Tại Việt Nam, Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị đã nêu rõ mục tiêu của điều hành ngân sách nhà nước là: “Cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công theo hướng bảo đảm nền t
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS VƯƠNG THỊ THU HIỀN
2 TS NGUYỄN CẢNH HIỆP
Hà Nội - 2022 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH -
Trang 3Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
NGHIÊN CỨU SINH
Vũ Thị Tâm Thu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUCÓ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7
1.1 TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN
ÁN 7 1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 7 1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 15 1.2 NHẬN XÉT CHUNG VỀ KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU 23 1.2.1 Những kết quả đạt được mà luận án sẽ kế thừa 23 1.2.2 Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu 24 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC BỀN VỮNG 27
2.1 THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚCBỀN VỮNG 27 2.1.1 Thu ngân sách nhà nước 27 2.1.2 Thu ngân sách nhà nước bền vững 33 2.2 CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC BỀN VỮNG 36 2.2.1 Khái niệm cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo hướng thu ngân sách nhà nước bền vững 36 2.2.2 Nội dung cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo hướng thu ngân sách nhà nước bền vững 37 2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo hướng thu ngân sách nhà nước bền vững 39 2.2.4 Các tiêu chí đánh giá cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo hướng thu ngân sách nhà nước bền vững 47
Trang 5THEO HƯỚNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC BỀN VỮNG VÀ BÀI HỌC CHO
VIỆT NAM 56
2.3.1 Kinh nghiệm quốc tế về thiết lập cơ cấu thu ngân sách theo hướng thu ngân sách nhà nước bền vững 56
2.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH THEO HƯỚNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 69
3.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 69
3.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 69
3.1.2 Tình hình thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam 72
3.2 THỰC TRẠNG CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2011 – 2020 79
3.2.1 Thực trạng cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo nguồn hình thành 79
3.2.2 Thực trạng cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo khu vực kinh tế 86
3.2.3 Thực trạng cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo nội dung kinh tế 93
3.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH THEO HƯỚNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 108
3.3.1 Những kết quả đạt được 108
3.3.2 Những hạn chế 111
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 115
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 119
CHƯƠNG 4: HOÀN THIỆN CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 120
4.1 BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030 120
4.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội 120
4.1.2 Những cơ hội, thách thức đối với cơ cấu thu ngân sách ở Việt Nam 125
4.2 MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN NĂM 2030 130
Trang 64.2.2 Quan điểm hoàn thiện cơ cấu thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 132
4.2.3 Định hướng hoàn thiện cơ cấu thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam 134
4.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO HƯỜNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC BỀN VỮNG ĐẾN NĂM 2030 135
4.3.1 Các giải pháp theo phân loại cơ cấu thu ngân sách nhà nước 135
4.3.2 Các giải pháp về quản lý thu ngân sách nhà nước 158
4.3.3 Các giải pháp điều kiện 162
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 166
KẾT LUẬN 167
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC 1: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TỚI CƠ CẤU THU NỘI ĐỊA viii
PHỤ LỤC 2: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ XÃ HỘI ĐẾN THU NGÂN SÁCH TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾ xiii
PHỤ LỤC 3: TỔNG HỢP SỐ LIỆU PHỤC VỤ CHO MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (1), (2), (3) xvi
PHỤ LỤC 4: TỔNG HỢP SỐ LIỆU PHỤC VỤ CHO MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (4)xvii PHỤ LỤC 5: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH (1) xviii
PHỤ LỤC 6: CÁC KIỂM ĐỊNH ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH (1) xix
PHỤ LỤC 7: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH (2) xx
PHỤ LỤC 8: CÁC KIỂM ĐỊNH ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH (2) xxi
PHỤ LỤC 9: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH (3) xxii
PHỤ LỤC 10: CÁC KIỂM ĐỊNH ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH (3) xxiii
PHỤ LỤC 11: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH (4) xxiv
PHỤ LỤC 12: CÁC KIỂM ĐỊNH ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH (4) xxv
PHỤ LỤC 13: THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO NỘI DUNG KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2011 – 2020 xxvi
Trang 7Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
Investment Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm trong nước
Statistics System Hệ thống Thống kê tài chính chính phủ
ICOR Increment Capital –
Output Ratio Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
ILO International Labour
Conference Tổ chức Lao động Quốc tế
IMF International Monetary
Trang 8TTĐB Tiêu thụ đặc biệt
Trang 9Bảng 2.1 Tỷ trọng thu thuế GTGT so với GDP ở một số nước EU (%) 57
Bảng 3.1 Các Luật thuế, phí và lệ phí hiện hành 74
Biểu đồ 3.1 Tăng trưởng kinh tế và GDP bình quân đầu người của Việt Nam 69
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP của Việt Nam 70
Biểu đồ 3.3 Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội theo khu vực kinh tế trong GDP 71
Biểu đồ 3.4 Quy mô thu, chi ngân sách nhà nước 75
Biểu đồ 3.5 Tốc độ tăng thu, chi NSNN và GDP 76
Biểu đồ 3.6 Quy mô thu, chi ngân sách so với GDP ở Việt Nam 77
Biểu đồ 3.7 Quy mô thu/GDP của Việt Nam và các nước ASEAN-9 78
Biểu đồ 3.8 Cơ cấu thu ngân sách theo nguồn hình thành 80
Biểu đồ 3.9 Thu NSNN theo nguồn hình thành 82
Biểu đồ 3.10 Thu thường xuyên, thu không thường xuyên và tỷ trọng 84
Biểu đồ 3.11 Chênh lệch giữa quyết toán thu NSNN và dự toán 85
Biểu đồ 3.12 Thu NSNN từ ba khu vực kinh tế giai đoạn 2011 – 2020 86
Biểu đồ 3.13 Cơ cấu thu cân đối NSNN theo khu vực kinh tế 87
Biểu đồ 3.14 Cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế 88
Biểu đồ 3.15 Cơ cấu thu thuế GTGT hàng sản xuất trong nước theo khu vực kinh tế 89
Biểu đồ 3.16 Cơ cấu thu thuế tiêu thụ đặc biệt theo khu vực kinh tế 90
Biểu đồ 3.17 Cơ cấu thu thuế thu nhập doanh nghiệp theo khu vực kinh tế 91
Biểu đồ 3.18 Quy mô và tốc độ tăng thu ngân sách từ thuế, phí và lệ phí 94
Biểu đồ 3.19 Tỷ trọng thu thuế, phí và lệ phí trong tổng thu NSNN và GDP 94
Biểu đồ 3.20 Cơ cấu thuế trực thu, thuế gián thu trong tổng thu NSNN 96
Biểu đồ 3.21 Tốc độ tăng thuế trực thu, thuế gián thu giai đoạn 2011 – 2020 96
Biểu đồ 3.22 Tỷ trọng một số sắc thuế trực thu và thuế gián thu chủ yếu 97
trong tổng thu NSNN 97
Biểu đồ 3.23 Quy mô và tốc độ tăng thu ngân sách từ thuế TNDN 98
Biểu đồ 3.24 Tỷ trọng thuế TNDN trong tổng thu NSNN và GDP 99
Biểu đồ 3.25 Quy mô và tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân 100
Biểu đồ 3.26 Quy mô và tỷ trọng thuế GTGT 101
Trang 10Biểu đồ 3.28 Quy mô và tỷ trọng thuế XNK, TTĐB và BVMT hàng nhập khẩu 103Biểu đồ 3.29 Quy mô và tỷ trọng thuế bảo vệ môi trường 104Biểu đồ 3.30 Quy mô và tỷ trọng thuế tài nguyên 105Biểu đồ 3.31 Quy mô và tỷ trọng một số khoản thu về tài sản trong tổng thu NSNN 107Biểu đồ 3.32 Thu thường xuyên và chi thường xuyên giai đoạn 2011 – 2020 109Biểu đồ 3.33 Chi thường xuyên và Thu thường xuyên (không bao gồm thu từ dầu thô và thu khác) giai đoạn 2011 - 2020 112
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước (NSNN) là yếu tố quan trọng quyết định sự bền vững, an toàn của nền tài chính quốc gia Điều chỉnh cơ cấu thu ngân sách nhằm duy trì nguồn thu bền vững có tác động không nhỏ trong việc giữ gìn an toàn vĩ mô của nền kinh tế trước những cú sốc trong và ngoài nước Sự ổn định, hợp lý của cơ cấu thu ngân sách vừa phản ánh sự ổn định và phát triển của thu NSNN, vừa là yếu tố tác động đến sự ổn định kinh tế xã hội Bởi vậy, cơ cấu thu NSNN theo hướng thu NSNN bền vững là vấn đề lý luận quan trọng luôn cần được nghiên cứu hoàn thiện cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia
Diễn biến những năm gần đây cho thấy, rất nhiều quốc gia đang phải đối mặt với một số rủi ro tài khóa nhất định, đặc biệt là khi xét từ tầm nhìn trung và dài hạn Đó là tình trạng thu ngân sách phụ thuộc vào những nguồn thu không ổn định, bội chi ngân sách kéo dài và sự gia tăng liên tục của nợ công Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy sự chậm trễ trong việc nghiên cứu và đưa ra chính sách đúng đắn nhằm thực hiện củng cố tài khóa, đảm bảo sự bền vững của cơ cấu ngân sách nhà nước
có thể gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực đối với nền kinh tế
Để có thể xây dựng nền tài chính quốc gia phát triển bền vững, điều quan trọng trước hết là phải ổn định tài khóa, đảm bảo thu ngân sách bền vững, dựa vào một cơ cấu thu mà ở đó nguồn thu từ các hoạt động sản xuất - kinh doanh và tiêu dùng trong nước là nền tảng Các nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu và khai thác tài nguyên khoáng sản cần từng bước giảm dần cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế cũng như quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế Trong thu nội địa phải đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa thu thường xuyên và thu không thường xuyên, giữa thu từ thuế và các khoản thu ngoài thuế, giữa thuế gián thu và thuế trực thu… Cơ cấu thu ngân sách là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự bền vững của thu NSNN
Tại Việt Nam, Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị đã nêu rõ mục tiêu của điều hành ngân sách nhà nước là: “Cơ cấu lại NSNN và quản lý
nợ công theo hướng bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; tăng cường huy động, quản lý, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt các nhiệm vụ
Trang 12phát triển văn hóa, con người, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội, bảo
vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trong khu vực và trên thế giới” Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược tài chính đến năm 2030 cũng chỉ rõ mục tiêu đảm bảo nguồn lực tài chính ngân sáchgóp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng, trong đó, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu ngân sách nhà nước đến năm 2025 khoảng 85 - 86%, đến năm 2030 khoảng 86 - 87% Một trong những giải pháp quan trọng được đưa ra để thực hiện mục tiêu này là “tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thu ngân sách nhà nước đồng bộ, có cơ cấu bền vững, bảo đảm huy động hợp lý các nguồn lực cho ngân sách nhà nước, góp phần tạo lập môi trường cạnh tranh phù hợp với quá trình hội nhập và phát triển kinh tế.”
Trong giai đoạn 2011 – 2020, cơ cấu thu ngân sách của Việt Nam chưa thật hợp
lý và bền vững Tỷ trọng thu từ thuế và các khoản thu quan trọng như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng đều đang trong xu hướng giảm, ngân sách còn phụ thuộc nhiều vào các nguồn thu không thường xuyên Trong khi đó, nhu cầu chi tiêu ngân sách không ngừng tăng, vượt khả năng cân đối nguồn lực, thâm hụt ngân sách cao và kéo dài trong suốt hai thập kỷ
Trong khi những khó khăn tiềm ẩn của nền kinh tế còn chưa được giải quyết,Việt Nam lại tiếp tục chịu những cú sốc lớn từ đại dịch Covid-19, cân đối ngân sách nhà nước gặp rất nhiều thách thức Diễn biến phức tạp của đại dịch gây ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế, nguồn thu NSNN sụt giảm kết hợp với việc thực hiện các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất đã làm cho thu NSNN năm
2020 có tốc độ tăng trưởng âm Bởi vậy, vấn đề cơ cấu lại thu ngân sách theo hướng thu NSNN bền vững, huy động nguồn lực quốc gia, đảm bảo cân đối ngân sách và phục hồi kinh tế là một thách thức lớn đối với Chính phủ Việt Nam
Từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu cơ cấu thu NSNN nhằm đưa ra những giải pháp cơ cấu lại và quản lý tốt nguồn thu, đảm bảo thuNSNN bền vững ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết Xuất phát từ những lý do trên,
nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo hướng thu
ngân sách nhà nước bền vững ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ
của mình
Trang 132 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án: xây dựng quan điểm, định hướng và các giải
pháp hoàn thiện cơ cấu thu ngân sách theo hướng thu NSNN bền vững ở Việt Nam đến năm 2030
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:
- Một là, hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận về thu NSNN, thu NSNN bền vững, cơ cấu thu NSNN, các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu thu NSNN và các tiêu chí đánh giá cơ cấu thu ngân sách theo hướng thu NSNN bền vững
- Hai là, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về thiết lập cơ cấu thu ngân sách theo hướng thu NSNN bền vững và rút ra bài học cho Việt Nam
- Ba là, phân tích thực trạng cơ cấu thu ngân sách nhà nước và đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế của cơ cấu thu NSNN ở Việt Nam theo hướng thu NSNN bền vững, lý giải nguyên nhân của những hạn chế đó
- Bốn là, trên cơ sở hệ thống lý luận và cơ sở thực tiễn, kết hợp với phân tích, dự báo bối cảnh kinh tế - xã hội và những cơ hội, thách thức đối với cơ cấu thu ngân sách
ở Việt Nam đến năm 2030, luận án đề xuất các mục tiêu, quan điểm, định hướng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ cấu thu NSNN theo hướng thu NSNN bền vững ở Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để có thể giải quyết thấu đáo những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, NCS đặt ra các câu hỏi nghiên cứu cần phải giải quyết như sau:
Thứ nhất, thu NSNN và thu NSNN bền vững là gì? Cơ cấu thu ngân sách nhà
nước theo hướng thu NSNN bền vững cần được đánh giá theo những tiêu chí nào?
Thứ hai, kinh nghiệm các nước thiết lập cơ cấu thu NSNN như thế nào? Những
bài học nào có thể tham khảo cho Việt Nam?
Thứ ba, thực trạng thu NSNN và cơ cấu thu NSNN theo hướng thu NSNN bền
vững ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu thu ngân sách như thế nào? Những kết quả đạt được là gì, những hạn chế nào còn tồn tại và nguyên nhân?
Thứ tư, trong bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam và thế giới giai đoạn 2021 –
2030, cần đưa ra những mục tiêu,quan điểm, định hướng và các giải pháp nào để hoàn thiện cơ cấu thu NSNN theo hướng thu NSNNbền vững ở Việt Nam?
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án: những vấn đề lý luận và thực tiễn về
cơ cấu thu ngân sách theo hướng thu NSNN bền vững
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung:
+ Phạm vi nghiên cứu đối với cơ cấu thu ngân sách: Có rất nhiều cách phân loại
thu NSNN, bao gồm phân loại theo nguồn gốc hình thành khoản thu, theo đối tượng nộp ngân sách, theo nội dung kinh tế của các khoản thu, theo phân cấp ngân sách, theo khu vực, địa lý,… theo đó cũng có nhiều cách xác định cơ cấu thu ngân sách Tuy nhiên, NCS lựa chọn đi sâu vào phân tích ba loại cơ cấu thu sau: cơ cấu thu theo nguồn hình thành, cơ cấu thu theo khu vực kinh tế và cơ cấu thu theo nội dung kinh tế Các loại cơ cấu được lựa chọn có những mối liên hệ rõ ràng và chịu tác động trực tiếp của các chính sách tài khóa, các chỉ số kinh tế vĩ mô cũng như những biến động của thị trường, bởi vậy sẽ phù hợp để đưa ra các giải pháp cả trong ngắn hạn và dài hạn Trong nghiên cứu này, NCS không phân tích số liệu thu NSNN theo từng cấp ngân sách Số liệu thu ngân sách được sử dụng bao gồm cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương
Phạm vi về không gian và thời gian: Luận án tham khảo kinh nghiệm quốc tế về
cơ cấu thu ngân sách trong giai đoạn 2011 – 2020; nghiên cứu thực trạng cơ cấu thu NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, phù hợp để đánh giá cùng với Chiến lược cải cách thuế ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 và đề xuất các giải pháp đến 2030
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật nhằm xem xét sự vật, hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển ứng với các điều kiện và môi trường liên quan Trên cơ sở đó, để có những phân tích, đánh giá, luận giải có căn cứ khoa học, luận án sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp tổng hợp: sử dụng nhằm kế thừa những lý luận liên quan đến cơ
cấu thu NSNN và tính bền vững của thu NSNN, từ đó hình thành cơ sở lý thuyết cho
đề tài luận án
- Phương pháp thống kê, so sánh: Thông qua thu thập thông tin, số liệu thứ cấp,
tiến hành xử lý, lập bảng biểu, vẽ đồ thị, biểu đồ để so sánh và đánh giá nội dung cần tập trung nghiên cứu
Trang 15- Phương pháp phân tích: Từ thông tin, số liệu tác giả tiến hành phân tích, tổng
hợp thực trạng thu NSNN và cơ cấu thu ngân sách nhà nước Qua đó đánh giá tính bền vững của thu NSNN
- Phương pháp mô hình hóa: Là phương pháp mà luận án sử dụng để tìm hiểu về
tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu thu ngân sách bằng việc xây dựng mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả phân tích định tính Mục tiêu của việc xây dựng mô hình nghiên cứu là để tìm ra nguyên nhân của những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong việc thiết lập cơ cấu thu ngân sách của Việt Nam, từ đó có cơ sở để đưa ra những giải pháp phù hợp
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Luận án sử dụng phần mềm Eviews để
phân tích các mô hình hồi quy cùng với các số liệu thu thập được từ Tổng cục Thống
kê và World Bank Căn cứ vào số liệu được xử lý thông qua phần mềm Eviews, luận
án tiến hành đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu thu ngân sách tại
Luận án đã tổng hợp được kinh nghiệm quốc tế trong việc thiết lập cơ cấu thu ngân sách theo hướng thu NSNN bền vững giai đoạn 2011 – 2020, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
6.2 Về thực tiễn
Luận án đã phân tích khái quát tình hình kinh tế - xã hội và thu NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 thông qua khuôn khổ pháp lý về thu NSNN, quy mô và tốc độ tăng thu NSNN Luận án cũng đã phân tích cụ thể, chi tiết thực trạng các loại cơ cấu thu NSNN, bao gồm cơ cấu thu NSNN theo nguồn hình thành, cơ cấu thu NSNN theo các khu vực kinh tế và cơ cấu thu NSNN theo nội dung kinh tế giai đoạn 2011 -
2020
Trang 16Trong đó, cơ cấu thu nội địa là chỉ tiêu quan trọng phản ánh tính bền vững của thu NSNN Trên cơ sở lý luận về những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu thu NSNN theo hướng thu NSNN bền vững, luận án đã xây dựng mô hình nghiên cứu để phân tích định lượng tác động của các nhân tố chính ảnh hưởng tới cơ cấu thu nội địa, bao gồm GDP bình quân đầu người, các nguồn lực của nền kinh tế bao gồm vốn đầu tư và lao động, cơ cấu ngành kinh tế theo lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Từ đó chỉ ra các tác động mạnh/yếu, tác động tích cực hay tiêu cực của các nhân tố này tới cơ cấu thu nội địa Đồng thời, từ kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu thu nội địa, nhận định vốn là đầu vào quan trọng nhất trong phát triển kinh tế tại Việt Nam, luận án đã xây dựng mô hình nghiên cứu nhằm phân tích định lượng ảnh hưởng của cơ cấu vốn đầu tư tới tỷ trọng thu ngân sách từ các khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Luận án đã chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế của cơ cấu thu ngân sách tại Việt Nam theo hướng thu ngân sách nhà nước bền vững giai đoạn 2011 - 2020
và nguyên nhân của những hạn chế đó
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kinh nghiệm thiết lập cơ cấu thu ngân sách từ một số quốc gia trên thế giới, phân tích thực trạng cơ cấu thu ngân sách tại Việt Nam cũng như đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tới cơ cấu thu ngân sách, luận án đã đề xuất các mục tiêu, quan điểm, định hướng và một số giải pháp cụ thể hoàn thiện cơ cấu thu NSNN theo hướng thu NSNN bền vững ở Việt Nam đến năm 2030
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận
án có kết cấu gồm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Lý luận về cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo hướngthu ngân
sách nhà nước bền vững Chương 3: Thực trạng cơ cấu thu ngân sách nhà nướctheo hướng thu ngân
sách nhà nước bền vững ở Việt Nam Chương 4: Hoàn thiện cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo hướng thu
ngân sách nhà nước bền vững ở Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUCÓ LIÊN QUAN
về cơ cấu thu NSNN
Với mỗi nội dung, các công trình nghiên cứu sẽ được sắp xếp theo trình tự thời gian, từ cũ đến mới, điều này giúp NCS có thể thấy rõ được các công trình nghiên cứu sau đã kế thừa và phát triển được những gì so với các công trình nghiên cứu trước đó
Từ đó, NCS có thể đưa ra các đánh giá, đồng thời tìm ra các khoảng trống để tiến hành thực hiện nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1 Các nghiên cứu về thu NSNN và thu NSNNbền vững
Thu ngân sách nhà nước đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới Trong đó, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung nhiều vấn đề chính sách thuế và nguồn thu từ thuế do các nhà nghiên cứu mặc nhiên coi đây là nguồn thu chủ yếu của NSNN
Tác phẩm kinh điển của nhà kinh tế học Adam Smith, “Nghiên cứu về bản chất
và nguyên nhân giàu có của nhân loại”, đã đưa ra các nguyên tắc cơ bản để xây dựng
một hệ thống thuế tối ưu là đánh thuế phải phù hợp với khả năng và sức lực của dân
cư, mức thuế và thời hạn nộp thuế phải được xác định hợp lý, tối thiểu hóa chi phí nộp thuế Kế thừa, bổ sung và phát triển các nguyên tắc cơ bản xây dựng một hệ thống thuế tối ưu của Adam Smith, nghiên cứu của Diamond, P.A., & Mirrlees, J.A (1971),
“Optimal taxation and Public production: Production efficiency and Tax rules – Đánh thuế tối ưu và sản xuất công cộng: Hiệu quả sản xuất và nguyên tắc của thuế” cho
rằng mục tiêu của hệ thống thuế là tính hiệu quả, công bằng và đơn giản Tính công bằng của thuế sẽ đạt được nếu thuế thu nhập và thuế tiêu dùng không gây ra tình trạng lệch lạc trong phân bổ nguồn lực Hệ thống thuế tối ưu được đề xuất phải phụ thuộc
Trang 18vào thuế đánh vào thu nhập là chủ yếu Liên quan đến hiệu quả sản xuất của nền kinh
tế, tác giả nhấn mạnh rẳng thuế đánh trên hàng hóa trung gian và thương mại quốc tế
là không hợp lí vì nó làm biến dạng giá cả Tuy nhiên, trong thực tiễn cải cách thuế,
mô hình thuế tối ưu chưa thực sự hữu dụng, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển, bởi sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng của chính sách thuế Sự hạn chế trong trình độ phát triển kinh tế là rào cản lớn nhất đối với thiết kế mô hình thuế tối ưu
Nghiên cứu của Rao, M.G (2005), “Tax system reform in India: Achivements and challenges ahead – Cải cách hệ thống thuế tại Ấn Độ, những thành tựu và thách thức phía trước”cho rằng hệ thống thuế phải là sự cân bằng giữa hiệu quả, phân phối
và năng lực quản lí Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần tập trung vào kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất để giảm thiểu các biến dạng thị trường do thuế gây ra, cải thiện hiệu lực hiệu quả của bộ máy thu ngân sách và nỗ lực ngăn ngừa việc trốn và tránh thuế Cải cách thuế phải được thiết lập nhằm giảm thiểu chi phí tuân thủ của người nộp thuế và chi phí quản lý của nhà nước Theo tác giả, cải cách thuế tại các nước đang phát triển và ở Brazil nên hướng đến thiết lập một hệ thống thuế quan thống nhất và thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) nên dựa trên cơ sở thuế rộng hơn Đồng thời, nghiên cứu cho rằng nên thu hẹp vai trò của nhà nước, nghĩa là thu hẹp quy mô chi tiêu ngân sách, bằng cách giảm thuế suất, nhất là thuế trực thu để tối thiểu hóa các tác động tiêu cực đến tiết kiệm và đầu tư Do đó, cải cách thuế nên tối thiểu hóa các trưởng hợp miễn giảm thuế để mở rộng cơ sở thuế và nhấn mạnh thu hẹp sự phân biệt thuế suất để cải thiện sự tuân thủ thuế và động lực đầu tư cũng như tiết kiệm Một trong những mục tiêu quan trọng nhất cho cải cách thuế tại các nước đang phát triển là hướng tới một hệ thống thuế đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và bảo đảm tính cạnh tranh quốc tế
Nghiên cứu của Gupta A.S (2007), “Determinants of Tax Revenue Efforts in Developing Countries – Các nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu từ thuế tại các nước đang phát triển” thực hiện phân tích hồi quy tỷ trọng thu ngân sách so với GDP của
105 quốc gia đang phát triển trong 25 năm 1980 - 2004 với mục tiêu tìm ra những nhân tố chính dẫn đến sự khác biệt về tỷ trọng thu ngân sách giữa các nước Tác giả phân chia 105 quốc gia thành 3 nhóm bao gồm: các quốc gia thu nhập thấp (bao gồm Việt Nam), các quốc gia thu nhập trung bình và các quốc gia thu nhập cao Kết quả
Trang 19nghiên cứu cho thấy, những yếu tố như GDP bình quân đầu người, cơ cấu ngành kinh
tế, độ mở thương mại, vốn đầu tư nước ngoài, sự ổn định của chính sách, sự ổn định kinh tế vĩ mô, chỉ số minh bạch và tham nhũng là những nhân tố quan trọng nhất Trong đó, vốn đầu tư nước ngoài, tham nhũng, sự ổn định chính sách có nhiều tác động tại các nước thu nhập thấp, nhưng không có nhiều ảnh hưởng với các nước thu nhập cao Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên hệ giữa cơ cấu thuế với tổng thu từ thuế Các quốc gia có tỷ trọng thuế thu gián thu cao hơn thường có doanh thu thuế thấp hơn, ngược lại, các quốc gia chú trọng tới thuế trực thu có doanh thu thuế cao hơn Kết quả này được khẳng định bởi rất nhiều chỉ số cụ thể được chỉ ra từ phân tích mô hình hồi quy được đề xuất
Nghiên cứu của Ajaz và Ahmeh (2010), “Effect of Corruption and Governance
on Tax Revenues - Ảnh hưởng của tham nhũng và quản trị đến doanh thu thuế” đã
nghiên cứu tác động của tham nhũng và quản trị đến nguồn thu thuế ở các nước đang phát triển Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng gồm 25 nước, giai đoạn 1990-2005 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ trọng ngành công nghiệp và quản trị tác động cùng chiều đến tổng số thu thuế; thu nhập bình quân đầu người và tham nhũng tác động ngược chiều đến tổng số thu thuế; tỷ trọng ngành nông nghiệp, độ mở thương mại và lạm phát không tác động đến tổng số thu thuế
Kho bạc New Zealand (2013), “The role of tax in maintaining a sustainable fiscal position – Vai trò của thuế trong duy trì trạng thái tài khóa bền vững” Nghiên
cứu đưa ra những vai trò chủ yếu của thuế trong việc duy trì sự bền vững tài chính, từ
đó, phân tích một hệ thống các tiêu chí mà cải cách thu ngân sách trong tương lai cần đạt được Đó là nâng cao hiệu quả kinh tế, bình đẳng trong phân phối, ổn định kinh tế
vĩ mô và thu ngân sách bền vững Duy trì một nguồn thu mạnh mẽ là yếu tố quan trọng
để đảm bảo một nền tài chính công bền vững Thuế thu nhập và thuế tiêu dùng ở New Zealand được coi là những sắc thuế hiệu quả nhất trên thế giới bởi mang lại nguồn thu lớn cho quốc gia với mức thuế suất khiêm tốn Nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ một thay đổi trong một sắc thuế cụ thể sẽ có ảnh hưởng lan rộng đến cả hệ thống thuế Bởi vậy mọi cải cách thuế phải luôn thận trọng Nghiên cứu đưa ra những gợi ý chính sách cho Chính phủ New Zealand nhằm nâng cao số thu từ thuế để đáp ứng những thách thức tài chính trong tương lai
Trang 20Nghiên cứu về vai trò của thu ngân sáchbền vững còn có thể kể đến các tác giả
Fakile và Adeniran Samuel(2014),“Government budget revenue for sustainable development in Africa – Thu ngân sách của chính phủ với mục tiêu phát triển bền vững ở Nam Phi” Nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của thu ngân sách đối với đầu tư phát
triển, giảm nghèo và cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng Thu ngân sách giúp cho nhà nước tự chủ về tài chính và hạn chế việc vay nợ từ bên ngoài Nghiên cứu này khẳng định rằng thu ngân sách là chìa khóa để phát triển bền vững về kinh tế, tạo điều kiện cho đầu tư cơ sở hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã hội Nghiên cứu cũng chỉ ra những khó khăn và thách thức đối với thu ngân sách ở Nam Phi và đưa ra một số giải pháp để thiết kế hệ thống quản lý thu ngân sách hiệu quả góp phần tăng thu ngân sách, tái tập trung chi tiêu công và phát triển kinh tế bền vững
Nghiên cứu của Gregory De Paepe và Ben Dickinson (2014), “Tax revenues as a motor for sustainable development – Thu từ thuế là một động cơ cho sự phát triển bền vững”đã khẳng định vai trò của thu thuế trong đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo
và cung cấp dịch vụ công Tuy nhiên, trong khi ở các nước OECD (Tổ chức Hợp tác
và phát triển kinh tế) thu thuế chiếm trung bình 34% tổng sản phẩm trong nước (GDP), các nước đang phát triển chỉ đạt được một nửa tỉ lệ này Nghiên cứu phản ánh tiềm năng của các nước đang phát triển trong tăng thu từ thuế và chỉ ra những hạn chế trong
hệ thống thuế của các nước này, ví dụ như chính quyền còn yếu kém trong quản lý, vấn nạn tham nhũng, kỷ luật tài chính và chấp hành ngân sách yếu kém, khó khăn trong việc thu thuế từ các doanh nghiệp đa quốc gia Từ nhận định những khó khăn này, nghiên cứu đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu ngân sách
từ thuế hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
Trong nghiên cứu của Narcisa Roxana Mosteanu (2015),“Solution For Increasing Public Budget Revenue in Bulgaria, Croatia, Czech Republic, Poland and Romania – Các giải pháp tăng thu NSNN tại các quốc gia Bulgari, Croatia, Cộng Hòa Séc, Phần Lan và Rumani”, khi so sánh thu ngân sách của các quốc gia này, tác giả
xem xét tới các đặc điểm về đóng góp của các loại thuế trực tiếp, thuế gián tiếp và các đóng góp xã hội khác thông qua dữ liệu là các chỉ số kinh tế và tài chính trong giai đoạn 2011-2015 của mỗi quốc gia Tác giả đã phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tới thu NSNN, và khẳng định vai trò quan trọng của vốn đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân Bên cạnh các giải pháp về việc cải thiện hệ thống quản lý thuế thì một trong
Trang 21những giải pháp quan trọng là phân bổ các quỹ đầu tư của EU cho đầu tư tư nhân, tăng tính hiệu quả cho các nguồn vốn đầu tư từ đó tăng thu cho NSNN
Nghiên cứu của Alena A và Veronika P (2018), “Tax revenues in the context
of economic determinants – Doanh thu từ thuế trong mối liên hệ với các yếu tố kinh tế” đã phân tích mối liên hệ giữa tổng thu từ thuế của 28 quốc gia EU với các chỉ số
kinh tế vĩ mô bao gồm GDP, tỷ lệ lao động có việc làm trong độ tuổi 15 - 64, nợ công, vốn đầu tư nước ngoài và chỉ số lạm phát Nghiên cứu sử dụng 3 mô hình hồi quy (PM – hồi quy kết hợp tất cả các quan sát, FEM – mô hình các ảnh hưởng cố định và REM – mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên) nhằm đánh giá tác động của các nhân tố trên Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố tác động mạnh nhất tới tổng thu từ thuế tại các nước
EU là tỷ lệ lao động Vốn đầu tư nước ngoài và GDP là những yếu tố tiếp theo có nhiều ảnh hưởng đến tổng thu từ thuế Các tác giả kết luận rằng các nhân tố trong mô hình nghiên cứu đều có tác động tích cực đến tổng thu từ thuế
1.1.1.2 Các nghiên cứu về cơ cấu thu NSNN
Các nghiên cứu ở nước ngoài thường tập trung phân tích cơ cấu thu nội địa, cơ cấu thuế gián thu và thuế trực thu của một hoặc nhiều quốc gia, hoặc phân tích cơ cấu một số loại thuế chủ yếu như thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN…
Nghiên cứu của Jens Arnold (2009), “Do Tax Structures Affect Aggregate Economic Growth? Empirical Evidence from a Panel of OECD Countries – Cấu trúc thuế có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế? Bằng chứng thực nghiệm từ các nước OECD” cho rằng cơ cấu thu ngân sách của một quốc gia xác định ai là người chi trả
cho các dịch vụ và hàng hóa công cộng Bằng việc mở rộng nguồn thu thông qua các công cụ khác nhau, các quốc gia sẽ chia sẻ gánh nặng ngân sách trên các nhóm công dân hay các ngành kinh tế Ở các quốc gia OECD, thuế là nguồn thu đóng góp phần lớn trong cơ cấu thu ngân sách với tỷ trọng ngày càng tăng, các khoản thu khác như phí, lệ phí, bán tài nguyên thiên nhiên và thu viện trợ chiếm tỷ trọng nhỏ nhất, khoảng
10 – 15% tổng thu ngân sách Nghiên cứu này cho thấy cơ cấu thuế có tác động tới tăng trưởng kinh tế, trong đó, thuế tài sản (đặc biệt là thuế đối với bất động sản) có tác động tích cực nhất, sau đó là thuế tiêu dùng và thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập doanh nghiệp được cho là có ảnh hưởng tiêu cực nhất tới tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu của Hua Xu và Huiyu Cui (2011), “The revenue system of China: Past, present and emerging issues – Cơ cấu thu của Trung Quốc: Quá khứ, hiện tại và
Trang 22những vấn đề cấp bách” đã trình bày cụ thể quá trình cải cách hệ thống thu ngân sách
nhà nước của Trung Quốc kể từ những năm 1970, theo đó xây dựng một cơ cấu ngân sách ngày càng phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, đáp ứng được nhu cầu chi tiêu của chính phủ và các mục tiêu chính sách nhất định Nghiên cứu cũng chỉ ra những vấn đề Trung Quốc đang gặp phải là hệ thống thu ngân sách phụ thuộc nhiều vào các khoản thu ngoài thuế và các khoản thu từ đất, đặc biệt là thu ngân sách địa phương Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách hệ thống phân cấp quản lý thu và chi ngân sách, cơ cấu lại thu ngân sách nhằm giảm sự phụ thuộc vào các khoản thu từ đất và nghiên cứu áp dụng các loại thuế mới như thuế bất động sản, thuế an sinh xã hội
và thuế dựa trên lượng phát thải của các phương tiện giao thông
Nghiên cứu của Gregory De Paepe, Tom Hart và Cathal Long (2017), “Domestic resource mobilization and the transition to sustainable development – Huy động nguồn lực trong nước để chuyển đổi sang nền kinh tế phát triển bền vững”nghiên cứu
nguồn thu thuế nội địa của6 quốc gia điển hình ở châu Á, bao gồm 3 nước có thu nhập trung bình (Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia) và 3 nước có thu nhập trung bình thấp (Bangladesh, Nepal và Pakistan) Trong giai đoạn 05 năm (2010-2014), tỷ lệ nguồn thu ngân sách/GDP bình quân và tỷ trọng thu thuế/GDP bình quân tương ứng là 20%
và 13%, được coi là chưa tương xứng với tiềm lực về thu ngân sách của các quốc gia này Nguyên nhân là do quản lý thuế còn yếu kém làm hạn chế nguồn thu thuế; khoảng cách giữa tỷ trọng thu thuế thực tế/GDP và tỷ trọng thu thuế tiềm năng/GDP cho thấy vẫn còn một biên độ khá lớn để cải thiện tỷ trọng thu thuế/GDP Vì vậy các quốc gia
hầu hết sẽ tập trung vào việc cải cách chính sách thu nhằm tạo động lực tăng thu
Nghiên cứu của World Bank (2017), “Strengthening Domestic Resrouce Mobilization – Tăng cường huy động nguồn thu trong nước”đề cập đến mục tiêu của
phát triển bền vững tại Chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015 được tổ chức trong Hội nghị thượng đỉnh Liên Hợp Quốc năm 2015 đã thay thế các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ năm 2000 Nghiên cứu khẳng định huy động nguồn lực trong nước
là một công cụ quan trọng hướng tới phát triển toàn diện và bền vững, vì nếu thiếu huy động vốn trong nước thường dẫn đến những bất lợi cho tăng trưởng kinh tế và việc duy trì hoạt động của nền kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn Nghiên cứu chỉ ra phương thức để huy động nguồn thu thuế nội địa, đó là cải cách hệ thống thuế và quản lý thuế Theo đó, nếu tái cơ cấu nguồn thu thuế theo hướng công bằng thì cần cải cách thuế
Trang 23trực thu; nếu muốn cải cách thuế theo hướng bảo vệ môi trường, giữ gìn tài nguyên thiên nhiên thì cần sửa đổi thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường; nếu muốn thúc đẩy sản xuất kinh doanh thì cần cải cách thuế đối với doanh nghiệp nhỏ hoặc thực hiện các ưu đãi thuế… Nếu muốn cải thiện hiệu quả trong cung cấp dịch vụ, tăng cường trách nhiệm chính trị và tài chính thì thuế của chính quyền địa phương đóng góp đáng
kể vào chương trình huy động nguồn lực trong nước Khi đó cần cải cách và hướng tới thuế tài sản, một trong những loại thuế quan trọng nhất và cũng đang là một điểm yếu
ở các quốc gia có thu nhập trung bình thấp hiện nay vì nó có tác động phân phối lại sự giàu có trong xã hội Ngoài ra, một mức thuế thích hợp đánh trên bất động sản có thể
là công cụ trong việc thúc đẩy sử dụng bất động sản hiệu quả và bền vững hơn Ngoài
ra, nâng cao chất lượng dịch vụ và hỗ trợ người nộp thuế theo hướng giảm bớt chi phí tuân thủ và tăng cường tính tuân thủ, khi đó nguồn thu thuế cũng sẽ được cải thiện hơn
Nghiên cứu của Emmanuelle Modica, Sabine Laudage và Michelle Harding
(2018), “Domestic Revenue Mobilisation: A new base on tax levels and structures in
80 countries – Huy động nguồn thu nội địa, cơ sở dữ liệu về cơ cấu và mức thuế tại 80 quốc gia”, đây là nghiên cứu về thuế số 36 của OECD Nghiên cứu thực hiện trên 4
nhóm quốc gia bao gồm 16 nước Châu Phi, 7 nước châu Á, 25 nước khu vực Mỹ Latin
và Caribe, 35 nước OECD, số liệu về thu ngân sách giai đoạn 1990 – 2015 Nghiên cứu đã phân tích sự chuyển dịch cơ cấu thu ngân sách của 4 nhóm quốc gia này trong giai đoạn 1990 – 2015 theo các khoản thu chính bao gồm: thuế TNDN, thuế TNCN, thuế GTGT và các khoản thu khác ngoài thuế Nghiên cứu kết luận rằng các quốc gia
có GDP bình quân đầu người cao hơn có xu hướng duy trì tỷ lệ thuế trên GDP cao hơn, phân tích sơ bộ cho thấy tồn tại mối liên hệ giữa mức thuế thu được với cấu trúc của hệ thống thuế Cụ thể, các quốc gia có mức thuế thu nhập cá nhân cao hơn tỷ lệ thuận với tổng thu từ thuế cao hơn, trong khi thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế GTGT cho thấy mối liên hệ ngược lại Nghiên cứu khẳng định thêm rằng năng lực quản lý thuế của mỗi quốc gia là yếu tố quan trọng quyết định khả năng huy động nguồn thu nội địa
Nghiên cứu của Aisha Nazir, Sofia Anwar và Samia Nasreen (2020), “Tax Structure and Economic Groth: Middle-Income Asian Countries Analysis – Cơ cấu thuế và tăng trưởng kinh tế, phân tích đối với các quốc gia Châu Á có thu nhập trung
Trang 24bình” Nghiên cứu thực hiện phân tích theo dữ liệu bảng đối với 20 quốc gia châu Á
(bao gồm Việt Nam) trong giai đoạn 1990 – 2017 Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của cơ cấu thuế phân loại theo thuế gián thu và thuế trực thu đến tăng trưởng kinh tế
Mô hình nghiên cứu sử dụng tăng trưởng GDP là biến phụ thuộc, hệ thống các biến độc lập bao gồm tỷ trọng thuế gián thu, thuế trực thu trong GDP, vốn đầu tư, độ mở thương mại, tiết kiệm của chính phủ và dân số Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với các nước châu Á thu nhập trung bình, thuế trực thu có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Trong hầu hết các mô hình của thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài sản và thuế TNCN, một đơn vị tăng thêm của thuế trực thu tác động làm giảm tăng trưởng kinh tế từ 0,86 đến 1,12 đơn vị Trong khi đó, thuế gián thu có tác dụng tích cực hơn đối với tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia thu nhập trung bình Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị chính sách cần mở rộng cơ sở thuế gián thu, thiết kế chính sách để tác động tích cực của thuế gián thu sẽ lớn hơn tác động tiêu cực của thuế trực thu
Nghiên cứu của Peter Mullins, Sanjeev Gupta và Jianhong Liu (2020),
“Domestic Revenue Mobilization in Low-Income Countries: Where to from here?- Huy động thu nội địa ở các quốc gia thu nhập thấp: Hướng đi nào?” đã phân tích thực
trạng ngân sáchgiai đoạn 2000 - 2018 của 59 quốc gia thu nhập thấp, trong đó có Việt Nam Theo đó, các quốc gia thu nhập thấp đã có sự cải thiện về thu nội địa trong gần
20 năm qua, tỷ trọng thu ngân sách trong GDP tăng lên, quy mô thu thuế VAT được cải thiện, việc tăng thuế VAT đã góp phần bù đắp cho sự sụt giảm nguồn thu từ thuế quan Nhiều quốc gia thu nhập thấp thực hiện chính sách giảm thuế suất thuế TNDN, thuế tài sản có đóng góp nhỏ vào tổng thu ngân sách, hệ thống thuế tại các quốc gia thu nhập thấp nhìn chung không có nhiều thay đổi trong cơ cấu thuế trực thu và thuế gián thu Nghiên cứu đã đưa ra 5 gợi ý chính sách nhằm nâng cao nguồn thu nội địa cho các quốc gia thu nhập thấp, bao gồm: hạn chế chi tiêu ngân sách; điều chỉnh các chính sách ưu đãi đối với khu vực FDI; điều chỉnh chính sách thuế GTGT theo hướng thu hẹp hàng hóa và dịch vụ được ưu đãi thuế; điều chỉnh chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt, nghiên cứu đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với dịch vụ viễn thông; nâng cao vai trò của các loại thuế lũy tiến như thuế TNCN và thuế tài sản; tăng cường các biện pháp quản lý thuế
Nghiên cứu của Maganya (2020), “Tax revenue and economic growth in developing country – Thu từ thuế và tăng trưởng kinh tế tại quốc gia đang phát
Trang 25triển”đã xem xét mối quan hệ giữa cơ cấu thu ngân sách bao gồm thu từ thuế thu
nhập, thuế tiêu dùng với các yếu tố củatăng trưởng kinh tế bao gồm GDP,vốn đầu tư trong nước, vốn đầu tư nước ngoài và chỉ số lạm phát trong giai đoạn 1996 - 2019 với trường hợp Tanzania – một quốc gia có thu nhập trung bình thấp tương tự như Việt Nam.Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, trong dài hạn, thuế thu nhập có ảnh hưởng tiêu cực khá rõ ràng với tăng trưởng kinh tế Thuế tiêu dùng và vốn đầu tư trong nước được tìm thấy có mối liên hệ tích cực với GDP Tác giả cho rằng cả cơ cấu và quy mô thu thuế đều có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Một cơ cấu thuế được thiết
kế và quản lý tốt sẽ có tác động tích cực đến tổng thu thuế và tăng trưởng kinh tế bền vững
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Các nghiên cứu về thu NSNN và thu NSNN bền vững
Tại Việt Nam, hiện nay đã có một số giáo trình, luận án, công trình nghiên cứu cấp bộ, cấp cơ sở trực tiếp hoặc gián tiếp nghiên cứu về chủ đề thu NSNNvà thu NSNN bền vững
Giáo trình “Quản lý Tài chính công” do Dương Đăng Chinh và Phạm Văn
Khoan đồng chủ biên (2009) đã đưa ra những khái niệm cơ bản về thu NSNN và cách phân loại thu NSNN Cuốn giáo trình cũng đã hệ thống hóa và phân tích những vấn đề
cơ bản về các khoản thu của NSNN bao gồm thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác; các tiêu thức thiết lập hệ thống thu NSNN, đồng thời làm rõ các nội dung và nguyên tắc quản lý thu NSNN
Chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu của Vũ Đình Ánh (2003), "Phân tích tính bền vững của NSNN trong tiến trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ở Việt Nam" đã
trình bày khá rõ nét về hai phương pháp phân tích tính bền vững của NSNN là phương pháp phân tích theo yếu tố và phương pháp phân tích theo mô hình kinh tế lượng Trong đó, tác giả cho rằng phương pháp phân tích theo yếu tố (kết hợp cả định tính và định lượng) cho phép chúng ta phân tích một cách đầy đủ và toàn diện tính bền vững của NSNN trong điều kiện nguồn số liệu không đầy đủ và thiếu tính chính xác Chính
vì vậy, phương pháp này rất phù hợp với điều kiện Việt Nam nên đã được tác giả lựa chọn để phân tích tính bền vững của NSNN Tác giả đã gợi ý việc phân tích tính bền vững của NSNN, bao gồm thu ngân sách bền vững và hiệu quả chi NSNN cần phải được tiến hành dựa trên 4 yếu tố cơ bản: (i) Đánh giá tác động trực tiếp và gián tiếp
Trang 26của những thay đổi dự kiến trong chính sách kinh tế vĩ mô, từ lộ trình, chi phí, phạm vi cải cách cơ cấu đến hoạt động ngân sách, (ii) Đánh giá cơ cấu thu chi NS hiện tại cũng như dự kiến có có phù hợp với các mục tiêu chính sách chung hay không? (iii) Đánh giá nguy cơ tổn thương của các chính sách ngân sách hiện tại trước những cơn sốc nhằm đảm bảo cho hoạt động ngân sách tổng thể không bị phụ thuộc quá nhiều vào các nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ, (iv) Đánh giá khả năng của chính phủ trong việc dự báo và quản lý mức thâm hụt cơ sở trước tác động của những yếu tố
có thể kiểm soát được thông qua xây dựng khuôn khổ ngân sách trung hạn, thiết lập hệ thống giám sát, dự phòng rủi ro ngân sách Bên cạnh đó, với quan niệm tính bền vững của NSNN chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố như chính trị, kinh tế , chuyên đề nghiên cứu đã nêu rõ 5 nhân tố chủ yếu tác động đến tính bền vững của NSNN bao gồm: Quan điểm về vai trò kinh tế của nhà nước; Các nhân tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp; Quan điểm đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; Sự phát triển của hệ thống tài chính tiền tệ; Quan điểm, định hướng thu chi NSNN và bù đắp thậm hụt NSNN Tuy nhiên, điểm hạn chế của chuyên đề là chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu diễn biến các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững của NSNN, chưa đưa ra được những kết luận thỏa đáng để làm rõ hiện trạng tính bền vững của NSNN qua từng giai đoạn
Trong cuốn sách do Vương Đình Huệ làm chủ biên có tựa đề "Cơ sở lý luận và thực tiễn phân tích đánh giá tính bền vững của ngân sách nhà nước trong kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước" xuất bản năm 2009 đã trình bày những nội
dung cơ bản về đánh giá tính bền vững của ngân sách nhà nước Trong đó, ở Chương
1, tác giả đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý thuyết vềtính bền vững NSNN như khái niệm, ý nghĩa của việc đảm bảo bền vững NSNN, các phương pháp đánh giá tính bền vững của NSNN Theo đó, thu ngân sách ổn định, bền vững, có khả năng đáp ứng các nhu cầu chi một cách thuận lợi, tạo đủ nguồn cho nhà nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo bền vững NSNN.Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xem xét mức độ nhạy cảm của tính bền vững NSNN với các rủi ro ngân sách ngắn hạn và dài hạn, xem xét ảnh hưởng của cơ cấu thu, chi NSNN đến tính bền vững của NSNN, những tác động của cơ chế quản lý tài chính công tới tính bền vững của NSNN Tác giả khẳng định rằng, một hệ thống thuế được xây dựng hợp lý với doanh thu thuế dựa vào những sắc thuế nội địa có tính ổn
Trang 27định cao sẽ là nền tảng vững chắc cho hệ thống ngân sách, làm giảm rủi ro ngân sách trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn
Đây là một công trình đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến bền vững ngân sách ở Việt Nam Tuy nhiên, từ năm 2004 đến nay, diễn biến, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng đã có nhiều thay đổi Hoạt động thu chi của NSNN cũng có những diễn biến khác trước theo dòng thời gian và theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu Hơn nữa, cuốn sách này cũng chủ yếu luận bàn về tính bền vững của ngân sách nói chung và thu ngân sách nói riêng dưới góc nhìn của kiểm toán và dựa trên việc phân tích từ các yếu tố chuyên môn kỹ thuật, không đi sâu vào phân tíchthu ngân sách và cơ cấu thu ngân sách
Một công trình nghiên cứu của Bùi Đường Nghiêu (2009), “Phân tích mức độ bền vững của ngân sách nhà nước Việt Nam và dự báo đến năm 2020”, đã trình bày
những vấn đề lý luận cơ bản về bền vững ngân sách: các nhân tố ảnh hưởng đến bền vững ngân sách, phương pháp phân tích bền vững ngân sách, chỉ tiêu đo lường mức độ bền vững ngân sách Theo tác giả, bền vững về thu NSNN được thể hiện qua các tiêu chí về quy mô thu NSNN, về cơ cấu thu NSNN và hệ thống chính sách thu NSNN Nghiên cứu đã thực hiện đánh giá bền vững NSNN, trong đó cócác chỉ tiêu về bền vững thu ngân sách giai đoạn 1991 - 2007 và đề ra những giải pháp duy trì bền vững NSNN Việt Nam đến năm 2020: Lồng ghép yêu cầu phân tích bền vững vào quá trình xây dựng và thực hiện ngân sách hàng năm; Kết cấu lại cơ cấu thu chi ngân sách; phối hợp hài hòa các biện pháp khai thác nguồn tài chính bù đắp bội chi NSNN; Xác định
rõ ngưỡng giới hạn của cán cân ngân sách cơ bản; Lành mạnh hóa ngân sách và nợ của các địa phương
Đề tài nghiên cứu khoa học của Phạm Văn Hà và Mai Thị Vân Anh (2007) làm
chủ nhiệm có tên là:“Sử dụng các mô hình kinh tế lượng hiện có để dự báo thu ngân sách ở Việt Nam” Nội dung mô hình đã tập trung nghiên cứu và phân tích những ưu
điểm, nhược điểm của một số mô hình dự báo: (i) Mô hình cân bằng tổng thể; (ii) Mô hình cân bằng riêng và (iii) Mô hình kinh tế lượng vĩ mô từ đó đưa ra đề xuất về xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô để thực hiện dự báo thu ngân sách ở Việt nam hiện nay Mô hình đề xuất bao gồm 42 phương trình với các khối: Sản xuất, đầu tư, ngoại thương, kinh tế vĩ mô và thu ngân sách nhà nước Mô hình đã được kiểm định và thực hiện 9 phương án dự báo: Thay đổi các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô; Áp dụng thuế suất thuế
Trang 28TNDN thống nhất 28%: Áp dụng thuế suất thuế TNDN thống nhất 25%: Bỏ thuế suất thuế GTGT 20%: Áp dụng thuế suất thuế GTGT thống nhất 10%; Áp dụng thuế suất thuế GTGT thống nhất 8%; Giảm thuế nhập khẩu bình quân 1%; Giảm thuế suất thuế xuất khẩu bình quân 1% và Phương án tổng hợp giảm một số thuế suất khác nhau Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ những biến động về số thu ngân sách nhà nước khi thay đổi thuế suất và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Đề tài sử dụng chuỗi số liệu trong giai đoạn
1991 – 2005 và đưa ra dự báo thu ngân sách đến năm 2020 Mô hình mà đề tài xây dựng dựa trên một cơ sở lý thuyết phù hợp với những lý thuyết kinh tế hiện đại Tuy nhiên, hạn chế của mô hình là chuỗi số liệu thống kê còn ngắn nên các kết quả kiểm định chưa thật chính xác và mô hình chưa phản ánh được những thay đổi của chính sách thuế tới cơ cấu nền kinh tế
Luận án tiến sỹ “Nâng cao tính bền vững của ngân sách nhà nước Việt Nam”
của Võ Văn Hợp (2013) cho rằng tính bền vững của ngân sách nhà nước không chỉ xem xét ở góc độ tính bền vững của nợ công như một số nhà kinh tế đề cập đến mà phải xem xét một cách toàn diện hơn bao gồm việc xem xét đến tính bền vững của thu
và chi NSNN Tính bền vững nợ công chỉ là một khía cạnh của tính bền vững của NSNN Từ đó, luận án đưa ra khái niệm mới về tính bền vững của ngân sách nhà nước như sau: Tính bền vững của NSNN được biểu hiện ở chỗ hoạt động thu chi NSNN ở trong tình trạng ổn định lâu dài, không có thâm hụt lớn kéo dài đưa đến tình trạng nợ công gia tăng làm mất ổn định kinh tế vĩ mô của đất nước Đó là điểm mới về mặt lý luận của bản luận án Về phương diện đánh giá thực trạng tính bền vững của NSNN Việt Nam Luận án nhìn nhận tính bền vững của ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 thông qua phân tích, đánh giá trên 5 khía cạnh: khía cạnh thu chi NSNN; khía cạnh thâm hụt NSNN; khía cạnh nợ công; khía cạnh hội nhập kinh tế và khía cạnh quản lý tài chính công Mặc dù trong mỗi khía cạnh có những yếu tố tác động tích cực đến tính bền vững của NSNN, song nếu nhìn nhận một cách tổng hợp các khía cạnh thì NSNN của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 chưa thực bền vững nhất
là giai đoạn từ 2008 đến năm 2010 Minh chứng cho sự thiếu tính bền vững của NSNN Việt Nam là thâm hụt NSNN Việt Nam trong thực tế còn ở mức cao và kéo dài trong suốt giai đoạn 2001 - 2010 Trên cơ sở dự báo về tính bền vững của NSNN giai đoạn 2011-2015, luận án đã đề xuất 4 nhóm giải pháp nhằm đảm bảo tính bền vững của NSNN bao gồm nhóm giải pháp về kinh tế vĩ mô; nhóm giải pháp về thu chi NSNN;
Trang 29nhóm giải pháp quản lý NSNN, nhóm giải pháp về nợ công Trong số các nhóm giải pháp đó, luận án đã tập trung phân tích khá đậm nét các khía cạnh về giải pháp kinh tế
vĩ mô có ảnh hưởng lớn đến tính bền vững của NSNN giai đoạn 2011 - 2015
Nghiên cứu của Vũ Sỹ Cường (2017), “Huy động nguồn thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam theo hướng bền vững” đã đánh giá thực trạng huy động nguồn lực
vào ngân sách nhà nước ở Việt Nam qua việc phân tích quy mô và cơ cấu thu ngân sách giai đoạn 2005 – 2015 Sự thay đổi về bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước đặt ra yêu cầu cần phải cải cách, hoàn thiện chính sách động viên ngân sách cho phát triển
Để đảm bảo tính bền vững của ngân sách trong giai đoạn tới, Việt Nam buộc phải có những điều chỉnh về chính sách thuế đồng thời với chính sách chi ngân sách Trong cơ cấu thu ngân sách, vai trò của các khoản thu nội địa, nhất là loại thuế tài sản, thuế tiêu dùng với hàng sản xuất nội địa (như thuế tiêu thụ đặc biệt), thuế thu nhập cá nhân sẽ ngày càng quan trọng hơn Nghiên cứu cũng phân tích những xu hướng cải cách thuế trên thế giới và khả năng cải thiện nguồn thu thuế ở Việt Nam để đưa ra những khuyến nghị chính sách nhằm xây dựng một hệ thống thu ngân sách bền vững
Nghiên cứu của Phạm Quỳnh Mai (2019), “Tác động của tăng trường nguồn lực tài chính tư nhân tới thu NSNN tại Việt Nam” đã đưa ra nhận định vốn đầu tư là
yếu tố quan trọng tác động đến tính bền vững của thu NSNN Trong nền kinh tế mở nguồn vốn đầu tư được hình thành từ 2 nguồn là nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Trong đó nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn vốn từ khu vực nhà nước
và nguồn vốn từ khu vực ngoài nhà nước (chủ yếu là khu vực kinh tế tư nhân); nguồn vốn ngước ngoài bao gồm nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá vai trò của từng loại nguồn vốn tới tổng thu NSNN, từ đó đưa ra những giải pháp về chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư xã hội nhằm tăng thu NSNN, nâng cao tính bền vững của thu NSNN
1.1.2.2 Các nghiên cứu về cơ cấu thu NSNN Luận án tiến sĩ của Phùng Đức Hùng (2003), “Hoàn thiện cơ cấu ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay” đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về NSNN và
cơ cấu NSNN, chú trọng phân tích vai trò của NSNN trong kinh tế thị trường mở cửa
và hội nhập Luận án phân tích, đánh giá thực trạng cơ cấu NSNN Việt Nam trong một tổng thể hoàn chỉnh bao gồm cơ cấu thu, chi, bội chi NSNN trong nền kinh tế cũng như cơ cấu của từng khoản thu, chi NSNN trong tổng thu, chi NSNN từ 1991-2002,
Trang 30khi nền kinh tế nước ta đã bắt đầu có sự chuyển đổi thực sự sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Luận án cũng đưa ra quan điểm và giải pháp hoàn thiện
cơ cấu NSNN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, góp phần thúc đẩu phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta
Đề tài nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Liên, Lê Xuân Trường, Đỗ Đức
Minh, Nguyễn Thị Thanh Hoài, Lê Duy Thành về “Đổi mới cơ cấu thu ngân sách của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đã hệ thống hóa khá toàn diện
những vấn đề lý luận về cơ cấu thu NSNN: khái niệm, phân loại thu ngân sách, tiêu chí cơ cấu thu ngân sách hợp lý Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng cơ cấu thu ngân sách của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2006 và chỉ ra xu hướng, những điểm hợp lý và bất hợp lý trong cơ cấu thu ngân sách của Việt Nam giai đoạn này, từ đó đề xuất một
số giải pháp đổi mới cơ cấu thu ngân sách Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam bắt đầu phải thực hiện cắt giảm thuế quan theo cam kết gia nhập WTO
Công trình nghiên cứu công bố tại Hội thảo Khoa học quốc tế Việt Nam –
Trung Quốc (Hà Nội, 2012) của Lê Xuân Trường: “Tái cấu trúc hệ thống thuế Việt Nam phù hợp với điều kiện là thành viên WTO”đã hệ thống hóa những thay đổi của hệ
thống thuế Việt Nam theo cam kết gia nhập WTO, những điều chỉnh về cấu trúc hệ thống thuế Việt Nam theo cam kết gia nhập WTO, những điều chỉnh về cấu trúc hệ thống thuế Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2012 cho phù hợp với điều kiện là thành viên WTO Công trình đã đề xuất một số giải pháp đổi mới hệ thống chính sách thuế nhằm đảm bảo số thu từ thuế trong bối canh tiếp tục phải thực hiện các cam kết với WTO, trong đó đáng kể là giải pháp về mở rộng cơ sở thuế và điều chỉnh thuế suất của một số sắc thuế chủ yếu
Đề tài NCKH cấp Bộ năm 2013của Lê Xuân Trường: “Cấu trúc thu ngân sách nhà nước bền vững – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã trình bày những vấn đề lý
luận cơ bản về thu NSNN và cấu trúc thu NSNN, luận giải một số nội dung về cấu trúc thu ngân sách bền vững Đề tài cũng đã nghiên cứu cấu trúc thu ngân sách của một số nước trên thế giới và phân tích thực trạng cấu trúc thu NSNN và tính bền vững của cấu trúc thu NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2013, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân Cùng với đó, đề tài đã đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo cấu trúc thu ngân sách bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2015 – 2020 và định hướng đến năm
2030 theo 3 kịch bản: tăng trưởng kinh tế thấp, trung bình và tăng trưởng cao
Trang 31Bài nghiên cứu của Phạm Hồng Chương và Nguyễn Thị Thùy Dương (2017),
“Nâng cao tính bền vững của nguồn thu từ thuế: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” đã phân tích tính bền vững của nguồn thu thuế tại Việt Nam trong giai đoạn
2010 – 2016 Theo đó, nghiên cứu chỉ ra rằng cơ cấu thu thuế chưa có sự cân đối hợp
lý giữa các khoản thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản; nguồn thu nội địa còn khiêm tốn và chịu ảnh hưởng nhiều từ tác động của nền kinh tế thế giới; tình trạng nợ đọng thuế, trốn thuế vẫn diễn ra phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến tính bền vững của nguồn thu thuế Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của một số nước về đảm bảo tính bền vững nguồn thu từ thuế như: kinh nghiệm xây dựng Luật Thuế tài sản của Singapore, kinh nghiệm dự báo số thu thuế của Trung Quốc và kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế của Peru, nghiên cứu đưa ra một số đề xuất nhằm tăng cường tính bền vững của nguồn thu từ thuế là: nhanh chóng xây dựng luật thuế tài sản tại Việt Nam; hoàn thiện công tác dự báo thu thuế và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế
Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2019 do Vũ Đình Ánh làm chủ nhiệm: “Cơ cấu thuế: Thực trạng và định hướng chuyển dịch” đã hệ thống hóa những vấn đề lý
luận cơ bản về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu thuế, phân tích và đánh giá thực trạng cơ cấu thuế trong nước và thuế XNK trong giai đoạn 2001 – 2019, cơ cấu thuế theo đối tượng nộp thuế trong giai đoạn 2003 - 2019 Từ đó, đề tài đưa ra các mục tiêu, định hướng và hệ thống tiêu chí đánh giá cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu thuế đến năm 2030
Đề tài cho rằng cơ cấu thuế nên được đánh giá bằng hệ thống các tiêu chí định tính và định lượng bao gồm 3 nhóm: tính hợp lý, tính hiện đại và tính bền vững Cả 3 tính chất này của cơ cấu thuế cũng được sử dụng để đánh giá chuyển dịch cơ cấu thuế có phù hợp, hướng tới, duy trì và củng cố tính hợp lý, tính hiện đại và tính bền vững của cơ cấu thuế hay không
Ngoài ra, có khá nhiều đề tài, luận án, bài báo nghiên cứu về cơ cấu của một khoản thu hoặc một nhóm các khoản thu trong tổng thu NSNN Có thể kể đến các nghiên cứu như:
Đề tài NCKH cấp Bộ của Hoàng Thị Giang, Nguyễn Thị Thanh Hoài (2012),
“Chính sách thuế trực thu nhằm mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam” đã đánh giá
thực trạng chính sách thuế trực thu nhằm mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam, công trình nghiên cứu đã chỉ ra những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân,
Trang 32từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoàn thiện chính sách thuế trực thu nhằm mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam Tuy nhiên, với phạm vi và mục tiêu nghiên cứu về chính sách thuế trực thu nhằm mục tiêu phát triển bền vững, vì vậy, các nội dung của đề tài chỉ nghiên cứu sơ lược về cơ cấu thuế trực thu trong hệ thống thuế của Việt Nam
Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện chính sách thuế gián thu ở Việt Nam” của Đinh Thị
Ngọc Mai (2019) đã hệ thống cơ sở lý luận về thuế gián thu, phân tích và đánh giá thực trạng, xu thế biến động của quy mô, cơ cấu của các sắc thuế gián thu trong tổng thu NSNN Luận án đã đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế gián thu theo quan điểm thuế gián thu cần được hoàn thiện theo hướng tăng thu thuế nội địa
để bù đắp cho phần thuế NK bị giảm, góp phần nâng cao tính bền vững của thu NSNN
Bài viết “Xu hướng cải cách thuế gián thu ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý chính sách cho Việt Nam” của các tác giả Trương Bá Tuấn, Đào Mai Phương
(2020) đã phân tích bối cảnh và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình cải cách chính sách thuế trên thế giới, xu hướng cải cách các sắc thuế gián thu bao gồm thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế BVMT và đưa ra một số hàm ý chính sách cho Việt Nam Theo đó, Việt Nam cần chủ động xây dựng và thực hiện có hiệu quả lộ trình điều chỉnh các chính sách thuế GTGT, TTĐB và BVMT để củng cố quy mô và cơ cấu thu NSNN một cách bền vững
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: “Luận cứ khoa học về cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công ở Việt Nam trong tình hình mới” do Nguyễn Viết Lợi và
Nguyễn Minh Tân (2020) làm chủ biên đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
về cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công, mối quan hệ giữa cơ cấu lại NSNN và quản lý
nợ công, trong đó đã làm rõ cơ sở lý luận về cơ cấu thu NSNN, tác động của cơ cấu thu NSNN tới phát triển kinh tế - xã hội, tổng kết một số kinh nghiệm của các nước về điều chỉnh cơ cấu thu NSNN đảm bảo an ninh tài chính quốc gia Đề tài cũng đã phân tích những điểm nổi bật trong thực trạng cơ cấu thu NSNN ở Việt Nam về xây dựng thể chế, chính sách và điều chỉnh cơ cấu thu NSNN; về kết quả thu và cơ cấu thu NSNN trong giai đoạn 2006 – 2016 và 2017 - 2019 Bên cạnh đó, đề tài còn phân tích thực trạng cơ cấu chi NSNN, cân đối NSNN và bội chi NSNN, nợ công và quản lý nợ công tại Việt Nam Đề tài đưa ra các quan điểm, mục tiêu cụ thể nhằm cơ cấu lại
Trang 33NSNN và quản lý nợ công trong thời gian tới
1.2 NHẬN XÉT CHUNG VỀ KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Những kết quả đạt được mà luận án sẽ kế thừa
Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án đã góp phần cung cấp cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho luận án trên các khía cạnh sau:
Về mặt lý luận, các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho luận án những lý luận cơ bản về thu NSNN, khái niệm, đặc điểm và cách phân loại thu ngân sách Một
số đề tài đã phân tích chi tiết tính bền vững của NSNN, trong đó đưa ra một số quan điểm về thu NSNNbền vững và những tiêu chí đánh giá cơ cấu thu NSNN Một số công trình nghiên cứu đã phân tích và đưa ra những đặc điểm của một cơ cấu thu ngân sách hợp lý tương ứng với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, hoặc xu hướng thiết lập cơ cấu thu ngân sách của các nhóm nước tương ứng với trình độ phát triển khác nhau trên thế giới
Về mặt thực tiễn, các công trình nghiên cứu đã sử dụng nhiều phương pháp để đánh giá tính bền vững của thu NSNN, trong đó rất nhiều công trình đã tiến hành đánh giá tính hợp lý của quy mô thu ngân sách với các yếu tố của tăng trưởng kinh tế như Gupta A.S (2007), Jens Arnold (2009), Alena A và Veronika P (2018), Maganya (2020), Vũ Sỹ Cường (2009), Phạm Quỳnh Mai (2019) Hầu hết các công trình nghiên cứu đều thống nhất quan điểm rằng, thu ngân sách bền vững khi có mối quan hệ tích cực với tăng trưởng kinh tế Một số nghiên cứu đánh giá riêng tác động của từng bộ phận của thu ngân sách đối với tăng trưởng kinh tế, coi đây là một tiêu chí để đánh giá tính hợp lý của khoản thu đó, trên cơ sở đó đánh giá tính hợp lý của cơ cấu thu ngân sách Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu thu ngân sách như hệ thống chính sách thuế, công tác quản lý thuế, vốn đầu
tư xã hội, nguồn lao động,… để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm điều chỉnh cơ cấu thu ngân sách Các mô hình lý thuyết được đề xuất và phương pháp nghiên cứu là những nội dung quan trọng đã định hướng và gợi ý cho NCS xây dựng phương pháp nghiên cứu cho luận án của mình
Như vậy, các công trình nghiên cứu trước đây là nền tảng rất quan trọng, là tiền
đề để NCS tiếp tục có cơ sở để nghiên cứu, so sánh và đánh giá thực trạng cơ cấu thu
Trang 34NSNN của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, các công trình này được thực hiện ở những giai đoạn và môi trường kinh tế, văn hóa, chính trị và thể chế cụ thể
mà các công trình nghiên cứu thực hiện Từ nhận thức không thể có sự đồng nhất về môi trường và hoàn cảnh lịch sử ở những quốc gia khác nhau, ở những thời kỳ lịch sử khác nhau Bên cạnh đó tồn tại sự khác nhau về nền tảng chính trị, văn hóa, kinh tế, trình độ giáo dục nên NCS cho rằng nghiên cứu về cơ cấu thu NSNN và tính bền vững của thu NSNN ở một quốc gia cụ thể, trong một giai đoạn cụ thể là cần thiết nhằm hoàn thiện cơ cấu thu NSNN hướng đến NSNN bền vững phù hợp với đặc trưng của từng quốc gia theo thời kỳ Những vấn đề lý luận về cơ cấu thu NSNN cần được phát triển bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn Do vậy, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp cụ thể và có kết quả thiết thực hơn
1.2.2 Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
Bên cạnh những kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án mà các nghiên cứu trước đã đạt được, vẫn còn một số “khoảng trống” chưa được nghiên cứu và làm rõ:
Khoảng trống về mặt lý luận: các công trình nghiên cứu trước đây đã đưa ra
những tiêu chí cơ bản đánh giá tính bền vững của thu NSNN, nhưng chưa đi sâu phân tích các tiêu chí, yêu cầu cụ thể của một cơ cấu thu ngân sách theo hướng thu NSNN bền vững Do đó, cần làm rõ và sâu sắc hơn các khía cạnh của cơ cấu thu ngân sách, đặc biệt là cơ cấu những khoản thu có vai trò quan trọng trong hệ thống thu NSNN Các chỉ số thể hiện cơ cấu thu ngân sách theo hướng thu NSNN bền vững cần được bổ sung và hoàn thiện hơn
Khoảng trống về mặt thực tiễn: các nghiên cứu đối với quốc gia khác khó có
thể áp dụng vào Việt Nam do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau Các công trình nghiên cứu về Việt Nam gần đây hầu như chỉ tập trung phân tích cơ cấu thuế tại Việt Nam, chủ yếu là những bài báo, kỷ yếu hội thảo, hàm lượng nghiên cứu và phân tích, luận giải còn hạn chế, chưa đánh giá toàn diện và có hệ thống về cơ cấu thu NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, chưa phân tích cụ thể về tình trạng cơ cấu thu NSNN với mục tiêu bền vững thu NSNN.Bởi vậy, trong bối cảnh đất nước đang gặp nhiều khó khăn bởi đại dịchvà những yếu tố thiếu bền vững của nội tại nền kinh tế còn chưa được giải quyết, việc phân tích, đánh giá chi tiết thực trạng và xu hướng của các khoản thu trong hệ thống thu NSNN giai đoạn 2011 - 2020 để tìm ra những giải pháp
Trang 35phù hợp, phát huy vai trò của những khoản thu bền vững, giảm sự phụ thuộc vào những khoản thu không bền vững là những vấn đề nghiên cứu mà luận án cần thực hiện.Luận án sẽ cụ thể hóa các khái niệm thu NSNN bền vững, cơ cấu thu NSNN theo hướng thu NSNN bền vững, đề xuất hệ thống các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu thu NSNN theo hướng bền vững thu NSNN Trên cơ sở đó, luận án phân tích thực trạng cơ cấu thu NSNN ở Việt Nam một cách toàn diện, nghiên cứu chi tiết sự biến động của các khoản thu, phân tích nguyên nhân của những sự biến động đó để đánh giá và đề xuất các định hướng, mục tiêu và giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện cơ cấu thu NSNN ở Việt Nam đến năm 2030
Với thời gian và phạm vi tìm hiểu của mình, NCS nhận thấy phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ mới đề cập đến một số khía cạnh trong nội dung nghiên cứu của luận án, chưa có công trình nào nghiên cứu, phân tích toàn diệncơ cấu thu NSNN theo hướng thu NSNN bền vững, đặc biệt trong giai đoạn 2011 – 2020, khi thu NSNN cũng như cân đối ngân sách của Việt Nam có rất nhiều biến động và đang đối diện với những thách thức lớn Do đó, có thể nói, những công trình nghiên cứu kể trên
có đề cập đến một số nội dung nghiên cứu của luận án nhưng không trùng lắp về nội dung, phạm vi nghiên cứu của luận án
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, luận án đã tìm hiểu và khái quát tình hình nghiên cứu trong
và ngoài nước liên quan đến đề tài luận ántheo hai nội dung:các nghiên cứu về thu NSNN và thu NSNN bền vững, và các công trình nghiên cứu về cơ cấu thu ngân sách
Từ đó, luận án đã tìm ra những kết quả đạt được mà luận án sẽ kế thừa về mặt lý luận
và thực tiễn: những lý luận cơ bản về thu NSNN, khái niệm, đặc điểm và cách phân loại thu ngân sách; quan điểm về thu NSNN bền vững và những tiêu chí đánh giá cơ cấu thu NSNN; đặc điểm của một cơ cấu thu ngân sách hợp lý tương ứng với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế; các phương pháp phân tích cơ cấu thu ngân sách; các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm nhằm đánh giá tính hợp lý của quy mô thu ngân sách với các yếu tố của tăng trưởng kinh tế
Từ đó, luận án đã tìm ra những định hướng và “khoảng trống” để tiếp tục thực hiện nghiên cứu: luận án cần làm rõ và sâu sắc hơn các khía cạnh của cơ cấu thu ngân sách, đặc biệt là cơ cấu những khoản thu có vai trò quan trọng trong hệ thống thu NSNN; bổ sung và hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu thu NSNN theo hướng thu NSNN bền vững; nghiên cứu kinh nghiệm thiết lập cơ cấu thu của các quốc gia trên thế giới trong bối cảnh mới Đồng thời, vận dụng các phương pháp nghiên cứu trước đây, luận án kế thừa và điều chỉnh để phù hợp cho việc đánh giá cơ cấu thu NSNN tại Việt Nam
Các công trình nghiên cứu trước là nền tảng rất quan trọng, là tiền đề để nghiên cứu sinh tiếp tục có cơ sở lý luận để nghiên cứu, so sánh và đánh giá thực trạng cơ cấu thu NSNN của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 37CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC BỀN VỮNG
2.1 THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚCBỀN VỮNG
2.1.1 Thu ngân sách nhà nước
2.1.1.1 Khái niệm thu ngân sách nhà nước
Xét về bản chất, dưới góc độ kinh tế chính trị, thu NSNN là quá trình Nhà nước
sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước (Dương Đăng Chinh và Phạm Văn Khoan, 2009, tr.79) Thu NSNN được hiểu là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính
để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình Thu NSNN là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực Nhà nước, nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ kinh tế xã hội của Nhà nước Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp Ngoài ra, thu NSNN còn có các
khoản thu trong quan hệ kinh tế quốc tế với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế
Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Mọi khoản thu của Nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước Việc xác định các khoản thu phải trên cơ sở giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước với lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Thu ngân sách nhà nước chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh tế trong xã hội Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề và là yếu tố khách quan hình thành nên các khoản thu ngân sách nhà nước và quyết định mức độ động viên các khoản thu của ngân sách nhà nước
Trên phương diện pháp lý, theo Luật NSNN số 83/2015/QH13 của Việt Nam, thu ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà
Trang 38nướcthực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Tóm lại, thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Nhà nước có thể huy động nguồn thu từ mọi tổ chức và cá
nhân trong xã hội bằng cách thu thuế và các khoản thu khác theo luật định nên thu NSNN có phạm vi tác động rất rộng Nó tác động đến mọi chủ thế khác nhau, mọi ngành, mọi cấp, ở các địa phương và trên cả nước Thu NSNN gắn chặt với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, bởi mục tiêu của thu NSNN là để Nhà nước có nguồn lực duy trì hoạt động và cung cấp các dịch vụ công cho xã hội
2.1.1.2 Phân loại thu ngân sách nhà nước
Phân loại thu NSNN có vai trò quan trọng trong việc phục vụ quá trình hoạch định chính sách và phân bổ ngân sách giữa các lĩnh vực, đảm bảo trách nhiệm của các
cơ quan trong quản lý ngân sách Nó giúp cho quá trình phân tích kinh tế và quản lý thực hiện ngân sách hàng ngày được thuận lợi cũng như định hướng thu ngân sách trong tương lai Phân loại thu ngân sách có thể xem xét theo những thành phần và mối quan hệ khác nhau
Theo cách tiếp cận của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), thu ngân sách được phân loại phổ biến theoHệ thống Thống kê tài chính chính phủ (GFS), bao gồm: thu từ thuế, các khoản đóng góp xã hội, thu bổ sung hoặc viện trợ, và thu khác Trong đó:
- Thu từ thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng chính trong thu NSNN của các nước, đây là các khoản nộp bắt buộc cho NSNN, bao gồm thuế thu nhập, lợi nhuận và lợi tức đầu tư; thuế thu trên tài sản; thuế thu trên hàng hóa và dịch vụ; thuế giao dịch và thương mại quốc tế; thuế khác
- Các khoản đóng góp xã hộibao gồm số thu làm nguồn đảm bảo phúc lợi bảo hiểm xã hội, trong đó có đóng góp an sinh xã hội và đóng góp xã hội khác Đóng góp
an sinh xã hội là đóng góp vào các chương trình an sinh xã hội do các đơn vị của Chính phủ tổ chức và vận hành để đảm bảo lợi ích cho người đóng góp của chương trình Những khoản đóng góp này được phân loại theo nguồn đóng góp, có thể là đơn
vị sử dụng lao động hoặc khu vực hộ gia đình (phân tách theo người lao động, người
tự sản xuất kinh doanh hoặc người thất nghiệp) Đóng góp xã hội khác là các khoản
Trang 39đóng góp cho các chương trình bảo hiểm xã hội do đơn vị sử dụng lao động vận hành thay mặt cho người lao động của họ
- Các khoản thu bổ sung hoặc viện trợ là những khoản chuyển giao không bắt buộc do quốc gia này nhận được các quốc gia khác hoặc từ các tổ chức quốc tế Bổ sung hoặc viện trợ trước hết được phân loại theo loại đơn vị bổ sung hoặc viện trợ, sau
đó phân loại xem đó là bổ sung hoặc viện trợ thường xuyên hay đầu tư Các khoản thu
bổ sung tự nguyện của một đơn vị chính phủ từ một đơn vị chính phủ khác (trong nước hoặc nước ngoài) hoặc từ một tổ chức quốc tế đều được phân loại chung là bổ sung hoặc viện trợ trong hệ thống GFS
- Thu khác được phân loại là thu trên tài sản, bán hàng hóa và dịch vụ, tiền phạt
và bồi thường, bổ sung tự nguyện khác trợ cấp, các khoản thu khác và không xác định Thu nhập từ tài sản là thu nhập của các đơn vị thuộc Chính phủ khi họ giao tài sản phi tài chính và tài sản tài chính thuộc sở hữu của mình cho các đơn vị khác sử dụng và khai thác Tiền bán hàng hóa và dịch vụ chủ yếu gồm phí và lệ phí hành chính của các đơn vị thuộc Chính phủ và tiền cho thuê tài sản Phí và lệ phí hành chính bao gồm các loại lệ phí cho giấy phép bắt buộc và các loại phí khác như viện phí ở các bệnh viện của Chính phủ, học phí ở các trường học của Chính phủ và phí vào công viên, bảo tàng Tiền phạt là các khoản chuyển giao bắt buộc do cơ quan pháp luật hoặc có tính chất pháp luật áp đặt cho các đơn vị do vị phạm pháp luật hoặc quy định hành chính Tiền bồi thường là số tiền được gửi cho đơn vị Chính phủ chờ quyết định pháp luật hoặc hành chính đã được chuyển cho đơn vị sau khi giải quyết Về nguyên tắc, tiền phạt được thu do chậm nộp thuế hoặc phát do trốn thuế cần được hạch toán trong mục này chứ không phải là thuế
Theo Luật NSNN năm 2015 của Việt Nam, thu NSNN bao gồm các khoản thu từ: (i) Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; (ii) Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp NSNN theo quy định của pháp luật; (iii) Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; (iv) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Trang 40So với nguyên lý của GFS2014, có một số khoản thu của Việt Nam không phải
là thu theo GFS do không tác động tới giá trị ròng, gồm có:
- Các khoản thu từ bán, thanh lý tài sản phi tài chính (bán tiền nhà và thanh lý nhà thuộc sở hữu nhà nước, bán và thanh lý tài sản cố định ) Theo phạm vi GFS2014, đây là các giao dịch về tài sản phi tài chính chứ không phải là thu ngân sách
- Các khoản thu hồi vốn của Nhà nước đầu tư tại các DNNN, các tổ chức kinh tế: theo GFS2014, khoản tiền Nhà nước đầu tư tại các DN được coi là tài sản tài chính Khi Nhà nước thu hồi về thì nó vẫn là tài sản tài chính (chỉ thay đổi hình thái tài sản,
có thể là từ cổ phiếu sang tiền mặt) Về nguyên tắc, tài sản tài chính được dùng để bù đắp bội chi NSNN, không phải là số thu ngân sách như cách hạch toán của Việt Nam
- Thu chuyển nguồn:số chi chuyển nguồn năm trước hiện nay đang được Việt Nam hạch toán vào thu chuyển nguồn của năm sau, dẫn đến tính trùng nguồn thu 2 lần, đồng thời chưa phản ánh đúng bản chất các hoạt động kinh tế phát sinh trong năm Thu chuyển nguồn bản chất là giao dịch nguồn để tính toán, so sánh với dự toán đầu năm đã được cấp có thẩm quyền quyết định Theo phân loại GFS2014, số thu chuyển nguồn được loại trừ để phản ánh đúng bản chất số bội chi ngân sách thực tế trong năm
Nhìn chung, mặc dù tên gọi các yếu tố cấu thành thu ngân sách theo GFS và Việt Nam có một số sự khác biệt, nhưng về hình thức phân loại khá giống nhau Căn
cứ theo đặc điểm, công dụng, chức năng và vai trò của từng khoản thu đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội và tùy theo mục tiêu, yêu cầu của công tác quản lý mà có thể đưa ra các cách phân loại thu ngân sách khác nhau Phân loại thu NSNN là việc sắp xếp các khoản thu trong hệ thống thu ngân sách thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Luận án phân loại thu NSNN theo nguồn hình thành khoản thu, theo cơ cấu nền kinh tế và theo nội dung kinh tế Đây là cách phân loại phù hợp với GFS và phù hợp với cách thức điều hành quản lý thu NSNN cũng như chính sách thu NSNN ở Việt Nam hiện nay
a Phân loại theo nguồn hình thành khoản thu Nguồn gốc hình thành khoản thu được đề cập theo tiêu chí phân loại này bao
gồm nguồn thu nội địa và nguồn thu từ hoạt động đối ngoại Theo đó, thu ngân sách có thể phân chia thành thu nội địa, thu cân đối từ xuất khẩu, nhập khẩu và thu từ viện trợ không hoàn lại Trong đó, đối với quốc gia có thu ngân sách phụ thuộc nhiều vào dầu