1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUAN điểm DUY vật BIỆN CHỨNG về cặp PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN kết QUẢ và LIÊN hệ THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP của một bộ PHẬN SINH VIÊN ở VIỆT NAM HIỆN NAY

13 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 234,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN Đề tài: QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN - KẾT QUẢ VÀ LIÊN HỆ THỰC TRẠNG TH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

Đề tài: QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN - KẾT QUẢ VÀ LIÊN HỆ THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA MỘT BỘ PHẬN SINH VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Họ và tên: Vũ Linh Anh MSV: 11219531

Lớp học phần : LLNL1105(221)CLC_05 Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Ngọc Thông

Hà Nội, Tháng 5 Năm 2022

Trang 2

YLỜI MỞ Đ

NỘI DUNG 5

Phần 1: Cơ sở lý luận 5

1.1 Khái quát về phép biện chứng duy vật 5

1.2 Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Phân biệt giữa nguyên nhân với nguyên cớ, điều kiện 5

1.1.3 Tính chất mối quan hệ nhân quả 5

1.1.4 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 6

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả 7

Phần 2: Liên hệ về vấn đề thất nghiệp của một bộ phận sinh viên hiện nay 7

2.1 Định nghĩa 7

2.2 Thực trạng 7

2.3 Nguyên nhân 8

2.3.1 Nguyên nhân khách quan 8

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 9

2.4 Giải pháp 10

2.4.1 Giải pháp cho nguyên nhân khách quan 10

2.4.2 Giải pháp cho nguyên nhân chủ quan 11

2.5 Bài học kinh nghiệm cho sinh viên nói chung và bản thân 12

KẾT LUẬN 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ nguyên nhân – kết quả là một trong những mối liên hệ đầu tiên được phản ánh vào trong đầu óc của con người Mối quan

hệ nguyên nhân và kết quả, hay còn gọi là mối quan hệ nhân quả, là mối liên hệ vốn có của sự vật, của thế giới vật chất Nhận thức về sự tác động, tương tác giữa các mặt, các yếu tố hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau như là nguyên nhân cuối cùng dẫn đến

sự xuất hiện của các mặt, các yếu tố, các sự vật, hiện tượng mới về chất, chính là khâu quyết định dẫn đến việc phát hiện ra tính nhân quả như là yếu tố quan trọng của mối liên hệ phổ biến Bất kỳ một sự vận động nào ở trong thế giới vật chất suy cho cùng đều là những mối liên hệ nhân quả, xét ở những phạm vi khác nhau, những thời điểm khác nhau và những hình thức khác nhau Nó luôn nằm trong vòng quay của sự tác động giữa những bộ phận khác nhau ở trong cùng một một sự vật hiện tượng, hoặc là

sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng

Đất nước ta vẫn còn là nước đang phát triển nên chúng ta luôn có sự đổi mới về kinh tế Sự thay đổi này đã mang lại cho đất nước những thành công đáng mừng, song luôn có một mặt trái trong mọi vấn đề mà chúng ta cần giải quyết Và mặt trái đó là vấn

đề việc làm của sinh viên Đất nước muốn phát triển thì phải bắt đầu từ lực lượng lao động với trình độ mà sinh viên chính là nguồn lao động dồi dào, trẻ trung, có tiềm năng

để vươn lên, đóng góp cho xã hội Sinh viên là nguồn nhân lực rất quan trọng và cần được sử dụng một cách hiệu quả Tuy nhiên, sinh viên ra trường ngày nay đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn để có được việc làm Tỉ lệ thất nghiệp hiện nay của sinh viên đang ở con số đáng báo động Từ đó chúng ta đặt ra câu hỏi do đâu mà một

bộ phận sinh viên mới ra trường lại rơi vào tình trạng không có việc làm?

Với tính cấp thiết như trên và với tính đúng đắn của triết học Mác – Lênin nói chung và phép biện chứng về mối liên hệ nguyên nhân và kết quả nói riêng, em quyết

định lựa chọn đề tài: “Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ nguyên nhân – kết quả và liên hệ thực trạng thất nghiệp của một bộ phận sinh viên ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu.

Nội dung đề tài sẽ thực hiện phân tích và nghiên cứu làm rõ hai nội dung chính bao gồm khái niệm, tính chất và ý nghĩa lí luận của phép biện chứng duy vật về mối liên hệ nguyên nhân – kết quả; Mối liên hệ thực trạng thất nghiệp của một bộ phận sinh

Trang 4

viên mới ra trường cùng một số giải pháp của Nhà nước ta hiện nay với các giải pháp

đã và đang thực hiện để giải quyết vấn đề này trong thời kỳ đổi mới

Việc nghiên cứu đề tài thúc đẩy sự tìm tòi, học hỏi và nâng cao khả năng tư duy của em – một sinh viên đang học môn học Triết học Mác - Lênin Nhưng bởi kiến thức còn nhiều hạn chế nên chắc chắn trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Em mong giảng viên hướng dẫn và bạn đọc chú ý và góp ý bổ sung để em có thể hoàn thiện hơn hiểu biết của bản thân để rút kinh nghiệm cho những thiếu sót của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

NỘI DUNG

Phần 1: Cơ sở lý luận

1.1 Khái quát về phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng là học thuyết khái quát về biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lí, các quy luật, các phạm trù để từ đó hình thành nên hệ thống nguyên tắc phương pháp luận nhằm chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Phép biện chứng thuộc biện chứng chủ quan, tức là sự phản ánh biện chứng của thế giới vật chất vào trong đời sống ý thức của con người Khi xem xét sự vật,hiện tượng phép biện chứng đặt nó vào trạng thái vận động, biến đổi, phát triển trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng khác

Phép biện chứng đã phát triển qua ba giai đoạn, ba hình thức cơ bản, trong đó giai đoạn phát triển cao nhất trong lịch sử triết học là sang tạo nên phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin Phép biện chứng duy vật được xem là khoa học nhất, là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị, sâu sắc nhất và không phiến diện

1.2 Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả

1.1.1 Khái niệm

Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong cùng một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một hoặc hơn một sự biến đổi nhất định Còn kết quả là

sự biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau của các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau

1.1.2 Phân biệt giữa nguyên nhân với nguyên cớ, điều kiện

Nguyên cớ là những sự vật hiện tượng xuất hiện đồng thời với nguyên nhân nhưng nó chỉ là quan hệ bên ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả Còn điều kiện là những sự vật gắn liền với nguyên nhân, tác động vào nguyên nhân, làm cho nguyên nhân phát huy tác dụng Điều kiện không trực tiếp sinh ra kết quả

1.1.3 Tính chất mối quan hệ nhân quả

Mối quan hệ nhân quả có ba tính chất Đầu tiên là tính khách quan Mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của sự vật, không phụ thuộc vào ý thức con người Dù con người biết hay không biết thì các sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó gây

Trang 6

nên biến đổi nhất định Con người chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động

và những biến đổi, tức là mối liên hệ nhân quả của hiện thức, chứ không sáng tạo ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình

Mối quan hệ thứ hai là tính phổ biến Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa Không nên đồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối liên hệ nhân quả với vấn đề tồn tại của mối liên hệ đó trong hiện thực

Cuối cùng là tính tất yếu Cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau Tuy nhiên, trong thực tế, khổng thể có sự vật nào tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau Do vậy tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả trên thực tế được hiểu là: Nguyên nhân tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu

1.1.4 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

Nguyên nhân sản sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn có trước kết quả Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tác động Cùng một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau, tùy tuộc vào hoàn cảnh cụ thể Ngược lại, cùng một kết quả có thể được gây nên bởi những nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hoặc cùng một lúc Nếu nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng một hướng thì sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều, đẩy nhanh sự hình thành kết quả Ngược lại, nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì sẽ làm suy yếu, thậm chí triệt tiêu các tác dụng của nhau

Kết quả có thể tác động trở lại nguyên nhân Nguyên nhân sản sinh ra kết quả nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ vai trò thụ động đối với nguyên nhân mà sẽ

có ảnh hưởng tích cực ngược trở lại đối với nguyên nhân

Vị trí giữa nguyên nhân và kết quả xảy ra sự thay đổi khi ta xem xét sự vật, hiện tượng trong các mối quan hệ khác nhau Một hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này

là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác là kết quả và ngược lại

Trang 7

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả

Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân Nhưng không phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân Nhiệm vụ của nhận thức

là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích những hiện tượng đó Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thức, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ trong đầu óc con người, tách rời với thế giới hiện thực

Nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy thì ta cần tìm trong những sự kiện, những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân khách quan Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực Kết quả tác động trở lại nguyên nhân nên trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng, nhằm đạt mục đích nhất định

Phần 2: Liên hệ về vấn đề thất nghiệp của một bộ phận sinh viên hiện nay

2.1 Định nghĩa

Thất nghiệp là tình trạng người lao động bị ngừng thu nhập do không có công việc phù hợp mặc dù họ có khả năng làm việc theo Điều 20, Công ước 102 (1952) của

Tổ chức lao động quốc tế

2.2 Thực trạng

Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong năm 2017, có hơn 200.000 cử nhân thất nghiệp tương ứng với ¼ số lượng sinh viên tốt nghiệp ra trường Phần lớn sinh viên thất nghiệp tập trung vào các ngành kinh tế, sư phạm, xã hội Trong số sinh viên ra trường có việc làm, khoảng 60% sinh viên làm trái ngành đào tạo Nhiều cử nhân đang làm những công việc đơn giản không cần đến bằng cấp

Trang 8

Nếu xét tình trạng thất nghiệp dựa theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong quý một năm 2016, có tới 32.3% số người lao động thất nghiệp cả nước là người đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc nghề từ 3 tháng trở lên Trong đó, nhóm lao động có trình độ từ đại học trở lên chiếm thị phần lớn nhất, khoảng 38.6% Tình trạng thất nghiệp của một bộ phận sinh viên mới ra trường hiện nay tăng với con số đáng báo động

2.3 Nguyên nhân

2.3.1 Nguyên nhân khách quan

Có rất nhiêu nguyên nhân dẫn đến việc sinh viên mới ra trường không có việc làm Nguyên nhân đầu tiên là định hướng nghề nghiệp Theo một bài khảo sát nhỏ của

bộ phận tuyển sinh và định hướng nghề nghiệp của các trường năm 2017, có đến 15-20% sinh viên sau khi tốt nghiệp mới biết mình đã chọn sai ngành Có rất nhiều lí do dẫn đến việc chọn sai ngành và nguyên nhân thứ yếu đến từ gia đình Bố mẹ là người

đi trước với nhiều kinh nghiệm và cái nhìn tổng quan hơn nên họ thường định hướng con cái theo ngành nghề họ cho là hợp lí và có khi là ép buộc con cái Vì vậy, họ thường bỏ qua chính kiến và sở thích của con mình dẫn đến tình trạng khi con mình học thì không đến nơi đến chốn, ra trường sẽ mông lung trong tìm kiếm việc làm Ngoài ra còn có lí do khác là chọn ngành nghề theo số đông Đa số sinh viên sẽ theo thị trường công việc hiện tại và theo những ngành nghề đang dẫn đầu xu hướng, kiếm lương khủng, không lo thiếu việc làm Tuy nhiên, trong bốn năm làm sinh viên, thị trường có thể có biến động không lường trước được Sau cùng, việc chọn nghành nghề rất quan trọng nên sinh viên cần phải cân nhắc Có thể lấy ý kiến từ nhiều nơi nhưng không thể bỏ qua sở thích, đam mê của bản thân

Trong thời gian qua, số lượng sinh viên ra trường thất nghiệp vẫn tăng dù chính phủ đã có các bước đổi mới hay đầu tư vào việc giảng dạy Từ đó, phụ huynh và sinh viên sẽ nảy ra câu hỏi: “Liệu chất lượng đào tạo đã thực sự gắn với nhu cầu xã hội hay chưa?” Với việc tiếp cận xã hội hóa giáo dục ngày nay, các trường tư được mở rộng hơn và trực tiếp cạnh tranh với các trường nhà nước Tuy nhiên, sẽ có những bất cập như một số trường vì lợi nhuận chỉ cấp bằng, không đào tạo sinh viên “chuẩn và trúng” với chuyên ngành Hậu quả là xã hội phải gánh lấy những “sản phẩm” không đủ chất lượng, đầu ra của đội ngũ nhân lực ngày càng yếu Nguyên nhân khác là do các trường còn xem nhẹ thực hành, đặt nặng lý thuyết, chương trình đào tạo thì theo lối mòn,

Trang 9

không sửa đổi, thiếu thực tế Về các trường nghề, cơ sở vật chất hay kinh phí nghèo nàn, chất lượng đội ngũ giảng dạy không đồng đều cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo

Ngoài những lí do trên, quy mô phát triển nền kinh tế và dự báo nhân lực cần được phát triển hơn Trên thực tế, cơ quan nhà nước và một số doanh nghiệp không thể đưa ra dự đoán về thị trường lao động trong thời gian dài mà chỉ ngắn hạn tầm một đến hai năm Việc dự đoán còn chi phối bởi nhiều biến đổi và phát triển không ngừng của

xã hội vì vậy công tác dự báo còn yếu kém Việc này dẫn tới hậu quả các trường đua nhau mở thêm ngành đang dẫn đầu xu hướng để có thêm học sinh, sinh viên với kiến thức còn hạn hẹp thì đổ xô theo các ngành được cho là có tiềm năng, kiếm được việc làm dễ, lương nhiều mà không quan tâm về tính lâu dài của ngành nghề Với số lượng sinh viên ồ ạt chạy theo xu hướng, tương lai có thể dẫn đến việc quá chỉ tiêu, nhu cầu nghề nghiệp trong tương lai thay đổi theo hướng hẹp hơn, cần chất lượng thay vì số lượng, dẫn đến nguy cơ thất nghiệp, làm trái ngành

Nguyên nhân cuối cùng và cũng là nguyên nhân nhức nhối nhất hiện nay: dịch bênh Covid 19 Từ đầu năm 2020, khi dịch Covid bùng nổ trên toàn thế giới, người lao động phải nghỉ việc do giãn cách xã hội, cơ quan và tổ chức tiến hành cắt giảm nhân

sự, một số doanh nghiệp yếu kém phải đóng cửa dẫn đến tình trạng tỉ lệ thất nghiệp ra tăng, sinh viên mới ra trường càng khó tìm kiếm việc làm Theo Tổng cục Thống kê năm 2021, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,99%, tăng 0,35 điểm phần trăm

so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 4,02%, cao hơn 1,64 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15-24 tuổi) là 7,90%, tăng 0,13 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan

Lí do một bộ phận sinh viên thất nghiệp tất nhiên cũng có những yếu kém của bản thân góp phần Sinh viên bị yếu những kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm,

tổ chức sự kiện, thuyết trình, quản lý thời gian, năng lực tự học Mà những kỹ năng này hoàn toàn có thể trau dồi khi học đại học hay cấp bậc dưới, nhưng sinh viên chỉ chăm chú vào cái bằng trước mắt, học và thi để lấy điểm thay vì tích lũy kinh nghiệm cho bản thân Ngoài ra, trên con đường hội nhập quốc tế, việc trang bị cho bản thân một thứ tiếng thứ hai là điều rất quan trọng Các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đầu tư vào

Trang 10

thị trường Việt Nam và không có dấu hiệu giảm trong tương lai, vậy nên việc học tốt một ngoại ngữ nữa, nhất là Tiếng Anh, sẽ mở rộng cơ hội việc làm cho sinh viên Tuy nhiên, dù sinh viên được học Tiếng Anh từ cấp thấp và là bộ môn bắt buộc, cho đến nay

họ vẫn không thể giao tiếp bình thường chứ đừng nói đến dùng Tiếng Anh như công cụ

để áp dụng vào ngành nghề mình đang làm Nguyên nhân cuối cùng đó chính là bệnh lười của bộ phận sinh viên đó Việc cạnh tranh công việc giờ đây rất gay gắt khi 10 người mới có một người được tuyển dụng Khi ra trường, sinh viên không chỉ cạnh tranh với bạn bè cùng trang lứa mà cạnh tranh với rất nhiều người lao động có độ tuổi lớn hơn với kinh nghiệm dày dạn Tuy vậy, còn rất nhiều sinh viên có thói ỷ lại, chưa thoát khỏi cách học của cấp dưới, lên đại học vẫn tiếp tục lười biếng, không thay đổi nên khi tốt nghiệp vẫn mông lung, không biết làm thế nào để tìm việc, phải dựa vào bố

mẹ và các mối quan hệ khác Trong lúc mình đang chần chờ, không biết nên tìm việc ra sao thì những người khác đã lên kế hoạch kỹ lưỡng và ứng tuyển vào vị trí bạn cần

2.4 Giải pháp

2.4.1 Giải pháp cho nguyên nhân khách quan

Việc định hướng nghề nghiệp là việc lâu dài thông qua sự trải nghiệm, kinh nghiệm tích lũy lâu năm và không thể thiếu được sự thấu hiểu chính bản thân để tìm ra con đường phù với mình nhất Hướng nghiệp càng sớm, càng gia tăng cơ hội thành công kiếm việc làm Thay vì lên mạng và nghe người lạ bình luận về xu hướng hiện nay, sinh viên cần phải trao đổi và lắng nghe ý kiến bố mẹ và không quên bày tỏ về dự định, hiểu biết, sở thích của bản thân để gia đình có định hướng rõ ràng hơn Các bậc phụ huynh cũng cần định hướng và chia sẻ cùng con cái từ nhỏ Ngoài việc học tập trên lớp, cha mẹ cũng cần tạo điều kiện phát triển đam mê, năng khiếu của con và tập trung bồi dưỡng niềm đam mê đó Hơn hết nữa, cha mẹ nên phối hợp với giáo viên và nhà trường để tìm hiểu về xu hướng ngành nghề hiện nay, và biết thêm được về năng lực của con cái hợp với lĩnh vực nào Bậc phụ huynh không nên áp đặt những suy nghĩ ích

kỷ của bản thân, lấy cớ vì thương con mà ép buộc con mình phải theo những ngành nghề mà con cái không yêu thích, dẫn đến hậu quả khôn lường Thay vì chèn ép hay đặt kỳ vọng quá lớn vào con, cha mẹ cần hiểu rõ con cái và giới hạn năng lực, từ đó cùng con mình định hướng ra con đường phù hợp nhất Bản thân sinh viên cũng cần chủ động tìm kiếm về lĩnh vực bản thân định theo từ các diễn đàn, các buổi định hướng nghề nghiệp và cả người thân, thầy cô Nhà trường nên tổ chức hoạt động trải nghiệm

Ngày đăng: 01/08/2022, 06:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w