1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

MÔN học các hợp ĐỒNG dân sự THÔNG DỤNG CHUYÊN đề hợp ĐỒNG THUÊ KHOÁN

15 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 278,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Hợp đồng thuê khoán có một vài đặc điểm như đối tượng, thời hạn, giá thuê được qui định trong BLDS 2015 từ điều 484-486: +Đối tượng của hợp đồng thuê khoán có thể là đất đai, rừng, mặt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ-LUẬT

CHUYÊN ĐỀ:

HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN

Giáo viên: Nguyễn Phan Phương Tần

Nhóm thực hiện:

Nguyễn Hoàng Bảo Khương

Phạm Thu Hà

Lê Bảo Châu Nguyễn Anh Thư

Trang 2

I.Khái niệm về hợp đồng thuê khoán và đặc điểm của hợp đồng thuê khoán:

Theo điều 483 Bộ luật dân sự 2015 qui định hợp đồng thuê khoán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, thoe đó bên cho thuê khoán giao tài sản cho bên thuê khoán để khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản thuê khoán và bên thuê khoán có nghĩa vụ trả tiền thuê

-Hợp đồng thuê khoán có một vài đặc điểm như đối tượng, thời hạn, giá thuê được qui định trong BLDS 2015 từ điều 484-486:

+Đối tượng của hợp đồng thuê khoán có thể là đất đai, rừng, mặt nước chưa khai

thác, gia súc, cơ sở sản xuất, kinh doanh, tư liệu sản xuất cùng các trang thiết bị cần thiết để khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức, trừ trường hợp luật có quy đinh khác

+Thời hạn thuê khoán do các bên thỏa thuận, trường hợp không có thỏa thuận hoặc

có thỏa thuận nhưng không rõ thì thời hạn thuê khoán được xác định theo chu kì sản xuất, kinh doanh phù hợp với tính chất của đối tượng thuê khoán

+Giá thuê do các bên thỏa thuận; nếu thuê qua đấu thầu thì giá thuê khoán là giá được

xác định theo kết quả đấu thầu

+ Mục đích của thuê khoán là khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó.

Đồng thời bên thuê khoán cũng phải chịu mọi rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê khoán

-Hình thức của hợp đồng thuê khoán

Thuê khoán tài sản là thuê tư liệu sản xuất để kinh doanh, vì vậy, phụ thuộc vào công việc kinh doanh của bên thuê mà họ sẽ lựa chọn tư liệu sản xuất phù hợp để thuê, cho nên đối tượng của hợp đồng thuê khoán đa dạng và hình thức phong phú theo hình thức của giao dịch Tuy nhiên, hợp đồng thuê khoán phải có công chứng hoặc chứng thực hoặc phải đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu pháp luật có quy định Nhà nước giám sát, kiểm tra việc sử dụng tài sản thuê khoán là bất động sản để ngăn chặn các hành vi khai thác tài sản thuê khoán sai mục đích sử dụng mà pháp luật đã quy định

-Đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê khoán:

Trang 3

Trường hợp một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý; nếu thuê khoán theo thời vụ hoặc theo chu kỳ khai thác thì thời hạn báo trước phải phù hợp với thời vụ hoặc chu kỳ khai thác

Trường hợp bên thuê khoán vi phạm nghĩa vụ mà việc khai thác đối tượng thuê khoán

là nguồn sống duy nhất của bên thuê khoán và việc tiếp tục thuê khoán không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên cho thuê khoán thì bên cho thuê khoán không được đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng; bên thuê khoán phải cam kết với bên cho thuê khoán không được tiếp tục vi phạm hợp đồng.1

II.Bản án về hợp đồng thuê khoán

Bản án số: 233/2020/DSPT Ngày: 29 - 12 - 2020 V/v Tranh chấp hợp đồng thuê khoán mặt nước

1.Các đương sự trong bản án theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số

255/2020/QĐ-PT ngày 27/11/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk như sau:

Nguyên đơn: Công ty TNHH A;

-Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H - Chức vụ: Giám đốc công ty

-Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Mai H - Sinh năm 1959 (Giấy ủy quyền số: 06/2019/GUQ ngày 18/9/2019)

Bị đơn: Ông Quách Đình D - Sinh năm 1973

-Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Võ Hữu D - Sinh năm 1968 (Giấy ủy

quyền ngày 04/02/2020)

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Đặng T - Luật sư thuộc

Công ty Luật TNHH MTV Đ ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đỗ Kim H - Sinh năm 1963

- Bà Nguyễn Thị H1, ông Phạm Văn H2 - sinh năm 1985

- Công ty TNHH MTV Quản lý công trình thủy lợi Đ

2.Tóm tắt nội dung vụ án:

- Công ty Trách nhiệm hữu hạn A hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực mua bán nông lâm sản và kinh doanh hoạt động du lịch Ngày 11/5/2016, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đ đã ra

Trang 4

Quyết định giao cho Công ty TNHH A thuê 1.177,7 ha đất và 802 ha rừng để thực hiện

dự án đầu tư Khu du lịch Văn hóa - Sinh thái B Công ty A đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất trong khu du lịch nói trên Trong khu du lịch sinh thái có hồ nước M diện tích khoảng 180 h攃Āc ta thuộc phạm vi quản lý của Công ty TNHH MTV Quản lý công trình thủy lợi Đ Để phục vụ cho mục đích du lịch và nuôi trồng thủy sản, ngày 02/5/2019 Công ty A đã làm Tờ trình UBND tỉnh Đ xin được thuê toàn bộ mặt nước hồ M để phục vụ mục đích du lịch và nuôi trồng thủy sản Ngày 01/7/2019, Chủ tịch UBND tỉnh Đ đã cấp Giấy ph攃Āp cho ph攃Āp Công ty tiến hành hoạt động kinh doanh du lịch Tuy nhiên với mục đích nuôi trồng thủy sản thì UBND tỉnh

Đ yêu cầu Công ty phải tiến hành bv sung thêm các giấy tờ, hồ sơ xin cấp ph攃Āp

Cùng ngày 01/7/2019, sau khi nhận được giấy ph攃Āp của UBND tỉnh chấp thuận cho thuê mặt hồ, Chi nhánh Công ty A có ký hợp đồng cho thuê mặt nước số 01/HĐBĐ

-AD với ông Quách Đình D, nội dung cho ông Quách Đình D thuê mặt hồ trong thời hạn 05 năm để nuôi cá, giá thuê 60.000.000đồng/1năm, chi nhánh đã nhận của ông D

số tiền 30.000.000 đồng

Ngày 10/7/2019, dựa trên chủ trương đã được UBND tỉnh Đắk Lắk chấp thuận, Công

ty A đã ký Hợp đồng thuê mặt nước hồ M, huyện B phục vụ kinh doanh du lịch với Công ty TNHH MTV Quản lý công trình thủy lợi Đ, theo đó Công ty Quản lý công trình thủy lợi cho Công ty A thuê mặt nước hồ M với mục đích phục vụ du lịch với các dịch vụ như chèo thuyền độc mộc, thuyền đạp nước, thiên nga đạp nước, thời hạn hợp đồng là từ ngày 01/8/2019 đến ngày 30/6/2024

Do hồ sơ xin cấp ph攃Āp nuôi trồng thủy sản phức tạp hơn dự kiến ban đầu nên đến hiện tại Công ty vxn chưa hoàn tất được thủ tục, chưa được UBND tỉnh Đắk Lắk cấp ph攃Āp cho nuôi trồng thủy sản trong hồ.Vì vậy, Công ty đã nhiều lần liên hệ, mời ông D đến

để thanh lý hợp đồng nhưng không được trả lời Vào ngày 6/9/2019, Công ty đã có Thông báo hủy hợp đồng cho thuê mặt nước gửi đến ông D nhưng cũng không được hồi đáp Nhym khắc phục những thiếu sót trong quá trình làm việc, cụ thể là việc ký kết hợp đồng thuê mặt nước hồ M với ông Quách Đình D, Công ty yêu A cầu tuyên bố hợp đồng giữa Công ty A và ông Quách Đình D là vô hiệu Công ty TNHH A sẽ trả lại cho ông Quách Đình D số tiền 30.000.000 đồng mà ông Quách Đình D đã thanh toán theo hợp đồng thuê mặt nước Ngày 25/6/2020, ông Quách Đình D làm đơn phản tố

Trang 5

yêu cầu tòa án buộc công ty A phải hoàn trả lại cho ông số tiền đã nộp 30.000.000 đồng ; bồi thường thêm tiền mua cá giống, thuyền ghe, lưới ngư cụ tvng cộng là 240.000.000 đồng.( Cụ thể thuyền to có gắn máy nv giá trị 50.000.000 đồng; thuyền nhỉ có gắn máy nv trị giá 9.000.000 đồng; lưới chắn tràn 20.000.000 đồng; lưới bóng

để đánh bắt cá 28.000.000 đồng; đú chắn cá ngược là 11.000.000 đồng; đú nhỏ là 3.000.000 đồng; tiền thả cá giống các loại khoảng 119.000.000 đồng) Và 50.000.000 đồng tiền hỗ trợ di dời căn nhà, gia súc, gia cầm, thuyền ghe, lưới ngư cụ và các vật dụng khác.Tuy nhiên ông D không xuất được hóa đơn chứng từ và xuất xứ hàng hóa của các vật dụng này cho tòa án

3 Yêu cầu, lập luận của nguyên ơn, bị đ đ ơn

3.1 Yêu cầu của nguyên đơn:

- Tại đơn khởi kiện:

+ Tuyên bố hợp đồng giữa Công ty TNHH A và ông Quách Đình D là vô hiệu Công ty TNHH A sẽ trả lại cho ông Quách Đình D số tiền 30.000.000 đồng mà ông Quách Đình D đã thanh toán theo hợp đồng thuê mặt nước đã ký trước đó

- Tại đơn kháng cáo:

+ Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Quách Đình D

3.2 Yêu cầu của bị đơn:

- Tại đơn phản tố:

+ Buộc Công ty TNHH A hoàn trả lại cho ông Quách Đình D số tiền đã nộp 30.000.000 đồng; bồi thường tiền mua cá giống, thuyền ghe, lưới ngư cụ tvng cộng là 240.000.000 đồng

- Tại đơn kháng cáo:

Ông Quách Đình D kháng cáo tòa bộ bản án dân sự sơ thẩm

3.3 Lập luận của nguyên đơn:

Ngày 1/7/2019 ngay sau khi nhận được giấy ph攃Āp của UBND tỉnh chấp thuận cho thuê mặt hồ để tiến hành hoạt động du lịch, bởi niềm tin ryng giấy ph攃Āp nuôi trồng thủy sản

có thể sớm được cấp cho công ty A nên Chi nhánh Công ty A có ký hợp đồng cho thuê mặt nước với ông Quách Đình D, nội dung cho ông Quách Đình D thuê mặt hồ trong

Trang 6

thời hạn 05 năm để nuôi cá, giá thuê 60.000.000 đồng/1năm, chi nhánh đã nhận của ông D số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) Do hồ sơ xin cấp ph攃Āp nuôi trồng thủy sản phức tạp hơn dự kiến ban đầu nên chưa hoàn tất được thủ tục, chưa được UBND tỉnh Đắk Lắk cấp ph攃Āp cho nuôi trồng thủy sản trong hồ.Nhận thấy việc thực hiện đúng mục đích như hợp đồng đã giao kết với ông D sẽ không còn khả thi nên công ty đã nhiều lần liên hệ, mời ông D đến để thanh lý hợp đồng nhưng không được trả lời Vào ngày 6/9/2019, Công ty đã có Thông báo số 14/2019-BĐ-AD hủy hợp đồng cho thuê mặt nước số 01/HĐ-BĐ-AD gửi đến ông D nhưng cũng không được hồi đáp Chính vì thế, công ty A mong muốn tòa án tuyên bố hợp đồng thuê khoán với ông D là vô hiệu

Với đơn phản tố ngày 25/6/2020 của ông Quách Đình D yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH A phải bồi thường tiền mua cá giống, thuyền ghe, lưới ngư cụ tvng cộng là 240.000.000 đồng Ông Nguyễn Mai H cho ryng trong hợp đồng không

có điều khoản nào quy định bồi thường thiệt hại nên Công ty không đồng ý, nếu ông

D chứng minh hợp đồng vô hiệu, dxn đến thiệt hại thực tế cho phía ông D, thì công ty

sẽ căn cứ vào thiệt hại thực tế để bồi thường theo quy định của pháp luật Đồng thời, tại đơn kháng cáo ,sau khi có bản án sơ thẩm công ty A đưa ra lập luận về việc tòa án cấp sơ thẩm buộc công ty A phải bồi thường thiệt hại cho ông D với số tiền mua ngư

cụ là 34.000.000 đồng và 59.500.000 đồng tiền mua cá giống như sau : Do ông D làm nghề đánh bắt và nuôi cá cho nên ông D phải có những dụng cụ ngư cụ để hành nghề chứ không phải vì kí kết hợp đồng với công ty A ông mới mua sắm và đối với số tiền mua cá giống là không có thiệt hại trên thực tế thông qua việc ông D không đưa ra được các hóa đơn chứng từ mua cá giống

3.4 Lập luận từ phía bị đơn:

Ngày 01/7/2019, Công ty TNHH A ký hợp đồng cho ông thuê toàn bộ mặt nước hồ M với ông với giá thuê là 60.000.000 đồng/1năm, ông đã thanh toán trước cho Công ty TNHH A số tiền 30.000.000 đồng Sau khi ký hợp đồng ông đã mua các vật dụng phục vụ việc nuôi, đánh bắt cá cụ thể: Thuyền to có gắn máy nv giá trị 50.000.000 đồng, thuyền nhỏ có gắn máy nv giá trị 9.000.000 đồng; lưới chắn tràn 20.000.000 đồng; lưới bóng để đánh bắt cá 28.000.000 đồng; đú chắn cá ngược là 11.000.000

Trang 7

đồng; đú nhỏ 3.000.000 đồng, và tiền thả cá giống các loại khoảng 119.000.000 đồng Tvng cộng là 240.000.000 đồng Tuy nhiên ông cho ryng việc mua bán giữa cá nhân với nhau nên không có hóa đơn chứng từ và xuất xứ hàng hóa, không cung cấp được cho Tòa án Nay Công ty A yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì phải bồi thường thiệt hại cho gia đình ông

Sau khi có phán quyết của tòa cấp sơ thẩm ông D đã làm đơn kháng cáo toàn bộ bản

án dân sự sơ thẩm với lập luận như sau: Tòa sơ thẩm đã xác định lỗi thuộc về công Ty TNHH A nhưng khi xem x攃Āt về phần bồi thường cho gia đình ông thì chưa thỏa đáng,

cụ thể chưa xem x攃Āt thẩm định những vật dụng mà gia đình ông đã đầu tư để nuôi trồng và đánh bắt cá sau khi kí hợp đồng thuê khoán mặt nước với công ty A

4 Nhận ịnh của tòa án cấp phúc thẩm: đ

Về nội dung:

*Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn A và bị đơn ông Quách Đình D, Hội đồng xét xử thấy rằng:

+Các bên đương sự đều thừa nhận ngày 01/07/2019 Chi nhánh Công ty TNHH A ký hợp đồng cho thuê mặt nước số 01/HĐ-BD-AD với ông Quách Đình D với thời hạn thuê là 05 năm để nuôi cá, giá thuê là 60.000.000 đồng/năm, ngày 23/08/ 2019, ông D

đã nộp cho công ty số tiền 30.000.000 đồng

+Nguyên đơn Công ty TNHH A cho ryng ngày 01/07/2019, Chủ tịch UBND tỉnh Đ đã cấp giấy ph攃Āp, cho ph攃Āp Công ty tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch Tuy nhiên với mục đích nuôi trồng thủy sản thì không được cấp ph攃Āp Vì vậy, Công ty TNHH A yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố hợp đồng cho thuê mặt nước với ông Quách Đình D vô hiệu và giải quyết trả lại số tiền 30.000.000 đồng cho ông Quách Đình D

+Bị đơn ông Quách Đình D cho ryng: Ông đồng ý tuyên bố hợp đồng thuê mặt nước

vô hiệu Nhưng Công ty TNHH A phải bồi thường cho gia đình ông sau khi ký hợp đồng thuê mặt nước đã mua cá giống và các vật dụng phục vụ việc nuôi đánh bắt cá Tvng cộng là 240.000.000 đồng

*X攃Āt kháng cáo của Công ty TNHH A với nội dung cho ryng Tòa án cấp sơ thẩm buộc

Công ty TNHH A phải bồi thường thiệt hại cho ông D mua ngư cụ trị giá 34.000.000 đồng và tiền cá giống 59.500.000 đồng là không có cơ sở, không phù hợp với quy định pháp luật

+Hội đồng xét xử xét thấy: Tại giấy ph攃Āp số 20/GP-UBND ngày 01/07/2019 của Ủy

ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk chỉ cho ph攃Āp Công ty TNHH A được tiến hành hoạt động

Trang 8

trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi hồ M là phục vụ khách du lịch, các dịch vụ trên mặt nước, còn nuôi trồng thủy sản thì không và tại Hợp đồng được ký kết ngày 10/ 07/2019 với Công ty TNHH MTV Quản lý công trình thủy lợi Đ chỉ cho Công ty TNHH A thuê mặt nước hồ M, tại xã K, huyện B sử dụng vào mục đích phục vụ du lịch như chèo thuyền độc mộc, thiên nga đạp nước Do đó việc Công ty TNHH A biết không được cho thuê mặt nước để nuôi trồng thủy sản nhưng vào ngày 01/07/ 2019 công ty TNHH A vxn ký hợp đồng cho thuê mặt nước với ông Quách Đình D được nuôi trồng thủy sản là vượt quá phạm vi thẩm quyền cho ph攃Āp theo quy định của pháp luật Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn khởi kiện công ty trách nhiệm hữu hạn A tuyên bố hợp đồng cho thuê mặt nước ngày 01/07/2019 giữa công ty trách nhiệm hữu hạn A với ông Quách Đình D là vô hiệu và xác định lỗi thuộc về công ty trách nhiệm hữu hạn A để buộc công ty trách nhiệm hữu hạn A có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho ông D là có cơ sở Tuy nhiên, đối với yêu cầu của bị đơn (ông D) về bồi thường tiền mua cá giống với số tiền 119.000.000 đồng mà Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một nửa (½) số tiền buộc công ty trách nhiệm hữu hạn A phải bồi thường cho ông Quách Đình D, một nửa ½ số tiền trên là không có cơ sở Bởi lẽ các căn cứ và chứng cứ do bị đơn cung cấp để yêu cầu được bồi thường là không đủ cơ sở, không hợp lệ nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu bồi thường của ông D Đối với yêu cầu bồi thường Lưới chắn tràn; đú lớn chắn cá ngược; đú nhỏ chắn cá ngược với số tiền là 34.000.000₫ mà tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ là không đảm bảo quyền lợi cho công ty trách nhiệm hữu hạn A và không đúng pháp luật vì số lưới này ông D mua

về thả xuống hồ dùng để chắn cá tràn ra ngoài trước khi thả cá và từ khi ký hợp đồng thuê mặt nước đến khi công ty trách nhiệm hữu hạn ra thông báo hủy hợp đồng thuê thời gian mới hơn 2 tháng cũng chỉ làm ảnh hưởng một phần thiệt hại cho ông D nên cần buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn A phải có nghĩa vụ bồi thường một nửa giá trị

là 17.000.000 đồng là phù hợp

-X攃Āt kháng cáo của ông Quách Đình D

+Hội đồng xét xử xét thấy: Việc ông D kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm mà ông cho ryng bản án sơ thẩm đã tuyên là chưa thỏa đáng, cụ thể chưa xem x攃Āt khi thẩm định những vật dụng và gia đình đã đầu tư để nuôi trồng và đánh bắt cá sau khi

ký hợp đồng thuê mặt nước với công ty trách nhiệm hữu hạn A là không có căn cứ Bởi lẽ, ông D đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn A tuyên hợp đồng cho thuê mặt nước giữa công ty trách nhiệm hữu hạn A- Chi nhánh Khu du lịch Sinh thái B với ông Quách Đình D là vô hiệu; về xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem x攃Āt, đánh giá đầy đủ các tài liệu chứng cứ và đã tiến hành thẩm định theo đúng quy định của pháp luật, xác định cụ thể giá trị tài sản được chấp nhận bồi thường, không được chấp nhận bồi thường theo đơn yêu cầu bồi thường của ông D, cụ thể:

+Đối với yêu cầu bồi thường thuyền to có gắn máy nv giá trị khi mua là 50.000.000 đồng, thuyền nhỏ có gắn máy nv giá trị khi mua 9.000.000 đồng thì ông D đã mua sắm và có trước ngày 01/07/2019 ( ngày ký hợp đồng thuê mặt nước với công ty trách nhiệm hữu hạn A) cho nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu này của ông Quách Đình D

Trang 9

+Đối với yêu cầu bồi thường dụng cụ đánh bắt cá Lưới bóng để đánh bắt cá với số tiền 28.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận vì ông D mới ký hợp đồng thuê mặt nước ngày 01/07/2019 và sau mới thả cá để nuôi cho nên chưa có nhu cầu lưới bóng là đánh bắt cá mà ông tự mua để sử dụng cho nhu cầu nghề đánh bắt cá của ông +Đối với yêu cầu bồi thường Lưới chắn tràn; Đú lớn; Đú nhỏ để chắn cá ngược và yêu cầu bồi thường cá giống đã được Hội đồng x攃Āt xử đã phân tích

5 Phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm:

5.1 Quyết định của Tòa án sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2020/DS-ST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã quyết định:

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A

+ Tuyên bố hợp đồng cho thuê mặt nước giữa Công ty TNHH A với ông Quách Đình

D là vô hiệu

+ Buộc Công ty TNHH A phải trả lại cho ông Quách Đình D số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng);

+ Buộc ông Quách Đình D có trách nhiệm trả lại mặt nước hồ M cho Công ty A

- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Quách Đình D ngày 25/6/2020 + Buộc Công ty TNHH A có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho ông Quách Đình D tiền mua cá giống 59.500.000 đồng (Năm mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng); Lưới chắn tràn và đú chắn cá ngược 34.000.000 đồng (Ba mươi bốn triệu đồng)

5.2 Phán quyết của tòa phúc thẩm:

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 233/2020/DSPT ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã quyết định:

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A

+Tuyên bố hợp đồng cho thuê mặt nước số giữa Công ty TNHH A với ông Quách Đình D là vô hiệu

Trang 10

+Buộc Công ty TNHH A phải trả lại cho ông Quách Đình D số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng);

+Buộc ông Quách Đình D có trách nhiệm trả lại mặt nước hồ M cho Công ty TNHH

A

+Buộc Công ty TNHH A có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho ông Quách Đình D Lưới chắn tràn và đú chắn cá ngược số tiền 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng)

III Những nhận định của nhóm về bản án và hợp đồng thuê khoán giữa công ty TNHH A và ông Quách Đình D:

1.Xác định quan hệ tranh chấp và luật áp dụng:

Theo quy định tại khoản 1, điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định những

tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa á là: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”.

Tại khoản 1, điều 6 Luật thương mại 2005 quy định “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Điều này thể hiện khi hoạt động thương mại

điều chỉnh bởi luật thương mại thì phải là các tv chức được thành lập hợp pháp, cá nhân có đăng ký kinh doanh

Ngoài ra, theo khoản 1, điều 6 tại Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012

của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao có quy định: “Cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh là cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau:

a) Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác

d) Cá nhân, tổ chức khác theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh.”

Như vậy, tranh chấp về kinh doanh thương mại quy định tại khoản 1, điều 30 Bộ luật

tố tụng dân sự 2015, phải là: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tv chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận Trong trường hợp tranh chấp xảy ra mà một trong các bên là tv chức, cá nhân mặc dù có mục đích lợi nhuận nhưng không có đăng ký kinh doanh thì cũng không thỏa mãn điều kiện quy định về tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1, điều 30

Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Ngày đăng: 02/08/2022, 07:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w