TÍNH DÂN TỘC TRONG BÀI THƠ VIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU MỞ ĐẦU Một thoáng tìm tới bài ca dao xưa cũ khiến tôi nhớ về câu chuyện của văn chương nghệ thuật “Có hát thì hát cho bổng, cho cao, cho gió lọt vào cho.
Trang 1TÍNH DÂN TỘC TRONG BÀI THƠ VIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU
MỞ ĐẦU
Một thoáng tìm tới bài ca dao xưa cũ khiến tôi nhớ về câu chuyện của văn chương nghệ thuật:
“Có hát thì hát cho bổng, cho cao, cho gió lọt vào
cho chúng chị nghe;
Chị còn ngồi võng ngọn tre
Gió đưa kĩu kịt chẳng nghe tiếng gì.”
Đọc mấy dòng thơ trên, ta thấy bận bịu trong lòng bởi cái sức sống văn thơ thấp bé chưa tới nổi với quần chúng, tấm gương văn thơ mờ ảo đến độ nhân dân chẳng thể soi nổi bộ mặt dân tộc mình, nhiều bài thơ tiếng hát quá thấp, quần chúng “ngồi võng ngọn tre”, gió thổi lộng trời nhưng không nghe thấy Cha đẻ của những áng văn thơ ấy đã gây thất vọng thật nhiều khi mải miết đem ngòi bút lao vào vòng quay ngoại hóa, vào cuộc sống công nghiệp hiện đại, trốn chạy khỏi miền đất cộng đồng Nhưng hơn hết ta phải lạc quan, tin tưởng vào những nhà ngôn từ chân chính “đắm mình trong dân tộc của mình”, “tự muốn mình là tiếng nói của dân tộc mình” như
Tố Hữu Và phấn khởi chào đón thi nhân đưa khúc hùng ca “Việt Bắc” “bắt nguồn trở lại vào hồn thơ cổ điển của dân tộc”
NỘI DUNG
1 Tính dân tộc trong văn học
Trước khi đi vào tìm hiểu tính dân tộc trong văn học, ta cần cắt nghĩa khái niệm trừu tượng những vô cùng thiêng liêng “dân tộc” Theo nghĩa thông thường, dân tộc là một cộng đồng người có chung ngôn, lịch sử - nguồn gốc, đời sống văn hoá và ý thức tự giác dân tộc Hiểu rộng ra, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người cùng sinh sống trong một quốc gia, một nước Hai cách hiểu nêu trên tuy là hai vấn đề không giống nhau, nhưng có liên quan mật thiết với nhau Bởi khi nói đến dân tộc Việt Nam, ta không thể kể đến 54 dân tộc đang sinh sống trên khắp dải dài chữ S và ngược lại, khi nói đến các dân tộc ở Việt Nam, ta không thể không bàn tới cộng đồng dân tộc Việt Nam
Vấn đề tính dân tộc đã có lịch sử nghiên cứu từ lâu nhưng vẫn luôn là đề tài hấp dẫn và mới mẻ Tính dân tộc là phẩm chất tư tưởng – thẩm mĩ độc đáo của sáng tác văn học, thể hiện sự gắn bó giữa tác phẩm văn học với văn hóa và tinh thần dân tộc Mỗi dân tộc trên thế giới đều có cuộc sống, cách cảm thụ thế giới và hệ giá trị riêng do truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, tâm lí và ngôn ngữ tạo thành Sự biểu hiện tập trung các phương diện ấy vào nội dung và hình thức của tác phẩm làm thành tính dân tộc của văn học
Trang 2Văn học là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” Người nghệ sĩ ngôn từ dù định viết thế nào, viết cho ai hay để làm gì cũng không quên chấm ngòi bút của mình vào nghiên mực cuộc sống Suy cho cùng chất liệu của văn học vẫn xuất phát từ cội nguồn văn hóa dân tộc Theo Bêlinxki: “Nếu việc mô tả cuộc sống là chân thật thì cũng có tính dân tộc” Hơn nữa văn nghệ tuy là sản phẩm tinh thần của cá nhân người sáng tạo nhưng không thể phủ nhận cá nhân người nghệ sĩ sinh trưởng trong một cộng đồng dân tộc nhất định, mang bản tính, cốt cách riêng của cộng đồng dân tộc đó Vậy nên tính dân tộc là một điều thường tại của văn học, là “một thuộc tính tất yếu trong việc sáng tạo, và thuộc tính này không đòi hỏi một sự nỗ lực nào ở nhà sáng tạo cả”
Trong sáng tác văn chương, tính dân tộc hiện diện ở mọi khía cạnh từ nội dung đến hình thức Về nội dung, tính dân tộc thể hiện ở cảnh sắc thiên nhiên, nhịp điệu đời sống Nội dung căn bản của tính dân tộc là ở tinh thần dân tộc, “tính cách dân tộc và cái nhìn dân tộc đối với cuộc đời” Tính cách dân tộc ấy là những nét đẹp ẩn chứa trong tâm hồn mỗi người lặp đi lặp lại tạo thành bộ mặt tinh thần của dân tộc nay xuyên thấm trong từng hình tượng, nhân vật văn chương Đặc biệt tính dân tộc còn in đậm trong các hình thức nghệ thuật Mỗi nền văn học dân tộc lại có một hệ thống thể loại, phương tiện ngôn từ rất được ưa chuộng, thể hiện được bản sắc riêng trong tư duy và tâm hồn dân tộc mình, đã trở thành truyền thống và được trọng dùng trong bao sáng tác văn thơ sau này
Nhìn về tiến trình phát triển của văn học dân tộc, ta nhận thấy tính dân tộc của văn học Việt đã có từ thời văn học trung đại nhưng còn chưa tự giác Phải đến đầu thế kỉ XX trở đi, cùng với sự mở rộng và giao lưu, ý thức dân tộc ngày càng được mài sắc, tính dân tộc của văn học lúc bây giờ mới được biểu hiện rõ nét và phong phú
Nhà văn Nga A Tôn xtôi đã từng khẳng định: "Nghệ thuật dân tộc là nghệ thuật mang mùi hương đất đai, trong tiếng mẹ đẻ mỗi từ dường như có hai lần ý nghĩa nghệ thuật… " Thật vậy ẩn sau cái bóng của nhà cầm bút là hình bóng của chính dân tộc mình Tính dân tộc đã trở thành một dấu ấn độc đáo, riêng biệt, không lặp lại của văn học dân tộc này so với văn học dân tộc khác, đồng thời góp phần là phong phú hơn kho tàng văn học nhân loại
2 Tính dân tộc trong phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
Tố Hữu được xem như cánh chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam, một “nhà thơ cách mệnh có tài”, một “nhà thơ của tương lai” Các chặng đường thơ của người nghệ sĩ luôn song hành với các chặng đường đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng nhiều vinh quang, thắng lợi của dân tộc Điều ấy khiến thơ Tố Hữu mang tính biên niên sử với nội dung trữ tình chính trị, giàu khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Những lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng trong nhà thi sĩ được thổi vào thơ qua cái giọng “hờn dịu ngọt” của người Huế đầy tâm tình, thương mến Cây bút cách mạng ấy đã kế thừa thật xuất sắc truyền thống của thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân gian và thơ ca cổ điển
Trang 3Theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh “Sức hấp dẫn mạnh nhất của thơ Tố Hữu đối với quần chúng đông đảo là tính dân tộc, tính truyền thống đậm đà và nhuần nhuyễn” Những “cánh lửa” của đời sống cách mạng, những tình cảm chính trị, đạo lí cách mạng qua sự cảm nhận và thể hiện của Tố Hữu đã gắn bó, hòa nhập vào truyền thống tinh thần, tình cảm và đạo lí của dân tộc, đồng thời góp thêm tiếng ca đa dạng hơn cho truyền thống ấy Ông cũng mượn lớp áo của thơ ca truyền thống, mượn thể lục bát hay song thất lục bát quen thuộc để làm bùng lên “những vần thơ tươi xanh”, “những vần thơ lửa cháy” Đọc thơ ông, người ta dễ dàng bắt gặp lối so sánh, cách diễn đạt yêu thích của thơ ca dân gian Những ngôn từ bình dị, hình ảnh ước lệ tượng trưng đã thân thuộc từ lâu, tất cả được tấu lên trong âm điệu ngọt ngào, trầm bổng nhịp nhàng nhờ hòa thanh, phối vần dễ ngâm, dễ thuộc
3 Tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc”
3.1 Giới thuyết chung về bài thơ “Việt Bắc”
“Việt Bắc” là một trong những đỉnh cao thơ Tố Hữu và là một trong những bài thơ xuất sắc thời kháng chiến chống Pháp Khúc hùng ca và tình ca “Việt Bắc” tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu, đặc biệt thấm đẫm “linh hồn dân tộc” trong cả nội dung và hình thức nghệ thuật Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh “không viết không được” trước cuộc chia tay của người cán bộ chiến sĩ với đồng bào Việt Bắc sau chín năm gắn bó Tố Hữu mượn bài thơ để biểu lộ tình nghĩa đối với quê hương cách mạng, đối với kháng chiến để mọi người trong niềm vui của cuộc sống hòa bình, niềm tin về ngày mai tươi sáng vẫn luôn ý thức được nguồn gốc thắng lợi, nhớ về cái nôi cách mạng với đoạn đường gian khổ nhưng nghĩa tình
3.2 “Việt Bắc” chứa đựng nội dung thấm đẫm tính dân tộc
Chính Tố Hữu từng nhận xét: “Thơ là tấm gương của tâm hồn” Nhìn lại chặng đường thơ của Tố Hữu, người ta thấy thơ ông là tấm gương phản ánh tâm hồn của một người chiến sĩ trung thành với lí tưởng của Đảng, sẵn sàng phấn đấu, hi sinh vì dân tộc Cái tôi của Tố Hữu là cái tôi nhân danh Đảng, cộng đồng Vì lẽ đó ta dễ dàng nhận thấy cả một tâm hồn dân tộc trong thơ ông Và Việt Bắc chính là một “tác phẩm sinh động mà nhân dân ta, dân tộc ta nhìn vào có thể tự soi gương thấy được hình ảnh chân thật của mình” Trên phương diện nội dung, Tố Hữu đã gửi vào “Việt Bắc” vấn đề trọng đại của lịch sử, đặc trưng về địa lí, về tâm hồn, tính cách của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam
Nhà viết sử bằng thơ đã bắt đầu thi phẩm của mình trước một sự kiện mang ý nghĩa lớn lao của toàn dân tộc Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954, Hiệp định Giơnevơ được kí kết, hoà bình được lập lại, một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra Tháng 10/1954, các cơ quan của Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội Cuộc sống thay đổi có tính chất bước ngoặt: từ chiến tranh sang hoà bình, từ núi rừng về thành thị Biết bao băn khoăn, trăn trở về tấm lòng son sắt, thủy chung nơi những con người đã từng được bao bọc, chở che, bao lưu luyến, nghĩa tình với những tấm lòng từng “đồng cam cộng khổ”, “chia ngọt sẻ bùi”, những bâng khuâng thương nhớ của kẻ ở và
Trang 4những bịn rịn, trống trải ở người đi đã trào ra “Mười lăm năm” ấy đã được tái hiện lại dưới ngòi bút thi nhân là mười lăm năm kí ức không chỉ của cá nhân nhà thơ mà còn của cả dân tộc Những bản tình ca cách mạng, những khúc hùng ca kháng chiến đã trào về
Đi vào phương diện lịch sử của dân tộc, vấn đề dựng nước và giữ nước là một nội dung chủ đạo Tố Hữu cũng gửi vào thơ mình những hiện thực kháng chiến tràn đầy tính dân tộc như vậy trong thơ mình Đọc những trang thơ “Việt Bắc” người ta lại nghẹn ngào trước buổi đầu
kháng chiến còn gian khổ Chính thi nhân đã cắt hình ảnh “miếng cơm chấm muối” ra từ trong
lòng cuộc chiến ấy Những ngày tháng ấy, vũ khí đạn dược phục vụ chiến trận còn thô sơ, cũ kĩ
Đó đâu chỉ là “áo rách, quần vá”, “tay không” đi đánh giặc… trong trang thiết bị mà lương thực cung cấp cho kháng chiến cũng vô cùng hạn chế đã trở về trong thơ của Chính Hữu, Quang Dũng… Nghĩ thôi mà đã thấy xót xa
Nhớ về cuộc kháng chiến, Tố Hữu còn gợi lại không khí khủng khiếp của bạo loạn từ
quân thù: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng” Nhà thơ không miêu tả chi tiết, cụ thể cảnh tượng quân
thù tàn phá nhưng vẫn gợi ra trong hồi tưởng độc giả những hoảng loạn, tan tác, những đau thương, mất mát của quân và dân Việt Bắc Nỗi ám ảnh ấy đã đi vào bao áng thơ văn của dân tộc:
“Súng nổ kia! Giặc Tây lại đến lùng.
Từng cái lán, nó đốt đi trơ trụi,
Nó vơ hết áo quần trong túi”
(Dọn về làng – Nông Quốc Chấn)
Đi vào cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc năm 1948, Tố Hữu đã “phát triển tính chất dân tộc trong văn hóa” bằng cách “phát triển tình yêu nước, chí căm thù” Cả miền xuôi và miền ngược, cán bộ chiến sĩ và đồng bào Việt Bắc đều nhận thức được mối thù chung của toàn dân bây giờ Ấy là mối thù với bọn thực dân Pháp, bọn phát xít Nhật, tất cả bè lũ bán nước và cướp nước Có thể thấy trong bất cứ thời điểm nào, với bất cứ thế lực ngoại xâm nào, nhân dân
ta đều ý thức được tinh thần dân tộc và niềm căm thù giặc sâu sắc Niềm căm thù ấy có thể cụ thể hóa, có thể cân sức nặng, “sờ thấy” và cảm nhận được ở trên vai
Gợi về cuộc kháng chiến, Tố Hữu đã gợi về hình ảnh con người kháng chiến với phẩm chất của cả cộng đồng Dù cuộc kháng chiến còn nhiều gian khó nhưng nhân dân ta trong cuộc chiến vẫn mang tinh thần kiên trì, bền bỉ với ý chí quyết tâm cao độ và tinh thần lạc quan vượt qua mọi khó khăn, gian khổ Dân tộc ta vẫn luôn tin về tính chính nghĩa của cuộc chiến đấu và một ngày không xa đây thôi, đất nước ta sẽ sạch bóng quân thù Vì vậy mọi người dân cùng nhau đoàn kết, hợp sức lại; đồng bào Việt Bắc và cán bộ kháng chiến trong giá rét, đói kém vẫn đồng cam cộng khổ, vẫn đùm bọc lẫn nhau để hướng về nhiệm vụ cao cả Họ nhường nhau cả miếng cơm, chia nhau từng chút một, san sẻ nhau từng đũa một để ấm bụng, để có sức khỏe tiếp tục cuộc chiến đấu:
Trang 5“Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.”
Họ cũng mang trong mình nét đẹp tâm hồn truyền thống của người Việt: lạc quan, yêu
đời Ông cha ta từ xưa đã răn nhau rằng: “Chớ than phận khó ai ơi/ Còn da lông mọc còn chồi nảy cây” Nay trong khói lửa chiến tranh gian truân, vất vả, người lính vẫn hồn nhiên cất tiếng
ca:
“Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.”
Người chiến sĩ vẫn tin tưởng vào một ngày mai nhất định thành công, thắng lợi, ý chí của
họ vẫn cao hơn những khó khăn trước mắt Trong gian khổ ta cất tiếng ca vui, trong tối tăm ta vẫn nhìn ra ánh sáng:
“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.”
Chặng đường thơ của Tố Hữu luôn song hành với chặng đường đấu tranh cách mạng của
cả dân tộc Thi nhân miêu tả dân tộc ta trong những buổi đầu kháng chiến đến khi quân đội đã lớn mạnh, trưởng thành Nhà thơ đã chớp lấy khí thế ra trận hào hùng của quân đội ta, tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, ý chí mạnh mẽ, không gì cản phá nổi của quân và dân ta Một khúc hùng ca đẹp đẽ hiện về sống động trong kí ức bao người, mở ra sáng tươi trong trí óc thế hệ mai này:
“Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.”
Cuộc hành quân trong đêm nhưng không khí vẫn diễn ra khẩn trương, sôi động với ý chí quyết chiến quyết thắng rung chuyển đất trời Đoàn quân ấy đông đảo, hùng mạnh, nối dài trên khắp nẻo đường Việt Bắc những tưởng là một cuộc duyệt binh lớn Từ bộ đội đến dân công, ai ai cũng hăng hái góp sức mình vào cuộc kháng chiến Họ - những người lính cầm súng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, tiêu diệt kẻ thù Họ - lực lượng dân công với tình thần quả cảm “chèn lưng cứu pháo, lấy thân mình lấp lỗ châu mai”, “dốc Pha Đin chị gánh anh thồ”, không ngần ngại “đêm nay ngủ ngoài rừng” Họ có ý chí kiên cường vượt qua mọi gian khó, oai hùng, lẫm liệt như
“tam quân tì hổ”, vươn mình thành người khổng lồ để giành lấy chiến tích về cho Tổ quốc Và
Trang 6chính họ là một trong những con người làm nên huyền thoại của Việt Nam ở thế kỉ XX, là mảnh ghép không thể thiếu cho bức tranh sử thi hoành tráng của dân tộc
Và chiến thắng vinh quang đã đến với toàn quân, toàn dân ta Một niềm vui phơi phới ngập tràn trên khắp cung đường Tổ quốc ta Tố Hữu đã hòa mình trong niềm vui ấy để reo lên khúc khải hoàn ca vang dội, giòn giã, trong một ngày hội lớn của dân tộc:
“Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”
Quãng thời gian dài gắn bó đã làm nảy nở trong người cán bộ xiết bao tình cảm đẹp đẽ về cảnh, về người nơi quê hương Việt Bắc Tố Hữu từng có tâm sự thế này: “Cảnh vật và tinh thần Việt Bắc đã nhập vào hồn tôi, máu thịt tôi, Việt Bắc như đã ở trong tôi” Vì vậy thi nhân mới có thể khám phá bức tranh thiên nhiên Việt Bắc chân thực đến vậy Tính dân tộc của bài thơ không thể nói được nó đã tăng lên nhường nào qua những khung cảnh đặc trưng của Việt Bắc, chỉ cần đọc lên thôi đã thấy được cái mùi đất, mùi nước, mùi khí hậu nơi đây Đến cái khắc nghiệt của khí hậu khắc nghiệt, dữ dội, sức càn quét của “suối lũ”, sự buốt giá, âm u của “mây mù” giăng kín, thi nhân cũng chẳng hề né tránh hay tô sơn:
“Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?”
Chính điều ấy đã góp phần làm nên diện mạo đặc trưng, không lẫn vào đâu được của dải đất này Từ khí hậu đến sản vật thiên nhiên đều mang dấu ấn riêng chỉ ở mảnh đất núi rừng, chỉ
có trên đất nước bình dị này
“Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già.”
“Trám bùi”, “măng mai” không chỉ là kí ức của một thời chiến đấu, là lương thực nuôi sống quân và dân thời gian khó mà đó còn là dấu hiệu nhận biết miền đất quê hương Nào có ai đọc câu thơ này lên mà không nghĩ ngay đến Việt Bắc, không tưởng ngay đến dân tộc mình
Đi vào một khía cạnh rất nhỏ nhưng vô cùng được yêu thích của thơ ca từ ngàn đời là thiên nhiên cũng đủ thấy phong quang và vẻ đẹp của nó đậm đà tính dân tộc thế nào Nay trong bức tranh dân tộc người ta còn khám phá được tình cảm mang cốt cách dân tộc: tình yêu thiên nhiên, sự hài hòa đến mức tuyệt diệu của cảnh và người của con người Việt Nam Việt Bắc hiện
về trong nỗi nhớ thương dâng đầy theo thời gian sớm chiều, ăm ắp trong không gian sông suối Tình yêu thiên nhiên đã mở lối cho bức tranh Việt Bắc thơ mộng, yên bình đến lạ với ánh nắng chiều nhẹ xuống nương ngô, với vầng trăng bàng bạc nơi đầu núi, với bản làng bồng bềnh trong sương khói Cảnh vật hiện ra có khi chung chung là “rừng nứa, bờ tre” mà ta có thể bắt gặp ở bất
Trang 7cứ đâu trên dải đất này, có khi cụ thể với những địa danh “ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê” in hằn trong bản đồ địa lí của Tổ quốc Tất cả được nhìn bằng đôi mắt của nỗi nhớ người yêu da diết, dạt dào:
“Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.”
Thiên nhiên không chỉ hiện lên với vẻ đẹp tự tại mà còn gắn với đời sống sinh hoạt, chiến đấu của con người Tình cảm thiết tha, vô hạn của con người với thiên nhiên đã được ghi lại bằng những hình ảnh thật ấm áp và tươi sáng:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”
Mối tình dân tộc với cảnh quyện hòa với người Việt Bắc Trong nỗi nhớ cảnh luôn bịn rịn nỗi nhớ nhung với người Bức tranh tứ bình mở ra với màu đỏ rực cháy bùng trên phông xanh đại ngàn trầm tình Gam màu nóng bật lên trên nền lạnh đã đánh bay đi cơn đông gió rét của núi rừng Con người đứng trên đèo cao chiếm lĩnh núi rừng, trong tư thế làm chủ quê hương, đất nước Xuân đến với sắc màu trẻ trung, ấm áp, tinh khôi và dạt dào sự sống từ những đợt “mơ nở trắng rừng” Nổi bật trong bức tranh xuân là hình ảnh con người lao động tỉ mỉ, tài hoa, trau chuốt, phảng phất dáng hình của những nghệ nhân nơi các làng nghề Mùa hạ đặc trưng của Việt Bắc hiện ra qua bức tranh sơn mài óng ả, rộn ràng từ màu vàng của phách đổ tới dàn đồng râm ran của những chú ve Con người chỉ có một mình trong bức tranh thơ nhưng không hề cô đơn
mà mang tới cảm giác hài hòa đến lạ lùng với cảnh vật Cuối cùng nhà thi sĩ đã khép lại bức tranh tứ bình bằng bức tranh mùa xuân, bức tranh của hòa bình, của ân tình thủy chung trong tiếng hát vọng lại của đêm trăng Cảnh đẹp thiên nhiên đất nước hùng vĩ, ngọt ngào, con người lao động cần cù và tỉ mỉ Hồn dân tộc từ bức tranh cứ tỏa ra ngày một đầy, nhè nhẹ đi vào tâm trí của những đứa con đến với “Việt Bắc”
Trang 8Một điều đặc trưng nữa mà Tố Hữu không thể bỏ qua khi nhớ về thiên nhiên Việt Bắc mà rộng ra là thiên nhiên trong những năm tháng kháng chiến Đứng ở góc nhìn lịch sử, ta nắm giữ
vị trí địa lí vô cùng đắc địa, một trong ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa của dân tộc Tố Hữu
đã nói về thực tế lịch sử đầy hào hùng, tình nghĩa giữa thiên nhiên và con người trong kháng chiến Một tình đoàn kết, ruột thịt rất Việt Nam:
“Núi giăng thành luỹ sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng.”
Không chỉ trong bức tranh lớn về phương diện địa lí, lịch sử của đất nước một thời, tính dân tộc nơi “Việt Bắc” còn biểu hiện trong nét đẹp của truyền thống tinh thần, tình cảm và đạo lí của dân tộc Tố Hữu viết về nỗi lòng của kẻ ở người đi mà dựng lên bức chân dung tâm hồn đẹp
đẽ của con người kháng chiến Đó là lối sống trọng tình, trọng nghĩa, là đạo lí thủy chung trước sau như một của con người Việt Nam Dân tộc ta vốn rất giàu tình cảm Đó là sức mạnh giúp con người trải bao đắng cay ngọt bùi: “Lòng nóng bỏng căm thù vẫn mát tươi tình bạn” Những nghĩa tình, sẻ chia, keo sơn, gắn bó trong suốt một thời kì kề vai sát cánh đã khiến “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” Một mối tình cảm đậm sâu cùng bao da diết, vấn vướng đã trào ra mãnh liệt Dòng cảm xúc ấy bật ra trước tiên trong những tâm hồn trống trải của người ở lại Trong tâm trí của người dân Việt Bắc, người cán bộ kháng chiến không chỉ là những anh hùng,
có nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà còn là những người chiến hữu, là những người thân thuộc như anh em, con cái trong một gia đình Với họ người cán bộ có ơn đem lại “rừng thu hòa bình”, mang yên vui, trở về no ấm cho nhân dân Đồng thời cũng có cùng nhau bao kí ức sinh tử thời gian khó Thế nên khi giờ phải chia xa, người ở lại một mình đối diện với không gian giăng mắc nhung nhớ mà vấn vương, bịn rịn trong lòng:
“Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già.”
Để tạo sự tròn đầy cho mối tình dân tộc ấy, Tố Hữu đã để người ra đi thả vào lời thơ sau bao niềm nhớ thương, yêu mến Người cán bộ kháng chiến trong giờ phút chia tay lưu luyến, ngập ngừng:
“Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay ”
Người ở lại trong lòng người ra đi cùng chiếm một vị trí đặc biệt với tình cảm đầy trân trọng Tố Hữu sử dụng hàng loạt các từ láy Hán Việt để miêu tả nhiều cung bậc cảm xúc của cán
Trang 9bộ ra về Thi nhân mượn âm thanh “tha thiết” để gợi về những khắc khoải khôn nguôi, bao ân tình, trìu mến Ông gửi vào “bâng khuâng” cả nhớ nhung, luyến tiếc, cả buồn, vui lẫn lộn, chồng lấn lên nhau Ông cũng tỏ tâm trạng thấp thỏm, nôn nao, hồi hộp và day dứt trong lòng qua hai tiếng “bồn chồn” Cuối cùng nhà thi sĩ đúc kết lại đoạn tình cảm này trong cái “cầm tay” xiết chặt Chỉ một cái cầm tay thôi nhưng thay cho biết bao điều muốn nói Người đi kẻ ở chẳng biết nào gì dù có quá nhiều điều để nói Thôi đành để dấu ba chấm ngân hộ thật dài khúc tình ca cảm động này
Chính bởi những ân tình sâu nặng như vậy nên trong buổi chia tay, người ở lại đã dâng trong lòng nhiều dự cảm Lời nhắc nhở về đạo lí thủy chung của dân tộc đã xuất hiện thật đúng lúc:
“Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
Nhà thơ mượn hình ảnh “cây, núi, sông, nguồn” để gợi ra hai thế giới không gian miền xuôi, miền ngược, hai chiều thời gian quá khứ, tương lai Nếu “cây, sông” gợi nhắc vùng đồng bằng – nơi mà trong tương lai gần đây thôi người cán bộ kháng chiến sẽ trở về, sống giữa chốn phồn hoa đô hội thì “núi, nguồn” lại gắn liền với vùng núi cao, tượng trưng cho chiến khu Việt Bắc – nơi mà trong quá khứ người lính đã từng cùng đồng bào kề vai chiến đấu Nhà thơ băn khoăn về lòng người ra đi: không biết có còn nhớ về ân tình đã qua hay không và cũng nghiêm nghị nhắc nhở đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Lời nhắc ấy không chỉ gợi ra một lần, nó dường như đã trở thành một niềm trăn trở của người ở lại:
“Mình về thành thị xa xôi Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông, còn nhớ bản làng Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?”
Trước những suy tư ấy của đồng bào Việt Bắc, người cán bộ kháng chiến đã có khẳng định chắc nịch về lòng thủy chung “trước sau như một của mình” Tình cảm cao đẹp ấy chính là tình cảm mang tính truyền thống, đã ăn sâu bám rễ vào cốt tủy của biết bao thế hệ người Việt Nam cả người cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc cũng vậy Trong tâm trí của người đi,
họ không bao giờ quên tấm lòng son sắt của đồng bào Việt Bắc:
“Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”
Câu thơ có sự xuất hiện của những mái nhà lá đơn sơ, mộc mạc, hình ảnh những ngọn lau xám hắt hiu trong gió Lời thơ đảo ngữ càng nhấn mạnh nét tiêu sơ, buồn bã của núi rừng Việt Bắc cùng hình ảnh tương phản “hắt hiu lau xám” và “đậm đà lòng son” đã ghi tạc tình cảm sắt son của nhân dân Việt Bắc với cán bộ kháng chiến Trong những ngôi nhà tranh vách đất là
Trang 10những tấm lòng nghĩa tình, thủy chung Người Việt Bắc có thể nghèo về vật chất nhưng họ lại rất giàu về tình nghĩa Màu lau xám, cái nghèo khổ càng làm tôn lên sự thắm tình đượm nghĩa của nhân dân với cách mạng Và người cán bộ mai này về xuôi sẽ chẳng bao giờ quên những kiên trung, son sắt, một lòng với Đảng, với Bác, với cách mạng, với kháng chiến
Và đáp lại tình cảm mặn nồng của đồng bào Việt Bắc với mình, xua tan đi những thắc mắc trong tâm trí người ở lại, người cán bộ kháng chiến cất lời thề chung thủy:
“Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh”
Kim Kiều xưa dưới trăng thề nguyền “Đinh ninh hai mặt một lời song song” Nay người cán bộ cũng mượn hai chữ “đinh ninh” từng xuất hiện trong lời thề đôi lứa đề khắc ghi tấm lòng mình Câu thơ gợi lại truyền thống đạo lí thủy chung, nghĩa tình, sống có trước có sau của người Việt Tố Hữu dùng từ “sau trước” còn gợi lại cả khoảng thời gian xa xăm từ quá khứ đến hiện tại
và tới cả tương lai sau này Những năm tháng trong quá khứ đã tạo ra mối tri âm bền chắc của hiện tại Những sẻ chia, cùng khổ thời chiến tranh đã làm “đậm đà”, sâu sắc, thấm thía cho nghĩa tình của hai ta Và thời gian sau này chính là liều thuốc thử cho những “đậm đà” ấy Nhưng người ra đi đã khẳng định “đinh ninh” như một lời khắc ghi, đóng dấu Ân nghĩa ấy với người ở lại, cán bộ kháng chiến sẽ không bao giờ quên Dù thời gian có ngày một đầy, hoàn cảnh có nhiều biến động cũng không thể nào xóa nhòa, lay chuyển tình cảm của người cán bộ kháng chiến với đồng bào Việt Bắc, thậm chí chính thử thách của thời gian khiến tình cảm “ta”, “mình” thêm đằm thắm hơn:
“Nước trôi, lòng suối chẳng trôi Mây đi mây vẫn nhớ hồi về non
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn Chàm nâu thêm đậm, phấn son chẳng nhòa.”
“Tính dân tộc lại càng xuyên thấm trong việc thể hiện hình tượng và nhân vật, kể cả nhân vật trữ tình, với những tâm hồn và tính cách dân tộc độc đáo” Hình ảnh người anh hùng Việt Nam bất khuất, anh hùng nhưng hiền từ, trung hậu là một trong những điểm nổi bật của cá tính Việt Nam Trong văn học cách mạng nói riêng và thơ ca Tố Hữu nói chung, Bác Hồ chính là hình tượng tiêu biểu nhất cho phẩm chất anh hùng mà bình dị ấy Hình ảnh Bác Hồ hiện lên thật bình dị, gần gũi và thiết tha trong chất tình, chất họa, chất nhạc nơi ngòi bút Tố Hữu:
“Mình về với Bác đường xuôi Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường!
Nhớ Người những sáng tinh sương