1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN dẫn đến sự XUẤT HIỆN các lực LƯỢNG võ TRANG TRONG các tôn GIÁOCÔNG GIÁO,CAO đài,hòa hảo ở NHỮNG THẬP NIÊN 1940 1850 và NHỮNG hệ QUẢ LIÊN QUAN

19 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 84,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MÍNH ---DƯƠNG THỊ NGỌC ÁNH TN.HUỆ TRẠM PHẤN TÍCH NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ XUẤT HIỆN CÁC LỰC LƯỢNG VÕ TRANG TRONG CÁ

Trang 1

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MÍNH

-DƯƠNG THỊ NGỌC ÁNH

TN.HUỆ TRẠM

PHẤN TÍCH NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ XUẤT HIỆN CÁC LỰC LƯỢNG VÕ TRANG TRONG CÁC TÔN GIÁO:CÔNG GIÁO,CAO ĐÀI,HÒA HẢO Ở NHỮNG THẬP NIÊN 1940-1850

VÀ NHỮNG HỆ QUẢ LIÊN QUAN

Tiểu luận học kỳ III : Môn Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: TS NUYỄN TRỌNG HẠNH

TP.Hồ Chí Minh ,Năm 2020.

Trang 2

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MÍNH HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH

-TÊN TÁC GIẢ: DƯƠNG THỊ NGỌC ÁNH

PHÁP DANH: TN.HUỆ TRẠM LỚP ĐTTX: KHÓA VI MSSV: TX 6009

BÀI TIỂU LUẬN

PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ XUẤT HIỆN CÁC LỰC LƯỢNG VÕ TRANG TRONG CÁC TÔN GIÁO:CÔNG GIÁO,CAO ĐÀI,HÒA HẢO Ở NHỮNG THẬP NIÊN 1940-1850

VÀ NHỮNG HỆ QUẢ LIÊN QUAN

Tiểu luận học kỳ III : Môn Tín Ngưỡng Và Tôn Giáo Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: TS NUYỄN TRỌNG HẠNH

TP.Hồ Chí Minh , Năm 2020.

Trang 3

- LỜI CẢM ƠN :

Tôi xin trân thành tri ân những cá nhân, tập thể và những ai liên quan đã hướng dẫn giúp đỡ, cộng tác trong quá trình thực hiện đề tài

(Tác giả tiểu luận ký tên)

Dương thị Ngọc Ánh NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT .………

TP.HCM, ngày …… tháng …… năm 2020

TS Nguyễn Trọng Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi đề tài 1

3 Cơ sở dữ liiệu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 1

5 Bố cục tiểu luận 1

B NỘI DUNG……… 2

CHƯƠNG 1 : PHÂN TÍCH NGUỒN GỐC,BẢN CHẤT VÀ TÍNH CHẤT CỦA TÔN GIÁO………2

1.1.Khái niệm về tín ngưỡng & tôn giáo………2

1.2.Tôn giáo và bản chất tôn giáo 3

1.3.Chức năng của tôn giáo & tín ngưỡng……… 4

2.Kết Luận 2.1.Ưu điểm 2.2.Hạn chế CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ XUẤT HIỆN CÁC LỰC LƯỢNG VÕ TRANG CÁC TÔN GIÁO:CÔNG GIÁO,CAO ĐÀI,HÒA HẢO Ở THẬP NIÊN 1940-1950 VÀ NHỮNG HỆ QUẢ LIÊN QUAN 2.1 Nguyên nhân dẫn đến các lực lượng võ trang côn giáo 4

2.2 Nguyên nhân dẫn đến các lực lượng võ trang cao đài&hòa hảo ………… 6-11 CHƯƠNG 3:THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG &NHÀ NƯỚC………12

C KẾT LUẬN 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 5

A MỞ ĐẦU:

1. Lý do chọn đề tài:

Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế Đây cũng

là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây

mất ổn định chính trị - xã hội tìm hiểu kĩa hơn về vấn đề đó học viên đã chọn đề tài: Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện các lực lượng võ trang trong các tôn giáo: Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo ở những thập niên 1940 – 1950 và những hệ quả liên quan làm đề tài tiểu luận.

2. Phạm vi đề tài :

Trong tập tiểu luận này người viết chỉ trình bày những gì gọi là cơ bản có liên quan đến sự xuất hiện các lực lượng vũ trang các tôn giáo thập niên 1940-1950 mà không đi xâu theo chiều dài của lịch sử.Vì kiến thức của học học viên còn hạn chế,vì vậy chắc chắn sẽ gặp phải những thiếu sót lỗi lầm, ngưỡng mong Chư vị tôn túc giáo thọ sư từ bi, hoan hỷ chỉ dạy để tập tiểu luận được hoàn chỉnh hơn

3 Cơ sở tài liệu:

Trong quá trình thực hiện người viết đã được kham khảo những tài liệu về môn lịch sử các tôn giáo do chư vị Tôn túc Hoà thượng, Thượng tọa, Ni trưởng… phiên dịch và chú giải

để làm cơ sở nghiên cứu cho tiểu luận này Mục đích là nói lên ngyên nhân ra đời các lực lựng

võ trang các tôn giáo liên quan Với mục đích ấy nội dung tiểu luận này cũng muốn nhắc lại một lần nữa về sự quan trọng của các lực lượng võ trang tôn giáo

4 Phương pháp nghiên cứu:

Học viên dùng phương pháp phân tích,tổng hợp sau đó đi đến kết luận chung

5 Bố cụ tiểu luận: gồm 03 chương,12 tiểu mục và 14 trang

Trang 6

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 : PHÂN TÍCH NGUỒN GỐC,BẢN CHẤT VÀ TÍNH CHẤT CỦA

TÔN GIÁO

Thuật ngữ “Tôn giáo” có nguồn gốc từ phương Tây và bản thân nó cũng có một quá trình biến đổi nội dung và khi khái niệm này trở thành phổ quát trên toàn thế giới thì lại vấp phải những khái niệm truyền thống không tương ứng của những cư dân thuộc các nền văn minh khác, vì vậy trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới

“Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng Anh) và“religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên Vào đầu công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên lúc này khái niệm “religion” chỉ mới là riêng của đạo Kitô Bởi lẽ, đương thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành - tách ra từ Công giáo – trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu,

“religion” mới trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa Với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi Châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tông giáo” đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVIII vào sau đó du nhập vào Trung Hoa Tuy nhiên, ở Trung Hoa, vào thế kỷ XIII, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa hoàn toàn khác: nó nhằm chỉ đạo Phật (Giáo: đó là lời thuyết giảng của Đức Phật, Tông: lời của các đệ tử Đức Phật) Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX và được đăng trên các báo, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”

Như vậy, thuật ngữ tôn giáo ban đầu được sử dụng ở Châu Âu nhằm chỉ một tôn giáo sau đó thuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo

1.1 Khái quát về tín ngưỡng và tôn giáo

Việt Nam được biết đến là một nước đa tín ngưỡng và tôn giáo với cộng đồng 54 dân tộc trải dài từ Bắc vào Nam

Tín ngưỡng và bản chất của tín ngưỡng

Về sự xuất hiện của tín ngưỡng xuất phát từ bản năng sinh tồn của con người Tín ngưỡng được hình thành vào giao đoạn sơ khai của lịch sử loài người (thời tiền sử) Lúc đó ngoài việc người tiền sử kiếm ăn, họ tự hỏi phải làm sao để hái được những trái cây trên cao hay săn giết được những thú vật chạy nhanh bay cao Với lối tư duy và suy nghĩ, họ dần dần tạo ra được các dụng cụ và võ khí hiệu nghiệm hơn để thực hiện việc này Tương tự, họ tự hỏi phải làm sao

để chống lại sự lạnh lẽo của mưa gió hay để bảo vệ họ khỏi phải bị thú dữ ăn thịt Dùng những tấm lá cây hay da thú để bao bọc giữ cho cơ thể họ được ấm hay biết dựng lên rào cản trước hang động để không cho thú dữ xâm nhập trong khi họ ngủ Rồi họ biết dùng lửa, làm quần áo, xây nhà, v.v cho những mục đích này Mỗi lần họ tự hỏi tại sao để giải thích và phải làm sao

để chinh phục một vấn đề, họ tìm cách chế ra một phương tiện khác tốt hơn, hay hơn giúp họ chống chỏi với thiên nhiên trong cuộc tranh đấu liên tục để sống còn của họ

Tuy nhiên có những sự việc xảy ra chung quanh người tiền sử mà họ không hiểu tại sao và không biết làm cách nào để kiểm soát hay chinh phục chúng Trước thiên nhiên vũ trụ, con người ta thấy được sự nhỏ bé, bất lực của mình với những hiện tượng xảy ra chung quanh

Trang 7

2 người tiền sử mà họ không hiểu tại sao và không biết làm cách nào để kiểm soát hay chinh phục chúng Thí dụ như những hiện tượng thiên nhiên (núi lửa, động đất, mưa bão, lũ lụt, hạn hán, v.v.) hay những tai ương (bệnh tật, tai nạn, chết chóc, cá nhân sát hại lẫn nhau, chiến tranh giữa bộ lạc, v.v.) Khả năng trí tuệ và kiến thức hạn hẹp về vũ trụ của họ không cho phép họ giải thích được những vấn đề nghiêm trọng trên Trong khi đó, bản năng sinh tồn của họ đòi hỏi họ phải tìm ra một giải đáp này

Và rồi bằng lối tư duy của mình lúc bấy giờ con người tưởng tượng ra những sức mạnh siêu nhiên hoàn toàn bên ngoài khả năng điều khiển của họ Họ cho rằng tất cả những hiện tượng không giải thích được và những tai ương đều xuất phát từ các sức mạnh này Kinh nghiệm trong đời sống của họ cho họ thấy nếu không chinh phục được một mối hiểm nguy thì cách tốt nhất để sinh tồn là hoặc 1/ trốn tránh hoặc 2/ thần phục nó Vì không thể trốn tránh tai họa được nên họ tin rằng muốn hạn chế nó xảy ra cho họ thì chỉ có cách là thần phục và tôn thờ các sức mạnh siêu nhiên trên, từ đó các thần linh ra đời như Thần núi lửa gây ra núi lửa Thần mưa, thần gió, thần sấm sét làm ra bão tố mưa gió Thần sông, thần biển, thần rừng cai trị và tạo ra những hiểm nguy trên sông, ngoài biển, trong rừng Các thú dữ cũng được cho là thần linh: thần cọp, thần rắn, thần chim ưng, thần cá sấu Tiếp theo là thần cây, thần đá, thần mùa màng, thần sinh sản,…

1.2 Tôn giáo và bản chất của tôn giáo

Khi xã hội có những tiến bộ hơn, của cải vật chất tạo ra được nhiều hơn và bắt đầu đã đến

sự chiếm hữu về của cải trong xã hội thì sự phân chia về giai cấp bắt đầu Bây giờ ngoài đối diện với sức mạnh thiên nhiên, con người còn phải đối diện với sự cai trị của tầng lớp chủ nô thì nỗi đau, sự khốn khổ cùng cực và sự nhỏ bé đơn điệu của con người càng tăng gấp bội Trước những nhu cầu đó học cần thoát ra được những nỗi khổ niềm đau này, họ dần dần tư duy

và suy nghĩ phải có một vị thần cao nhất, mạnh nhất, thiêng liêng nhất so với tất cả các thần linh khác và định đoạt mọi số phận con người và những vị thần nhỏ hơn, và là người duy nhất

có thể đưa con người thoát ra khỏi nỗi khổ niềm đau của họ trước sức mạnh thiên nhiên, trước

sự cai trị của tầng lớp thống trị, khi đó một khái niệm trù tượng ra đời đó là Trời, Đức Chúa Trời hay Thượng Đế Bây giờ thì có sự chuyển biến từ cơ chế tính ngưỡng đa thần sang tín ngưỡng độc thần, đây chính là điều kiện để tôn giáo ra đời

Theo đó so với tín ngưỡng thì tôn giáo là một hình thức tâm linh cao hơn, có sự chặt chẽ và quy mô hơn Để có được một tôn giáo cần thỏa các điều kiện sau:

1 Niềm tin: Là điều kiện cần có cho bất kỳ một tôn giáo nào, tuy nó nó hư ảo nhưng là là một động lực cực lớn cho con người thoa dịu mọi nỗi khổ niềm đau của họ

2 Vị giáo chủ: Tức người đứng đầu, người biểu trung của giáo phái đó

3 Hệ thống giáo lý: bao gồm kinh điển, tín điều và nghi lễ

4 Tăng lữ: là những vị tu sĩ, người trực tiếp truyền bá và cử hành các nghi lễ

5 Hệ thống tín đồ: là những người đặt trọn niềm tin và thực hành theo tôn giáo đó

Trang 8

1 Chức năng của tôn giáo và tín ngưỡng

1 Tạo niềm tin tạo động lực cho con người trong cuộc sống sinh tồn của mình

2 Làm nhẹ đi những nỗi đau mất mát, đem đến sự an lạc, an tâm trước nỗi khổ niềm đau

3 Hướng con người đến cái chân – thiện – mỹ

4 Có tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống khinh tế xã hội của con người

II Kết luận

1.Ưu điểm:

1 Tín ngưỡng, tôn giáo toàn bộ là những sản phẩm sáng tạo của con người, nhưng nó cho con người sự an lạc, hạnh phúc trước nổi khổ niềm đau của họ, cho họ có được sự kỳ vọng, hy vọng về tương lai trong cuộc sống sinh tồn của mình

2 Hạn chế con người làm điều bất thiện và hướng họ đến cái thiện

3 Nâng cao đời sống tinh thần thanh cao, nó có giá trị mãi mãi vì luôn hướng con người ta đến con đường chân – thiện – mỹ

2 Hạn chế:

1 Giá trị tinh thần này có tính chất hư ảo nên dễ dẫn con người xa rời thực tế

2 Dễ dẫn đến mê tín, dị đoan

3 Dễ bị lợi dụng là công cụ chính trị

CHƯƠNG 2:

PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ XUẤT HIỆN CÁC LỰC LƯỢNG VÕ TRANG CÔNG GIÁO,CAO ĐÀI,HÒA HẢO THẬP NIÊN 1940-1950 VÀ NHỮNG HỆ

QUẢ LIÊN QUAN

2.1.Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện các lực lượng võ trang công giáo và những hệ quả liên quan:

Cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, Việt Nam đã bắt đầu giao thương với các nước phương Tây như

Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp và với Nhật Bản ở châu Á để trao đổi hàng hóa và vũ khí

Trang 9

quân sự Thời gian này, Công giáo cũng mở rộng truyền giáo đến khắp nơi trên thế giới, trong

đó có miền Viễn Đông Á châu.Bấy giờ là thời kỳ hoàng kim của 2 cường quốc thực dân Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Đều là những quốc gia Công giáo kỳ cựu, cả hai nước cạnh tranh nhau quyết liệt trong địa hạt kinh tế và khai thác thuộc địa Các mâu thuẫn lớn đến mức, cả hai nước phải cùng xin Giáo hoàng làm trọng tài giải quyết Do đó, Giáo hoàng Alexandre VI đã ban Sắc chỉ "Inter Caetera" ngày 4 tháng 5 năm 1493, phân chia theo hướng Đông Tây quả địa cầu cho hai vương quốc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, theo đó vùng đất bờ phía Tây Phi Châu

và vùng Đông Ấn, bao quát từ Ấn Độ, Xiêm La, Malacca, Sumatra, Java, Đại Việt, Trung Hoa

và Nhật Bản, được đặt dưới chế độ bảo trợ của Bồ Đào Nha Phần lại của thế giới mới được đặt dưới chế độ bảo trợ của Tây Ban Nha

4

Do sự phân chia này, các thừa sai Bồ Đào Nha hay các quốc tịch khác đều phải tập trung, bị kiểm soát tại hải cảng Lisbõa để xuống tàu lên đường truyền giáo vùng Đông Ấn Sử liệu Pháp ghi lại rằng vào năm 1516 có một nhà hàng hải Bồ Đào Nha tên là Fernao Perez de Andrade đã đến tận bờ biển Việt Nam

Khi triều đình Huế ký Hiệp ước Giáp Thân 1884 với Pháp, công nhận sự bảo hộ của Pháp thì Công giáo Việt Nam lúc đó mới thật sự được tự do, công khai hoạt động Các cơ sở tôn giáo như nhà thờ, tu viện, tòa giám mục, trường học, viện dưỡng lão, viện cô nhi được xây dựng khắp nơi Các giáo phận được chia nhỏ lại Miền Bắc gồm các giáo phận: Hà NộiPhát Diệm, Hưng Hoá, Vinh, Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh và một Phủ doãn Tông Tòa là Lạng Sơn Miền Nam gồm các giáo phận: Sài Gòn, Quy Nhơn, Huế, và một phần của giáo phận Nam Vang Tổng cộng là 12 giáo phận Năm 1925, Tòa Thánh lập Tòa khâm sứ ở Đông Dương, đặt tại Phủ Cam (Huế)

Ngày 10 tháng 01 năm 1933, Giáo hoàng Piô XI ra sắc lệnh bổ nhiệm linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng làm Giám mục hiệu tòa Sozopoli, giữ chức Giám mục phó với quyền kế vị giáo phận Phát Diệm Ông là vị Giám mục người Việt Nam đầu tiên.Thời kỳ này, các giáo xứ được Pháp cấp cho nhiều ưu đãi Các cộng đồng Công giáo trở thành “các cộng đồng tự trị” được miễn thuế Đầu năm 1945, giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam, địa chủ thực dân Pháp, địa chủ Công giáo chiếm không tới 5% dân số nhưng chiếm hữu 70% ruộng đất.Một nhà nghiên cứu Phương Tây từng nhận xét: “Dưới chế độ thực dân Pháp, từ năm 1860 cho đến lúc cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai bùng nổ, Thiên Chúa giáo được khuyến khích còn Phật giáo thì không cho phát triển”

Là người chống thực dân Pháp quyết liệt, Giám mục Tađêô Lê Hữu Từ đã nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cố vấn tối cao cho chính phủ Nhiều giáo sĩ Công giáo Việt Nam đề cao tinh thần dân tộc, chống thực dân đồng thời cố gắng giữ người Công giáo khỏi bị cuốn vào cuộc chiến giữa thực dân Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hai địa phận Phát Diệm và Bùi Chu được vũ trang thành khu tự vệ Công giáo.Trong suốt cuối thập niên 1940, khu vực này giữ được sự độc lập khỏi cả thực dân Pháp và Việt Minh Nhiều người dân lương, giáo đã kéo về đây để tránh tình hình chiến sự căng thẳng

Ngày 1 tháng 7 năm 1949, khi cộng sản dần chiếm toàn bộ Trung Quốc, Giáo hoàng Piô XII ra sắc lệnh cấm tín hữu Công giáo khắp thế giới cộng tác với cộng sản.Sắc lệnh ghi: “Tất

cả những ai hợp tác với Đảng Cộng sản, hoặc bỏ phiếu cho Đảng Cộng sản, hoặc đọc, xuất

Trang 10

bản, phân phối báo chí của Đảng Cộng sản, hoặc giúp đỡ bất kỳ cách nào cho Đảng Cộng sản đều bị khai trừ khỏi các bí tích”

Từ năm 1950, cả thực dân Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều muốn kiểm soát khu tự trị Phát Diệm–Bùi Chu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở nên gắn bó với khối cộng sản quốc tế, trong khi Vatican thì lên án mọi sự cộng tác với cộng sản, và Quốc gia Việt Nam phi cộng sản được Hoa Kỳ hậu thuẫn đang trỗi dậy, dẫn đến việc các giáo sĩ Việt Nam nghiêng về phía chống cộng nhưng không từ bỏ chủ nghĩa dân tộc và chống thực dân

Về phía giáo dân Việt Nam, có những người tiếp tục cộng tác với Việt Minh, chấp nhận

có thể bị vạ tuyệt thông

5 Tháng 2-1949, Lê Hữu Từ đứng ra tổ chức “Liên đoàn Công giáo” ở Phát Diệm - Bùi Chu, và bầu ban chấp hành địa phận Nhiệm vụ cụ thể cho các hội viên là: “tổ chức tự võ trang chống cộng sản, vận động các lực lượng công giáo và các đạo giáo hoặc tôn giáo liên minh để tấn công cộng sản”

Lực lượng vũ trang tự vệ Công giáo đông hàng chục nghìn quân do Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Hoàng Quỳnh thành lập được Pháp trang bị súng đạn và trả lương Lực lượng vũ trang Công giáo tự vệ đóng giữ ở khu vực này đã gây nhiều khó khăn cho Quân đội Nhân dân Việt Nam tác chiến ở vùng đồng bằng sông Hồng Một linh mục cho biết quân Công giáo “tổ chức ruồng bố liên tục các làng lương chung quanh, bắt giam hoặc giết chết, khỏi cần toàn án, tất cả những chiến sĩ du kích và những ai bị tình nghi là Việt Minh Theo gương lính Pháp, họ cướp bóc các làng, lấy trộm, tàn sát, thiêu rụi tất cả những gì bị coi là ổ kháng chiến”

Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt,cùng với âm mưu của các lực lượng chính trí bên trong nước và nước ngoài học đã lôi kéo và lợi dụng tổ chức công giáo nhằm đạt được mục đích của họ.Từ đó gây ra sự tàn sát giữa các lực lượng võ trang công giáo với Việt Minh,thứ hai còn làm cho phật giáo không phát triển được bởi sự ủng hộ của chính phủ thời đó.Tuy nhiên Công giáo vẫn đóng vai trò quan trọng: là lực lượng xã hội đầu tiên nối với văn minh phương Tây từ nửa cuối thế kỷ XIX, từ Nam kỳ rồi lan ra cả nước Nhiều xứ họ đạo bỗng nhiên trở thành một đơn vị hạt nhân cho việc hiện đại hóa cả về kinh tế, kỹ thuật và quan hệ xã hội

22 Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện các lực lượng võ trang Cao Đài và Hòa Hảo và những

hệ quả liên quan:

Đạo Cao Đài là một trong những tôn giáo được người Pháp công nhận là một tôn giáo bản địa đầu tiên của Việt Nam Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa thì người Pháp không thừa nhận, 19/11/1926, người Pháp chính thức công nhận Đạo Cao Đài là một tôn giáo bản địa Năm 1914 đến 1918, khi Pháp đã cai trị nước ta, nhưng cũng trong giai đoạn này, nước Pháp phải tham chiến ở đệ nhất thế chiến, một bên là Đức - Áo – Hungary đánh qua các nước châu

Âu, khi Pháp lâm chiến thì Pháp phải vơ vét bắt lính ở các xứ thuộc địa, lúc đò xứ thuộc địa có tiềm lực lớn nhất là An-giê-ri và Đông Dương, chủ yếu là ở Miền Nam Việt Nam Cho nên họ càng vơ vét sưu cao thuế nặng, bắt lính, thuế thân cũng xuất hiện trong giai đoạn này Trong lúc đó các phong trào đấu tranh càng sôi sục nhưng thất bại hết, người Pháp về mặt chính trị họ đưa ra chủ thuyết Pháp Việt Đề Huề, sau đó xây dựng Pháp Việt Nhất Gia để cho cách xóa đi những cuộc nỗi dậy của những người bị áp bức đó

Ngày đăng: 31/07/2022, 00:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w