1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN hướng dẫn học sinh cách phân đoạn phần thân bài khi làm bài văn tự sự trong phân môn tập làm văn lớp 6 ở trường THCS lê thánh tôn

21 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 229,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên sáng kiến: “Hướng dẫn học sinh cách phân đoạn phần thân bài khi làm bài văn tự sự trong phân môn tập làm văn lớp 6 ở trường THCS Lê Thánh Tôn” 2.Tác giả: Dương Thị Lệ Minh 3.. Để làm

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I THÔNG TIN CHUNG….……….……….……… 02

PHẦN II ĐẶT VẤN ĐỀ 02

PHẦN III NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1 Mục tiêu của sáng kiến 03

2.Mô tả bản chất sáng kiến 03

3 Điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 17

4 Những thông tin cần được bảo mật 18

5 Thực hiện áp dụng sáng kiến 18

PHẦN IV KHẢ NĂNG ÁP DỤNG SÁNG KIẾN 18

PHẦN V HIỆU QUẢ THU ĐƯỢC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN 18

PHẦN IV KẾT LUẬN 1 Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm 18

2 Khả năng ứng dụng và triển khai 19

3 Những bài học kinh nghiệm 19

4 Những kiến nghị, đề xuất 19

Trang 2

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO THỰC HIỆN SÁNG KIẾN

I THÔNG TIN CHUNG

1 Tên sáng kiến: “Hướng dẫn học sinh cách phân đoạn phần thân bài khi

làm bài văn tự sự trong phân môn tập làm văn lớp 6 ở trường THCS Lê Thánh Tôn”

2.Tác giả: Dương Thị Lệ Minh

3 Đồng tác giả: không có

4 Chủ đầu tư thực hiện: Dương Thị Lệ Minh

5 Lĩnh vực áp dụng: Ngữ văn

6 Thời gian, bắt đầu áp dụng/áp dụng thử: năm học 2018 – 2019

7 Địa điểm áp dụng/áp dụng thử: trường THCS Lê Thánh Tôn

II ĐẶT VẤN ĐỀ

Như chúng ta được biết, văn học chính là chìa khóa giúp cho con người biếtyêu, biết ghét, biết cảm nhận, biết vui buồn theo đúng cách, biết cái thiện, ác, tốt xấutrong cuộc sống Trong dạy học Ngữ Văn là giúp HS am hiểu về các tác phẩm Vănhọc, nâng cao vốn từ ngữ tiếng Việt và với đặc thù của bộ môn Ngữ văn,thì hiệu quảcao nhất, kết quả cuối cùng phải đạt được là các em có thể tạo lập văn bản-viết bàilàm văn sao cho đúng, cho hay, cho hấp dẫn, cho mạch lạc

Để làm được như vậy, học sinh cần nắm vững nhiều kiến thức tổng hợp: cách

sử dụng từ ngữ, cách viết câu, sử dụng các biện pháp tu từ của phân môn Tiếng Việt;khả năng hiểu, phân tích một vấn đề, cảm nhận cái hay, cái đặc sắc của tác phẩm, biếtcảm xúc rung động trước cái đẹp của ngôn từ của phân môn Văn Trong đó, yếu tốkhông thể thiếu là phải biết cách tổ chức, sắp xếp các đoạn văn để có được một bàivăn trên cơ sở phù hợp giữa nội dung và hình thức thẩm mỹ Đồng thời, thông qua đó

mà nội dung thông tin, ý tưởng, tình cảm của học sinh trong bài viết được thể hiệnmột cách rõ ràng, hệ thống, mạch lạc

Thế nhưng trong thực tế giảng dạy những năm qua, tôi thấy các em chưa biết lập

dàn bài, dựng đoạn ( ở phần Thân bài trong các kiểu văn bản thường chỉ có một đoạn

văn ) trước khi bước vào khâu viết văn bản Mặc dù nội dung gồm nhiều ý nhưng các

em chỉ viết mỗi một đoạn dài 2-3 trang, làm cho ý tưởng của các em trình bày lộn xộn,nhập nhằng, không thu hút sự chú ý của người đọc làm cho người đọc mệt mỏi đôi khilười đọc

Trang 3

Từ những lí do trên, trong phạm vi đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, tôi quyết

định chọn giải pháp “ Hướng dẫn học sinh cách phân đoạn phần thân bài khi làm

bài Văn tự sự trong phân môn Tập làm văn lớp 6 ở trường THCS Lê Thánh Tôn”

nhằm củng cố thêm kĩ năng làm bài tập làm văn cho học sinh

III NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN

1 Mục tiêu của sáng kiến

Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những tư tưởng quan trọng củachiến lược dạy học các môn ngôn ngữ ở trường phổ thông Hiện nay các nước trên thếgiới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao tiếp là một trong những căn cứ đểhình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực nghe, nói, đọc,viết cho người học

Nếu như nghe và đọc là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tinthì nói và viết là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyền đạt thông tin cầnđược rèn luyện và phát triển trong nhà trường

Việc vận dụng kinh nghiệm hướng dẫn học sinh cách phân đoạn phần Thân bàikhi làm bài Văn tự sự phân môn Tập làm văn lớp 6 nhằm giúp cho học sinh có thóiquen viết trong môi trường giao tiếp khác nhau Nó được thực hiện một cách có hệthống, theo những chủ đề nhất định, gắn với những chủ đề quen thuộc trong cuộc sốnghằng ngày Cụ thể:

- Giúp học sinh nắm được cách viết phần thân bài chính xác và hiệu quả nhất

- Hình thành các kĩ năng viết phần thân bài một cách khoa học

- Khơi dậy khả năng tư duy, hứng thú của học sinh khi viết văn, đặc biệt là khi viếtthân bài

2 Mô tả bản chất sáng kiến:

2.1 Thực trạng của vấn đề cần giải quyết:

Trong nhà trường nói chung, trong trường THCS nói riêng, Ngữ văn là một môn

học trang bị cho học sinh những tri thức để đánh giá đúng các vấn đề văn học (baogồm: tác phẩm, tác giả, các quá trình văn học,…) có nghĩa là góp phần tạo cho họcsinh khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học trong việc tiếp nhận cũng nhưkhả năng biết đánh giá đúng đắn, khoa học các hiện tượng

Song song với nhiệm vụ trên là quá trình giúp học sinh hình thành và phát triểnkhả năng tạo lập văn bản mới ( nói và viết )

Tập làm văn là phân môn hướng tới nhiệm vụ thứ hai này Nó giúp học sinh hìnhthành những kĩ năng cần thiết để làm được bài văn Người học sinh từ tiểu học đếntrung học ( kể cả vào đại học ) đã và sẽ được làm văn theo ba dạng sau đây :

Dạng sáng tác văn học như : miêu tả, tường thuật, kể chuyện ( tự sự ) và một sốthể thơ quen thuộc như : thơ bốn chữ, thơ năm chữ, thơ tứ tuyệt, thơ lục bát,…

Dạng bài nghị luận với hai nội dung chủ yếu là nghị luận xã hội và nghị luận vănhọc ( trong chương trình THCS ở lớp 7, 8, 9)

Dạng văn hành chính công vụ như đơn từ, biên bản, thông báo, báo cáo, hợp

Trang 4

Đặc trưng cơ bản của nhóm thứ nhất là kích thích trí tưởng tượng phong phú, xâydựng óc quan sát tinh tế cho học sinh Đặc trưng của nhóm thứ hai là nhằm hình thành

và phát triển tư duy lí luận với khả năng lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục Loạivăn hành chính công vụ thì có đặc trưng là khuôn mẫu, công thức

Trong chương trình Ngữ văn THCS ở lớp 6 học sinh được học văn tự sự trongsuốt cả Học kì I Tuy học sinh đã học văn tự sự ở lớp 4 bậc Tiểu học gần như hết mộthọc kì nhưng nhiều lí do các em làm kiểu văn này chưa tốt nhất là phần Thân bài,thường các em chỉ viết có một đoạn văn Không chỉ ở học sinh lớp 6 mà ngay cả họcsinh lớp 7, 8, 9 khi làm một bài Tập làm văn khi viết phần Thân bài các em thường chỉviết có một đoạn văn hoặc tách đoạn không chính xác Đó là điều mà tôi luôn trăn trởtrong quá trình dạy học nhất là dạy học sinh làm một bài Tập làm văn

Người giáo viên bao giờ cũng muốn học trò của mình làm được những bài văn haynhưng đó không phải là việc dễ Bài văn hay trước hết phải là viết đúng (đúng theonghĩa tương đối, nghĩa là trong khuôn khổ nhà trường) Hay và đúng có quan hệ mậtthiết với nhau Bài văn hay trước hết phải viết đúng theo yêu cầu của đề bài, đúngnhững kiến thức nội dung cơ bản, hình thức trình bày…

Hình thức trình bày là sự thể hiện hình thức bố cục của bài văn trên trang giấy.Một bài văn đúng quy cách là bài văn mà khi nhìn vào bài làm, chưa cần đọc đã thấy

rõ ba phần : Mở bài, Thân bài và Kết bài Muốn thế người viết không phải chỉ chú ýđến nội dung mà cả hình thức cũng phải rõ ràng

Yêu cầu là vậy nhưng trong thực tế dạy - học tôi thấy bài văn của học sinh chưađáp ứng được yêu cầu đó Học sinh chưa nắm vững kĩ năng làm bài; đặc biệt chưa biếtđược yêu cầu của phần thân bài có thể nhiều đoạn Nhiều lúc các em phân đoạn tùytiện hoặc chưa nắm được tầm quan trọng của việc tách đoạn nên chưa có ý thức phânđoạn Những học sinh lớp 6 mới rời ghế tiểu học, giáo viên tiểu học thường chỉ hướngcho các em viết mở bài, thân bài, kết bài Mỗi phần ấy viết thành một đoạn văn Vìthói quen đó nên các em cũng chỉ hiểu và làm như vậy thành lối mòn Ở các tiết trảbài, các em chỉ chăm bẫm vào điểm số chưa quan tâm đến những lời phê của GV đểrút kinh nghiệm và xem nhẹ lỗi phân đoạn không chính xác

Về phía giáo viên, trước đây khi dạy văn tự sự cho các em, tôi mới chỉ giúp các

em nắm bắt những nội dung cơ bản trong sách giáo khoa Trong quá trình dạy chỉ dạyvăn tự sự ở những tiết học Tập làm văn, chưa tận dụng được thời gian ở phân mônVăn học, Tiếng Việt để tích hợp với phần Tập làm văn Đặc biệt chưa chú trọng luyệntập và ra bài tập về nhà cho các em để từ đó hình thành kĩ năng làm bài

Do đó, tôi thấy cần phải tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra giải pháp tốt nhất giúp họcsinh làm tốt bài văn tự sự ngay từ những ngày đầu tiếp cận với chương trình Ngữ văncấp THCS, nhất là biết cách phân đoạn phần Thân bài Qua thời gian tìm tòi và vậndụng, cho đến nay tôi đã tìm cho mình một số cách làm mang lại hiệu quả khả quan.Trong cách làm đó vấn đề tích hợp có vai trò rất quan trọng Đó cũng là yêu cầu củadạy học Ngữ văn hiện nay

Vì thế, theo tôi việc vận dụng kinh nghiệm hướng dẫn học sinh cách phân đoạnphần Thân bài khi làm bài Văn tự sự trong phân môn Tập làm văn lớp 6 là một yêucầu thiết yếu Nhưng làm như thế nào và bằng cách nào để yêu cầu đạt hiệu quả ?Đây là vấn đề tôi muốn đề cập trong giải pháp nhỏ này

Trang 5

2.2 Nội dung nghiên cứu:

- Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập : Phải chú ý hệ thống câu hỏi - bài tập nhằmtạo điều kiện tốt nhất để học sinh không chỉ trả lời, thảo luận với giáo viên mà cònđược trao đổi, thảo luận với bạn học để tìm ra chân lí ( không gò ép, miễn cưỡng).Điều quan trọng là xây dựng kế hoạch hoạt động của giờ học, hệ thống câu hỏi – bàitập và lựa chọn cách kiểm tra, đánh giá kết quả học sinh nhằm kích thích tính chủđộng, sáng tạo của học sinh trong giờ học

- Chuẩn bị tốt phương tiện dạy học (có thể là bảng phụ, tranh ảnh minh họa các sựviệc chính): Chú ý lựa chọn những phương tiện dạy học cần thiết phù hợp với từngtiết dạy Việc sử dụng thích những phương tiện dạy học sẽ làm cho giờ học thêm phầnsinh động, học sinh hứng thú hơn khi tiếp xúc với những kiến thức bổ trợ trực quan,tích cực khai thác nội dung học tập, làm cho tiết học nhẹ nhàng hơn, tập trung hơn vàhiệu quả hơn

2.2.2 Phương pháp giảng dạy :

Thông qua môn Tập làm văn, qua bài làm văn của mình, các em bộc lộ những tri thức,vốn sống tư tưởng, tình cảm của cá nhân Vì thế người giáo viên phải biết nắm lấy ưuthế này để phát huy những khả năng của các em, đồng thời thông qua các bài tập đểrèn cho học sinh kĩ năng viết bài văn tự sự được tốt hơn Để đạt được hiệu quả mongmuốn người giáo viên không chỉ truyền thụ kiến thức có sẵn trong giáo án mà cònphải có sự sáng tạo khi lên lớp

Trong phân môn Tập làm văn lớp 6 ở Học kì I tập trung vào các kiến thức văn bản tự

sự :

1 Giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt

2 Tìm hiểu chung về văn tự sự

3 Sự việc và nhân vật trong văn tự sự

4 Chủ đề và dàn bài văn tự sự

5 Tìm hiểu đề và cách làm bài văn tự sự

6 Lời văn, đoạn văn tự sự

7 Thứ tự kể trong văn tự sự

8 Ngôi kể trong văn tự sự

9 Luyện tập xây dựng bài tự sự - Kể chuyện đời thường

10 Kể chuyện tưởng tượng

Để giúp học sinh biết phân đoạn phần Thân bài khi làm bài Văn tự sự, tôi hướng dẫnhọc sinh các thao tác, những cách thức, những bước đi trong quá trình tạo lập một vănbản tự sự chủ yếu phần Thân bài như : kể chuyện dân gian, kể chuyện đời thường, kểchuyện tưởng tượng Cụ thể là đi sâu các kiến thức văn bản tự sự ở Học kì I

Trang 6

Bên cạnh đó phải tích hợp các kiến thức được học về truyện kể dân gian, truyệntrung đại phần Văn học và biết lựa chọn từ ngữ, sử dụng từ có chọn lọc phần TiếngViệt.

Tất nhiên các kiến thức thuộc văn bản tự sự được học trong Học kì I học sinh cũngphải nắm được mới làm tốt một bài văn tự sự và sẽ được kiểm chứng qua tiết luyệnnói, tiết làm bài viết

Để hoàn thành những định hướng đã đặt ra, dựa trên thực tế đã làm, tôi xin trình bàynhững biện pháp chính đã áp dụng như sau :

a/ Hình thành những kiến thức cần phải có khi viết một đoạn văn tự sự:

Khi viết bài Tập làm văn học sinh phải biết lập dàn ý, mỗi ý lớn trong dàn ý sẽ viết ít

-Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ ngữ chủ đề là các từ ngữđược lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa ) nhằm duy trì đốitượng được biểu đạt Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủhai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn

-Các câu còn lại trong đoạn văn ( không phải là câu chủ đề ) là câu triển khai cónhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ câu chủ đề của đoạn văn bằng các cách diễn đạt :diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích, tổng-phân-hợp

-Khi viết đoạn văn phải chú ý đến câu chủ đề Mỗi ý trong bố cục lớn sẽ được triểnkhai thành một đoạn theo nhiều cách (diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích, tổng-phân-hợp ) Sử dụng từ ngữ gợi tả, biện pháp tu từ hợp lí, câu đủ chủ-vị, các câu liênkết chặt chẽ với nhau Đoạn văn trình bày đúng quy cách

Nội dung của các đoạn phần Thân bài đều phải hướng vào một mục đích cần làm sáng

rõ được nêu ra ở Mở bài, phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau qua các từ ngữ, câu liênkết

*Những căn cứ để phân đoạn :

Có hai căn cứ để tách đoạn văn :

- Bố cục của văn bản : Thường chia làm ba đoạn :

+ Đoạn văn làm phần Mở bài : Nêu đối tượng được nói đến, nhiệm vụ của đề tài Đócũng chính là cơ sở và phương hướng để triển khai đề tài và qua đó mà xác lập mụctiêu cần đạt được đến của văn bản

+ Đoạn văn ( hay nhiều đoạn văn ) làm phần Thân bài : Trình bày, giải thích, … nộidung của đề tài, theo hướng nhiệm vụ đã đề ra Thân bài phải thực hiện vừa đủ

( không thiếu, không thừa ) những nhiệm vụ đề ra ở phần Mở bài, hướng vào mụcđích cần đạt đến của văn bản

+ Đoạn văn làm phần Kết bài : Nhận xét chung về đề tài hoặc nhiệm vụ của đề tài ( như giá trị, công dụng, ảnh hưởng, tầm quan trọng,…), đánh giá kết quả đạt được,gợi mở những hướng xem xét khác, …

- Những biến đổi trong quan hệ nội dung giữa các đoạn văn :

Sau đây là bốn nội dung quan hệ thường gặp :

Trang 7

+ Đề tài : Quan hệ giữa các vật, việc, hiện tượng khác nhau : mỗi vật, việc, hiệntượng đó được tách thành một đoạn văn.

+ Không gian : Quan hệ giữa các điểm, hướng không gian của một vật, việc, hiệntượng Mỗi điểm, hướng không gian của nó được tách thành một đoạn văn

+ Thời gian : Quan hệ giữa các thời điểm, thời hạn của một vật, việc, hiện tượng Mỗithời điểm, thời hạn của nó được tách thành một đoạn văn

+ Phương diện của đề tài : Quan hệ giữa các mặt, các đặc điểm, các tác dụng khácnhau của một vật, việc, hiện tượng Mỗi mặt, mỗi đặc điểm, mỗi tác dụng của một đềtài được tách thành một đoạn văn

Ở bài văn tự sự phần Thân bài ít nhất từ hai đến ba đoạn

Văn tự sự ở lớp 6, học sinh chỉ được học một tiết về đoạn văn : Tiết 20- Lời văn, đoạn

- Biết viết đoạn văn, bài văn tự sự

Tôi đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu về đoạn văn bằng Hoạt động 3 khi dạy trên lớp vàchú ý phần Luyện tập ở bài tập 1

Minh họa : *Tiết 20 – Lời văn, đoạn văn tự sự

*Hoạt động 2: Tìm hiểu đoạn văn tự sự:

-H đọc lại các đoạn văn (1), (2), (3) sgk/59

-Đoạn văn (1) nói lên ý chính nào?

-Đoạn (1):biểu đạt ý: Vua Hùng kén rể.43434

-Câu văn nào nói lên ý chính ấy?

-Nhắc lại chủ đề của đoạn văn là gì?

-Nếu chủ đề của bài văn tự sự là vấn đề chủ yếu của bài văn

thì câu thể hiện ý chính của đoạn văn được gọi là gì?

-Câu chủ đề.

-Vậy câu chủ đề của đoạn văn là gì?

-Các câu trong đoạn (1) có quan hệ gì với ý chính của đoạn

văn?

-Các câu trong đoạn văn nói lên nguyên nhân vì sao Vua Hùng

phải kén rể: vua có con gái đẹp, có lòng yêu thương nên muốn

kén rể tài giỏi các câu thể hiện ý phụ để dẫn đến ý chính

-Nếu đảo lại nói “Vua Hùng muốn kén một người rể thật

xứng đáng bởi vì ông có một người con gái người đẹp như

hoa, tính tình hiền dịu” được không? Vì sao?

Không vì tự sự là kể lại một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn

đến sự việc kia nên phải kể sự việc theo thứ tự trước sau, có

dẫn dắt thì người đọc mới theo dõi và cảm nhận được

-Tương tự hướng dẫn H phân tích đoạn (2) và đoạn (3)

-Vậy câu chủ đề của đoạn văn là gì? Câu chủ đề có hình

thức ra sao? Các câu khác trong đoạn văn phải được trình

bày như thế nào?

2.Đoạn văn tự sự:

- Câu thể hiện ý chính gọi là câu chủ đề.

- Các câu còn lại: làm rõ cho câu chủ đề.

Trang 8

G nhận xét và nhấn mạnh: Mỗi đoạn văn có thể có từ 2 câu trở

lên nhưng chỉ diễn đạt một ý chính, các câu trong đoạn văn

phải kết hợp chặt chẽ với nhau để làm ý chính đó

G chốt ý 2, ghi nhớ sgk/59H đọc ghi nhớ

GV chốt thêm : Đoạn văn được đánh dấu bằng chữ cái mở đầu

viết hoa lùi đầu dòng và hết đoạn có dấu chấm xuống dòng

*Hoạt động 3: Luyện tập và thực hành

Bài tập 1/60:

Đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi:

a)Ý của đoạn thể hiện ở câu “cậu chăn bò rất giỏi”, cái ý giỏi

được thể hiện qua nhiều ý phụ cụ thể như:

+Chăn suốt ngày từ sáng tới tối

+Dù nắng, mưa như thế nào,bò đều được ăn no căng bụng

b)Ý chính: nói hai cô chị ác, hay hắt hủi Sọ Dừa, cô út hiền

làm, đối xử với Sọ Dừa tử tế Muốn nói được ý này thì phải dẫn

dắt từ chỗ: “Ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm cả”, nghĩa là do thiếu

người, con gái phú ông cũng phải làm việc đưa cơm cho Sọ

Dừa Nếu không người ta sẽ thắc mắc, phú ông nhà giàu thế, tôi

tớ đâu mà còn bắt ba cô con gái đưa cơm cho đứa chăn bò?

Câu một đóng vai trò dẫn dắt, giải thích

c)Ý chính đoạn này là nói “ tính cô còn trẻ con lắm” Các câu

sau nói rõ cái tính còn trẻ con ấy biểu hiện như thế nào

*Học ý 2, ghi nhớsgk/59

III Luyện tập:

*) BT 1:

- Đoạn 1: Sự việc Sọ Dừa đi ở chăn bò cho phú ông.

+ Câu chủ

đề: Cậu chăn bò rất

giỏi.

- Đoạn 2: SV thái độ của con gái phú ông đối với Sọ Dừa + Câu chủ đề: Câu 2

- Đoạn 3: Tính nết

cô Dần.

+ Câu chủ đề: Câu 2

Qua tiết học, học sinh đã hiểu đoạn văn tự sự : gồm một số câu, được xác

định giữa hai dấu chấm xuống dòng; biết tìm ý chính của mỗi đoạn trong mộtvăn bản tự sự đã học, tìm đúng câu chủ đề và thứ tự triển khai các câu chủ đềtrong một đoạn văn

b/ Chú trọng việc luyện viết đoạn văn phần Thân bài của học sinh ngay từ đầu năm học trong tất cả các giờ dạy phân môn Tập làm văn.

Để giúp học sinh biết phân đoạn phần Thân bài khi làm bài văn tự sự, tôi đã hướng

dẫn cho các em trong một số tiết dạy Tập làm văn sau :

* Tiết 12: Sự việc và nhân vật trong văn tự sự.

Khi dạy tiết này, ở Hoạt động 1: Tìm hiểu đặc điểm của sự việc trong văn tự sự, saukhi học sinh từ văn bản mẫu “Sơn Tinh, Thủy Tinh” đã hiểu được vai trò của sự việc

trong văn tự sự, tôi đặt câu hỏi phát vấn học sinh: “Ở từng sự việc khi kể lại em sẽ viết

thành một đoạn văn như thế nào?”

HS: có thể dựa vào văn bản “Sơn Tinh, Thủy Tinh” trình bày một vài đoạn văn thích

hợp với các sự việc được nêu

Sau đó, tôi cho học sinh quan sát ví dụ minh họa ở bảng phụ (một vài sự việc cho học sinh bước đầu hiểu được một sự việc có thể viết thành một đoạn văn)

(1) Vua Hùng kén rể Hùng Vương thứ mười tám có một người

con gái tên là Mị Nương, người đẹp nhưhoa, tính nết hiền dịu Vua cha yêu thương

Trang 9

nàng hết mực, muốn kén cho con một ngườichồng thật xứng đáng.

(2)Sơn Tinh, Thủy Tinh đến cầu hôn Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn

Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ[…] Người ta gọi chàng là Sơn Tinh Mộtngười ở miền biển, tài năng cũng khôngkém […] Người ta gọi chàng là Thủy Tinh.[…], cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng.(3)Vua Hùng ra điều kiện chọn rể Vua Hùng băn khoăn […].Vua phán :

“Hai chàng đều vừa ý ta […] Hai chàng tâuhỏi đồ sính lễ cần sắm những gì, vua bảo :

“Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánhchưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựachín hồng mao, mỗi thứ một đôi.”

* Tiết 14: Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự.

Dạy bài này, tôi gợi ý cách phân đoạn phần Thân bài khi chốt ý ở Bài tập 1 câu c

Minh họa ( giáo án tiết 14 )

*Hoạt động 3:Luyện tập và thực hành

- HS đọc và xác định yêu cầu bài tập 1

-Lần lượt gọi HS trả lời câu a, b nhận xét,

sửa chữa

- Câu c :

+Thảo luận theo nhóm cùng bàn (3 phút) và

cử đại diện trình bày  nhóm khác nhận xét,

bổ sung  Gv chốt ý bằng bảng phụ

+Giảng giải thêm cho HS :

- Chủ đề của bài văn tự sự : có khi được

nói ra(Tuệ Tĩnh ), có khi không trực tiếp nói ra

( Phần thưởng ).

- Các sự việc phải thích hợp với chủ đề.

- Bố cục thường có ba phần : Có nhiều

cách Mở bài ( Đọc thêm : SGK/47) và Kết bài :

Sự việc kết thúc ( Phần thưởng ), sự việc tiếp

- Quan đòi chia phần

- Tuệ Tĩnh từ chối chữa bệnhcho người nhà giàu đến trước

Trang 10

- Viên quan bị đuổi ra.

- Người nông dân đượcthưởng

Tuệ Tĩnh lại bắt đầu một cuộc

chữa bệnh mới

- Về chủ đề Tố cáo tên cận thần tham

lam bằng cách chơi khăm một vố

Hết lòng thương yêu cứu giúp người bệnh

Sau khi cho học sinh quan sát phần chốt ý ở bảng phụ, tôi cũng phát vấn học sinh :

? Phần Thân bài của truyện Phần thưởng có mấy sự việc và được trình bày bằng mấy

* Tiết 48- Luyện tập xây dựng bài tự sự - Kể chuyện đời thường.

Trong tiết này, tôi gợi ý cách phân đoạn phần Thân bài ở Hoạt động 2: Hướng dẫn họcsinh theo dõi cách làm một đề Tập làm văn kể chuyện đời thường

Minh họa ( giáo án tiết 48 )

Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy và học Ghi bảng

*Hoạt động 2:Cách làm một đề tập làm văn kể chuyện đời

thường.

-H đọc đề bài : kể chuyện về ông (bà) của em

-Đề yêu cầu ta làm việc gì ?

-Kể chuyện đời thường : người thật, việc thật

-Kể chuyện về ông(bà) của em, kể về tính tình, phẩm

chất, biểu lộ tình cảm yêu mến, kính trọng của em

đối với ông (bà)

-H đọc dàn bài SGK /120

-Trong phần thân bài theo em có mấy ý lớn? Đủ chưa?

-Hai ý :Ý thích của ông em và ông yêu các cháu

-Em có ý kiến bổ sung nào khác.

-Có thể nêu hình dáng của ông nhưng chỉ là giới thiệu để

phân biệt với người khác chứ không đi vào miêu tả cụ thể

( Liên hệ văn miêu tả )

- Nhắc đến một người thân mà nhắc đến ý thích của

người khác có thích hợp không ?

-Bài làm nêu ý thích của ông em là rất phù hợp Vì ý thích

của mỗi người giúp ta phân biệt được người đó với người

2.Cách làm bài văn

kể chuyện đời thường

Đề: Kể chuyện về

ông hay bà của em

(Xem dàn ý SGKtrang 120)

Ngày đăng: 01/08/2022, 20:01

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w