1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN mới NHẤT) dạy học chủ đề ngữ văn 8 theo định hướng phát triển năng lực

36 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 3,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện được điều đó, phải thành công trong việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối truyền thụ một chiều sang dạy cách học tích cực nhằm giúp học sinh chủ động, tự lực lĩnh hội

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài

Định hướng đổi mới quan niệm dạy học hiện nay là: Dạy cách học và học cách học Đúng như Luật Giáo dục đã ghi: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Từ yêu cầu đó, giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từchương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Từchỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến việc học sinh vận dụng được gì quaquá trình học tập Từ chỗ học sinh tiếp thu thụ động những kiến thức quy định sẵnsang tự lực, tích cực lĩnh hội kiến thức Để thực hiện được điều đó, phải thành

công trong việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối truyền thụ một chiều sang dạy cách học tích cực nhằm giúp học sinh chủ động, tự lực lĩnh hội tri thức, vận

dụng tri thức, rèn luyện kĩ năng để rồi từ đó hình thành năng lực và phẩm chất.Đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớsang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề thực tiễn,coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trìnhhọc tập để có tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học

và giáo dục Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển nănglực học sinh cần diễn ra đồng bộ ở tất cả các bộ môn trong nhà trường đặc biệt với

bộ môn Ngữ Văn sẽ thực sự phát huy hết vai trò trong việc giúp học sinh hìnhthành được các phẩm chất và năng lực

Năm học 2020 – 2021 được xem là năm học đặc biệt của họcsinh cả nước Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, để đảm bảo mộtmôi trường học tập an toàn, Bộ GD&ĐT đã ban hành công văn 3280/BGDĐT-GDTrH - 2020 về hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học THCS, THPT năm học

2020 - 2021 Theo công văn này, ở môn Ngữ văn, mỗi khối lớp đều có hướng dẫntích hợp một chủ đề trong một học kì Trong chương trình Ngữ văn 8 có hai chủ đềtích hợp:

Học kì I có một chủ đề bao gồm các bài học:

- Tôi đi học của Thanh Tịnh

- Trong lòng mẹ (trích Những ngày thơ ấu) của Nguyên Hồng

- Tính thống nhất về chủ đề của văn bản

- Bố cục của văn bản

Học kì II có một chủ đề tích hợp bao gồm:

- Nhớ rừng của Thế Lữ

Trang 2

- Ông đồ của Vũ Đình Liên

- Câu nghi vấn

Bên cạnh công văn 3280/BGDĐT-GDTrH - 2020 về hướng dẫn điều chỉnhnội dung dạy học THCS, THPT năm học 2020 – 2021, Bộ GD&ĐT cũng banhành Thông tư 26/2020/TT- BGDĐT về việc sửa đổi, bổ sung một sốđiều của quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trunghọc phổ thông Tại điều 8, khoản 1 của thông tư có quy định: Đối với kiểm tra,đánh giá định kì; trong mỗi học kì, một môn học có một điểm kiểm tra đánh giágiữa kì và một điểm kiểm tra đánh giá cuối học kì Dựa vào hai văn bảnnày, giáo viên phải xây dựng kế hoạch chương trình dạy họcphù hợp với đơn vị mình, có thể chủ động sắp xếp thời lượngdạy học Khi số tiết một số bài học và số tiết kiểm tra giảm thìgiáo viên hoàn toàn chủ động trong việc bố trí, sắp xếp thờigian cho các tiết học Có thể tăng số tiết cho các bài học màgiáo viên cho là quan trọng và có thể thực hiện đầy đủ các hoạtđộng dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Lâu nay trên thực tế, đối với dạy học chủ đề môn Văn học, mặc dù các bàihọc được gom lại thành một chủ đề nhưng khi dạy, giữa các bài học trong chủ

đề dường như không có sự liên kết với nhau, dạy học chủ đề vẫn nặng về truyềnthụ kiến thức và bị giới hạn trong số tiết được quy định từ các bài học cộng lại.Việc tích hợp kiến thức các môn học khác cũng chưa được chú trọng Và đặcbiệt là phần vận dụng, thực hành kĩ năng chưa được thực hiện, hoặc thực hiệnchưa hiệu quả

Bộ Giáo dục đã có những thay đổi để điều chỉnh chương trình dạy học Tuynhiên Bộ, ngành lại chưa có hướng dẫn để dạy học chủ đề được tích hợp như thếnào Đặc biệt là lại dạy học chủ đề trong xu hướng đổi mới dạy và học hiện nay.Nếu không có những đổi mới từ phía giáo viên thì dạy học chủ đề lại đi theo lốimòn trước đây

Shê- khốp cho rằng: Nếu nhà văn không có một lối đi riêng của mình thì người đó chẳng bao giờ là nhà văn Quá trình sáng tác văn chương đề cao cá

tính sáng tạo thì quá trình giảng dạy văn việc sáng tạo, đổi mới cũng luôn phảiđược chú trọng Trong lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,

có thể nói rằng giáo viên là yếu tố quyết định hàng đầu trong việc thực hiện đổimới phương pháp giảng dạy Với tiêu chí đó, tôi luôn muốn thay đổi mình,muốn tạo ra những luồng gió mới trong các tiết học Ngữ văn để tạo hứng thúcho học sinh Vì những lí do trên nên tôi đã thực hiện sáng kiến kinh nghiệm:

Dạy học chủ đề Ngữ văn 8 theo định hướng phát triển năng lực.

II Tính mới và đóng góp mới của vấn đề nghiên cứu

Ngay từ khi tiếp nhận các công văn mới của Bộ giáo dục ở đầu năm học, bảnthân tôi đã bắt tay ngay vào việc xây dựng kế hoạch dạy học chủ đề và thực hiện

Trang 3

Những tiết học đầu tiên của năm học mới chính là những tiết học về chủ đề Học

kì I Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu là những trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ đểđáp ứng yêu cầu đổi mới cũng như chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ Giáo dục nămhọc 2020 – 2021

Vận dụng sáng kiến dạy học chủ đề Ngữ văn 8 theo định hướng phát triển

năng lực góp phần phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, làm cho người

học thấy được vai trò trung tâm của mình trong việc tiếp nhận tri thức, người họcphải tự khám phá kiến thức, vận dụng sáng tạo Qua đó học sinh sẽ dần dần hìnhthành tư duy logic, bộc lộ những năng lực tiềm ẩn Việc thực hiện đề tài sẽ giúphọc sinh có hứng thú hơn với việc tìm hiểu và say mê hơn với môn học này.Đồng thời giáo viên có cơ sở khoa học để vận dụng những tình huống có vấn đềthông qua đề tài, học sinh sẽ được củng cố thêm hiểu biết có kĩ năng sống phùhợp để thích ứng với hoàn cảnh trong tâm thế chủ động Ngoài ra đây cũng lànguồn tư liệu cho đồng nghiệp tham khảo trong quá trình giảng dạy

PHẦN II NỘI DUNG

I Cơ sở khoa học

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niệm năng lực

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng - 1998) có giải

thích: Năng lực là: Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.

Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướngphát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 thì

năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức,

kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện

sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố được thể hiện thông qua các hoạt động của cánhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó Năng lực bao gồm các yếu tố cơ

bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi Định hướng chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) đã xác định

một số năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có để đáp ứng với tình hìnhthực tế cuộc sống đang phát triển và hòa nhập với môi trường quốc tế

Năng lực làm chủ và

phát triển bản thân Năng lực xã hội Năng lực công cụ

Năng lực tự học Năng lực giao tiếp Năng lực tính toán

Trang 4

Năng lực giải quyết vấn đề Năng lực hợp tác Năng lực sử dụng ngôn ngữ

Năng lực quản lí bản thân

1.1.2 Chương trình giáo dục định hướng năng lực

Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực nay còn gọi là dạy họcđịnh hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 vàngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triểnnăng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học

Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạyhọc, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọngnăng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị chocon người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp.Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quátrình nhận thức

Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học địnhhướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là

“sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy họcchuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả họctập của học sinh

Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung

và chương trình định hướng phát triển năng lực sẽ cho chúng ta thấy ưu điểm củachương trình dạy học định hướng phát triển năng lực:

Chương trình định hướng nội dung

Chương trình định hướng phát triển năng lực

Mục tiêu

giáo dục

Mục tiêu dạy học được mô tả

không chi tiết và không nhất

thiết phải quan sát, đánh giá

được

Kết quả học tập cần đạt được mô tảchi tiết và có thể quan sát, đánh giáđược; thể hiện được mức độ tiến bộcủa học sinh một cách liên tục

Nội

dung

giáo dục

Việc lựa chọn nội dung dựa

vào các khoa học chuyên môn,

không gắn với các tình huống

thực tiễn Nội dung được quy

định chi tiết trong chương

trình

Lựa chọn những nội dung nhằm đạtđược kết quả đầu ra đã quy định, gắnvới các tình huống thực tiễn Chươngtrình chỉ quy định những nội dungchính, không quy định chi tiết

Phương

pháp

Giáo viên là người truyền thụ

tri thức, là trung tâm của quá

- Giáo viên chủ yếu là người tổ chức,

hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh

Trang 5

- Chú trọng sử dụng các quan điểm,phương pháp và kỹ thuật dạy học tíchcực; các phương pháp dạy học thínghiệm, thực hành.

Đánh giá

kết quả

học tập

của HS

Tiêu chí đánh giá được xây

dựng chủ yếu dựa trên sự ghi

nhớ và tái hiện nội dung đã

học

Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lựcđầu ra, có tính đến sự tiến bộ trongquá trình học tập, chú trọng khả năngvận dụng trong các tình huống thựctiễn

1.1.3 Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến

* Năng lực giải quyết vấn đề

Trên thực tế, có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về năng lực giảiquyết vấn đề (GQVĐ) Tuy nhiên, các ý kiến và quan niệm đều thống nhất chorằng GQVĐ là một năng lực chung, thể hiện khả năng của mỗi người trong việcnhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống

mà không có định hướng trước về kết quả, và tìm các giải pháp để giải quyếtnhững vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tư duy, hợp táctrong việc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu

Với môn học Ngữ văn, năng lực này cũng cần được hướng đến khi triển khaicác nội dung dạy học của bộ môn, do tính ứng dụng thực tiễn và quy trình hìnhthành năng lực có thể gắn với các bối cảnh học tập (tiếp nhận và tạo lập văn bản)của môn học, khi nảy sinh những tình huống có vấn đề Với một số nội dung dạyhọc trong môn Ngữ văn như: xây dựng kế hoạch cho một hoạt động tập thể, tiếpnhận một thể loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản, lí giải các hiện tượngđời sống được thể hiện qua văn bản, thể hiện quan điểm của cá nhân khi đánh giácác hiện tượng văn học,… quá trình học tập các nội dung trên là quá trình giảiquyết vấn đề theo quy trình đã xác định Quá trình giải quyết vấn đề trong mônNgữ văn có thể được vận dụng trong một tình huống dạy học cụ thể hoặc trongmột chủ đề dạy học

*Năng lực sáng tạo

Trang 6

Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong việcsuy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộcsống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả để thựchiện ý tưởng Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, học sinh bộc lộ trí tò mò,niềm say mê tìm hiểu khám phá.

Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu màmôn học Ngữ văn hướng tới Năng lực này được thể hiện trong việc xác định cáctình huống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trong các vănbản văn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìnkhác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúc của học sinh trướcmột vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độđam mê và khát khao được tìm hiểu của học sinh, không suy nghĩ theo lối mòn,theo công thức Trong các giờ đọc hiểu văn bản, một trong những yêu cầu cao làhọc sinh, với tư cách là người đọc, phải trở thành người đồng sáng tạo với tácphẩm (khi có được những cách cảm nhận riêng, độc đáo về nhân vật, về hình ảnh,ngôn từ của tác phẩm; có cách trình bày, diễn đạt giàu sắc thái cá nhân trước mộtvấn đề,…)

*Năng lực hợp tác

Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ đểhoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộclẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau Khi làm việccùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắng nghengười khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ Đây làhình thức học tập giúp học sinh ở mọi cấp học phát triển cả về quan hệ xã hội lẫnthành tích học tập

Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân

và tập thể trong học tập và cuộc sống Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làmviệc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tươngtrợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung Đây là một năng lực rất cầnthiết trong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường, mộtkhông gian rộng mở của quá trình hội nhập

Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc học sinh cùngchia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện cácnhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, họcsinh thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra, đồngthời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhânmình Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách củangười học trong bối cảnh mới

*Năng lực tự quản bản thân

Trang 7

Năng lực này thể hiện ở khả năng của mỗi con người trong việc kiểm soátcảm xúc, hành vi của bản thân trong các tình huống của cuộc sống, ở việc biết lập

kế hoạch và làm việc theo kế hoạch, ở khả năng nhận ra và tự điều chỉnh hành vicủa cá nhân trong các bối cảnh khác nhau Khả năng tự quản bản thân giúp mỗingười luôn chủ động và có trách nhiệm đối với những suy nghĩ, việc làm của mình,sống có kỉ luật, biết tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình

Cũng như các môn học khác, môn Ngữ văn cũng cần hướng đến việc rènluyện và phát triển ở học sinh năng lực tự quản bản thân Trong các bài học, họcsinh cần biết xác định các kế hoạch hành động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh

kế hoạch để đạt được mục tiêu đặt ra, nhận biết những tác động của ngoại cảnh đếnviệc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩ năng của cá nhân để khai thác, phát huynhững yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực, từ đó xác định được cáchành vi đúng đắn, cần thiết trong những tình huống của cuộc sống

*Năng lực giao tiếp tiếng Việt

Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe,nhằm đạt được một mục đích nào đó Việc trao đổi thông tin được thực hiện bằngnhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong giao tiếp

là ngôn ngữ Năng lực giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụng các quy tắccủa hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện củađời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đíchnhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người với nhau trong xãhội Năng lực giao tiếp bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụngngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợpnhững hiểu biết trên vào các tình huống phù hợp để đạt được mục đích

Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho học sinh năng lựcgiao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mangtính đặc thù của môn học Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, họcsinh được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp,hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, học sinh được luyện tập những tìnhhuống hội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các phương châm hội thoại,từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp

*Năng lực ngôn ngữ

Năng lực ngôn ngữ thể hiện trước hết ở hoạt động đọc Ở cấp trung học cơ sở:học sinh biết vận dụng kiến thức tiếng Việt cùng với những trải nghiệm và khảnăng suy luận của bản thân để hiểu văn bản; biết đọc văn bản theo kiểu, loại; hiểuđược nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản; nhận biết và bước đầu biết phântích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản; biết

so sánh văn bản này với văn bản khác, liên hệ với những trải nghiệm cuộc sốngcủa cá nhân; từ đó có cách nhìn, cách nghĩ và những cảm nhận riêng về cuộc sống,làm giàu đời sống tinh thần

Trang 8

Đối với hoạt động viết, Ở cấp trung học cơ sở: học sinh viết được bài văn tự

sự, miêu tả và biểu cảm; bước đầu biết viết bài văn nghị luận, thuyết minh, nhậtdụng; viết đúng quy trình, biết cách tìm tài liệu để đáp ứng yêu cầu viết văn bản;

có hiểu biết về quyền sở hữu trí tuệ và biết cách trích dẫn văn bản, những vấn đề.Đối với hoạt động nói và nghe, ở cấp trung học cơ sở: học sinh trình bày dễhiểu các ý tưởng và cảm xúc; có thái độ tự tin khi nói trước nhiều người; sử dụngngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ thích hợp khi nói; kể lại được một cách mạch lạc câuchuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ những cảm xúc, thái độ, trải nghiệm, ý tưởngcủa mình đối với những vấn đề được nói đến; thảo luận ý kiến về vấn đề đã đọc, đãnghe; thuyết minh về một đối tượng hay quy trình; biết cách nói thích hợp với mụcđích, đối tượng và ngữ cảnh giao tiếp; biết sử dụng hình ảnh, kí hiệu, biểu đồ, đểtrình bày vấn đề một cách hiệu quả; học sinh thực hành nghe hiểu với thái độ phùhợp và tóm tắt được nội dung; nhận biết và bước đầu đánh giá được lí lẽ, bằngchứng mà người nói sử dụng; nhận biết được cảm xúc của người nói; biết cáchphản hồi những gì đã nghe một cách hiệu quả

Như vậy, năng lực ngôn ngữ là một năng lực tổng hợp trên cơ sở những biểuhiện của bốn yếu tố đọc, viết, nghe, nói cấu thành Các yếu tố đó có mối quan hệchặt chẽ, thúc đẩy và tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo nên tính toàn diện năng lựcđặc thù của môn Ngữ văn

*Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ

Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việcnhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống,thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướngnhững suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện Như vậy, năng lực cảmthụ (hay năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ sốcảm xúc của mỗi cá nhân Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận thức để xác định,đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người, của người khác, của các nhómcảm xúc

Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắnvới tư duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học Quá trình tiếp xúc vớitác phẩm văn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tácphẩm và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình

Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, học sinh sẽ biết rung động trướccái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hìnhtượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộcsống tốt đẹp hơn

Như vậy, quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp học sinh hình thành vàphát triển các năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việcrèn luyện và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói Trong quá trình hướng dẫnhọc sinh tiếp xúc với văn bản, môn Ngữ văn còn giúp học sinh từng bước hình

Trang 9

thành và nâng cao các năng lực học tập của môn học, cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kĩ năng nói và viết).

1.1.4 Dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị

kiến thức, nội dung bài học, chủ đề,…có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựatrên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các mônhọc hoặc các hợp phần của môn học đó (tức là con đường tích hợp những nội dung

từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung họctrong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt độngnhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn

Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống vàhiện đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ (xây dựng) kiếnthức mà chủ yếu là hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiếnthức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn

Dạy học theo chủ đề là một mô hình mới cho hoạt động lớp học thay thế cholớp học truyền thống (với đặc trưng là những bài học ngắn, cô lập, những hoạtđộng lớp học mà giáo viên giữ vai trò trung tâm) bằng việc chú trọng những nộidung học tập có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực, với trung tâm tập

trung vào học sinh và nội dung tích hợp với những vấn đề, những thực hành gắn

liền với thực tiễn Nó cũng không chỉ dừng ở mục tiêu “đầu vào” về kiến thức mà

nó còn hướng tới định hướng “đầu ra” tức là khả năng vận dụng kiến thức vào giảiquyết thực tiễn

Dạy học theo chủ đề ở bậc trung học là sự cố gắng tăng cường tích hợp kiến thức, làm cho kiến thức có mối liên hệ mạng lưới nhiều chiều; là sự tích hợp vào nội dung những ứng dụng kĩ thuật và đời sống thông dụng làm cho nội dung học

có ý nghĩa hơn, hấp dẫn hơn Một cách hoa mỹ, đó là việc “thổi hơi thở” của cuộc

sống vào những kiến thức cổ điển, nâng cao chất lượng “cuộc sống thật” trong cácbài học

1.2 Cơ sở thực tiễn

Trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, chúng tôithấy việc dạy - học các tiết học nói chung, chủ đề nói riêng trong chương trình tạiđơn vị chưa thật phát huy và khơi dậy tối đa các năng lực của học sinh Điều đó,thể hiện ở những tồn tại sau:

Dạy học đọc - hiểu chủ yếu vẫn theo hướng truyền thụ một chiều những cảm

nhận của giáo viên về văn bản, chưa hướng tới việc cung cấp cho học sinh cáchđọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản.Dạy học chú trọng đến cung cấp nội dung tư tưởng của văn bản văn học, ít chútrọng đến các phương tiện nghệ thuật Tóm lại, vẫn là chú trọng dạy kiến thức hơn

là hình thành kỹ năng

Trang 10

Dạy học tích hợp đã được chú trọng trong những năm học gần đây và cũng

đã đạt được một số kết quả bước đầu Tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn mang tínhkhiên cưỡng, thiếu tự nhiên, tức là giáo viên thường áp đặt những nội dung tíchhợp vào bài học như bảo vệ môi trường, giáo dục kỹ năng sống… một cách lộ liễu.Chưa phát huy học sinh huy động kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiềulĩnh vực… để giải quyết các nhiệm vụ học tập Chủ yếu tích hợp liên môn, chưachú trọng tích hợp các phân môn… chính vì vậy chưa giúp học sinh hình thànhkiến thức, kỹ năng mới và tất nhiên các năng lực của học sinh chưa được pháttriển

Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực Trong những

năm học vừa qua, nhận thức của đội ngũ giáo viên về tính cấp thiết phải đổi mớiphương pháp dạy học đã thay đổi và có nhiều chuyển biến; việc áp dụng nhữngphương pháp dạy học tích cực đã được thực hiện Tuy nhiên cách thực hiện, hiệuquả giảng dạy để đạt được mục tiêu của nó là chưa cao, ví dụ như phương phápthảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân học sinhtích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động.Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được

II Thực trạng

2.1 Thực trạng dạy của giáo viên

Nhiều giáo viên tâm huyết với bộ môn Ngữ văn cho rằng việc dạy học vẫnchưa tạo sức hút cho học sinh Chưa vận dụng có hiệu quả lý luận dạy học vàothực tiễn bài giảng nên nhiều giờ dạy giáo viên vẫn chưa thực sự giúp học sinh thểhiện cái riêng trong tiếp nhận kiến thức Sự phát huy tính tích cực chủ động củahọc sinh thực ra vẫn mang tính chất nửa vời Không phát huy được năng lực tư duysáng tạo của các em

Trong các tiết học, nội dung bài học cũng chỉ dừng lại ở việc truyền thụ nhữngkiến thức đơn thuần về nội dung và nghệ thuật của các văn bản và các kiến thứcTập làm văn hoặc tiếng Việt chứ chưa giúp học sinh hình thành được kĩ năng tìmhiểu một văn bản và khả năng suy luận để tự mình rút ra những bài học thực tiễncho bản thân

Về phương pháp thì phương pháp chủ yếu vẫn là thuyết trình của giáo viên và

sự thụ động ghi chép của học sinh Chủ thể của giờ học là giáo viên bởi vậy giờhọc thường rất nặng nề và áp lực

Theo chỉ đạo của ngành, những năm gần đây, các trường học cũng thực hiệnđúng việc xây dựng và dạy học theo chủ đề Mỗi tổ nhóm chuyên môn đều xâydựng tối thiểu hai chủ đề trong một năm học Tổ chức dạy thử nghiệm để dự giờ,rút kinh nghiệm Theo tiến trình hoạt động của mô hình trường họcmới, dạy học chủ đề cũng thực hiện theo 5 bước: khởi động, hìnhthành kiến thức, luyện tập, vận dụng và tìm tòi mở rộng Nhưng

Trang 11

trên thực tế, giáo viên và học sinh mới thực sự thực hiện được bahoạt động đầu, hoạt động vận dụng và tìm tòi, mở rộng thì giáoviên hướng dẫn học sinh thực hiện ở nhà Sở dĩ như vậy là vì khithực hiện các chủ đề số tiết học vẫn không thay đổi Số tiết chủ

đề là số tiết các bài học trong chủ đề cộng lại Với việc chú trọngnội dung kiến thức bài học, giáo viên mới chỉ dừng lại ở việctruyền thụ kiến thức các bài học liên quan đến chủ đề mà chưa cónhững tiết học để tổng kết chủ đề, vận dụng chủ đề, kết nối cácnội dung trong chủ đề lại với nhau

2.2 Thực trạng học của học sinh

Hiện nay, số lượng học sinh yêu thích môn Văn ngày càng ít đi, số học sinhgiỏi văn cũng theo đó mà ngày càng ít dần Đặc biệt, trong những năm gần đây, sốlượng học sinh đăng kí thi các trường đại học, cao đẳng khối C giảm sút đáng kể.Các kỳ thi tuyển HSG không được học sinh hưởng ứng một cách tích cực

Qua thực tế dạy học, tôi thấy việc học tập của học sinh cũng có nhiều điểmđáng quan tâm Có thể nói, nhìn chung nhiều học sinh vẫn ngại học môn Ngữ văn

vì phải ghi chép nhiều, nghe giảng nhiều và nhiều kiến thức Hơn nữa, trong quátrình giảng dạy, giáo viên cũng không để ý tới việc nhận thức của các em mà chỉdạy làm sao cho đúng tiến độ, cho hết giờ Vì vậy, trong các giờ học học sinh tiếpnhận tri thức một cách hững hờ, ít nhiệt tình Những năm gần đây, nhiều ngườiquan tâm đến công tác giáo dục cũng không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó

là tâm lý thờ ơ với việc học Ngữ văn Trong giờ học văn, học sinh ngồi học thụđộng, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động

Đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng về các năng lực được phát huytrong giờ học ngữ văn ở ba lớp 8 (Phụ lục 1) Theo bảng khảo sat, thì số học sinhchưa phát huy được các năng lực chiếm tỉ lệ cao: 52%

Cùng với khảo sát chất lượng về các năng lực được phát huy trong giờ họcNgữ văn, tôi đã khảo sát học sinh lớp 8 về sự yêu thích đối với học chủ đề Ngữvăn Kết quả thu được trước khi thực hiện dạy học chủ đề năm học mới: khôngthích chiếm 37%, bình thường chiếm 31% và thích là chiếm 32%

Như vậy, trên thực tế tỉ lệ học sinh không thích học chủ đề cao, và không

thấy sự khác biệt khi học chủ đề và học các bài học độc lập Các năng lực chưa

thực sự được phát huy khi dạy học chủ đề trước đây Đó là điều mà giáo viên phải

tìm cách để thay đổi

III Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

3.1 Tìm hiểu, nắm vững mục tiêu bài giảng Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực

Để xây dựng, thiết kế chủ đề theo định hướng phát triển năng lực, điều đầutiên là cần phải nắm vững mục tiêu bài dạy theo định hướng phát triển năng lực

Trang 12

Năng lực cốt lõi

Năng lực cốt lõi

Nhóm NL làm chủ

và PT bản thân

Nhóm NL quan hệ

xã hội

Nhóm năng lực công cụ

Năng lực

tự họcNăng lựcgiải quyết

vấn đềNăng lựcNăng lựcsáng tạoNăng lực giao tiếp tự quản lýNăng lực hợp tác

Năng lực sử dụngCN-TTNăng lực sử dụng ngôn ngữ Năng lực tính toán

Trong giáo dục theo định hướng năng lực học sinh, quan trọng là xác định rõnhững năng lực cần có và có thể phát triển trong dạy học Trong đó gồm năng lựcchung có thể phát triển ở các môn học khác nhau và năng lực riêng

Theo quan điểm của các nhà sư phạm, cấu trúc chung của năng lực hànhđộng được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau:

Các thành phần cấu trúc của năng lực

- Năng lực chuyên môn (Professional competency)

- Năng lực phương pháp (Methodical competency)

- Năng lực xã hội (Social competency)

- Năng lực cá thể (Induvidual competency)

Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triểnnăng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm trithức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xãhội và năng lực cá thể Những năng lực này có mối quan hệ biện chứng không táchrời nhau Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các nănglực này

- Trước hết là nhóm năng lực cốt lõi chung:

Trang 13

Năng lực giao tiếp

Tiếp nhận văn bản Tạo lập văn bản

Năng lực đọc hiểu Năng lực tập làm vănĐến phát triển cho học sinh những năng lực chuyên biệt:

Bên cạnh những năng lực, bài dạy ngữ văn phải giúp học sinh hình thànhnhững phẩm chất:

(1) Yêu gia đình, yêu quê hương, đất nước

(2) Nhân ái khoan dung

(3) Trung thực, tự trọng, chí công vô tư

(4) Chăm chỉ, có tinh thần vượt khó

(5) Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước và môi trường tựnhiên

Việc xác định những năng lực cần có và năng lực hướng tới cùng những phẩmchất có thể giáo dục là định hướng quan trọng, không thể thiếu của các bài dạyNgữ văn nói chung và dạy học chủ đề nói riêng.Từ mục tiêu, người dạy sẽ thiết kếchủ đề để thực hiện mục tiêu đó

3.2 Thiết kế chủ đề Ngữ văn 8 theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Trang 14

dung, ý nghĩa Từ những nội dung liên quan đó, giáo viên định hình chủ đề sẽ dạy

và soạn thành một giáo án Dạy học theo chủ đề Như vậy một chủ đề sẽ có từ 2 tiết

trở lên Thường thì trong môn Ngữ văn, các chủ đề được gom lại chủ yếu trongmột phân môn: Văn bản, Tập làm văn, Tiếng Việt

Năm học 2020 – 2021, Bộ giáo dục đã chỉ đạo dạy học theo chủ đề mà Bộ

đã tích hợp Chủ đề có sự tích hợp giữa các phân môn Văn – Tiếng Việt – Tập làmVăn

Bước 2: Căn cứ các chủ đề tích hợp, giáo viên tiến hành xây dựng chủ đề

Yêu cầu của việc xây dựng chủ đề là: chủ đề xây dựng vừa đúng, đủ, phùhợp và đảm bảo các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình chuẩn,cũng như các năng lực cần xây dựng, kiểm tra Khi xây dựng chủ đề phải đảm bảotính hệ thống, tính logic của chương trình tránh đảo lộn nội dung hay rối loạn tưduy học sinh, phá vỡ hệ thống kiến thức Các chủ đề mà Bộ đã xây dựng đáp ứngcác yêu cầu trên Nhiệm vụ của giáo viên là đặt tên chủ đề, phân bố số tiết và tiếnhành soạn giáo án dạy học theo chủ đề

Với chủ đề Ngữ văn 8, tôi đã đặt tên cho chủ đề học kì I là: Kí ức tuổi thơ trong hai văn bản “Tôi đi học” và “Trong lòng mẹ”, Tích hợp tính thống nhất về chủ đề và bố cục của văn bản Chủ đề học kì II là: Niềm hoài cổ trong hai văn bản

“Nhớ rừng” và “ông đồ”, tích hợp câu nghi vấn Mỗi chủ đề được dạy trong 8 tiết

học vào đầu mỗi học kì

Bước 3: Tiến hành soạn giáo án theo chủ đề đã xây dựng.

Trang 15

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức chủ đề

Hoạt động 3: Tổng kết, luyện tập chủ đề

Hoạt động 4: Vận dụng, nâng cao, hướng dẫn học bài về nhà

(Tuỳ số lượng tiết của chủ đề mà giáo viên soạn nội dung vận dụng nâng caongắn hay dài nhưng nên có những bài tập vận dụng tổng hợp kiến thức chung của

Trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, tôi không thể đăng tải hết giáo

án của một chủ đề bao gồm 8 tiết học Nên chỉ xin đưa ra giáo án một tiết họctrong chủ đề Ngữ Văn 8 học kì II làm ví dụ minh hoạ cho việc dạy học một tiết họccủa chủ đề theo định hướng phát triển năng lực Trong chủ đề học kì 2 này baogồm 8 tiết từ tiết 73 đến tiết 80 Sau tiết giới thiệu chủ đề ở tiết 73 là đến tiết 74 –

Tiết 1 của văn bản Nhớ rừng và là tiết thứ hai của chủ đề:

Trang 16

- Đọc diễn cảm tác phẩm thơ hiện đại viết theo bút pháp lãng mạn.

- Phân tích được những chi tiết nghệ thuật tiêu biểu trong tác phẩm

=> Hình thành và phát triển năng lực:

- Các năng lực chung:

+ Năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề;

+ Năng lực tư duy; năng lực giao tiếp;

- - GD phẩm chất yêu nước, chăm chỉ, trách nhiệm, trung thực…

* Tích hợp môi trường: Bảo vệ môi trường sống của chúa sơn lâm.

B CHUẨN BỊ

- Giáo viên:

+ Nghiên cứu SGK, SBT, SGV, chuẩn kiến thức kĩ năng, tư liệu tham khảo

+ Chuẩn bị kế hoạch dạy học, thiết bị, phương tiện dạy học (bảng phụ, máy chiếu)

- Học sinh:

+ Đọc kĩ SGK, tài liệu liên quan

+ Soạn bài theo hệ thống câu hỏi SGK

C TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

1 Khởi động:

Thi các nhóm: Kể tên những tác phẩm có các con vật trong chương trình Ngữ văn

THCS mà em đã học.

Giáo viên tổng kết, nhận xét => giới thiệu bài:

Mượn hình ảnh loài vật để giáo dục hoặc truyền tải một thông điệp nào đó là cách dùng quen thuộc trong các tác phẩm văn học Dù là thế giới loài vật hay đồ vật thì chung quy lại các tác phẩm vẫn luôn hướng đến những điều liên quan đến cuộc sống của con người Thế Lữ cũng chọn cách này, thông qua hình tượng con

hổ bị giam cầm để để bày tỏ nỗi niềm của mình trong bài thơ "Nhớ rừng" Đây cũng chính là nội dung tiết học của chúng ta ngày hôm nay.

2 Hình thành kiến thức

Trang 17

Hoạt động của giáo viên

Định hướn g PTNL

Phát triển năng lực tự học, khái quát vấn đề

“Nhớ rừng” là mượn lời con hổ ở vườn Bách thú

Thế Lữ (10 tháng 6 năm 1907 – 3 tháng 6 năm 1989; tên khai sinh là Nguyễn Đình Lễ (có tài liệu khác ghi tên ông là Nguyễn Thứ Lễ) là nhà thơ, nhà văn, nhà

hoạt động sân khấu người Việt Nam Thế Lữ nổi danh trên văn đàn vào những năm

1930, với những tác phẩm Thơ mới, đặc biệt là bài Nhớ rừng, cùng những tác phẩm văn xuôi, tiêu biểu là tập truyện Vàng và máu (1934) Trở thành thành viên của nhóm Tự Lực văn đoàn kể từ khi mới thành lập (1934), ông hầu hết hoạt động

Trang 18

sáng tác văn chương trong thời gian là thành viên của nhóm, đồng thời cũng đảmnhận vai trò một nhà báo, nhà phê bình, biên tập viên mẫn cán của các tờ

báo Phong hóa và Ngày nay.

Hoạt động của giáo

Định hướng PTNL

- Giáo viên đọc mẫu- Đọc

chính xác, có giọng điệu

phù hợp với nội dung cảm

xúc của mỗi đoạn thơ:

đoạn thì hào hùng, đoạn

uất ức

- Gọi học sinh đọc bài thơ

- Giáo viên kiểm tra việc

+ Đoạn 2 và đoạn 3 con hổ chốn giang sơnhùng vĩ

+ Đoạn 5: con hổ khao khát giấc mộngngàn

Phát triển năng lực đọc hiểu, khái quát vấn đề, giải quyết vấn đề

THẢO LUẬN CẶP ĐÔI

? Một bạn cho rằng tác

giả đã dùng thủ pháp đối

lập để tạo nên hai cảnh

tượng trái ngược nhau,

Ngày đăng: 01/08/2022, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông- Chương trình tổng thể, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông-Chương trình tổng thể
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2018
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông mônNgữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2018
3. Bộ GD - ĐT, Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông môn Ngữ văn, NXB GD, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổthông môn Ngữ văn
Nhà XB: NXB GD
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Một số vấn đề về dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh - học Văn trong nhà trường, NXBGD, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dạy học theo định hướng pháttriển năng lực học sinh - học Văn trong nhà trường
Nhà XB: NXBGD
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình THCS môn ngữ văn, NXBGD, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình THCS môn ngữ văn
Nhà XB: NXBGD
8. Nguyễn Trí (chủ biên), Dạy học Tập làm văn ở THCS – NXB Giáo dục Việt Nam, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Tập làm văn ở THCS
Nhà XB: NXB Giáo dụcViệt Nam
9. Hoàng Phê (chủ biên) Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 199810 . http://vtvc.edu.vn/chuong-trinh-giao-duc-dinh-huong-phat-trien-nang-luc/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (Khóa XI) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w