mây tuôn sóng vỗ, nợ tang bồng, dọc ngang ngang dọc Thơ Mới miêu tả con người chủ yếu trong cảm xúc, ít dùng cực tả, thường dùng cảm giác mong manh: “Anh biết em đi chẳng trở về/ Dặm nghìn liễu khuất với sương che/ Thôi rồi em đừng nhìn anh nữa/ Anh biết em đi chẳng trở về” (Thái Can); “Bây giờ mùa hạ sen nở nốt/ Một chị hai chị cũng như sen” (Thâm Tâm) Còn thơ tượng trưng lại miêu tả thân thể theo kiểu ám thị (Bài Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ) Thơ

cách mạng 1945 – 1975 miêu tả con người mang tính tượng đài, có bóng dáng thần thoại với

ngôn ngữ mạnh mẽ, phóng khoáng, cực tả: “Anh đi xuôi ngược tung hoành/ Bước dài như gió lay thành chuyển non”; “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung/ Gió lay như sóng biển tung trắng bờ”;

Trang 33

“Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất/ Sống hiên ngang bất khuất trên đời/ Như Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi”…(Tố Hữu).

Cuối cùng, các sắc thái của thân thể trong văn học còn thể hiện qua ngôn từ Ngôn từ

là những từ ngữ mang tính chất nghệ thuật, vừa chứa đựng hình ảnh, vừa mang cảm xúc Để

tả nụ cười với nhiều ý nghĩa thông báo khác nhau, tiếng Việt cũng dùng nhiều từ khác nhau,

theo Phương Lựu, cái cười “vô cùng phong phú đa dạng nhất về dáng vẻ và tính chất: cười chê, cười chúm chím, cười cợt, cười duyên, cười gằn, cười giòn, cười góp, cười gượng, cười

ha ha, cười hi hi, cười khan, cười khà, cười khì, cười khanh khách, cười khẩy, cười khúc khích, cười mát, cười mỉm, cười nắc nẻ, cười ngặt nghẽo, cười ngây ngô, cười ngất, cười nhạo, cười trừ,v,v ”[95] Đấy là những từ tả thật Còn có những từ tả một cách ước lệ Theo

Trần Đình Sử, trong Truyện Kiều, nước mắt là giọt ngọc, giọt châu, giọt hồng, gọt lệ, giọt tủi Mái tóc thì tóc mây, tóc sương, mái sầu Giấc ngủ thì giấc xuân, giấc mai, giấc hòe Còn

có nhiều điển cố trong miêu tả: “Mày ai trăng mới in ngần” (dựa theo câu thơ sơ nguyệt như mi của Trung Quốc), “Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay” (hình ảnh khốc huyết)

[128, tr.155]

Thân thể không chỉ xuất hiện trong văn học mà còn ở cả các nghệ thuật khác nhưđiêu khắc, hội họa, vũ đạo…, nhằm diễn tả những nhận thức về thế giới cũng như quan

niệm về con người Theo Tiệp Nhân – Vệ Hải trong cuốn Từ điển mĩ thuật hội họa thế giới,

thân thể đã được sử dụng trong các tác phẩm nghệ thuật từ thời đại đồ đá cũ trong lĩnh vựcđiêu khắc và kiến trúc Ở Pháp, trong hang động Lask'o có điêu khắc tượng thần Còn tronghang động Ardamila của Tây Ban Nha, bức họa “Con bò rừng bị thương” thể hiện rõ nét con

bò rừng giãy giụa, quằn quại trong khi bị thương Loại tác phẩm này thủ quái tả thực, cấuhình tự nhiên sinh động Các bức tượng điêu khắc nhân vật nữ thì biểu hiện nữ tính mạnh

mẽ qua những đặc điểm sinh lý, thể hiện quan niệm sùng bái người phụ nữ với thiên chứcsinh đẻ và tình mẫu tử của người nguyên thủy [108, tr.39]

Trong nghệ thuật Hy Lạp cổ đại, thân thể thể hiện sự gắn kết của con người với môitrường tự nhiên, đặc điểm dân tộc và lịch sử xã hội Các bức tượng thần thời này không chỉmang khuôn mặt người, mà còn thường kết thêm những cành nguyệt quế, chùm nho, câygậy, cây đàn, cung kiếm… Điều đó biểu hiện rằng, nghệ thuật với cuộc sống con người cóhơi thở chung Khí hậu ở Hy Lạp mát mẻ là điều kiện để các vận động viên Olympic thườngkhỏa thân để thi đấu và hình ảnh đó được các nhà nghệ thuật dùng làm đề tài khắc họa hìnhthể con người khỏe mạnh, tráng kiện và có sức hấp dẫn lớn

Trang 34

Như vậy, thân thể trong văn học là một loại kí hiệu thẩm mĩ đặc thù, biểu đạt tình cảm,nhận thức về thế giới và con người trong văn học theo những nguyên tắc kiến tạo nhất định.

2.1.2 Biểu hiện của thân thể trong văn học

Thân thể trước tiên thể hiện qua toàn bộ những hình ảnh bên ngoài của thân thể (nhưđầu, tóc, chân, tay, mắt, mũi, miệng, tim, da, thịt… cùng mùi vị của chúng), với mọi hành động(đi, đứng, nằm, ngồi, la, hét ); là những yếu tố bên trong như cảm giác, cảm xúc, tâm trạng(nóng lạnh, cô đơn, buồn, yêu, giận, ghét…) và gián tiếp thông qua đồ vật, trang phục (gương,lược, quần áo…), môi trường (cây cối, vườn, cánh đồng, rừng, dòng sông, biển, phố, cănnhà…) có quan hệ và tác động đến thân thể…

- Hình ảnh bên ngoài của thân thể:

Ngoại hình là những biểu hiện bên ngoài như những dấu hiệu thông báo về bản chất

bên trong của con người, kèm sự đánh giá Nguyễn Du khi miêu tả ngoại hình Tú Bà

“Thoắt trông nhờn nhợt màu da/ Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao”, đã cho thấy không chỉ công

việc “ngủ ngày làm đêm” của mụ chủ lầu xanh, mà còn cả sự ghê tởm của tác giả

Những hình ảnh nhạy cảm của con người cũng được quan tâm miêu tả Văn học dân

gian từ xa xưa đã không ngần ngại lấy bầu vú để khẳng định vẻ đẹp của người phụ nữ:”Lớn

vú bụ con”; “Lưng chữ cụ, vú chữ tâm”; “Vú bánh dày, má bánh đúc”.

Mùi cơ thể cũng là một đặc trưng bên ngoài quan trọng của thân thể, đó chính làphần “linh hồn” của cơ thể, là nơi khí chất con người phát ra… Khi đi vào văn học, mùi cơthể thường gắn liền với mùi của thân thể phụ nữ như: mùi của mái tóc, mùi của cơ thể, mùi

của những đêm chăn gối… “Cô gái như chùm hoa lặng lẽ/ Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu” (Hương thầm - Phan Thị Thanh Nhàn) hay: “Em đẹp lắm như mùa xuân bừng dậy/ Súng trên vai cũng đẹp như em/ Em ơi sao tóc em thơm vậy/ Hay em vừa đi qua vườn sầu riêng” (Trở về quê nội - Lê Anh Xuân) Tự Đức đã nghẹn ngào rơi lệ khi nhớ Bằng Phi: “Đập

cố kính ra tìm lấy bóng/ xếp tàn y lại để dành hơi” [105]

Còn có thể kể đến những ký hiệu trên da thịt, thể hiện nỗi đau đớn và nhục nhã suốtđời, như hình xăm bông huệ (ở châu Âu thời trung cổ, đây là kí hiệu trừng phạt người bị kết

tội ăn cắp) trên vai nàng phu nhân Melady xinh đẹp của Athos trong truyện Ba chàng ngự lâm pháo thủ (A Dumas) hay những dòng chữ thích lên mặt vì tội giết người của Tống

Giang, Võ Tòng và cả những vết sẹo trên đầu AQ, trên mặt Chí Phèo…

Thân thể còn được thể hiện qua hành động, cử chỉ (chạy, đi, cười, khóc, nói, ôm,hôn…) và những trạng thái cảm xúc đi kèm: vui, buồn, thương, yêu, ghét Khi miêu tả

Trang 35

những giọt nước mắt và tiếng khóc, nhà văn đã lấy cái ngoại hiện để diễn tả cái nội tâm bên

trong Lão Hạc của Nam Cao khóc một cách cay đắng: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão nghẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc ”.

-Thế giới bên trong thân thể:

Thế giới bên trong, hay còn gọi là thế giới tâm lý của con người là một cấu trúc khá

phức tạp, nhiều cấp bậc Nói theo người xưa thì có lục dục, thất tình Nói theo mô hình thơ

ca truyền thống thì có tâm, chí Nói như Freud thì đó là những tầng bản năng, tiềm thức,tình cảm và ý thức Nói theo tâm lí học hiện đại thì tâm lý gồm cảm giác, cảm xúc, tìnhcảm, nhu cầu, khí chất, ý chí…, về nhận thức thì có các cấp bậc: cảm giác, tri giác, tư duy.Các tầng bậc của cấu trúc tâm lý này sẽ chi phối hành động của con người Thế giới tâm lýnày vốn không có hình hài, nay muốn miêu tả nó thì cần phải có các hình ảnh để hữu hìnhhóa nó Những hình ảnh thân thể chính là phương tiện thể hiện thế giới này

Cảm giác là một phương diện rất phức tạp của thân thể Thường là những cảm nhận

về bệnh tật, đói no, ấm lạnh, ngột ngạt, bức bối, lạnh lẽo, cô đơn,… cả về vật chất lẫn tinh

thần: “Đêm thu không đệm cũng không chăn/ Gối quắp lưng còng ngủ chẳng an/ Khóm chuối trăng soi càng thấy lạnh” (Hồ Chí Minh); “Ta nghe hè dậy bên lòng/ Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!” (Tố Hữu) Những cảm giác lạnh buốt, ngột ngạt ấy được thể hiện qua hình ảnh thân thể: “gối quắp lưng còng”, “chân đạp tan phòng” Bên cạnh đó là những cảm giác tinh vi về đời sống để lại dấu ấn trên thân thể: “Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi”;

“Những luồng run rẩy rung rinh lá” (Xuân Diệu) Văn học trung đại ít có cảm giác về thân

thể, còn cái mới nhất trong Thơ Mới chính là cảm giác về thân thể

Như vậy, mọi cảm giác của con người đều cần thân thể để diễn đạt Thậm chí, mọitrạng thái con người như đau buồn, mất mát, thất bại, thành công, cô đơn, buồn chán, kiêu

kì, hối hận, chết, bệnh tật đều thể hiện trên thân thể Đọc tác phẩm của Lỗ Tấn, Nam Cao

ta thấy điều này rất rõ

Cao hơn nữa của thế giới tâm lý là phương diện tâm hồn Theo Trần Đình Sử: Đốivới văn học thân thể là thân thể sống, nó không giản đơn là thân xác, xác thịt Xem thân thểchỉ là xác thịt có nghĩa là thu hẹp nó, tầm thường hóa nó Trong con người sống, thân thểthấm nhuần tâm hồn Chỉ xác thịt không phải là thân thể người, tình dục cũng không phải

Trang 36

thân thể người Chỉ cảm xúc tâm hồn mới biến thân thể thành ngôn ngữ [132] Điều nàymuốn nói rằng, thân thể trong văn học, ẩn sau sự miêu tả xác thịt, tính dục là nội dung cảmxúc, tâm hồn Nói cách khác, xác thịt, tình dục không phải là mục đích của miêu tả thân thể,

mà phải có những nghĩa khác nữa, bao trùm hơn, khái quát hơn về nhân sinh, thế sự, đời tư,

nhất của con người, là phần hữu hạn, bé nhỏ, dễ hư nát và đau đớn nhất của bất cứ ai: Rằng

tôi bèo bọt chút thân; Thân lươn bao quản lấm đầu; Chút thân quằn quại vũng lầy; Đành thân cát dập sóng dồi…Thân cũng là phần của vô thức, bản năng của con người Thân

là phần riêng tư nhất mà người ta có thể liều, có thể tự sát hay bị giết, có thể đem cho hay mua

bán: “Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên/ Thân em như tấm lụa đào/ Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” Thân là phần quý giá nhất, duy nhất, mỗi người chỉ sống có một lần: “Một người dễ có mấy thân”; “Đục trong thân vẫn là thân” Thân là tình cảm, xúc động Có thân

mới có con người, có vui sướng, có phúc phận, do đó thân phận đi liền với nhau Thân gắnliền với sung sướng, đau khổ, buồn vui… nên cũng gắn liền với tâm, gắn liền với phận Ý

thức về thân phận chính là ý thức về cái phần riêng tư nhất, thực tại nhất của con người: “Biết đâu thân phận con ra thế này” Thân là cơ thể thiên nhiên tươi đẹp quyến rũ, là sắc đẹp tạo hóa ban cho:”Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên” Như vậy

chữ “thân” mang tính phổ quát cao Nó là chữ thân trần thế phổ quát của mọi người [130,tr.112,116]

Về vấn đề quan hệ thân và tâm, xác và hồn, theo quan niệm triết học cả phương Tâylẫn phương Đông truyền thống, xác và hồn là hai thực thể tách rời Văn học cũng rất ý thức

được điều đó khi miêu tả: “Thân này dẫu hóa thành tro bụi/ Mà vẫn trong tim dấu một người” (Lục Du), cái thân thể vật chất dù không còn nhưng tình cảm vẫn còn mãi “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao” (Hồ Chí Minh) nhà tù có thể giam hãm thân xác vật

chất nhưng không thể giam hãm tinh thần, ý chí con người Những chỗ miêu tả tách rời,không phụ thuộc nhau này, thể hiện quan điểm cái tâm, cái hồn, cái chí mới là cái đáng coi

Trang 37

trọng, đáng đề cao, nó làm con người khác con vật, còn thể xác là cái không đáng bàn.

Từ triết học, tôn giáo đến nghệ thuật, mối quan hệ này luôn được quan tâm Việcchống lại sự quyến rũ của xác thịt của những người tu hành, là sự đấu tranh không ngừng

nghỉ và vô cùng đau đớn mà ta từng thấy trong các tác phẩm như Ruồi Trâu, Cha Xerghi, Tiếng chim hót trong bụi mận gai Không chỉ sự ép xác của giới tu hành mà còn cả sự

nghiêm cẩn về đạo đức của người cán bộ cách mạng (!) cũng được lưu ý: anh chàng Tiệp

trong Bão biển (Chu Văn) vì bất ngờ nhìn trộm cô Nhân tắm nên đã phải về nhà tự dội bao

nhiêu nước vào người mới kiềm chế được ham muốn của mình!

Nhưng về bản chất sâu xa, thực chất hồn và xác khó tách rời, bởi nó cùng tồn tại

trong một thân thể đang sống, đang tồn tại Tích truyện dân gian Hồn Trương Ba da hàng thịt đã ít nhiều đề cập đến vấn đề đó.

- Yếu tố đồ vật và không gian tồn tại của thân thể:

Trang phục, đồ vật như quần áo, gương lược, khăn tay, túi thơm, … cũng ghi nhận

đặc thù thân thể Cái gương trong tay người chồng ốm trong truyện Thủy nguyệt của

Kawabata chính là con mắt đã được mở rộng của nhân vật Con người đã nhận ra nhau qua

những đồ vật này Ca dao viết: “Chồng ta áo rách ta thương/ Chồng người áo gấm xông hương mặc người” là để nhận dạng địa vị người chồng trong tâm hồn người phụ nữ Othello

đã nhận ngay ra chiếc khăn của vợ, nàng Desdermona, bởi mùi hương đặc biệt của nó Thờitrang, ăn mặc là sự mở rộng, tôn vinh, che dấu, hoặc hạ thấp thân thể, bộc lộ địa vị xã hội,kinh tế, thị hiếu thẩm mĩ của nhân vật

Quần áo là thước đo phong vị con người Trong Hàn Nho phong vị phú, Nguyễn Công Trứ lấy quần áo để thể hiện lối sống ngất ngưởng: “Áo vải thô nặng trịch, lạnh làm mền, nực làm gối, bốn mùa thay đổi bấy nhiêu/ Khăn lau giắt đỏ lòm, giải làm chiếu, vận làm quần, một

bộ ăn chơi quá thú” Quần áo cũng vẽ nên bộ mặt lịch sử khi Tú Xương chế giễu: “Giầy Giôn anh bận, ô Tây anh cầm”, ấy là lúc lịch sử Việt Nam đã sang trang, bước sang thời kì Âu hóa.

Bản chất của thân thể là cần một “không gian biểu đạt” Không gian là nơi thân thể trảinghiệm mình cùng những cung bậc cảm xúc khác nhau Tính không gian của thân thể là điềukiện để hình thành thế giới ý nghĩa của con người Không gian để con người tồn tại và bộc lộ

có nhiều cấp độ: không gian tự nhiên, không gian xã hội và không gian tâm tưởng Ở đâychúng tôi chú ý đến không gian thiên nhiên gắn kết với con người thân thể, là nơi con người

từ cảm giác đi đến hành động

Trang 38

Trong thơ Việt Nam hiện nay, theo Lê Lưu Oanh, có một nội dung: “Đó là cảm giáctìm thấy mình trong tự nhiên Con người vô tư diễn tả những cảm giác tự nhiên, buông thả

mình trong thiên nhiên, gần gũi với đất trời: ”Ta ngọn cỏ bên nhau nơi đồng cỏ/ Tuổi thơ xanh ngút ngát chân trời/ Em chân trần chạy giăng khắp bãi/ Gió bóc ngô non thơm bãi ngoài” (Bằng Vũ) Nơi đó con người đồng nhất mình với thiên nhiên trong cảm nhận sự

sinh sôi nảy nở của đất đai, loài vật bằng tất cả giác quan, một giác quan không phải chỉ củacon người mà là giác quan tạo vật: cảm giác của cỏ cây, côn trùng, trăng nước, đồng

bãi: ”Ta hít mãi mùi cỏ loang loáng nước/ Nghe mái rạ mơ màng ngủ nói mê”; “Thuở ngực đồng non tựa vai/ Hồi hộp đợi mưa về”; “Trăng cào ổ lá/ Vàng ổi đường thơm” (Bằng Vũ).

Họ cảm nhận được mùi đất ẩm, linh hồn những hạt mầm mệnh yểu, tiếng rống khàn khàncủa những luống cày úp mặt (Nguyễn Quang Thiều), nghe tiếng lắc lắc những cành khô vặnmình đang vụn gẫy, hạt mướp hương cựa mình tỉnh giấc (Ngân Hoa) Đây chính là sự quyến

rũ của ngôn ngữ cảm giác Theo Z Heinade, những cảm xúc mang tính nguyên sinh thườngbắt đầu bằng các giác quan Con người khi đắm mình trong thế giới và cảm nhận thế giớibằng các giác quan – đó là kinh nghiệm bên trong - dẫn đến những mối liên hệ với tinh thần,cái thiêng liêng, cao hơn thế giới vật chất và sự tồn tại trần thế Chính những ngôn ngữ cổxưa và nguyên thủy của cảm giác: hương thơm, sắc màu, âm thanh, mùi vị…, đã kết nối conngười với quá khứ một cách hữu hiệu nhất” [116] Thiên nhiên ở đây là một thứ thiên nhiên

gắn kết với con người thân thể, nó cho thấy chiều sâu và chiều rộng của những khao kháttâm hồn

2.1.3 Đặc trưng của thân thể trong văn học

2.1.3.1 Thân thể là một loại kí hiệu thẩm mĩ

Khi thân thể được dùng làm phương tiện biểu đạt một nhận thức và cảm xúc nhấtđịnh, nó đã trở thành một kí hiệu Ở góc độ này, các hình ảnh thân thể trong nghệ thuậtkhông phải chỉ có mục đích miêu tả tự thân, mà luôn bao hàm ít nhiều ý nghĩa đằng sau nó,lúc đó thân thể sẽ trở thành kí hiệu

Thân thể là kí hiệu thể hiện cá nhân và xã hội, văn hóa và lịch sử Trước hết, thân thểthể hiện bản sắc cá nhân với những giá trị khác biệt về con người như giới tính, lứa tuổi, vẻđẹp riêng, diện mạo riêng (thằng gù, người đàn ông có khuôn mặt cười, sẹo AQ, …); thể

hiện sức sống bản năng (Phong nhũ phì đồn của Mạc Ngôn) Danh tính của con người

được in dấu trong các đặc điểm cơ thể Có những trải nghiệm của mọi người về cơ thể củachính họ và của người khác như danh tính chủng tộc và giới, thể hiện qua các yếu tố đặc

Trang 39

điểm cơ thể (màu sắc da, tóc, mũi, ngực, chân tay…) Hình dạng của thân thể có vị trí của

nó trong các mô hình tương tác xã hội Từ khuôn mặt đẹp như ngọc của Khổng Minh, mặt

hồng như táo đỏ với chòm râu ba chòm của Quan Công, mặt đen sì của Trương Phi (Tam quốc diễn nghĩa), đến “cái mặt không chơi được”, cái mặt có hàm răng nhe như răng chó,

có cái ria vểnh như cái sừng trâu của Trạch Văn Đoành, mặt ngắn ngủn của thị Nở, mặtbủng beo, đáng thương của Lang Rận (Nam Cao)…, tất cả đều cho biết vị trí xã hội, và sựđánh giá của số đông về họ

Thân thể còn thể hiện bản ngã của mỗi cá nhân Con người được sinh ra với một hìnhhài cụ thể Cái thân thể được cha mẹ tạo thành vốn mang tính cố định, khó thay đổi cả đời, tạothành bản sắc riêng của một cá thể Nhưng nó vẫn luôn đang vận động, đang trở thành, để trởthành một thân thể mới (ví dụ phụ nữ trang điểm để đẹp hơn, đàn ông tập thể hình để có cơbắp hấp dẫn, phẫu thuật thẩm mỹ là một cách sửa chữa những khuyết điểm về thân thể) Quátrình này tạo nên những nhân dạng mới Nhân dạng Chí Phèo thay đổi bằng vố số sẹo nàychồng lên sẹo khác Khi Chí Phèo than làm thế nào để hết những sẹo này, là khi hắn cảm nhậnđược thân thể mình bị biến dạng, ghê tởm tột cùng!

Thân thể là phần yếu đuối nhất, dễ bị tổn thương nhất của con người, nhất là khi nó ởtrong trạng thái bệnh tật, chết chóc, mang thai, xấu xí, khuyết tật Với cơn cảm lạnh, Chí Phèothấy mình đã già và bắt đầu giấc mộng hoàn lương Hình ảnh người vợ mệt nhọc, gầy guộc,xanh xao ngủ thiếp trên võng khiến văn sĩ Hộ hối hận và thấy mình là kẻ khốn nạn hơn bao giờhết Anh cu phải tự tử để khỏi thấy cảnh vợ con nheo nhóc do mình ốm đau (Nam Cao)

Thân thể còn là kí hiệu thể hiện nỗi đau của con người Trong điêu khắc Hy Lạp La

Mã cổ đại, các hình ảnh thân thể diễn tả nỗi đau đớn thể xác: tượng Chúa run rẩy khi bịđóng đinh trên cây thập tự, vẻ xót xa của mẹ Maria khi bế đứa con là Chúa Giesu sắp chếttrên tay, vẻ đau đớn khi ba cha con nhà Laocoon bị rắn quấn chặt… Trong văn học, các

nhân vật của Cái chết của Ivan Ilich (L.Tolstoy), Đức Cha Xerghi (L.Tolstoy), Bộ thánh cốt sống của Turgenev, Đèn không hắt bóng của J Watanabe, hay Thúy Kiều trong cảnh bị đánh đập tại lầu xanh và ở công đường với “Thân lươn bao quản lấm đầu”; “Uốn lưng máu đổ cất đầu thịt sa” (Truyện Kiều - Nguyễn Du), đều bị đẩy vào trạng thái đau đớn đau tột cùng

về thể xác Nỗi đau thân thể có thể do tù đày, áp bức, đói nghèo: “Bốn tháng rồi…/ Răng rụng mất một chiếc/ Tóc bạc thêm mấy phần/ Gầy đen như quỷ đói/ Ghẻ lở mọc đầy thân” (Hồ Chí Minh); “Bán thân đổi lấy đồng xu/ Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”; “Nửa đêm thuế

Trang 40

thúc trống dồn/ Sân đình máu chảy đường thôn lính đầy” (Tố Hữu) Răng rụng, tóc bạc, gầy

đen, quỷ đói, ghẻ lở,… đều là những kí hiệu biểu thị sự đọa đày

Thử thách về tinh thần và vật chất đều in dấu trên thân thể Người ta thường nhắc tớichuyện hoàng hậu Marie Antoinette ngày bị đưa ra máy chém thời Cách mạng Pháp, tóc bạctrắng như bà lão bảy mươi, dù hoàng hậu mới 37 tuổi Tưởng Giới Thạch chỉ sau một đêm bịgiam trong tù mà mái tóc thành bạc trắng Có hẳn một lí thuyết về “mối tương quan vô hìnhgiữa tinh thần và cơ thể không cần theo quy tắc sinh học nào cả” để giải thích hiện tượng này.Những mái tóc bạc trắng qua một đêm đã thể hiện sự căng thẳng tột cùng của nhân vật trướcnhững thử thách khốc liệt nhất [21]

Tất cả sự sống đều bắt đầu và kết thúc ở thân thể Thúy Kiều tự gieo mình xuống sông TiềnĐường (Nguyễn Du); Chí Phèo tự giết mình (Nam Cao); chị Dậu ù té chạy không lối thoát trongđêm (Ngô Tất Tố); cô bé Gió Lẻ cứ bị nôn khi gặp người nào nói dối; bé Tím không nói chuyện vớibất kì ai sau khi bị làm nhục (Nguyễn Ngọc Tư) Những hành động hữu thức hay vô thức này củacác nhân vật bộc lộ vấn đề thân thể được phát triển, biến đổi, bị từ chối hoặc tự hủy diệt để giảithoát những đau đớn về tinh thần

Có nhiều cách để nhận dạng con người Với phụ nữ, có thể nhận dạng qua nụ cười, mái

tóc, đôi mắt, má hồng: “Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng” (Hoàng Cầm); “Có cô bé nhà bên/ Nhìn tôi cười khúc khích” (Giang Nam), “Tóc đến lưng vừa chừng

em bới/ Để chi dài bối rối dạ anh” (ca dao), “Mắt em là một dòng sông/ Thuyền anh bơi lội trong lòng mắt em” (Lưu Trọng Lư), “Nhân diện đào hoa tương ánh hồng” (Thôi Hộ), “Nét cười đen nhánh sau tay áo” (Lưu Trọng Lư) Có thể nhận dạng phụ nữ qua mùi hương: có

những mùi đặc biệt, thậm chí gọi là dị hương để đánh dấu quyền lực giới tính của người đẹp:

nàng Vinh Hoa (Phẩm tiết - Nguyễn Huy Thiệp) và Ngọc Bình (Dị hương – Sương Nguyệt

Minh) Về cơ bản đó là vẻ đẹp, vẻ yêu kiều, sự duyên dáng, tính nữ đằng sau những kí hiệu thânthể

Thân thể còn là ký hiệu thể hiện nội tâm, tính cách, thần thái, phong điệu, nhận thức,tình cảm tức thế giới bên trong của con người, điều mà chúng ta không nhìn thấy nhưng

có thể đọc qua hình thể, hành động, trang phục… Có một số nghệ thuật chỉ có thể bộc lộ thếgiới bên trong này qua thân thể như điêu khắc, hội họa, vũ đạo, điện ảnh Văn học, và mộtphần điện ảnh, sử dụng ngôn từ là một lợi thế khi miêu tả thế giới bên trong ấy trực tiếp Thí

dụ, các trạng thái bâng khuâng, bồn chồn, buồn bã được gọi tên trực tiếp: “Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi” (Tố Hữu); “Buồn ơi! xa vắng mênh mông là buồn” (Thế Lữ).

Ngày đăng: 02/08/2022, 08:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Allan & Barbara Pease (2008), (Lê Huy Lâm dịch), Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể (The definitive book of body language), Nxb Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể (The definitive book of body language)
Tác giả: Allan & Barbara Pease
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 2008
4. Nguyễn Thị Mai Anh (2010), Thơ trẻ Việt Nam đương đại qua ba tác giả Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư và Ly Hoàng Ly, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường ĐHKHXH&NV - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trẻ Việt Nam đương đại qua ba tác giả Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư và Ly Hoàng Ly
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Anh
Năm: 2010
5. Lê Tuấn Anh (2007), Yếu tố triết luận trong thơ Nguyễn Duy, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố triết luận trong thơ Nguyễn Duy
Tác giả: Lê Tuấn Anh
Năm: 2007
6. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995: Nhìn từ phương diện sự vận động của cái tôi trữ tình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995: Nhìn từ phương diện sự vận động của cái tôi trữ tình
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
7. Nguyễn Ngọc Thùy Anh (2007), Phái tính trong thơ nữ sau 1975, Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phái tính trong thơ nữ sau 1975
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thùy Anh
Năm: 2007
8. Nguyễn Kim Anh, Vũ Ngọc, Hà Thanh Vân, Hoàng Tùng, (nghiên cứu, sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu) (2002), Thơ văn nữ Nam Bộ thế kỷ XX, Nxb Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn nữ Nam Bộ thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Kim Anh, Vũ Ngọc, Hà Thanh Vân, Hoàng Tùng, (nghiên cứu, sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2002
9. Hoàng Thị Bảy (2012), Hệ thống hình tượng trong thơ Nguyễn Duy, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hình tượng trong thơ Nguyễn Duy
Tác giả: Hoàng Thị Bảy
Năm: 2012
10. Carol Kinsey Goman (Người dịch: Nguyễn Quốc Dũng) (2013), Ngôn ngữ thầm lặng của người lãnh đạo, Nxb Thanh Hóa, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thầm lặng của người lãnh đạo
Tác giả: Carol Kinsey Goman (Người dịch: Nguyễn Quốc Dũng)
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2013
11. Simone de Beauvoir (1996), Giới thứ hai, 2 tập, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thứ hai
Tác giả: Simone de Beauvoir
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
12. Nguyễn Thị Bình (2011), “Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại”, "Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2011
13. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
14. Trương Quế Chi (2011), “Nghệ thuật là công việc nhọc nhằn”, Văn Hóa nghệ thuật, Tháng 15.9.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật là công việc nhọc nhằn”, "Văn Hóa nghệ thuật
Tác giả: Trương Quế Chi
Năm: 2011
15. Nguyễn Việt Chiến (2006), “Trương Quế Chi, một cá tính đặc biệt”, Báo Văn nghệ trẻ, (số ra ngày 15/10/ 2006), tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Quế Chi, một cá tính đặc biệt”, "Báo Văn nghệ trẻ
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Năm: 2006
16. Nguyễn Việt Chiến (2007), Thơ Việt Nam -tìm tòi và cách tân 1975-2005, Nxb Hội Nhà văn - Công ty Văn hóa Trí Việt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam -tìm tòi và cách tân 1975-2005
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn - Công ty Văn hóa Trí Việt
Năm: 2007
17. Trương Chính (1990), “Nhìn nhận lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”, Tạp chí Văn học, (5), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn nhận lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”, "Tạp chí Văn học, (5
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1990
18. Đoàn Trung Cồn (dịch) (1950), Hạ Mạnh Tử, in kỳ ba, Sài Gòn, 19. Đoàn Trung Cồn (dịch) (1950), Luận ngữ, in kỳ ba, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạ Mạnh Tử, "in kỳ ba, Sài Gòn, 19. Đoàn Trung Cồn (dịch) (1950), "Luận ngữ
Tác giả: Đoàn Trung Cồn (dịch) (1950), Hạ Mạnh Tử, in kỳ ba, Sài Gòn, 19. Đoàn Trung Cồn (dịch)
Năm: 1950
20. Trần Thị Cúc (2012), Cái tôi trữ tình trong thơ Vi Thùy Linh và Phan Huyền Thư dưới góc nhìn so sánh, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cái tôi trữ tình trong thơ Vi Thùy Linh và Phan Huyền Thư dưới góc nhìn so sánh
Tác giả: Trần Thị Cúc
Năm: 2012
21. Mẫn Di - The Atlantic (2016), “Giải mã hiện tượng tóc bạc trắng sau một đêm”, https://www.24h.com.vn/tin-tuc-quoc-te/giai-ma-hien-tuong-toc-bac-trang-sau-mot-dem-c415a821345.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã hiện tượng tóc bạc trắng sau một đêm
Tác giả: Mẫn Di - The Atlantic
Năm: 2016
22. Phạm Thị Dung (2006), Chủ đề con người tự nhiên trong thơ sau 1975, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ đề con người tự nhiên trong thơ sau 1975
Tác giả: Phạm Thị Dung
Năm: 2006
23. Đoàn Tiến Dũng (2013), “Ngôn ngữ thân thể và hành trình đi tìm cái đẹp của Nguyễn Huy Thiệp”, Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/VanhocVietNamhiendai/tabid/103/newstab/23/Default.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thân thể và hành trình đi tìm cái đẹp của Nguyễn Huy Thiệp”, "Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội
Tác giả: Đoàn Tiến Dũng
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w