Thấy được tầm quan trọng của chính sách kinh tế đối với nền kinh tế của mộtquốc gia cũng như vai trò của các học thuyết kinh tế trong việc xây một chính sách tàichính, tiền tệ tính dụng
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, vai trò của cácchính sách kinh tế, mà cụ thể là chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng có ý nghĩa rất lớntrong việc đảm bảo xây dựng thành công một nền kinh tế phát triển nhanh, bền vữngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa Một chính sách kinh tế đúng đắn và phù hợp sẽ là
cơ sở vững chắc cho sự phát triển kinh tế, một chính sách kinh tế không phù hợp, chủquan duy ý chí sẽ làm cho nền kinh tế trở nên trì trệ thậm chí là phát triển thụt lùi.Xuất phát điểm quan trọng nhất, nền tảng cơ bản nhất để xây dựng một chínhsách kinh tế chính là các học thuyết kinh tế Trải qua quá trình phát triển hơn 6 thế kỉbắt đầu từ học thuyết trọng thương (thế kỉ XV), là học thuyết đầu tiên được xây dựngthành một hệ thống lí luận hoàn chỉnh đến học thuyết kinh tế hiện đại hiện nay, cáchọc thuyết kinh tế khác nhau đã được hình thành và khẳng định vị trí của mình trongmột giai đoạn nhất định Điều nổi bật của các học thuyết kinh tế này là các học thuyếtkinh tế sau có thể phủ định học thuyết kinh tế trước Tuy nhiên cũng có những họcthuyết không hoàn toàn phủ nhận học thuyết kinh tế trước mà là sự kế thừa và pháthuy cao hơn học thuyết trước đó Do vậy tất cả các học thuyết kinh tế đều có ý nghĩathực tiễn nhất định trong từng giai đoạn cũng như quá trình phát triển chung của nềnkinh tế ở mỗi quốc gia
Thấy được tầm quan trọng của chính sách kinh tế đối với nền kinh tế của mộtquốc gia cũng như vai trò của các học thuyết kinh tế trong việc xây một chính sách tàichính, tiền tệ tính dụng để tạo cơ sở cho sự phát triển nhanh, bền vững của một nềnkinh tế Đặc biệt, các quan điểm kinh tế của Marx luôn đóng vai trò là kim chỉ nangtrong xây dựng đường lối lãnh đạo của Đảng, xây dựng các chính kinh tế của Nhà
nước Việt Nam Nhóm chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “Chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng ngân hàng qua các học thuyết kinh tế và nhận thức vận dụng ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu.
Trang 22 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách tài chính, tiện tệ, tín dụng trongcác học thuyết kinh tế qua các thời kì, thực trạng vận dụng các học thuyết kinh tế đểxây dựng chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng tại Việt Nam trong thời gian qua
3 Phạm vi nghiên cứu.
Bài tiểu luận chỉ tập trung nghiên cứu những học thuyết kinh tế đã trở thành hệthống lí luận hoàn chỉnh, do đó chỉ tập trung nghiên cứu từ chủ nghĩa kinh tế trọngthương (từ thế kỉ XV) đến nay Thực trạng áp dụng tại Việt Nam từ gia đoạn trước đổimới 1986 tới nay (2013)
4 Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của tiểu luận là làm rõ việc vận dụng các học thuyết kinh tếtrong việc thực thi chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng của chính phủ Việt Nam tronggiai đoạn từ sau đổi mới tới nay Từ đó rút ra những thành tựu đạt được cũng nhưnhững hạn chế còn phải khắc phục trong thời thời gian tới
Theo đó bài tiểu luận có những mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất: Điểm lại những học thuyết kinh tế qua các thời kì khác nhau bắt đầu
từ học thuyết kinh tế của trường phái trọng thương và kết thúc ở học thuyết kinh tếcủa trường phái Chính hiện đại
Thứ hai: Phân tích những vấn đề liên quan tới chính sách tài chính, tiền tệ, tín
dụng trong học thuyết kinh tế của Marx
Thứ ba: Đánh giá thực trạng chính sách tài chính, tiền tệ tín dụng của Việt Nam
từ giai đoạn bắt đầu đổi mới cho tới hiện nay
Thứ tư: Đưa ra những thành tựu đạt được cũng những hạn chế trong việc điều
hành chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng cần được khắc phục trong thời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, thống kê số liệu, tổng hợp, phân tích,
so sánh đối chiếu kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn đồng thời có tham khảo các tài
Trang 3liệu, số liệu, một số công trình nghiên cứu của một số tác giả liên quan đến nội dung
đề tài
6 Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng và biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu về các học thuyết kinh tế.
Chương này chủ yếu trình bày về các học thuyết kinh tế trong lịch sử, những nộidung chính của từng học thuyết kinh tế, các vấn đề mà học thuyết kinh tế đã giải quyết
Chương 3: Vận dụng các học thuyết kinh tế vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Chương này chủ yếu tập trung vào bối cảnh kinh tế Việt Nam qua từng thời kỳ,từng giai đoạn nhỏ từ những năm trước đổi mới 1986 cho đến nay Phân tích để nhìnthấy mỗi thời đoạn có sự khác biệt trong điều hành chính sách tài chính, tiền tệ, tíndụng ngân hàng thông qua các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước Từ
đó phản ánh sự vận dụng của các học thuyết vào thực tiễn Việt Nam hiện nay
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
MỤC LỤC 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 8
DANH MỤC BẢNG & BIỀU ĐỒ 9
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ TRONG LỊCH SỬ 10
1 Các học thuyết kinh tế xuất hiện trước quan điểm của Marx 10
1.1 Trường phái trọng thương 10
1.1.1 Tiền trọng thương 10
1.1.2 Hậu trọng thương 11
1.2 Trường phái trọng nông 12
1.3 Các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển Anh 13
1.3.1 W.Petty 13
1.3.2 A.Smith 14
1.3.3 David Ricardo 15
1.4 Các học thuyết tiểu tư sản 15
1.4.1 Sismondo 15
1.4.2 Proudon 16
1.5 Học thuyết kinh tế Chủ nghĩa xã hội không tưởng thế kỷ XIX 17
1.5.1 Quan điểm kinh tế của Saint Simon 17
1.5.2 Quan điểm kinh tế của Charles Fourier 17
1.5.3 Quan điểm kinh tế của Robert Owen 18
2 Các học thuyết kinh tế xuất hiện sau quan điểm của Marx 18
2.1 Trường phái tân cổ điển 18
2.1.1 Lý thuyết “Giá cả và thuyết cân bằng tổng quát” của Leon Walras 19
2.1.2 Lý thuyết giá cả của Mashall 20
2.2 Trường phái keynes - Phi cổ điển 21
2.3 Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa tự do mới (Tân tự do) 24
Trang 52.3.1 Trường phái trọng tiền - Milton Friedman 25
2.3.2 Trường phái trọng cung 32
2.3.3 Trường phái thể chế mới 32
2.4 Học thuyết kinh tế của trường phái Chính hiện đại 33
2.4.1 Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp 34
2.4.2 Lý thuyết về tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán 35
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUAN ĐIỂM KINH TẾ CỦA MARX 41
1 Quan điểm của Marx về chính sách tài chính 41
1.1 Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hóa: 41
1.2 Công thức chung của tư bản 42
1.3 Mâu thuẫn trong công thức chung 42
1.4 Hàng hóa sức lao động 43
1.5 Sản xuất giá trị thặng dư 44
1.6 Bản chất của tiền công 46
2 Quan điểm của Marx về chính sách tiền tệ 46
2.1 Bản chất tiền tệ theo Marx 46
2.2 Quy luật lưu thông tiền tệ của Marx 46
2.2.1 Khái niệm lưu thông tiền tệ 46
2.2.2 Quy luật 47
2.2.3 Ý nghĩa của quy luật 48
3 Quan điểm của Marx về Tín dụng ngân hàng 48
3.1 Tư bản cho vay và lợi tức cho vay 48
3.1.1 Sự hình thành và đặc điểm của tư bản cho vay 48
3.1.2 Lợi tức và tỷ suất lợi tức 49
3.2 Quan hệ tín dụng tư bản chủ nghĩa - Ngân hàng và lợi nhuận ngân hàng 49
3.2.1 Quan hệ tín dụng tư bản chủ nghĩa 49
3.2.2 Ngân hàng và lợi nhuận ngân hàng 50
4 Lý luận giá cả 50
4.1 Nội dung 50
4.2 Đặc điểm hoạt động của lý luận giá cả 51
4.3 Vai trò của lý luận giá cả trong nền kinh tế hàng hóa 52
4.4 Lý luận giá cả trong các phạm trù kinh tế: tài chính, tín dụng, lưu thông tiền tệ 53
Trang 65 Tiếp thu và kế thừa 54
CHƯƠNG 3 NHẬN THỨC VẬN DỤNG CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ VÀO VIỆT NAM 56
1 Từ trước năm 1986 - thời kỳ trước đổi mới 56
1.1 Bối cảnh lịch sử và tình hình chung 56
1.2 Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 1975-1985 58
1.3 Chính sách tài chính – tiền tệ 59
1.4 Tín dụng ngân hàng 61
2 Từ năm 1986 đến năm 2001 – từng bước chuyển sang đổi mới kinh tế 62
2.1 Bối cảnh lịch sử và tình hình chung 62
2.2 Chính sách Tài chính 64
2.2.1 Giai đoạn 1986-1990: bội chi ngân sách cao 64
2.2.2 Giai đoạn 1991-2001: Chính sách tài khóa thận trọng 67
2.2.3 Thành tựu và hạn chế 68
2.3 Vai trò của Ngân hàng nhà nước và chính sách tiền tệ từ 1986-1995 70
2.3.1 Vai trò của Ngân hàng nhà nước và chính sách tiền tệ trong những năm đầu đổi mới (1986-1988) 70
2.3.2 Chính sách tiền tệ chặt chống lạm phát áp dụng từ năm 1989-1991 73
2.3.3 Giai đoạn 1992-1995 76
2.3.4 Giai đoạn 1996-2000 77
2.3.5 Những thành tựu đạt được của chính sách tiền tệ 79
2.4 Tín dụng ngân hàng 80
2.4.1 Chức năng của ngân hàng 80
2.4.2 Phạm vi hoạt động của ngân hàng 80
2.4.3 Hoạt động của ngân hàng thương mại thời kỳ đổi mới 82
3 Từ năm 2001 đến năm 2006 86
3.1 Phương hướng, mục tiêu và các nhiệm vụ chủ yếu phát triển kinh tế năm 2001 – 2006 86
3.2 Điều hành chính sách tài chính, tiền tệ trong giai đoạn 2001 - 2006 87
3.2.1 Chính sách tài khóa 87
3.2.2 Chính sách tiền tệ, tín dụng 91
3.3 Thành tựu và hạn chế 92
Trang 73.3.1 Thành tựu 92
3.3.2 Hạn chế 92
4 Từ năm 2007 đến nay ( từ Đại hội Đảng lần XI đến nay) 93
4.1 Phương hướng, mục tiêu và các nhiệm vụ chủ yếu phát triển kinh tế năm 2007 đến nay 93
4.1.1 Về công cụ tài chính và chính sách tài khóa 94
4.1.2 Về sử dụng công cụ tiền tệ và chính sách tiền tệ của Chính phủ 94
4.2 Điều hành chính sách tài chính, tiền tệ trong giai đoạn 2001 – 2006 95
4.2.1 Chính sách tài khóa 95
4.2.2 Chính sách tiền tệ, tín dụng 97
4.3 Thành tựu và lưu ý khi vận dụng các học thuyết kinh tế trong giai đoạn hiện nay 99
4.3.1 Thành tựu 99
4.3.2 Lưu ý khi vận dụng các học thuyết kinh tế trong giai đoạn hiện nay 100
KẾT LUẬN CHUNG 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 8NHTMQD Ngân hàng thương mại quốc doanh
Trang 9DANH MỤC BẢNG & BIỀU ĐỒ
Bảng 1: Sự mở rộng tiền gửi ngân hàng thông qua hệ thống ngân hàng 36
Bảng 2: Tỷ lệ vốn tín dụng tham gia cấu thành định mức vốn lưu động của các doanh nghiệp 79
Bảng 3 Thị phần các ngân hàng thương mại Việt Nam thập kỷ 1993-1996 82
Bảng 4: Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế 1991-1999 83
Biểu đồ 1: Nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng Việt Nam thập kỷ 90 (%) 83
Bảng 5: Thu ngân sách giai đoạn 2001 -2005 87
Bảng 6: Tổng chi ngân sách giai đoạn 2001 -2005 88
Bảng 7: So sánh tốc độ tăng chi đầu tư phát triển (ĐTPT) và chi thường xuyên giai đoạn 2001-2005 88
Bảng 8: Tổng chi ngân sách nhà nước qua các năm 94
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ TRONG LỊCH SỬ
1 Các học thuyết kinh tế xuất hiện trước quan điểm của Marx.
1.1 Trường phái trọng thương.
Trường phái trọng thương là trường phái kinh tế chính trị tư sản đầu tiên, thểhiện chính sách đặc biệt thời kỳ tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản Nhữngchính sách, cương lĩnh này đề cao vai trò của Nhà nước cầm quyền trong hoạt độngkinh tế và trực tiếp phản ánh lợi ích của giai cấp tư sản thương nghiệp trong thời kỳnày
Chủ nghĩa trọng thương được chia thành hai giai đoạn: Tiền trọng thương và hậutrọng thương
1.1.1 Tiền trọng thương.
Giai đoạn này bắt đầu từ giữa thế kỷ XV kéo dài đến giữa thế kỷ XVI với nhữngđại biểu như William Stafford (1554 – 1612), Thomas Gresham (1519 – 1679) vàGasparo Scaruffi (1519 – 1584)
Nội dung căn bản của trường phái trong thời kỳ đầu này là coi tiền tệ (vàng) lànội dung căn bản của của cải và của hoạt động kinh tế Quan điểm cương lĩnh kinh tếtrong thời kỳ này gọi là học thuyết tiền tệ với tư tưởng trung tâm là bảng cân đối tiền
tệ Theo họ, cân đối tiền tệ có nghĩa là thu phải lớn hơn chi, ngăn chặn không cho tiền
tệ ra nước ngoài, khuyến khích mang tiền từ nước ngoài về càng nhiều càng tốt, từ đómới có thể gia tăng khối lượng tiền tệ Để thực hiện nội dung của bảng “cân đối tiềntệ”, họ chủ trương thực hiện chính sách hạn chế tối đa nhập khẩu hàng hóa của nướcngoài đặc biệt là hàng hóa xa xỉ phẩm, lập hàng rào thuế quan để bảo vệ hàng hóatrong nước, giảm lợi tức cho vay để kích thích sản xuất và nhập khẩu, bắt thương nhânnước ngoài đến buôn bán phải sử dụng số tiền mà họ có mua hết hàng hóa mang vềnước họ
Trang 11Giai đoạn đầu chính là giai đoạn tích lũy tiền tệ của chủ nghĩa tư bản, với khuynhhướng chung là biện pháp hành chính, tức là có sự can thiệp của nhà nước đối với vấn
đề kinh tế
1.1.2 Hậu trọng thương.
Giai đoạn này bắt đầu từ cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, với những đạidiện tiêu biểu là Thomas Mun (1571 – 1641), Antoine de Montchrestien (1575 –1621)
Thời kỳ này chủ nghĩa trọng thương được coi là chủ nghĩa trọng thương thực thụ
Do sự phát triển của hàng hóa sản xuất trong nước và thế giới, học thuyết tiền tệ đãđược thay thế bằng học thuyết thương mại Học thuyết này bên cạnh chú trọng lưuthông tiền tệ còn chú trọng cả lưu thông hàng hóa Việc xuất khẩu hàng hóa được hỗtrợ tối đa nhưng cấm xuất khẩu công cụ và nguyên liệu Nhà nước thực hiện chínhsách bảo hộ để cản trở nhập khẩu dựa vào thuế quan để bảo vệ hàng hóa trong nước vàcác xí nghiệp công nghiệp- công trường thủ công Đối với nhập khẩu tán thành nhậpkhẩu quy mô lớn các nguyên liệu để đem nhờ sự quản lý của nhà nước và phải thamgia tích cực vào đời sống kinh tế để thu hút tiền tệ Họ chỉ chú ý đến xuất khẩu vì xuấtkhẩu là nguồn mang lại kim loại quý còn nhập khẩu thì rất hạn chế Họ bảo vệ chínhsách bảo hộ: khuyến khích xuất khẩu (thông qua trợ giá) và cản trở nhập khẩu (dựavào thuế quan)
Có thể thấy rằng, trường phái trọng thương đã có bước tiến bộ lớn trong nhữngluận điểm so với những nguyên lý trong chính sách kinh tế thời Trung cổ Ngoài ra, hệthống quan điểm này đã tạo những tiền đề để lý luận kinh tế cho kinh tế học sau nàykhi đưa quan điểm sự giàu có không chỉ là những giá trị sử dụng mà còn là giá trị, làtiền Các chính sách thuế quan bảo hộ có tác dụng rút ngắn sự quá độ từ chủ nghĩaphong kiến sang chủ nghĩa tư bản Đồng thời, tư tưởng nhà nước can thiệp vào hoạtđộng kinh tế cũng là một trong những tư tưởng tiến bộ
Mặt khác, những luận điểm của trường phái trọng thương có rất ít tính chất lýluận, nặng về nghiên cứu hiện tượng bên ngoài, không đi sâu vào nghiên cứu bản chấtbên trong của các hiện tượng kinh tế Hạn chế lớn của chủ nghĩa trọng thương đó làquá coi trọng tiền tệ, đã đứng trên lĩnh vực thô sơ của lưu thông hàng hóa để xem xét
Trang 12nền sản xuất Tư bản chủ nghĩa bên cạnh đó còn quá đề cao vai trò của nhà nước màkhông thừa nhận các quy luật kinh tế
1.2 Trường phái trọng nông.
Cũng như trường phái trọng thương, trường phái trọng nông xuất hiện trong thời
kỳ chế độ phong kiến chuyển dần sang xã hội tư bản nhưng ở một giai đoạn cao hơn,trưởng thành hơn Chủ nghĩa trọng nông Pháp ra đời năm 1756 và tồn tại đến năm
1777, đó là thời kỳ phồn thịnh của chủ nghĩa trọng nông Các tư tưởng trọng nông thực
sự là một trường phái, một chủ nghĩa có cấu trúc, có tính hệ thống Chủ nghĩa trọngnông là hệ thống quan điểm kinh tế mang tư tưởng giải phóng kinh tế nông dân khỏinhững quan hệ phong kiến Đại diện tiêu biểu của trường phái là Francois Quesnay(1694 – 1774) , Boisguillebert (1646 – 1714), Jacques Turgot ( 1727 – 1781), trong đóF.Quesnay với tác phẩm “Biểu kinh tế” (1758) đã đạt đến sự phát triển rực rỡ nhất,những quan điểm của ông thực sự đặc trưng cho trường phái trọng nông K.Marx gọiông là cha đẻ của kinh tế chính trị học
Những tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng nông phê phán chủ nghĩa trọngthương trong đó có quan niệm về đồng tiền Boisguillebert đã phê phán gay gắt tưtưởng trọng thương đã quá đề cao vai trò của đồng tiền Ông cho rằng, khối lượng tiềnnhiều hay ít không có nghĩa lý gì, chỉ cẩn có đủ tiền để giữ giá cả tương ứng với hànghóa, sản xuất thực tế mới là tất cả Chủ nghĩa trọng nông cho rằng tiền chỉ là phươngtiện lưu thông, làm môi giới giữa mua và bán Nguồn giàu có không phải là việc tíchlũy vàng như chủ nghĩa trọng thương mà chỉ cần có một nền nông nghiệp giàu có sẽdẫn tới sự giàu có cho tất cả mọi người Theo Quesney, để mở rộng sản xuất cũngkhông cần phải có tiền
Mặc dù chủ trương tự do kinh doanh, chống lại sự can thiệp thô bạo của nhànước vào nền kinh tế như trường phái trọng thương nhưng các nhà trọng nông vẫnkhẳng định vai trò của nhà nước trong việc tạo điều kiện và môi trường hỗ trợ cho sảnxuất phát triển, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Họ quan niệm, chỉ có sản xuất nôngnghiệp mới sản xuất ra của cải, hàng hóa… do đó chính phủ cần phải đầu tư tăng chiphí cho nông nghiệp Quan điểm về tài chính, đặc biệt là vấn đề thuế khóa, phân phốithu nhập nên ưu đãi cho nông nghiệp, nông dân và chủ trại Chủ nghĩa trọng nông
Trang 13chống lại tất cả những đặc quyền về thuế và đòi hỏi thứ thuế thống nhất đối với địachủ, tăng lữ, quý tộc cũng như những nhà tư sản có của Cần chống lại chính sách giá
cả nông sản thấp để tích lũy trên lưng nông dân
Trong khi chủ nghĩa trọng thương coi trọng ngoại thương, nhưng họ hạn chếnhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu, chủ trương xuất siêu để nhập vàng vào các khochứa quốc gia, do đó dẫn tới một chủ nghĩa bào hộ không hiệu quả Ngược lại, chủnghĩa trọng nông chủ trương tự do lưu thông, tự do thương mại Khuyến khích các chủtrang trại xuất khẩu nông sản đã tái chế, không nên xuất khẩu nguyên liệu thô : tiêu thụnhư thế nào phải sản xuất cái dể xuất khẩu như thế ấy
Tóm lại, chủ nghĩa trọng nông đã có tiến bộ khi đã phê phán một cách khá sâusắc và toạn diện chủ nghĩa trọng thương Các tư tưởng kinh tế của họ đã đặt cơ sở choviệc phân tích nền sản xuất tư bản chủ nghĩa về sau Họ đã nêu những vấn đề có giá trịcho đến ngày nay như: đề cao cạnh tranh tự do, chống đặc quyền, bảo vệ lợi ích củangười sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng nông vẫncòn nhiều hạn chế Quan niệm về sản xuất của họ bị bó hẹp chỉ trong lĩnh vực nôngnghiệp mà không thấy được vai trò của công nghiệp, thương mại, của kinh tế thịtrường mà có xu thế thuần nông
1.3 Các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển Anh.
Kinh tế chính trị tư sản Anh mở đầu là học thuyết của William Petty 1687), tiếp đó là Adam Smith (1723-1799), và cuối cùng là David Ricardo (1772-1823) Các học thuyết tư sản cổ điển Anh ra đời đã khắc phục những khiếm khuyết màhai học thuyết trước đó chưa giải quyết được là khái niệm giá trị, vì thế lý luận về giátrị lao động được cho là thành tựu quan trọng nhất của nhóm các học thuyết này Tuynhiên về cơ bản họ cũng đưa ra những quan điểm rõ ràng của mình về tiền tệ, chínhsách tiền tệ và chính sách tài chính của một quốc gia đối với nền kinh tế thị trường,góp phần xây dựng nền tảng cho những khái niệm hoàn chỉnh về sau
(1623-1.3.1 W.Petty.
W.Petty cho rằng vàng và bạc là hai kim loại giữ vai trò tiền tệ trong nền kinh tế,giá cả tự nhiên của tiền tệ là do giá cả của vật giữ vai trò tiền tệ qui định Ông là người
Trang 14đầu tiên nghiên cứu số lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông thông qua mối quan hệvới lưu thông hàng hóa và tốc độ luân chuyển tiền tệ Quan điểm ông đưa ra là thờigian thanh toán càng dài thì lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông càng lớn Đứng trênlập trường xem tiền tệ chỉ là cộng cụ của lưu thông hàng hóa, ông phê phán lối tích trữtiền tệ quá độ của chủ nghĩa trọng thương, và cho rằng nên duy trì mức cung tiền tệ ởmức vừa đủ.
1.3.2 A.Smith.
Là người có công ghi nhận tất cả quan điểm của các học thuyết trước về tiền tệ,A.Smith đưa ra sự phát triển hình thái của tiền tệ từ súc vật đến kim loại quý làm vậtngang giá chung, và là người đầu tiên đề xuất sử dụng tiền giấy, đồng thời ông khẳngđịnh chức năng lưu thông của tiền tệ Mặc khác, đi từ thế giới quan và phương phápluận là thế giới quan duy vật nên tư tưởng chủ đạo trong học thuyết của A.Smith là tự
do kinh tế - lý luận về “Bàn tay vô hình” Trong đó, ông cũng thể hiện rõ sự phản báccủa mình về việc quá đề cao giá trị tiền tệ của chủ nghĩa trọng thương, và khẳng định
sự phát triển kinh tế bình thường không cần đến sự can thiệp của nhà nước Điều đóđồng nghĩa với việc sự có mặt của những chính sách tiền tệ là không cần thiết, mà cơbản tiền vận hành trong lưu thông một cách tự nhiên Tuy nhiên, về chính sách tàichính, ông đặc biệt nghiên cứu về mặt thu ngân sách nhà nước thông qua công cụ thuế.Theo ông, thu nhập của Nhừ nước từ hai nguồn: một là quỹ đặc biệt của Nhà nước, hai
là từ lợi nhuận, địa tô, tiền công của các lực lượng tham gia vào nền kinh tế đem lại.Thuế được chia thành hai loại thuế: thuế trực thu và thuế gián thu Thuế trực thu
là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập: lợi nhuận, địa tô, tiền lương, tài sản thừa kế Thuếgián thu là thuế đánh vào các vật phẩm tiêu dùng thiết yếu, đặc biệt là các mặt hàng xa
xỉ để điều tiết thu nhập
Có bốn nguyên tắc thu thuế:
- Nộp thuế là nghĩa vụ của người dân đối với Nhà Nước
- Qui định chính xác về phần thuế mà mỗi đối tượng phải đóng
- Đưa ra thời gian và phương thức thu thuế hợp lý
- Chính phủ chi ít nhất vào việc thu thuế
Trang 151.3.3 David Ricardo.
Nếu như trong học thuyết kinh tế của W.Petty và A.Smith đề cập rất ít về tiền tệ,chính sách tiền tệ cũng như chính sách tài chính và hầu như không có sự xuất hiện củangân hàng, thì ở học thuyết này nội dung giữ vị trí quan trọng chính là tiền tệ và ngânhàng Theo D.Ricardo, vàng được coi là cơ sở của tiền tệ, và để thuận lợi cho việc lưuthông thì Ngân hàng nên phát hành tiền giấy được bảo đảm bằng lượng vàng tươngứng nhất định Và việc qui định số lượng vàng bao nhiêu cho mệnh giá tiền giấy doNhà nước và Ngân hàng quyết định Cở bản vẫn dựa trên hai học thuyết trước là coitrọng vai trò của lưu thông tiền tệ, nhưng ông lại cho rằng giá cả hàng hóa tăng tỷ lệvới tăng số lượng tiền, cho thấy sự tác động qua lại giữa giá cả hàng hóa và lượngcung tiền Hơn thế nữa, ông vận dụng lý luận giá trị lao động để đưa ra bản chất củatiền tệ, tiền giữ vai trò thức đo giá trị của hàng hóa Đây là cơ sở được Marx duy trì và
sử dụng làm nền tảng cho các lý luận sau này của mình Ở học thuyết này, lần đầu tiênthấy mầm mống sự can thiệp của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường Đối với thuế,quan điểm của ông nổi trội hơn A.Smith ở chổ ông đánh giá “ thuế cấu thành cái phầncủa Chính phủ trong sản phẩm xã hội” và “tất cả các thứ thuế đều lấy trong thu nhậpròng để trả” Cũng chỉ ra một sự tăng thuế sẽ làm giảm lượng tư bản tích lũy, khôngkhuyến khích sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, làm giảm tốc độ sản sinh của cải Tuynhiên, D.Ricardo cũng chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu và chưa thể đưa ra cách giảiquyết những vấn đề này
Tóm lại, ưu điểm của các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển Anh đa phần đưa rađược các hình thái tiền tệ và chức năng lưu thông của tiền tệ, cũng như khẳng định vaitrò của thuế trong chính sách tài chính của một quốc gia Bên cạnh đó còn những điểmhạn chế, như chưa đưa ra được các chức năng khác của tiền tệ, không chỉ ra được vaitrò của Nhà nước đến nền kinh tế thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ
Trang 16bấy giờ khiến ông quay sang phê phán gay gắt chủ nghĩa tư bản, và đưa ra những lýluận để bảo vệ lợi ích cho những người công nhân lao động Đối với vấn đề tiền tệ,ông cho rằng nó chỉ đóng vai trò là một thước đo giá trị và là công cụ để giúp tra đổihàng hóa được thuận lợi hơn Ông đồng nhất tư bản với tiền tệ và gắn nền kinh tế sảnxuất tư bản với thị trường tiền tệ Tuy đứng trên lập trường người lao động ông nhậnthấy được mối quan hệ cũng như mâu thuẫn xảy ra bên trong nền sản xuất tư bản,nhưng nhìn chung nội dung học thuyết của ông còn mang tính phiến diện chưa vạch rõđược bản chất của tiền tệ và qui chụp sự phát triển của chủ nghĩa tư bản là do sự sailầm từ các chính sách kinh tế xã hội (bao gồm cả chính sách tài chính và tiền tệ) đichệch ra khỏi giá trị đạo đức con người.
1.4.2 Proudon.
Mặc dù ra đời sau nhưng những quan điểm của Proudon có phần tiêu cực hơn cảSismondo về vấn đề tiền tệ Ông phủ nhận vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế và chorằng sự ra đời của nó làm rối loạn hoạt động trao đổi hàng hóa, tiền theo cách nhìnnhận của ông còn là nguộn ngành của mọi sự đau khổ, bất hành và là công cụ bóc lộtcủa những “kẻ tư bản” Chính vì lối lý luận duy tâm, siêu hình như vậy nên Proudon
đã đề xuất Chính phủ phải có hành động tiêu thủ tiền, và đưa ra ý tưởng về sự hìnhthành ngân hàng nhân dân (ngân hàng trao đổi), nơi phát hành “phiếu lao động”- phiếughi nhận sự đóng góp lao động của mỗi người vào trong một sản phẩm, và sự dụngphiếu này như một công cụ trao đổi trên nền kinh tế Ở học thuyết này ông cũng nhắcđến việc Chính phủ cấp “tín dụng cho không” đối với người nghèo, hay nói cách khác
là cho vay không lấy lãi để góp phần xóa bỏ người nghèo
Đánh giá chung, các học thuyết tiểu tư sản lần đầu tiên thể hiện sự phê phán chủnghĩa tư bản một cách toàn diện, chỉ rõ mâu thuẫn trong phương thức sản xuất này vàhậu quả xã hội mà nó gây ra Những ưu điểm được rút ra từ các nghiên cứu trên đượccác học gia về sau khai thác và phân tích hoàn chỉnh hơn về sản xuất tư bản Tuy nhiênvẫn còn nhiều những hạn chế như hiểu sai về bản chất tiền tệ và tín dụng, và mới chỉchỉ ra được mâu thuẫn mà chưa đưa ra được một cách giải quyết hợp lý
Trang 171.5 Học thuyết kinh tế Chủ nghĩa xã hội không tưởng thế kỷ XIX.
Chủ nghĩa xã hội không tưởng là học thuyết kinh tế thể hiện sự phản kháng củagiai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại chế độ tư bản và tìm đường xâydựng xã hội mới tốt đẹp hơn
Vạch rõ mâu thuẫn của CNTB, sự kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển và cầnthay thế bằng xã hội mới Tuy nhiên con đường đề xuất xây dựng xã hội mới chỉ cótính không tưởng như tuyên truyền, chờ mong vào lòng từ thiện của nhà tư bản, coi tưtưởng về CNXH là tôn giáo mới, họ chưa thấy được sứ mệnh lịch sử của giai cấp vôsản, vai trò của quần chúng nhân dân Nhìn chung các quan điểm trong học thuyết nàyđều hướng tới xã hội không còn nhà nước, các vấn đề chính sách tiền tệ cũng theo đókhông được chú trọng Cụ thể
1.5.1 Quan điểm kinh tế của Saint Simon.
Đề cao vai trò của "nhà công nghiệp" Phân chia xã hội thành ba giai cấp: nônggia, nhà công nghiệp và giai cấp không sinh lợi (quý tộc, thầy tu )
Tương lai sẽ không còn Nhà nước, chính quyền sẽ được chuyển vào tay các nhàcông nghiệp và các nhà bác học Con đường cải tạo xã hội: biện pháp tinh thần, giáodục đạo đức cho mọi người, chứ không nhằm vào việc cải tạo các cơ sở kinh tế
1.5.2 Quan điểm kinh tế của Charles Fourier.
Sự vô chính phủ trong sản xuất dẫn đến cạnh tranh tự do, là mầm mống củakhủng hoảng cũng như sự bần cùng của người lao động
Lý thuyết "lao động hấp dẫn": dưới chủ nghĩa xã hội, lao động không những làmột sự cần thiết mà còn là nhu cầu của con người Con người lao động là vì thích thú,nên cần tạo điều kiện cho họ tự do chọn lựa, di chuyển công việc Coi nông nghiệp là
cơ sở của nền sản xuất xã hội, chứ không phải là công nghiệp Nâng cao năng suất laođộng và sự hăng say lao động của con người mới trong xã hội mới, từ đó mới có khảnăng xóa bỏ nhà nước, quân đội, cảnh sát
Trang 181.5.3 Quan điểm kinh tế của Robert Owen.
Phê phán CNTB, đặc biệt trong lĩnh vực phân phối, nơi các kẻ trung gian làmtăng chi phí Ông đề cao trao đổi bằng hiện vật trực tiếp Cơ sở của chế độ sở hữa côngcộng trong xã hội tương lai là "tiền lao động" và "trao đổi công bằng", điều kiện choviệc thực hiện chế độ này là sự dồi dào về sản phẩm.Owen xây dựng các mô hình xínghiệp có tính chất XHCN, xây dựng thị trường công bằng và "tiền lao động" nhưngthất bại
2 Các học thuyết kinh tế xuất hiện sau quan điểm của Marx.
2.1 Trường phái tân cổ điển.
Trường phái tân cổ điển (cổ điển mới) là trường phái bao gồm các lý thuyết kinh
tế ủng hộ tự do kinh doanh, là sự tiếp nối tư tưởng đề cao “bàn tay vô hình” Nhữngnhà kinh tế thuộc trường phái cổ điển mới tin tưởng vào sực mạnh của nền kinh tế thịtrường và sự hoạt động của các quy luật kinh tế Theo họ, sự điều tiết của “bàn tay vôhình” sẽ đảm bảo cho quá trình tái sản xuất phát triển bình thường
Trường phái này ra đời vào cuối Thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX, Chủ nghĩa tư bản(CNTB) phát triển nhanh chóng, nhưng mâu thuẫn cũng trở nên gay gắt, dẫn đếnkhủng hoảng Bước vào giai đoạn CNTB độc quyền, xuất hiện những hiện tượng kinh
tế mới mà lý thuyết kinh tế của trường phái cổ điển không giải thích được Các lýthuyết của rất nhiều trường phái kinh tế nghiên cứu các vấn đề kinh tế thị trường rađời, trong đó Tân cổ điển giữ vai trò thống trị những năm cuối XIX - đầu XX vớinhững đặc điểm cơ bản sau:
- Đối tượng nghiên cứu là lĩnh vực trao đổi, lưu thông lợi ích, tiêu dùng
- Cho rằng cầu quyết định cung, tiêu dùng quyết định sản xuất
- Sử dụng phương pháp phân tích vi mô, kết hợp phạm trù kinh tế với phạm trùtoán học
- Ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế, chủ trương chống lại sự can thiệp của nhà nướcvào hoạt động kinh tế
- Giá trị không bắt nguồn, không phụ thuộc vào lao động mà phụ thuộc hoàn toànvào tâm lý chủ quan của con người
Trang 19- Giá trị của hàng hóa là do sự tương tác giữa tính quan trọng, cấp thiết của nhucầu và số lượng vật phẩm hiện có quyết định.
- Giá trị trao đổi được hình thành do sự đánh giá chủ quan của người mua, ngườibán về công dụng của hàng hóa
- Giải thích được tại sao vật càng khan hiếm thì giá trị trao đổi càng cao (dựa trênquy luật ích lợi biên tiệm giảm dần)
- Giá thị trường là kết quả sự va chạm giữa giá cung với giá cầu, va chạm giữacung với cầu
- Giá cả tỉ lệ thuận với khối lượng tiền đưa vào trong lưu thông
Trường phái “Tân cổ điển” phát triển ở nhiều nước, điển hình như trường pháiThành Vienna (Áo), trường phái Colombia (Mỹ), trường phái Lausanne (Thụy Sĩ),trường phái Cambridge (Anh) Trong các trường phái trên, thì hai lý thuyết : “Giá cả
và thuyết cân bằng tổng quát” của Leon Walras thuộc trường phái Lausanne và lýthuyết giá cả của Alfred Marshall thuộc trường phái Cambridge trọng tâm thiên về thịtrường và cơ chế hình thành giá cả thị trường, qua đó thấy được vai trò của chính sáchtài chính, tiền tệ ở giai đoạn này
2.1.1 Lý thuyết “Giá cả và thuyết cân bằng tổng quát” của Leon Walras.
Lý thuyết giá cả: Khi nghiên cứu trao đổi giữa hai sản phẩm: “ giá cả hay tươngquan trao đổi, ngang bằng với tương quan ngược đảo của số hàng hóa trao đổi Cả haiđều tỷ lệ nghịch.”
Ví dụ: trong trao đổi 2 hàng hóa X, Y với khối lượng hàng hóa X là Qx, khốilượng hàng hóa Y là Qy Giá cả hàng hóa X là Px, giá cả hàng hóa Y là Py
Ta có đẳng thức: Qx/Qy = Py/Px
Thuyết cân bằng tổng quát: Kế thừa tư tưởng tự do kinh tế của A.Smith, ông đưa
ra lí thuyết cân bằng tổng quát trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh Trong nềnkinh tế thị trường có ba thị trường chủ yếu: thị trường hàng hóa và dịch vụ (HH&DV),thị trường vốn thị trường lao động Ba thị trường này vốn dĩ là độc lập với nhau,nhưng lại được liên kết với nhau bởi các doanh nhân Đối với doanh nhân, chi phí sảnxuất = lãi suất + tiền lương Giả sử doanh nhân bán hàng với giá cả > chi phí sản xuất,
Trang 20thì công việc kinh doanh có lãi Tiếp tục mở rộng qui mô sản xuất, phải vay thêm tưbản, thuê thêm lao động Làm cho lãi suất và tiền lương đều tăng lên Đồng thời cung
về sản phẩm cũng tăng lên, giá cả sẽ giảm xuống Đến một lúc nào đó, giá cả = chi phísản xuất, không có lãi, ngừng sản xuất Không vay thêm tư bản, không thuê thêm côngnhân, không tăng cung về hàng hóa Do đó lãi suất ổn định, tiền lương ổn định & giá
cả ổn định Ba thị trường ở trạng thái cân bằng, nền kinh tế ở trạng thái cân bằng tổngquát Điều kiện để dẫn tới sự cân bằng tổng quát là giá cả = chi phí sản xuất TheoLeon Walras thì trong nền kinh tế thị trường, điều kiện này được hình thành một cách
tự phát do tác động của cung và cầu
2.1.2 Lý thuyết giá cả của Mashall.
Mashall đưa ra lý thuyết giá cả nhằm chứng minh cho lí thuyết bàn tay vô hìnhcủa A.Smith Theo ông, trên thị trường, giá cả được hình thành một cách tự phát do tácđộng của quan hệ cung cầu Nó được xác định ở điểm cân bằng giữa giá cung & giácầu
Cầu chính là biểu hiện của nhu cầu có khả năng thanh toán Nó được đảm bảobằng khối lượng tiền tệ & giá cả nhất định, chính vì vậy cầu bị ảnh hưởng bởi các nhân
tố sau: Nhu cầu mua sắm của dân cư Thu nhập của dân cư Giá cả của nhân tố có ảnhhưởng rất lớn đến sức cầu Ích lợi giới hạn cũng ảnh hưởng đến giá cầu Mối tươngquan giữa cầu và giá cả chính là giá cầu Để phản ánh sự thay đổi của cầu đối với giá
cả, người ta dùng khái niệm hệ số co dãn của cầu (EP)
Cung là khối lượng hàng hóa được sản xuất ra và đem bán trên thị trường với 1giá cả nhất định Chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp tới giá cung Lượng cung vậnđộng cùng chiều với giá
Tổng hợp cung cầu Giá cung là đại diện cho người bán, còn giá cầu đại diện chongười mua Theo ông, giá cả trên thị trường được hình thành theo người mua và ngườibán Người mua khi đặt giá phải căn cứ vào ích lợi giới hạn của hàng hóa Ví dụ: hànghóa khan hiếm thì ích lợi giới hạn lớn, giá cao Còn đối với người bán, khi định giá họcăn cứ vào chi phí sản xuất nên giá cả hàng hóa = chi phí sản xuất + lợi nhuận Nếuhàng hóa khan hiếm thì họ đặt giá cả cao hơn chi phí sản xuất và ngược lại Giá cả thịtrường là kết quả của sự va chạm giữa giá cả người mua và giá cả của người bán Tức
Trang 21là sự tác động giữa cung và cầu, hình thành nên giá cả cân bằng Quá trình tác độnggiữa giá cung và giá cầu đã hình thành nên giá cả cân bằng Sự tác động của cung cầu
và giá cả thị trường sẽ tự điều tiết sản xuất và tiêu dùng, tạo nên sự cân đối trên thịtrường Bởi vậy, lý thuyết giá cả của ông đã chứng minh cho lí thuyết bàn tay vô hìnhcủa A.Smith
Nhận xét chung.
Học thuyết kinh tế tân cổ điển kế thừa nền tảng tư tưởng kinh tế của trường phái
cổ điển, ủng hộ kinh tế tự do và chống lại sự can thiệp của nhà nước vào hoạt độngkinh tế, tôn trọng quan điểm khách quan Tuy nhiên cũng đã cải cách khắc phục một
số nhược điểm, một số tư tưởng của trường phái cổ điển để thích ứng với các điều kiệnmới của nền kinh tế thị trường
2.2 Trường phái keynes - Phi cổ điển
Trường phái này ra đời vào những năm 1930, khi nền kinh tế TB đang rơi vàokhủng hoảng nghiêm trọng, các lý thuyết kinh tế của trường phái cổ điển, tân cổ điểnkhông còn phù hợp Công trình này có tính chất phê phán những quan điểm kinh tếtrước đó, đặc biệt là quan điểm cho rằng "bản thân cung sẽ tạo ra cầu của chính nó."Trong tác phẩm này, Keynes đã đưa ra những nhân tố xác định mức sản lượng và việclàm trong một quốc gia Trường phái này đã góp phần cung cấp một nền tảng lý thuyếtcho các động thái mang tính chính sách của chính phủ trong việc ngăn chặn cuộc Đạisuy thoái, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các quốc gia trong những năm 30 củathế kỷ trước Nội dung của học thuyết này cũng có khá nhiều đặc điểm cần hết sức lưuý
Một là, đối lập với trường phái cổ điền, Keynes không ủng hộ quan điểm tự dokinh tế về sự cân bằng của nên kinh tế dựa trên sự tự điều tiết của thỉ thị trường màkhông có sự can thiệp của nhà nước Quan điểm của Keynes cho rằng khủng hoảngkinh tế đang diễn ra ngày càng trầm trọng không phải là hiện tượng nội sinh của chủnghĩa tư bản là do thiếu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế Theo ông, cần tậptrung vào giải quyết hai vấn đề chính là tăng trưởng và việc làm trên cơ sở điều tiếtcủa nhà nước
Trang 22Hai là, Keynes chỉ ra rằng điều kiện đảm bảo cho tái sản xuất bình thường thứcđẩy tăng trưởng kinh tế giải quyết khủng hoảng và thất nghiệp là đầu tư bằng tiết kiệm,khuyến khích đầu tư và giảm tiết kiệm.
Ba là, lý thuyết của Keynes là lý thuyết trọng cầu Ông đánh giá cao vai trò củatiêu dùng của lĩnh vực trao đổi, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu mà các nhà kinh tế họcphải giải quyết Khi việc làm tăng lên thì thu nhập tăng, từ đó kéo tiêu dùng tăng theo.Song, sự chủ quan, tính tâm lý của người tiêu dùng khiến cho mức tăng của tiêu dùngkhông cao bằng mức tăng thu nhập, làm cho cầu hiệu quả giảm xuống Và đây cũngchính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, thất nghiệp trì trệ trong nên kinh tế tư bảnchủ nghĩa, từ đó, Keynes đề xuất tăng chi tiêu, thực hiện các biện pháp kích cầu cóhiệu quả
Từ những nội dung chính nói trên, Trường phái thông qua các phương pháp phântích vĩ mô, phương pháp phân tích toán học, phương pháp phân tích tâm lý xã hội, xâydựng nên các thuyết cân bằng khiếm dụng của hai yếu tố cơ bản tổng cung và tổngcầu, thuyết tổng cầu, thuyết về số nhân đầu tư… Xét riêng trong mảng vấn đề liênquan đến chính sách tài chính tiền tệ, ngân hàng tín dụng, theo Keynes vai trò của hệthống tài chính, tiền tệ, ngân hàng, tín dụng là hết sức quan trọng Đây là những công
cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế rất có hiệu quả Theo quan điểm của Keynes, để đạtđược mục tiêu sử dụng hệ thống tài chính, tiền tệ tính dụng ngân hàng nhắm kích thíchdoanh nhân đầu tư thì phải tăng thêm tiền mặt vào lưu thông, thực hiện “lạm phát cóđiều tiết” một mặt tăng khối lượng tiền trong lưu thông để giảm lãi suất cho vaykhuyến khích doanh nghiệp đầu tư, mở rông sản xuất Mặt khác, lạm phát khi khốilượng tiền tệ trong lưu thông tăng, và có lạm phát giá cả hàng hóa sẽ tăng lên do đó,lợi nhuận của nhà tư bản sẽ tăng nếu chi phí chưa thay đổi Keynes chủ trương in thêmtiến giấy để cấp phát cho ngân sách nhà nước, đây là nguồn bổ sung ngân sách chonhững hoạt động đầu tư của nhà nước
Trong chính sách tài chính, Keynes nhấn mạnh đến thuế để điều tiết nền kinh tế.Trường phái này cho rằng, tăng thuế đối với người lao động để tăng ngân sách nhànước từ đó tăng đầu tư Còn giảm thuế đối với doanh nghiệp là đề khuyến khích đầu tư
mở rộng sản xuất
Trang 23Ngoài ra, Keynes còn nhắc đến ‘công ăn việc làm” hay thất nghiệp trong nênkinh tế Quan điểm này lập luận thất nghiệp chỉ có thể giả quyết hiệu quả bằng việcvận dung tổng cầu, người lao động sẵn sàng chấp nhận việc tăng giá gây ra từ tăngcầu, dựa vào mức lương danh nghĩa ổn định Tăng thu thuế sẽ làm giảm tiền lươngdanh nghĩa, qua đó, kích thích việc làm Keynes không xem cơ cấu kinh tế của bộphận tư nhân như một dự phòng bảo đảm an toàn chống lại nạn thất nghiệp kéo dài Sựtồn tại của tiền lương và giá cả hay đổi đi xuống sẽ không đảm bảo có đủ việc làm Vỉnhững hạn chế khác, những nhu cầu hình thức đâu cơ tiển mặt và hàm đầu tư, chínhsách tiền tệ không hữu ích theo dự án Chính phủ nên sử dụng quyền hạn để đánh thuế
và chi tiêu, để ảnh hưởng chu kỳ kinh doanh Chi tiêu chính phủ là khoản đầu tư côngcộng bơm thêm vào dòng chảy thu nhập, chi tiêu của chính phủ có thể lấy được từđánh thuế (làm giảm tiêu dùng, nhưng ít hơn số thuế đánh), bằng việc bán trái phiếuchính phủ… ành hưởng dinh ra từ việc làm và thu nhập của tất cả những biện phápthay thế này phải đánh giá và sau đó phải có hành động đạt đến sự ổn định kinh tế.Học thuyết kinh tế Keynes đã có những tác động tích cực đối với sự phát triểnkinh tế ở các nước tư bản và là cơ sở chủ đạo của các chính sách kinh tế vĩ mô ở cácnước tư bản sau chiến tranh thế giới thứ 2
- Học thuyết kinh tế của Keynes đã có tác dụng tích cực nhất định đối với sự pháttriển kinh tế trong các nước tư bản Góp phần thúc đẩy kinh tế của các nước tưbản phát triển, hạn chế được khủng hoảng và thất nghiệp, nhất là trong nhữngnăm 50 – 60 của thế kỷ XX, tốc độ phát triển kinh tế của nhiều nước rất cao(tạo nên những thần kì: Nhật, Tây Đức, Pháp, Thụy Sĩ, ) Học thuyết này giữ
vị trí thống trị trong hệ thống tư tưởng kinh tế tư sản trong một thời gian dài.Các khái niệm được sử dụng trong phân tích kinh tế vĩ mô ngày nay “Nó là liềuthuốc chữa cho chủ nghĩa tư bản Tây u khỏi ốm và nền kinh tế Mỹ lành mạnh”
- Học thuyết này là cơ sở chủ đạo của các chính sách kinh tế vĩ mô ở các nước tưbản phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Thậm chí CHLB Đức dựa vàohọc thuyết Keynes ban hành đạo luật có tên “Luật về ổn định hóa nền kinh tế”(1968) tạo khung pháp lí cho chính phủ toàn quyền điều hành nền kinh tế nhằm
Trang 24đạt 4 mục đích: tăng trưởng, thất nghiệp thấp, chống lạm phát và cân bằngthanh toán.
Tuy nhiên, học thuyết này vẫn vấp phải rất nhiều những hạn chế như sau:
- Mục đích chống khủng hoảng và thất nghiệp chưa làm được (chỉ tác dụng tạmthời), biểu hiện: Thất nghiệp vẫn duy trì ở mức cao, khủng hoảng không trầmtrọng như trước nhưng vẫn xảy ra thường xuyên, thời gian giữa các cuộc khủnghoảng kinh tế ngắn hơn
- Ý đồ dùng lãi suất để điều chỉnh chu kỳ kinh tế tư bản chủ nghĩa không có hiệuquả, biểu hiện: Chính sách lạm phát có mức độ (có kiểm soát) làm cho lạm phátcàng trầm trọng, tác hại lớn hơn cái lợi nó mang lại
- Quá coi nhẹ cơ chế thị trường (“dùng đại bác bắn vào cơ chế thị trường”)
- Phương pháp luận thiếu khoa học, đã xuất phát từ tâm lý con người để giảithích nguyên nhân kinh tế
- Chủ nghĩa tư bản va vào cuộc khủng hoàng mới với đặc trưng là lạm phát Vì
cơ bản chỉ tập trung vào các vấn đề mang tính chất ngắn hạn, ít chú trọng tớitầm quan trọng của khuyến khích đối với tăng trưởng kinh tế dài hạn
- Được xem là bài thuốc chữa ngọn, chưa chữa được tận gốc rế căn bệnh của chủnghĩa tư bản Vấn đề là giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuấtđạt đến trình độ xã hội hoá cao và quan hệ sản xuất vẫn mang tính tư nhân.Mặc dù những hạn chế nói trên, từ lịch sử cho đến nay, quan điểm của Keynesvẫn có sức ảnh hưởng nhất định
2.3 Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa tự do mới (Tân tự do)
Các học thuyết của chủ nghĩa tự đo mới xuất hiện từ giữa những năm 70 của thế
kỷ XX, hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa lại lâm vào cuộc khủng hoảng lớn do đó bộc
lộ sự bất lực của các chính sách kinh tế của Nhà nước tư sản dựa trên học thuyết củatrường phái Keynes.Xuất hiện khuynh hướng phê phán học thuyết Keynes và do đóphục hồi tư tưởng tự do kinh tế nhưng có sửa đổi để thích ứng với tình hình mới.Nguồn gốc: Tư tưởng tự do kinh tế của các nhà cổ điển (cuối thế kỷ XVIII đầuthế kỷ XIX) được phát triển ở các nhà cổ điển mới (cuối thế kỷ XIX đến thập kỉ 30 của
Trang 25thế kỷ XX) Gọi là chủ nghĩa tự do cũ Sau đó tư tưởng chủ nghĩa tư bản có điều tiết(Keynes) thống trị, đến những năm 70 của thế kỷ XX thì tư tưởng tự do kinh tế đượcphục hồi dẫn đến sự xuất hiện “chủ nghĩa tự do mới” hay “chủ nghĩa bảo thủ mới”.
Tư tưởng cơ bản của học thuyết kinh tế trường phái tự do mới là: Cơ chế thịtrường có sự điều tiết của Nhà nước ở mức độ nhất định (ủng hộ tự do kinh doanhnhưng thừa nhận sự điều tiết nhất định của Nhà nước, khẩu hiệu: “Tự do kinh doanhnhiều hơn, thị trường nhiều hơn, Nhà nước can thiệp ít hơn”)
Đề cập đến khía cạnh tài chính - tiền tệ, có một số lý thuyết tiêu biểu thuộc cáctrường phái sau:
2.3.1 Trường phái trọng tiền - Milton Friedman
Giới thiệu về học thuyết: lập trường cơ bản của phái Trọng tiền là phải thả lỏngnền kinh tế và chống lại sự can thiệp của chính phủ vào sự vận động của nền kinh tế.Những người theo phái này chủ trương vai trò của chính phủ là duy trì một tốc độ tăngtiền tệ ổn định hằng năm, và điều đó sẽ đảm bảo một sự tăng trưởng kinh tế vững chắcvới giá cả ổn định
Trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ chủ trương tự do hóa nền kinh tế, đồng thờinhấn mạnh vai trò tự điều tiết của thị trường
- Về tình trạng nền kinh tế: Cho rằng giá cả và tiền lương trong điều kiện mới làtương đối linh hoạt, mềm dẻo
- Thị trường vẫn có khả năng tự động điều tiết Trường phái này cho rằng cơ chếthị trường tự nó đã đảm bảo sự cân bằng cung cầu tổng quát ở gần sát với mứcsản lượng cân bằng
- Do thị trường có khả năng tự điều chỉnh nên nền kinh tế có khả năng phát huytiềm năng của mình GNP thực tế gần sát GNP tiềm năng Do đó đường tổngmức cung không phải là một khoảng nằm ngang mà là một đường dốc đứng gầnvới GNP (GNP: tổng thu nhập quốc dân)
- Tổng cầu: Khi đường tổng cung là một đường dốc đứng, tổng cầu thay đổi thì
nó không thay đổi hình dáng kể GNP thực tế mà chỉ làm thay đổi giá cả
Trang 26- Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu: Trường phái này cho rằng chính sách tàichính không làm ảnh hưởng nhiều đến tổng cầu mà nhân tố quan trọng quyếtđịnh chính là khối lượng tiền tệ (ký hiệu: M) nói đúng hơn là tổng mức cung vềtiền tệ.
Theo quan điểm trọng tiền hiện đại ở Mỹ: Tổng cung tiền tệ là một nhân tố chủquan Vì vậy, nó thường không ổn định và nó thường đặc biệt dễ bị chi phối bởi nhân
tố chính trị như là chu kỳ kinh doanh chính trị (chu kỳ bầu cử tổng thống, nghị sĩ quốchội ) Trong khi đó tổng mức cầu về tiền tệ là một đại lượng khách quan, tương đối
ổn định vì nó phụ thuộc vào GNP tiềm năng
Trường phái trọng tiền hiện đại Mỹ quan tâm đến căn bệnh chủ yếu của nền kinhtế: không phải là suy thoái và thất nghiệp mà căn bệnh nguy hiểm nhất là lạm phát Họ
đề ra biện pháp để chống lạm phát như sau: Thực hiện một chính sách tiền tệ, cụ thể,chủ động làm tăng tổng mức cung tiền tệ từ 3-4%/ năm (phù hợp với tốc độ tăng củatổng mức cầu tiền tệ là xấp xỉ mức phát triển của GNP tiềm năng Một điểm cần chú ý
ở đây là lạm phát giảm sẽ dẫn đến tình trạng thất nghiệp tăng
Lý thuyết về thái độ ứng xử của người tiêu dùng và thu nhập
Trước hết, về thái độ ứng xử của ngừơi tiêu dùng, theo M.Friedman trong điềukiện ổn định sẽ có hai nguyên nhân làm cho tiêu dùng cao hơn thu nhập là : Sự ổn địnhchi và các khoản thu nhập tăng lên Sự tiêu dùng thông thường phụ thuộc vào thunhập, lãi suất và thu nhập từ tài sản vật chất
Thứ hai, về thu nhập, theo M.Friedman , thu nhập (Y) trong một thời kỳ nhấtđịnh bao gồm: thu nhập thường xuyên Yp và thu nhập tức thời (Yt)
Y=Yp+Yt
Yp: của cải mà cá nhân nhận đuợc do nghề nghiệp mang lại
Yt: thu nhập do các nhân tố khác
Tiêu dùng (C) là tổng số của tiêu dùng thường xuyên (Cp) và tiêu dùng nhấtthời(Ct)
C= Cp+ Ct
Trang 27Giữa tiêu dùng thường xuyên và thu nhập thường xuyên có mối quan hệ vớinhau Mối quan hệ này được thể hiện bằng đẳng thức sau:
Cp = k(i,w,u)Yp
Trong đó:
k: Hệ số chỉ tương quan giữa tiêu dùng thường xuyên và thu nhập thường xuyên.i: Lãi suất
w: Tương quan giữa tài sản vật chất với thu nhập thường xuyên
u: Sự phân chia thu nhập cho tiêu dùng và tiết kiệm
Qua đẳng thức trên, M.Friedman cho rằng tiêu dùng thường xuyên phụ thuộc vàolãi suất, tương quan giữa tài sản vật chất với thu nhập thường xuyên và sự phân chiathu nhập cho tiêu dùng và tiết kiệm là chính chứ không phải là thu nhập thường xuyên
Lý thuyết tiền tệ và thu nhập quốc dân
Đây là lý thuyết nổi tiếng của Friedman và của phái trọng tiền Nội dung cơ bảncủa lý thuyết này có thể khái quát thành những điểm dưới đây:
- Thứ nhất, nhân tố quyết định sự tăng trưởng của sản lượng quốc gia là mứccung tiền tệ
Theo M.Friedman và những người theo phái trọng tiền hiện đại, các biến số vĩ
mô như: giá cả, sản lượng, công ăn việc làm phụ thuộc vào mức cung tiền tệ chứkhông phải vào chính sách tài chính (thuế và chi tiêu ngân sách) của trường pháiKeynes
Mức cung tiền tệ thường không ổn định và phụ thuộc vào quyết định chủ quancủa chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương Nếu ngân hàng trung ương phát hànhkhông đủ tiền thì dễ dẫn đến khủng hoảng kinh tế, còn nếu phát hành thừa tiền thị lại
bị lạm phát
Mức cầu tiền tệ có tính ổn định cao, nó được quyết định bởi thu nhập Mức cầudanh nghĩa về tiền đuợc xác định bởi công thức:
Md = f(Yn,i)
Trang 28Trong đó:
- Md: Mức cầu danh nghĩa về tiền tệ
- Yn: Thu nhập danh nghĩa
- i: Lãi suất danh nghĩa
Qua công thức trên, những người trọng tiền hiện đại cho rằng sự thay đổi cầu vềtiền tệ phụ thuộc vào sự thay đổi của thu nhập, còn lãi về tiền là nhân tố ngoại sinh củanền kinh tế
Từ đó có thể trình bày công thức cầu về tiền dưới dạng đơn giản sau:
Md=f(Yn)
Hàm cầu tiền đầy đủ như sau:
Md/P là cầu về số dư tiền thực tế
Yp = phép đo của cải của Friedman được gọi là thu nhập thường xuyên (về mặt
kỹ thuật, nó bằng giá trị được chiết khấu về hiện tại của các thu nhập tương lai dự tính)
và có thể mô tả một cách dễ hiểu hơn như là thu nhập dài hạn bình quân dự tính
rm là lợi tức dự tính về tiền
rb là lợi tức dự tính về trái phiếu
re là lợi tức dự tính về vốn cổ phần (cổ phiếu thường) pe là tỷ lệ lạm phát dự tínhCác dấu ở dưới phương trình chỉ ra rằng cầu tiền tệ liên hệ dương (+) hay âm (-)với các số hạng ngay trên dấu đó
Trong hàm cầu tiền của Friedman, các số hạng (rb - rm) và (re - rm) biểu thị cholợi tức dự tính về trái phiếu và cổ phiếu so với lợi tức dự tính về tiền Khi chúng tănglên cầu tiền tệ sẽ giảm xuống Số hạng sau cùng (pe - rm) biểu thị cho lợi tức dự tính
về hàng hoá so với tiền Lợi tức dự tính về giữ hàng hoá là tỷ lệ dự tính của khoản lợi
về vốn phát sinh khi giá cả hàng hoá tăng lên (tăng bằng tỷ lệ lạm phát dự tính pe) Khi(pe - rm) tăng lên, lợi tức dự tính về hàng hoá so với tiền tăng lên và cầu tiền tệ giảmxuống
Trang 29Friedman không coi lợi tức dự tính về tiền là một hằng số như Keynes Khi lãisuất tăng lên trong nền kinh tế, các ngân hàng thu được nhiều lợi trong việc cho vayhơn và vì thế họ muốn thu hút nhiều tiền gửi để tăng hơn nữa khối lượng các khoảncho vay lấy lãi của mình hiện nay Kết quả là lợi tức về tiền được giữ dưới dạng tiềngửi ngân hàng tăng lên cùng với lãi suất và (rb - rm) ổn định tương đối khi lãi suấttăng Như vậy, khác với học thuyết của Keynes cho rằng lãi suất là một yếu tố quyếtđịnh của cầu tiền tệ thì học thuyết của Friedman chỉ ra rằng những thay đổi của lãi suất
sẽ ít có tác dụng đến cầu tiền tệ Do vậy, hàm số cầu tiền tệ của Friedman chủ yếu làmột hàm số mà trong đó thu nhập thường xuyên là yếu tố quyết định đầu tiên của cầutiền tệ Phương trình cầu tiền tệ của ông có thể được tính gần đúng với Md/P = f (Y ) p
Hàm cầu tiền theo quan điểm của Friedman là tương đối ổn định vì những thayđổi trong lãi suất chỉ có những ảnh hưởng nhỏ đến cầu tiền tệ trong khi Yp lại tươngđối ổn định và có thể dự đoán được Ông cũng suy ra là tốc độ V có thể dự đoán đượcvì:
Trong đó mối quan hệ giữa Y và Yp thông thường là hoàn toàn dự đoán được.Nếu chúng ta có thể dự đoán tốc độ nào sẽ xảy ra trong thời kỳ tới thì lúc đó một sựthay đổi trong lượng tiền tệ sẽ gây nên một sự thay đổi dự đoán được trong tổng chitiêu Như vậy, ngay cả khi tốc độ không còn được coi là đứng yên thì cung tiền tệ tiếptục được coi là yếu tố quyết định đầu tiên của thu nhập danh nghĩa, hoàn toàn giốngvới kết luận của học thuyết số lượng tiền tệ trước đây Do đó, học thuyết cầu tiền tệcủa Friedman thực sự là một sự phát biểu lại học thuyết số lượng tiền tệ cổ điển bởi vì
nó dẫn đến cùng một kết luận về tầm quan trọng của tiền đối với tổng chi tiêu
Trong hàm số ưa thích tiền mặt của Keynes (trong đó lãi suất là một yếu tố quantrọng của cầu tiền) có thể giải thích được những chuyển động chu kỳ của tốc độ Vậycách trình bày của Friedman có giải thích được hiện tượng đó không? Điểm mấu chốt
để trả lời câu hỏi này là khái niệm thu nhập thường xuyên (Yp) mà Friedman dùngtrong hàm cầu tiền tệ của mình không giống với khái niệm thu nhập (Y) được đolường trong hàm số cầu tiền tệ của Keynes Bởi vì nhiều sự tăng lên của thu nhập trongthời kỳ bành trướng của chu kỳ kinh doanh chỉ là tạm thời cho nên thu nhập thường
Trang 30xuyên tăng lên ít hơn nhiều so với thu nhập Như vậy f(Yp) chỉ tăng lên một mức nhỏhơn so với sự tăng lên của Y trong công thức **, kết quả là V tăng Tương tự, trongmột cuộc suy thoái, cầu tiền tệ giảm xuống ít hơn thu nhập bởi vì sự sụt xuống của thunhập thường xuyên là nhỏ so với thu nhập, kết quả là theo công thức ** tốc độ giảmxuống Theo cách đó, chúng ta có chuyển động chu kỳ của tốc độ V.
Qua những phân tích trên, M.Friedman cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế
1929-1933 diễn ra ở Mỹ là do Hệ thống dự trữ liên bang (FED) đã phát hành một số tiền íthơn mức cung tiền tệ Tứ đó, ông đề nghị thực hiện chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốcdân nhằm chủ động điều tiết mức cung tiền tệ trong từng thời kỳ phát triển Trong thời
kỳ khủng hoàng thì tăng mức cung tiền tệ để đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng,còn trong thời kỳ phồn vinh thì giảm mức cung tiền để kìm hãm bớt mức phồn vinh.Theo ông, để giữ sự ổn định trong nền kinh tế cần tăng khối lượng tiền hàng năm ổnđịnh mức từ 3-4%
- Thứ hai, giá cả hàng hóa phụ thuộc vào khối lượng tiền tệ
Từ công thức: M.V = P.Q
Suy ra : P = V/Q.M
Trong đó:
M: là mức cung tiền tệ
V: tốc độ lưu thông của tiền tệ
Q: số lượng hàng hóa, dịch vụ trong năm
P: giá cả trung bình của hàng hóa và dịch vụ
Ta có: Nếu V,Q không đổi thì P phụ thuộc vào M Khối lượng tiền tệ càng nhiềuthì giá cả hàng hóa càng tăng cao Do đó, các nhà trọng tiền hiện đại quan tâm đếnviệc ổn định tiền tệ và chống lạm phát Theo họ, vấn đề cần quan tâm trong nền kinh tế
là lạm phát, là căn bệnh nan giải của xã hội cần phải giải quyết M.Friedman đã đưa rakhái niệm thất nghiệp tự nhiên, từ đó trở thành khái niệm cơ bản trong phân tích thịtrường lao động theo lý thuyết tự do "Ở bất cứ thời điểm nào cũng luôn luôn có mộtmức thất nghiệp mang đặc tính là tương hợp với thế cân đối trong cơ cấu tỷ lệ lương
Trang 31thực tế Tỷ lệ thất nghiệp nếu thấp hơn mức ấy tức là cầu quá lớn về lao động do đó
sẽ gấp sức ép vào sự giảm tiền lương thực tế" (Vai trò của chính sách tiền tệ,American Economic Review, tháng 3-1968)
- Thứ ba, trường phái trọng tiền hiện đại ủng hộ và bảo vệ quan điểm tự do kinh
tế, chế độ tư hữu và quyền tự do hoạt động của các doang nghiệp, nhà nước không nêncan thiệp sâu vào kinh tế Vì nên kinh tế tư bản chủ nghĩa đang phát triển cao, tươngđôi ổn định, thường xuyên ở tình trạng cân bằng động; hệ thống tự điều chỉnh nền kinh
tế dựa vào các qui luật kinh tế khách quan, mà không cần sự can thiệp sâu của nhànước
Ưu điểm và hạn chế của học thuyết trọng tiền:
Ưu điểm:
- Chính sách tiền tệ là một vũ khí vĩ mô rất mạnh mẽ và sắc bén: sẽ loại trừ đượcnhững biến động cục bộ hay tác động của sức ỳ nhất định trong giá cả và tiền công,làm cho nền kinh tế nhanh chóng trở lại thế cân bằng (do khối lượng tiền tệ tăng lênvới một tỉ lệ không đổi, từ 3% - 4% một năm)
- Học thuyết này đã đề ra một giải pháp hữu hiệu để tránh lạm phát
Hạn chế:
- Không đề cao sự can thiệp của Chính phủ để điều tiết nền kinh tế Theo họ thì
cơ chế thị trường tự do có thể điều tiết, giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản một cách
có hiệu quả, không cần đến sự can thiệp của Nhà nước Sự can thiệp của Nhà nước chỉlàm phá vỡ thế cân bằng thị trường và có hại cho nền kinh tế
- Chỉ quan tâm đến việc chống lạm phát mà không lưu tâm đến suy thoái và thấtnghiệp, là căn bệnh trầm kha của chủ nghĩa tư bản
- Vào những năm 1973-1974, chủ nghĩa trọng tiền đuợc vận dụng ở Mỹ và Anh
Ở Mỹ chính quyền Nixon, nói chung là chính phủ của Đảng Cộng hòa đều coi trọngcác ý kiến của trường phái trọng tiền Chicago, ngay cả FED cũng họach định chínhsách tiền tệ từ năm 1978 đến năm 1982 trên cơ sở quan điểm của trường phái này.Nhưng việc vận dụng nó mang lại kết quả hạn chế:
Trang 32 Sự giảm giá gây ra tình trạng trì trệ và thất nghiệp ở mức cao.
Việc giảm chi phí nhà nước và giảm thâm hụt ngân sách dẫn đến giảm cầu tíndụng nhà nước Điều đó hạn chế tăng giá, nhưng lại kéo theo giảm kích thíchđầu tư làm cho nền kinh tến xấu đi
Nó làm tăng giảm mâu thuẫn trong xã hội tư bản: thất nghiệp tăng, cắt giảmchi phí xã hội, mức sống người lao động giảm…
2.3.2 Trường phái trọng cung.
Kinh tế học trọng cung là một trường phái kinh tế học vĩ mô đề cao mặt cung cấpcủa các hoạt động kinh tế.Phái này nhấn mạnh việc nâng cao năng suất lao động vànâng cao năng lực cung cấp của nền kinh tế nhằm mục đích nâng cao tốc độ tăngtrưởng tiềm năng (nhờ vậy nâng cao được tốc độ tăng trưởng kinh tế mà không gây ra
áp lực lạm phát)
Các biện pháp, chính sách để đạt được các mục tiêu nói trên gồm:
- Giảm thuế dựa theo lý luận đường cong Laffer để cho doanh nghiệp và hộ giađình hăng hái đầu tư;
- Xóa bỏ các chướng ngại đối với đầu tư tư nhân, cụ thể là tự do hóa kinh tế,giảm điều tiết;
- Chuyển nguồn vốn đầu tư từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân bằng cáchthực hiện chính phủ nhỏ (cải cách các chương trình an sinh xã hội, tư nhân hóacác tài sản công cộng, giảm trợ cấp, khuyến khích khu vực tư nhân tham giacung cấp hàng hóa công cộng, v.v )
Kinh tế học trọng cung nhấn mạnh các biện pháp nâng cao năng lực sản xuất, đẩyđường tổng cung AS dịch chuyển sang phải, nâng cao tốc độ tăng trưởng tiềm năng, từ
đó có thể nâng cao tốc độ tăng trưởng thực tế mà không gây ra áp lực lạm phát
2.3.3 Trường phái thể chế mới.
Trường phái thể chế này được truyền bá rộng rãi từ những năm 20 - 30 của thế
kỷ XX nhưng xuất hiện sớm hơn, đó là từ cuối thế kỷ XIX Sự nảy sinh trường pháithể chế với tư cách là sự đối lập của giai cấp tiểu tư sản đối với chủ nghĩa đế quốc.Quá trình này diễn ra trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang
Trang 33độc quyền và sự thống trị của độc quyền Đồng thời có sự thoái trào của kinh tế chínhtrị tư sản cổ điển.
Trường phái thể chế tồn tại song song bên cạnh các trường phái kinh tế khácnhưng đặc biệt từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX có tác động ảnh hưởng rất lớn
Các giai đoạn phát triển của trường phái thể chế:
- 1920 - 1930 Trường phái thể chế cổ điển, thời kỳ mở rộng trường phái thể chế
- Trước và sau chiến tranh thế giới thứ 2: Trường phái thể chế thực chứng
- 1960 - 1970 đến nay: Trường phái thể chế mới, nổi bật là trường phái thể chếgắn rất chặt với sự tác động ngày càng mạnh mẽ của cách mạng khoa học kĩthuật và công nghệ
Trường phái thể chế mới dựa trên thuyết “Kỹ thuật quyết định” của Veblen vàtrong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển Bao gồm cácthuyết “Xã hội công nghiệp”, “Xã hội công nghiệp mới”, “Xã hội hậu công nghiệp”.Như vậy các học thuyết của trường phái này chủ yếu đề cao vai trò của các thể chế xãhội và của khoa học kĩ thuật trong sự phát triển kinh tế Động lực của sự phát triển xãhội là các thể chế xã hội Do đó các nội dung về tài chính - tiền tệ, tín dụng ngân hànghầu như ít được đề cập
2.4 Học thuyết kinh tế của trường phái Chính hiện đại.
Các lí thuyết kinh tế của trường phái cổ điển mới đều tập trung đề cao vai tròcủa cơ chế thị trường tự do cạnh tranh Các trường phái Keynes và Keynes mới lại đềcao vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của Nhà nước và phê phán những khuyết tật của thịtrường Tuy nhiên trên thực tế, nền kinh tế sẽ phát triển không hiệu quả nếu như đề caoquá đáng vai trò của thị trường hoặc vai trò nhà nước Sự phê phán các trường pháidẫn đến sự xích lại gần nhau giữa hai chiều hướng (Từ những 60 – 70 của thế kỷ XX)
Từ đó hình thành “Trường phái chính hiện đại”
Mầm mống về nền kinh tế hỗn hợp có từ những năm cuối thế kỷ thứ XIX, sauchiến tranh thế giới thứ hai, nó được nhà kinh tế học Mỹ tên là Hassen nghiên cứu và
tư tưởng này tiếp tục được phát triển mạnh mẽ từ những năm 70 của thế kỷ XX.Đại
Trang 34biểu nổi bật của trường phái này là P.A.Samuelson (Mỹ) với tác phẩm “Kinh tế học”được dịch ra tiếng Việt năm 1989 là cơ sở cho nhiều giáo trình kinh tế vi mô và vĩ mô.Trường phái chính hiện đại đề cập khá nhiều đến các cơ sở lý luận cho các chínhsách về tài chính – tiền tệ, tín dụng ngân hàng của một quốc gia và xem đó là nhữngcông cụ cực kỳ quan trọng nhằm điều hành và quản lý hiệu quả nền kinh tế.
2.4.1 Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp.
Tư tưởng trung tâm của kinh tế học trường phái chính hiện đại là Lý thuyết vềnền kinh tế hỗn hợp “Nền kinh tế hỗn hợp” là nền kinh tế kết hợp trong đó kinh tế tưnhân và kinh tế Nhà nước, nó được điều hành bởi cơ chế thị trường có sự điều tiết củaNhà nước Theo đó, phát triển kinh tế có hiệu quả là phải dựa vào cả “hai bàn tay”: Cơchế thị trường (bàn tay vô hình) và sự điều tiết của Chính phủ (bàn tay hữu hình): bằngcác chương trình thuế, chi tiêu và luật lệ
Lý thuyết này đề cập nhiều đến vai trò kinh tế và sự can thiệp của Nhà nước vàothị trường, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ nhằm sửa chữa, khắc phụcnhững khuyết tật của cơ chế thị trường, đảm bảo sự công bằng xã hội và sự tăngtrưởng và ổn định kinh tế vĩ mô thông qua các hoạt động và chính sách Cụ thể:
Thứ nhất, chính sách thuế Thông qua thuế, chính phủ điều tiết tiêu dùng, đầu tưcủa tư nhân, khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trênthực tế, các khoản chi tiêu của Chính phủ phải được trả bằng tiền thuế thu được Do
đó, tất cả mọi người đều phải chịu theo luật thuế Nghĩa là toàn bộ công dân tự mìnhphải lãnh gánh nặng thuế trên vai, và mỗi công dân cũng được hưởng phần hàng hoácông cộng do chính phủ cung cấp Bên cạnh tác dụng khắc phục các khuyết tật của thịtrường, Thuế cũng được Nhà nước sử dụng như là công cụ quan trọng nhất để đảm bảo
sự công bằng, hạn chế sự phân hóa và bất bình đẳng (về thu nhập, bất công…) trong
xã hội
Hai nữa, chính sách hỗ trợ thu nhập bằng hệ thống thanh toán chuyển nhượng.Bên cạnh thuế, Nhà nước phải có hệ thống hỗ trợ thu nhập để giúp cho người già,người mù, người tàn tật, người phải nuôi con và bảo hiểm thất nghiệp cho nhữngngười không có công ăn việc làm Hệ thống thanh toán chuyển nhượng này tạo ra
Trang 35mạng lưới an toàn để bảo vệ những người không may khỏi bị huỷ hoại về mặt kinh tế.Đây là công cụ quan trọng thứ hai nhằm duy trì và đảm bảo sự công bằng trong xã hội
và thể hiện tính nhân văn, nhân đạo của Nhà nước
Song song với 2 chính sách quan trọng nêu trên, Chính phủ đôi khi phải tiếnhành trợ cấp tiêu dùng cho những nhóm dân cư có thu nhập thấp bằng cách phát temphiếu thực phẩm, trợ cấp y tế, cho thuê nhà giá rẻ…
Ngoài ra, chính phủ cũng thường xuyên sử dụng các chính sách tiền tệ, tài chínhtác động tới chu kỳ kinh doanh, giải quyết nạn thất nghiệp, chống trì trệ, lạm phát, nhằm đảm bảo tăng trưởng và ổn định nền kinh tế vĩ mô Một khuyết tật lớn của cơchế thị trường là chu kỳ kinh doanh dẫn đến những cuộc khủng hoảng mang tính chu
kỳ Vì vậy, chính phủ luôn cần có những biện pháp để kiểm soát các chu kỳ đó, theoSamuelson cần sử dụng các công cụ như:
- Sử dụng quyền lực về tiền tệ: Đó là việc Nhà nước điều tiết và lưu thông tiền tệ,điều khiển hoạt động của hệ thống Ngân hàng, để thông qua đó xác định mứclãi suất và các điều kiện tín dụng
- Sử dụng quyền lực về tài chính: Chính phủ có quyền đánh thuế, có quyền banhành các luật thuế và mức thuế khác nhau, thực hiện việc thu thuế cũng nhưkiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách thu thuế Thuế là nguồn thu chủyếu của Ngân sách nhà nước Chính phủ có thể sử dụng ngân sách của mình đểchi tiêu cho những mục đích đã được xác định trước
2.4.2 Lý thuyết về tiền tệ và ngân hàng, thị trường chứng khoán.
a/ Lý thuyết về tiền tệ.
Kinh tế thị trường càng phát triển thì quan điểm về tiền càng được mở rộng hơn.Các nhà kinh tế học cho rằng, ngày nay là thời đại của tiền ngân hàng hoặc một thểchế tài chính nào đó; thẻ tín dụng, séc du lịch được sử dụng ở các cửa hàng; thẻ ghi nợ
cá nhân được kết nối vào máy tính trung tâm…
Từ đó các nhà kinh tế học hiện nay kết luận: Bản chất của tiền tệ là để dùng làmphương tiện trao đổi, nhờ đó chúng ta có thể mua và bán hầu hết mọi thứ Nhiều đồ vật
Trang 36đã được làm tiền tệ qua các thời đại nhưng ngày nay chủ yếu là thời đại của tiền giấy
và tiền ngân hàng là những thứ không có giá trị nội tại
Vấn đề quan trọng trong lý thuyết tiền tệ hiện nay là xác định thành phần củamức cung tiền tệ Có nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định thành phần, mứccung của tiền tệ Trong kinh tế học P Samuelson, một số thành phần cơ bản của mứccung tiền như sau:
Tiền giao dịch được ký hiệu là M1 Nó bao gồm các khoản tiền thực tế đượcdùng cho giao dịch, để mua bán đồ vật Đó là tống số tiền kim khí và tiền giấy lưuthông bên ngoài các ngân hàng cộng với tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc.Tiền rộng được ký hiệu M2 đôi khi được gọi là "tiền tệ tài sản" hay "chuẩn tệ".Khác với M1, tiền rộng không thể sử dụng như một phương tiện không hạn chế để tiếnhành những cuộc mua bán nhỏ và lớn Tuy nhiên chúng có thể chuyển thành tiền mặttrong một thời gian rất ngắn nên rất gần với tiền giao dịch Thành phần của M2 gồmnhững tài sản, tài khoản gửi tiết kiệm ngoài tiền kim khí, tiền giấy và tiền gửi ngânhàng có thế rút ra bằng séc
Tổng số tín dụng hoặc nợ, ký hiệu D, bao gồm toàn bộ các công cụ tài chính tiền tệ - chuẩn tệ, công trái, văn tự cầm cố…
-b/ Ngân hàng thương mại và quá trình tạo nguồn tiền gửi ngân hàng.
Theo Samuelson, chức năng chính của ngân hàng là cung cấp tài khoản sec chokhách hàng Chẳng hạn ngân hàng thương mại cung cấp tài khoản sec, ngân hàng tiếtkiệm cung cấp tài khoản tiết kiệm, các công ty bảo hiểm bán bảo hiểm, ngân hàng dulịch bán sec du lịch
Các ngân hàng thương mại, hội tiết kiệm và cho vay, một số các doanh nghiệpkhác nhận tiền tiết kiệm hoặc quĩ của một nhóm này và cho nhóm khác vay lại hìnhthành lên tổ chức môi giới tài chính Những tổ chức môi giới tài chính cung cấp chongười gửi tiền nhiều loại công cụ tài chính dưới hình thức tài khoản sec, tài khoản tiếtkiệm, giấy lĩnh tiền hàng năm, giấy chứng nhận tiền ký gửi 3 năm và cho nhữngnhóm khác vay những khoản tiền nói trên
Quá trình tạo nguồn tiền gửi ngân hàng:
Trang 37Trong lý thuyết kinh tế học, một vấn đề được coi là bí hiểm nhất của tiền tệ vàứng dụng là “sự mở rộng nhiều lần của tiền gửi ngân hàng” hay là quá trình tạo nguồntiền gửi ngân hàng Nhờ tính bí hiểm này của ngân hàng mới làm cho vai trò của nóngày càng quan trọng trong nền kinh tế hiện nay.
Nếu các ngân hàng giữ 100% tiền mặt so với tổng số tiền gửi thì không có việctạo ra nguồn tiền tăng lên gấp nhiều lần, song nếu ngân hàng trung ương quyết địnhcác quĩ dự trữ của hệ thống ngân hàng phải bảo đảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ quĩ tiềngửi mới Hệ thống ngân hàng lấy những dự trữ đó làm đầu vào và biến chúng thànhmột khối lượng tiền qua ngân hàng Nhờ đó tiền gửi ngân hàng được mở rộng nhiềulần
Ví dụ một khoản tiền gửi mới là 1000 USD, tỷ lệ dự trữ mới là 10% Sự mở rộngtiền gửi ngân hàng thông qua hệ thống ngân hàng sẽ được trình bày ở bảng sau:
Bảng 1: Sự mở rộng tiền gửi ngân hàng thông qua hệ thống ngân hàng
Vị trí của ngân hàng Tiền gửi mới Cho vay và đầu tư mới Dự trữ mới
Ngân hàng ban đầu
Trang 38Thị trường chứng khoán phát triển mạnh vào những năm 1920 ở các nước Tây u.Thời kỳ 1929-1933 cùng với đại suy thoái của CNTB, thị trường chứng khoán bị suysụp Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, thị trường chứng khoán lại phát triển mạnh, mặc
dù cũng có thời kỳ đi xuống tạm thời Ngày nay mọi trung tâm tài chính lớn đều có thịtrường chứng khoán của mình Những trung tâm quan trọng như New York, London,Paris, Tokyo, Frankfurt, Hongkong, Zurich Trong đó đáng chú ý là thị trường chứngkhoán ở New York
Trang 39Nhìn chung, lý thuyết kinh tế của trường phái Chính Hiện Đại với đại diện tiêubiểu P Samuelson là sự kết hợp cả phương pháp vi mô với phương pháp vĩ mô trongphân tích kinh tế, phối hợp cả “bàn tay vô hình” với “bàn tay hữu hình” trong việc điềutiết sự vận động của nền kinh tế Vì vậy nó thể hiện ra như là sự xích lại gần nhaugiữa hai trường phái: Trường phái Tân cổ điển và trường phái Keynes Thông qua đó,các vấn đề lớn của nền kinh tế thị trường hiện đại đã được luận giải và phân tích mộtcách khá sâu sắc, chẳng hạn như các lý thuyết về tiền tệ, ngân hàng và thị trườngchứng khoán đã nêu ở trên, làm cơ sở cho nhiều nước ban hành và áp dụng khá hiệuquả các chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách về tài chính – tiền tệ - ngânhàng nói riêng, trong đó có Việt Nam.
- Đưa ra một số lý thuyết làm cơ sở cho sự điều tiết kinh tế của nhà nước, chẳnghạn như lý thuyết thất nghiệp, lạm phát, tài chính – tiền tệ…
Những hạn chế:
- Mô tả các hiện tượng và quá trình kinh tế trong các giai đoạn lịch sử khác nhau
và đưa ra những tiêu chí phân loại (nước giàu – nghèo, phát triển – đang pháttriển, ) nhưng chưa chỉ ra được bản chất và nguyên nhân thật sự của các hiệntượng và quá trình đó
- Trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay các nước phát triển vẫn giữ lợi thế vềvốn, công nghệ, thị trường, nên sự bình đẳng trong quan hệ kinh tế quốc tếhiện nay khó có thể đạt được Vì thế lý thuyết kinh tế của trường phái chínhhiện đại không thể áp dụng cho mọi nơi, mọi lúc, mọi quốc gia
Trang 40Tóm lại, tuỳ từng điều kiện, khả năng và nguồn lực của mình, các nước có thểtiếp thu các nhân tố hợp lý để đề ra phương hướng, chính sách giải pháp phù hợp đảmbảo tốc độ phát triển cao và bền vững