Sự gia tăng lượng CO2 trong khí quyển đã làm cho bức xạ nhiệt đến hành tinh không thoát ra được vào vũ trụ, nhiệt độ trên bề mặt Trái Đất tăng lên tương tự như tăng nhiệt độ trong nhà kí
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP
Nhóm th ực hiện :
Nguy ễn Thị Ngọc _ 20174994 Dương Thị Ngân_ 20174981 Nguy ễn Thị Na_20174958
Tr ần Xuân Nam_20174964 Nguy ễn Phương Mai_20174923
Trang 2M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 3
NỘI DUNG 3
Ph ần 1: TỔNG QUAN 4
1 Tổng quan về chu trình cacbon trong tự nhiên 4
1.1 Sơ đồ chu trình tuần hoàn cacbon 4
1.2 Các quá trình trong chu trình tuần hoàn cacbon 4
1.3 Các dạng tồn tại của cacbon 6
1.4 Một hoạt động của con người làm tăng lượng CO2 7
2 Chu trình cacbon trong đô thị 7
PH ẦN 2 GIẢI PHÁP 10
1 Các yếu tố ảnh hưởng tới chu trình cacbon ở các đô thị 10
1.1 Hoạt động giao thông vận tải 10
1.2 Hoạt động sản xuất công nghiệp 10
1.3 Hoạt động sinh hoạt của người dân 11
2 Định lượng dòng thải Cacbon tại 1 đô thị (Thành phố Quảng Nguyên-Trung Quốc) 11
2.1 Tính toán lượng Cacbon lưu trữ trong đô thị 11
2.2 Thông lượng cacbon đầu vào của đô thị 13
2.3 Thông lượng cacbon đầu ra của đô thị 15
3 Các biện pháp giảm thiểu dòng thải Cacbon tại đô thị 20
3.1 Biện pháp kĩ thuật 20
3.2 Biện pháp quản lý, quy hoạch 21
3.3 Biện pháp truyền thông, giáo dục 22
K ẾT LUẬN 23
Tài li ệu tham khảo 24
Trang 3M Ở ĐẦU
Chu trình carbon là một chu trình sinh địa hóa học, trong đó carbon được trao đổi giữa sinh quyển, thổ nhưỡng quyển, địa quyển và khí quyển của Trái Đất Nó là một trong các chu trình quan trọng nhất của Trái Đất và cho phép carbon được tái chế và tái sử dụng trong khắp sinh quyển và bởi tất cả các sinh vật của nó
Trong khí quyển, hàm lượng CO2 đã khá ổn định trong hàng trăm triệu năm Song sau hơn 200 năm gần đây, do đốt quá nhiều nhiên liệu hóa thạch và thu hẹp diện tích rừng, con người đã làm hàm lượng CO2 tăng lên từ 295 ppm (1 phần triệu) lên 345 ppm Sự gia tăng lượng CO2 trong khí quyển đã làm cho bức xạ nhiệt đến hành tinh không thoát ra được vào vũ trụ, nhiệt
độ trên bề mặt Trái Đất tăng lên tương tự như tăng nhiệt độ trong nhà kính trồng rau, do đó,
mực nước đại dương dâng cao, nhiều vùng đất thấp và các thành phố ven biển có nguy cơ ngập chìm trong nước biển Đó là hiểm họa không mong muốn của nhân loại
Một phần không nhỏ khí CO2 được sản sinh ra từ các vùng đô thị, đó là nguyên nhân khiến cho nhiều thành phố lớn đang bị ô nhiễm không khí nặng nề Vậy trong đề tài tiểu luận này nhóm xin được tìm hiểu về chu trình cacbon trong đô thị để đưa ra giải pháp cho các vấn đề ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn nói chung và sự gia tăng CO2 trong không khí nói riêng
Trang 4N ỘI DUNG
Ph ần 1: TỔNG QUAN
1 Tổng quan về chu trình cacbon trong tự nhiên
1.1 Sơ đồ chu trình tuần hoàn cacbon
Cacbon là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn kí hiệu là C Đây là nguyên tố phi kim, hóa trị IV phổ biến.Có 3 dạng thù hình: cacbon vô định hình, graphit và kim cương
Chu trình Cacbon được Joseph Priestley và Antoine Lavoisier phát hiện ra và được Humphry Davy phổ biến Đây là một quá trình sinh địa hóa học, trong đó cacbon được trao đổi giữa sinh quyển, thổ nhưỡng quyển, địa quyển và khí quyển
Chu trình Cacbon bao gồm các nguồn chứa Cacbon và sự trao đổi Cacbon giữa các nguồn chứa tạo thành vòng tuần hoàn Cacbon:
Hình 1: Mô ph ỏng chu trình Cacbon 1.2 Các quá trình trong chu trình tuần hoàn cacbon
Hình 2:Mô tả quá trình trao đổi cacbon
Trang 5• Quá trình hô hấp ở sinh vật giải phóng CO2 từ sinh quyển vào khí quyển
thực vật thuỷ sinh đến động vật thuỷ sinh cở nhỏ (giáp xác) rồi đến động vật thuỷ sinh
cở lớn (cá, tôm, cua ) Nhờ hoạt động nghề cá, một lượng lớn C sẽ được trả lại cho khí quyển, bên cạnh đó trong chuỗi thức ăn tự nhiên, các loài chim (ăn cá, tôm ) cũng phần nào đóng góp vào việc giải phóng C vào khí quyển Trong chu trình C ở môi trường nước, C bị lắng đọng do xác động vật thuỷ sinh có Ca chết tạo nên CaCO3 (đá vôi) làm chu trình bị gián đoạn Các trầm tích này khi được con người khai thác thì C trở về chu trình
• Quá trình quang hợp ở thực vật chuyển Cacbon (CO2) từ khí quyển trở lại sinh quyển, thông qua chuỗi thức ăn Cacbon được luân chuyển trong sinh quyển
CO2 +H2O → (CHO)n + O2
Thực vật hấp thụ CO2 trong quá trình quang hợp và chuyển hoá thành những chất hữu
cơ (đường, lipit, protein ) trong sinh vật sản xuất (thực vật), các hợp chất này là thức
ăn cho sinh vật tiêu thụ các cấp (C1, C2, C3, ), cuối cùng xác thực vât, sản phẩm bài tiết của sinh vật tiêu thụ và xác của chúng được sinh vật phân huỷ (nấm, vi khuẩn) qua quá trình phân huỷ và khoáng hoá, tạo thành các dạng C bán phân giải, các hợp chất trung gian và C trong chất hữu cơ không đạm và cuối cùng thành CO2 (và H2O), CO2
lại đi vào khí quyển rồi lại được thực vật sử dụng Qua đây, chúng ta nhận thấy rằng ở trong môi trường, C là chất vô cơ nhưng khi được quần xã sinh vật sử dụng thì đã được biến đổi thành C hữu cơ (tham gia cấu tạo nên các chất hữu cơ khác nhau của cơ thể sinh vật) Trong quá trình vận động, cacbon ở nhóm sinh vật sản xuất, các chất hữu cơ
tổng hợp được, chỉ một phần được sử dụng làm thức ăn cho sinh vật tiêu thụ còn phần lớn tích tụ ở dạng sinh khối thực vật (như rừng, thảm mục rừng )
• Quá trình phun trào núi lửa đưa Cacbon từ trong lòng trái đất lên bề mặt vào khí quyển hoặc thủy quyển
• Ngoài ra còn có các quá trình:
✓ Vi sinh vật phân hủy hữu cơ trong đất giải phóng Cacbon (CO2) vào không khí
✓ Quá trình rửa trôi hợp chất vô cơ của Cacbon (như CaCO3) vào nước
✓ Quá trình khuếch tán CO2 từ không khí vào nước
Trong khí quyển, cacbon luân chuyển nhanh hơn, khoảng 0,1 năm đối với Cacbon oxyt (CO), 3,6 năm đối với Metan (CH4) và 4 năm đối với Cacbon dioxyt (CO2) Tuy vậy trong chu trình
C, vẫn có những giai đoạn C bị giữ lại một thời gian rất dài (người ta gọi đó là các chu trình phụ không kín) Ví dụ: Động thực vật khi chết đi (chủ yếu là thực vât) trong điều kiện yếm khí,
độ ẩm môi trường đất cao (hoặc ngập nước) có thể không bị phân giải hoàn toàn thành CO2
và H2O, mà trở thành hữu cơ bán phân giải dạng mùn thô hoặc than bùn tạo nên đầm lầy than bùn Than đá được hình thành do quá trình vùi lấp của thảm thực vật rừng, do vậy mà chu trình
Trang 6C bị ngưng lại một thời gian, cho đến khi nào than đá, than bùn này bị đốt cháy hoàn toàn (do nhiều tác nhân khác nhau) C mới trở lại chu trình
1.3 Các dạng tồn tại của cacbon
• Cacbon trong khí quyển: tồn tại chủ yếu dưới dạng Dioxit Cacbon (CO2) (chiếm khoảng 0,04% theo mole tháng 4/2014) ngoài ra còn có Metan (CH4)
Hình 3 : CO2 trong tầng đối lưu năm 2009
• Trong sinh quyển: khoảng 50% trọng lượng khô của phần lớn sinh vật là Cacbon, sinh khối các sinh vật giữ khoảng 575 tỉ tấn Cacbon
• Trong vỏ trái đất: đất giữ khoảng 1500 tỉ tấn Cacbon chủ yếu dưới dạnh Cacbon hữu
cơ và khoảng 1/3 dưới dạng vô cơ như Canxi Cacbonnat (CaCO3)
• Trong thủy quyển: các đại dương chứa khoảng 36000 tỉ tấn Cacbon chủ yếu dưới dạng Bicacbonat
Hình 4: Hàm lượng Cacbon vô cơ mặt biển thập niên 1990
Trang 71.4 Một hoạt động của con người làm tăng lượng CO 2
Hình 5: Nồng độ CO2 từ năm 1958-2014 Quá trình trao đổi Cacbon (CO2) giữa các nguồn chứa là nguyên nhân chính làm tăng nồng
độ CO2 trong không khí:
• Đốt chất hữu cơ và nhiên liệu hóa thạch
• Sự suy giảm diện tích rừng làm giảm CO2 trao đổi do quang hợp
• Hiện tượng phun trào núi lửa
2 Chu trình cacbon trong đô thị
Cacbon là một chất liệu có đầy rẫy trong vũ trụ và là một chất liệu không thể thiếu được cho đời sống của mọi sinh vật trên trái đất Cacbon có trong nhiều hợp chất và ở nhiều trạng thái khác nhau, thí dụ cacbon có trong khí cacbon điôxít (carbon dioxide) và là chất rắn canxi cacbonat (calcium carbonate) trong đá vôi Hợp chất cacbon giúp điều hòa khí hậu thế giới, làm ra thực phẩm cho các động vật và là một nguồn năng lực lớn cho mọi hoạt động của chúng
ta Trong đó chu trình carbon của các khu vực đô thị đóng một vai trò quan trọng trong các phản hồi giữa phát triển đô thị và biến đổi môi trường toàn cầu
Trang 8
Hình 6 Chu trình cacbon đô thị
Hệ thống đô thị (Hình 6) bao gồm diện tích đô thị và dấu chân đô thị, hệ thống sau là diện tích cần thiết để đáp ứng nhu cầu của đô thị dân số về tiêu dùng và tích tụ chất thải và khu vực bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm đô thị và sự thay đổi của khí hậu Hầu hết cacbon và năng lượng được
sử dụng bởi một thành phố đến từ bên ngoài ranh giới thành phố hoặc từ dấu chân đô thị Con đường của cacbon qua thành phố có xu hướng tuyến tính ngược lại để tuần hoàn trong hệ sinh thái tự nhiên Các đường dẫn dòng (theo chiều dọc và ngang) của cacbon vào thành phố dài hơn các con đường chảy ra ngoài
Các dòng carbon theo chiều dọc trong các khu vực đô thị có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo Các dòng có nguồn gốc tự nhiên hoặc của thảm thực vật bao gồm quá trình quang hợp và hô
hấp của hệ sinh thái Các dòng chảy dọc có nguồn gốc nhân tạo do con người tạo ra từ quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch, phân hủy chất thải và hơi thở của con người Các dòng carbon theo phương ngang hầu hết được thúc đẩy bởi các hoạt động của con người Những dòng chảy này bao gồm chuyển thức ăn và chất xơ từ các cánh đồng nông nghiệp và rừng vào các hệ thống và dòng chảy đô thị rác từ khu vực đô thị tràn vào các bãi chôn lấp thường nằm trong khu vực đô thị
- Quá trình hấp thụ cacbon:
Ở các khu vực đô thị, cả khu vực cây xanh cũng như các tòa nhà bê tông đều có thể hấp thụ carbon Các quá trình đằng sau sự hấp thụ này hoàn toàn khác nhau Trong các khu vực màu xanh lá cây, CO2 khuếch tán vào khí khổng của lá thực vật, nơi nó phản ứng với nước và các hợp chất hóa học khác trong quá trình quang hợp tạo ra chất hữu cơ Trong các tòa nhà,
CO2 khuếch tán vào tường bê tông thông qua các lỗ rỗng của bê tông, nơi diễn ra quá trình cacbonat hóa Cacbonat hóa là một quá trình hóa học trong đó CO2trong khí quyển được cố định dưới dạng các khoáng chất cacbonat ổn định như canxit, dolomit, magnesit và siderit CO2
trong khí quyển phản ứng với CaO trong bê tông để tạo thành canxit (CaCO3) Đây là phản ứng ngược của quá trình nung được sử dụng trong sản xuất xi măng Các biện pháp kiểm soát chung đối với cả quá trình quang hợp và quá trình cacbonat hóa là nồng độ CO2 trong khí quyển , nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí Ngoài ra, ánh sáng, nguồn nước trong đất, nguồn cung cấp nitơ và nồng độ ôzôn ở tầng đối lưu kiểm soát quá trình quang hợp Nhiệt độ
Trang 9chi phối tốc độ phản ứng quang hợp Nitơ là cần thiết để tạo ra các enzym quang hợp Nước cần thiết cho quá trình trao đổi chất chung của thực vật Ở một số mức độ nhất định, ôzôn trên mặt đất có thể làm hỏng các tế bào của lá cây và làm giảm tốc độ quang hợp Các yếu tố kiểm soát bổ sung đằng sau sự hấp thụ CO2 trong bê tông là hàm lượng nước, thành phần hóa học
và độ xốp của vật liệu
- Qúa trình giải phóng Cacbon:
Trong một thành phố, carbon có thể được thải ra từ nhiều nguồn và quá trình khác nhau như
hô hấp của thực vật và đất, hô hấp của con người, phân hủy chất thải, đốt nhiên liệu hóa thạch
và mở rộng đô thị Sự giải phóng carbon là kết quả của quá trình trao đổi chất xảy ra trong cơ thể sống và sự phân hủy chất hữu cơ Hô hấp của thực vật và con người là một phần của quá trình trao đổi chất của cơ thể sống Trong đất và bãi chôn lấp, CO2 và CH4 được thải ra do kết quả của sự phân hủy chất hữu cơ và vô cơ, đó là sự phân hủy vật lý và hóa học của thực vật, động vật, con người và vi sinh vật đã chết Trong quá trình phân hủy cùng với việc giải phóng carbon vào khí quyển, nhiều nguyên tố hóa học khác được thải vào đất và nước ngầm Nhiên liệu hóa thạch là một thuật ngữ chung để chỉ các trầm tích địa chất dễ cháy bị chôn vùi của các vật liệu hữu cơ, được hình thành từ động thực vật bị phân hủy đã được chuyển thành dầu thô, than đá, khí tự nhiên hoặc dầu nặng do tiếp xúc với nhiệt và áp suất trong vỏ trái đất qua hàng trăm hàng triệu năm Đốt nhiên liệu hóa thạch giải phóng năng lượng và CO2 bị bắt giữ trong các trầm tích hữu cơ này Việc phát thải carbon từ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất diễn
ra nếu thành phố đang mở rộng sang các khu vực tự nhiên hoặc nông nghiệp, do đó lớp phủ thực vật bị mất hoặc bị chia cắt
Nhiệt độ là một biện pháp kiểm soát chung điều chỉnh tất cả các loại thải carbon khác nhau này Thực vật hấp thụ nhiều CO2hơn ở nhiệt độ cao hơn, vì các quá trình bên trong của chúng tăng cường Chất hữu cơ phân hủy nhanh hơn dưới nhiệt độ tăng do kết quả của các phản ứng hóa học nhanh hơn miễn là độ ẩm vật chất cho phép Việc đốt nhiên liệu hóa thạch gia tăng khi nhiệt độ không khí dưới 15,5°C thúc đẩy nhu cầu sưởi ấm của tòa nhà và với nhiệt độ không khí cao hơn 23°C kích thích nhu cầu làm mát các tòa nhà
- Quá trình phân hủy chất thải:
Cư dân thành thị thải ra một lượng lớn chất thải rắn và lỏng Chất thải rắn có thể được tái chế, đốt, ủ hoặc gửi vào các bãi chôn lấp Chất thải lỏng như bùn đi vào các tầng chứa nước tự nhiên hoặc các nhà máy xử lý nước thải Trong quá trình phân hủy chất thải tại bãi chôn lấp, các khí như CO2, CH4và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi được thải ra CH4chiếm 40–70% và CO2 30–60% tổng lượng phát thải từ quá trình phân hủy chất thải
- Đốt nhiên liệu hóa thạch:
Báo cáo gần đây của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) chỉ ra rằng các khu vực
đô thị tạo ra khoảng 3/4 lượng khí thải carbon toàn cầu Lượng khí thải CO2 do đốt nhiên liệu hóa thạch và sản xuất xi măng là 8,9 ± 0,4 PgC mỗi năm trong giai đoạn 2004–2013 Điều đó
có nghĩa là lượng khí thải carbon toàn cầu do đốt nhiên liệu hóa thạch có nguồn gốc đô thị lên tới ~ 6,7 ± 0,4 PgC mỗi năm trong thập kỷ qua Ở đây, ước tính này đã được thông qua như một đại diện cho sự giải phóng carbon từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch ở các khu vực đô thị trên toàn cầu
Trang 10PH ẦN 2 GIẢI PHÁP
1 Các yếu tố ảnh hưởng tới chu trình cacbon ở các đô thị
1.1 Hoạt động giao thông vận tải
Trong tổng lượng phát thải gây ô nhiễm môi trường không khí đô thị thì khí thải từ các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ chiếm vị trí hàng đầu Trong các loại phương tiện giao thông thì xe mô tô, xe gắn máy chiếm tỷ lệ lớn nhất đồng thời cũng là nguồn phát thải chất gây ô nhiễm lớn nhất
Lý giải căn nguyên của vấn đề trên, theo các chuyên gia thì các phương tiện giao thông cơ giới
sử dụng xăng và dầu diesel làm nhiên liệu, quá trình rò rỉ, bốc hơi và đốt cháy nhiên liệu còn
dẫn tới phát sinh nhiều loại khí độc như: VOC, Benzen, Toluen…
Biểu đồ 1: Tỷ lệ đóng góp các chất gây ô nhiễm không khí do các phương tiện giao thông cơ
giới đường bộ toàn quốc năm 2014 (Tính toán theo hệ số phát thải WHO, 1993)
Ngu ồn: TCMT, 2015
Sự phát thải của các phương tiện cơ giới đường bộ được chỉ ra phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng phương tiện, nhiên liệu, tốc độ, người lái, tắc nghẽn và đường xá…
Xe ô tô, xe máy ở Việt Nam bao gồm nhiều chủng loại, có nhiều xe qua nhiều năm sử dụng
và không thường xuyên bảo dưỡng, hiệu quả sử dụng nhiên liệu thấp, nồng độ chất độc hại và
bụi trong khí thải cao Xe máy hiện vẫn là nguồn đóng góp chính các loại khí ô nhiễm, đặc biệt đối với các khí thải như CO và VOC Trong khi đó, các loại xe tải và xe khách lại thải nhiều khí NO2, SO2
Quá trình cháy không hết nhiên liệu cũng thải ra bụi cacbon Nguồn bụi này thường tồn đọng trên đường, hoặc bám theo xe và thường cuốn theo lốp xe khi xe chạy cũng được xem là tác nhân từ khí thải từ hoạt động giao thông
1.2 Hoạt động sản xuất công nghiệp
Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất do con người gây ra Quá trình gây ô nhiễm là quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch như than, dầu, khí đốt tạo ra các chất khí độc hại (CO2, CO,
SO2, NOx, các chất hữu cơ chưa cháy hết: muội than, bụi) Nguồn công nghiệp có nồng độ độc
Trang 11hại cao, tập trung ở một không gian nhỏ, và tùy thuộc vào quy mô sản xuất và nhiên liệu sử dụng thì lượng chất độc hại và loại chất độc hại sẽ khác nhau
1 3 Hoạt động sinh hoạt của người dân
Chủ yếu do hoạt động đun nấu sử dụng nhiên liệu tạo ra các khí độc hại gây ô nhiễm cục bộ trong hộ gia đình và các hộ xung quanh
❖ Kết luận:
Trong 100 năm qua, hàm lượng khí CO2 tăng lên là do tăng sử dụng nhiên liệu hoá thạch, huỷ hoại rừng (làm diện tích rừng bị thu hẹp) và canh tác nông nghiệp Nồng độ CO2 khí quyển gia tăng từ 290 ppmv (0,029%) (ở thế kỷ 19) lên đến 325 ppmv (0,0325%) (ngày nay) Điều này chứng tỏ con người đã can thiệp quá mạnh vào chu trình CO2 Cũng nên biết rằng
CO2 là 1 trong 5 khí nhà kính (CO2, CFC, CH4, O3, NO2) gây nên hiệu ứng nhà kính (Greenhouse effect), làm cho trái đất nóng lên Trong hỗn hợp khí nhà kính, CO2 là thành phần chính của hỗn hợp khí này và chiếm tỷ lệ tương đối cao: 47%, CFC (19%), CH4 (15%), O3
(7%), NO2 (12%) Theo tính toán của các nhà khoa học, khi nồng độ CO2 trong khí quyển tăng
gấp đôi, thì nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên khoảng 3ᴼC Các số liệu quan trắc cho thấy, nhiệt
độ trái đất đã tăng lên 0,5ᴼC trong khoảng thời gian từ 1885 đến 1940 do thay đổi nồng độ
CO2 Dự báo, nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5- 4,5ᴼC vào năm 2050 và sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi trường trái đất, có thể nêu lên như sau:
- Nhiệt độ trái đất tăng sẽ làm tan băng ở 2 cực và dâng cao mực nước biển Như vậy nhiều vùng sản xuất lương thực trù phú, các khu đông dân cư, các đồng bằng lớn, các thành phố lớn, nhiều đảo thấp có thể bị chìm trong nước biển
- Sự nóng lên của trái đất sẽ làm thay đổi điều kiện sống bình thường của các loài sinh vật trên trái đất Một số loài thích nghi với điều kiện sống mới sẽ thuận lợi phát triển Trong khi đó nhiều loài sẽ bị thu hẹp môi trường sống hoặc bị tiêu diệt do không kịp thích nghi với các biến đổi của môi trường sống
- Khí hậu trái đất sẽ bị biến đổi sâu sắc, các đới khí hậu có xu hướng di chuyển về phía hai cực của trái đất Toàn bộ điều kiện sống của tất cả quốc gia bị xáo động Hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ hải sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng
- Nhiều loại bệnh tật mới đối với con người xuất hiện
2 Định lượng dòng thải Cacbon tại 1 đô thị (Thành phố Quảng Nguyên-Trung Quốc)
Quảng Nguyên là một thành phố nằm ở phía bắc tỉnh Tứ Xuyên, bao gồm khu rừng lớn và đất nông nghiệp Với tỷ lệ che phủ rừng là 54% và tổng thể chất lượng môi trường tốt, Quảng Nguyên được chọn là quốc gia thành phố rừng ở Trung Quốc Năm 2008, nơi đây chịu ảnh hưởng nặng nề của một trận động đất Năm 2012, dân số đạt 3,12 triệu người ở diện tích 16.314
km2trong khi GDP bình quân đầu người đạt 2386 USD Các ngành công nghiệp cấp 1, cấp 2
và cấp 3 chiếm tương ứng với 20, 47 và 33% tổng GDP Tại thành phố này, ngành công nghiệp chính bao gồm trồng ngũ cốc và chăn nuôi nông nghiệp; ngành công nghiệp thứ cấp chủ yếu bao gồm chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất máy móc và điện
tử
2.1 Tính toán lượng Cacbon lưu trữ trong đô thị
2.1.1 Lượng C trong thảm TV
Trang 12Trong đó: Cveg là lượng carbon lưu trữ trong thảm thực vật,
Areaveg-i là diện tích của thảm thực vật i
Dveg-i là mật độ carbon của thảm thực vật i
2.1.2 Lượng C trong đất
Trong đó: Csoil là lượng cacbon lưu trữ trong đất
Areasoil-i là diện tích đất i
Tsoil là độ dày của đất
Dsoil-i là khối lượng riêng của đất i
Csoil-i là hàm lượng cacbon hữu cơ trong đất i (%)
2.1.3 Lượng C trong cơ thể người và động vật
Trong đó: Chum: hàm lượng Cacbon trong cơ thể người
Pop: số lượng dân số
Wcapita: trọng lượng trung bình của cơ thể người, ước tính trung bình là 60kg
f1: tỷ lệ chất khô trong cơ thể con người được tính trung bình là 0,3,
f2 : tỷ lệ cacbon so với chất hữu cơ khô bằng 0,6
Phương pháp tính toán lượng Cacbon lưu trữ trong động vật tương tự như công thức trên Các thông số tương ứng xác định dựa trên các nghiên cứu động vật liên quan
2.1.4 Lượng C trong các công trình xây dựng, tòa nhà:
Trong đó: Cbuild: hàm lượng C trong gỗ xây dựng
Pop: lượng dân số
Areacapita: diện tích xây dựng bình quân đầu người
Woodunit area: lượng gỗ sử dụng trong 1 đơn vị xây dựng
Dwood: mật độ của các sản phẩm gỗ
Cwood: hàm lượng C của gỗ
Cdec: hàm lượng C trong gỗ được sử dụng để trang trí
(1)
(2)
(3)
(4) (5)