1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (gis) và chỉ số chất lượng nước (wqi) trong phân vùng chất lượng nước phục vụ hoạt động nuôi trồng thủy sản ở đầm phá xã phú mỹ, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế

9 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 3,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỨNG DỤNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ GIS VÀ CHỈ SỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC WQI TRONG PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở ĐẦM PHÁ XÃ PHÚ MỸ, HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA

Trang 1

ỨNG DỤNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS) VÀ CHỈ SỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC (WQI) TRONG PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở ĐẦM PHÁ XÃ

PHÚ MỸ, HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Trương Văn Đàn 1 , Lê Văn Dân 1 , Võ Thị Phương Anh 2 TÓM TẮT

Ứng dụng GIS và WQI trong đánh giá chất lượng nước là một hướng đi mới Nghiên cứu được tiến hành

ở vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thuộc địa phận xã Phú Mỹ trong năm 2012 Đề tài sử dụng chỉ số chất lượng nước của Quỹ vệ sinh Quốc gia Mỹ để làm căn cứ đánh giá, phân loại chất lượng nước phục vụ hoạt động nuôi trồng thủy sản Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số chất lượng nước đầm phá xã Phú Mỹ có sự thay đổi lớn theo thời gian và không gian với WQI mùa khô = 78,59; WQI mùa mưa = 67,66; WQI gần bờ = 69,33; WQI xa bờ = 75,79 Kết quả phân vùng chỉ ra rằng vào mùa khô, 100% diện tích có chất lượng nước đạt loại II (loại tốt theo tiêu chuẩn chất lượng nước theo Quỹ vệ sinh quốc gia Mỹ) Vào mùa mưa 33,38% diện tích (53,409ha) đạt loại II, chủ yếu quanh các điểm PHUMY2,3,4,8 và khoảng 66,62% diện tích đạt loại III (loại trung bình), chủ yếu quanh các điểm PHUMY1,5,6,9 Phân vùng chất lượng nước theo tháng cho thấy ở các tháng 6,7,8, tất cả diện tích mặt nước đều đạt loại tốt, trong khi tháng 10 tỷ lệ loại tốt giảm xuống còn 71,47% (28,53% đạt loại trung bình, rơi vào khoảng 0 – 350m tính từ bờ) Tháng 11 loại tốt chiếm 59,375%, còn lại thuộc nhóm trung bình Tháng 12 toàn bộ diện tích đều chỉ đạt loại trung bình

Từ khóa: Chỉ số chất lượng nước, WQI, GIS, phân vùng chất lượng nước, đầm phá xã Phú Mỹ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai ở tỉnh Thừa Thiên Huế là một thủy vực nước

lợ ven biển điển hình Đây là hệ thống đầm phá lớn nhất Đông Nam Á có chiều dài khoảng 70km, trải dài từ cửa sông Ô Lâu đến đầm Cầu Hai, diện tích khoảng 22.000 ha, bề ngang nơi rộng nhất hơn 1km, nơi hẹp nhất khoảng 0,5km, độ sâu trung bình khoảng 1,5m Môi trường nước lợ của đầm phá đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phân bố và phát triển đa dạng của các sinh vật thủy sinh, mang lại một nguồn lợi thủy sản đáng kể cho cộng đồng 300.000 cư dân sinh sống ven bờ [4]

Những năm gần đây, diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản ven đầm phá đã tăng lên đáng kể, đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân Diện tích ao nuôi tôm ven đầm phá đã tăng không ngừng trong những năm qua - từ 2000 ha năm 2000 đến 3700 ha năm 2003 và đến năm 2010 tăng lên 7000 ha [5]

Xã Phú Mỹ là một xã nằm ở phía Nam của đầm Sam Chuồn thuộc hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, diện tích 1147ha, trong đó diện tích mặt nước khá lớn, chiếm 15% tổng diện tích của cả xã [9] Đây là một thuận lợi để Phú Mỹ phát triển nghề nuôi trồng thủy sản, nhất là hoạt động nuôi tôm thấp và cao triều

Trong những năm gần đây, đã có nhiều chương trình và dự án nghiên cứu về môi trường vùng đầm phá như Dự án “Nghiên cứu phát triển bền vững vùng đầm phá ở tỉnh Thừa Thiên Huế” (1998 - 2003) do Vùng Nord Pas de Calais (NPC) Pháp tài trợ [6] và Dự án “Quản lý tổng hợp vùng ven bờ” (ICZM, 2001 - 2005) do Hà Lan tài trợ [2] Những dự án này đã thu thập được các dữ liệu về chất lượng nước, tình trạng ô nhiễm và đa dạng sinh học của sông Hương và hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, nhưng chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về chất lượng nước đầm Sam Chuồn thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thùa Thiên Huế Vì vậy, các nhà quản lý rất khó để có thông tin chính xác về chất lượng nước nhằm định hướng phát triển nghề nuôi thủy sản trên thủy vực này Bên cạnh đó, diễn biến dịch bệnh bùng phát ở nhiều địa phương nuôi tôm ven đầm phá làm thiệt hại lớn cho người nuôi Nguyên nhân gây ra dịch bệnh là do thức ăn, con giống, quản lý…và một trong những nguyên

1 Khoa Thủy sản – Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế

2 Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 2

Hình 2.1 Bản đồ vị trí thu mẫu

nhân lớn nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường nước Nguồn nước ven phá đưa vào nuôi không được thông tin cụ thể về chất lượng và tình trạng ô nhiễm

Ngoài ra, việc đánh giá và phân vùng chất lượng nước dựa vào WQI và GIS là một hướng nghiên cứu mới, chưa được áp dụng nhiều vào khu vực đầm phá ven biển Việt Nam Trên Thế giới, một số quốc gia đã có các nghiên cứu về GIS và WQI để đánh giá chất lượng nước và đã thu được những kết quả khả quan Chẳng hạn, nghiên cứu sử dụng hệ thống thông tin địa lí GIS và chỉ số chất lượng nước trong đánh giá chất lượng nước ngầm phục vụ ăn uống và tưới tiêu tại El Khairat (Enfidha, Tunisian Sahel) của nhóm tác giả Mouna Ketata - Rokbani, Moncef Gueddari và Rachida Bouhlila thuộc Đại học Campus và Phòng thí nghiệm Thủy lực và Môi trường Tunis năm 2011 [8]; Nghiên cứu đánh giá chất lượng nước ngầm bằng cách sử dụng chỉ số chất lượng nước và GIS tại Jada, miền đông bắc Nigeria của nhóm tác giả J.M Ishaku, A.S Ahmed và M.A Abubakar thuộc Cục Địa chất và Đại học Công nghệ Yola, bang Adamawa, Nigeria năm 2012 [7]

Chính vì những lý do trên, việc ứng dụng GIS và WQI để phân vùng chất lượng nước

ở đầm Sam Chuồn thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang là một hướng đi đúng, có ý nghĩa thực tiễn để quản lý tốt môi trường vùng đầm phá, làm cơ sở để đánh giá chất lượng nước một cách tổng quát, làm nguồn dữ liệu để xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước, đồng thời cung cấp thông tin môi trường cho cộng đồng một cách đơn giản, dễ hiểu, trực quan và nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng

2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Thời gian, địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành ở đầm phá xã Phú Mỹ trong

thời gian từ tháng 6/2012 - 02/2013

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu và phân tích mẫu

Phương pháp thu mẫu và bảo quản mẫu ngoài thực địa

Nghiên cứu được thực hiện trong 2 mùa: mùa mưa (tháng 10, 11, 12) và mùa khô (tháng 6, 7, 8) ở đầm Sam Chuồn thuộc xã Phú Mỹ Các thông số môi trường cần phân tích: Nhiệt độ, pH, DO, độ đục, tổng chất rắn, BOD5, NO3-, PO43-, Fecal Coliform

Tần suất thu mẫu: Đề tài tiến hành nghiên cứu 3 tháng/mùa, 2 lần/tháng, 9 điểm/lần, 9 yếu tố/điểm

Dụng cụ thu mẫu nước: Bathomet

Việc thu mẫu được tiến hành dựa trên bản đồ nền đầm phá xã Phú Mỹ qua 4 mặt cắt với

9 điểm khảo sát (khu vực gần bờ: PHUMY1,5,6,9; khu vực xa bờ: PHUMY 2,3,4,7,8) Điểm thu mẫu được định vị toạ độ bằng hệ thống GPS với hệ tọa độ VN-2000, phép chiếu WQS

1984 UTM Zone 48N nhằm đảm bảo tính đại diện và lặp lại của các đợt khảo sát Chi tiết vị trí các điểm thu mẫu theo hình 2.1 và bảng 2.1:

Ký hiệu điểm Kinh độ/Vĩ độ

PHUMY1 107o38’46”/16o29’51” PHUMY2 107o39’1”/16o29’42” PHUMY3 107o39’13”/16o29’50” PHUMY4 107o38’58”/16o29’58” PHUMY5 107o38’46”/16o30’5” PHUMY6 107o38’50”/16o30’18” PHUMY7 107o38’59”/16o30’12” PHUMY8 107o39’12”/16o30’6” PHUMY9 107o39’25”/16o29’58”

Bảng 2.1 Tọa độ các điểm thu mẫu

Trang 3

Sử dụng chức năng dẫn đường “go to XY” của GPS để đi đến điểm cần khảo sát Tại

mỗi điểm tiến hành thu mẫu nước theo tầng Mẫu nước sau khi đo các yếu tố tại hiện trường, tiến hành cho vào lọ đựng mẫu 500mL để bảo quản mẫu theo bảng hướng dẫn dưới:

Bảng 2.2 Kỹ thuật bảo quản mẫu nước theo thông số cần phân tích

TT Thông số hiệu Ký Loại hình chứa Điều kiện bảo quản Thời gian tối đa

1 Tổng chất rắn TS Polyethylen Lạnh 4 – 50C 48 giờ

2 Nhu cầu Oxy sinh hóa BOD Polyethylen Lạnh 4 – 50C 24 giờ

3 Fecal Coliform FC Polyethylen Lạnh 3 – 50C 1 tuần

Phân tích mẫu

Phương pháp phân tích mẫu tuân theo tiêu chuẩn của APHA [1] Các mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm được tiến hành tại phòng thí nghiệm khoa Thủy sản, trường Đại học Nông Lâm Huế và Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Thừa Thiên Huế

Bảng 2.3 Cách thức phân tích các thông số chất lượng nước

STT Thông số Cách thức phân tích Thiết bị

1 Nhiệt độ Đo tại hiện trường Máy Horiba - U52

4 Độ đục Đo tại hiện trường Máy Horiba - U52

5 Fecal Coliform Phân tích trong PTN Ống nghiệm, buồng ủ

6 BOD5 Phân tích trong PTN Bình ủ, buồng ủ, máy đo DO

7 TS Phân tích trong PTN Cốc sứ, tủ sấy

8 NO3- Đo tại hiện trường Test NO3-, Sera, Đức

9 PO43- Đo tại hiện trường Test PO43-, Sera, Đức

Phương pháp đánh giá chất lượng nước dựa vào chỉ số chất lượng nước của Quỹ vệ sinh Quốc gia Mỹ NSF-WQI (The National Sanitation Foundation – Water Quality Index)

- Bước 1: Tiến hành nghiên cứu xác định giá trị 9 thông số môi trường nước

 Thông số vật lý: thay đổi nhiệt độ (∆T), độ đục, tổng chất rắn (TS)

 Thông số hóa học: pH, BOD5, DO, NO3-, PO43-

 Thông số vi sinh: Fecal Coliform (FC)

- Bước 2: Tính toán chỉ số chất lượng nước dựa vào công thức tính WQI

1

WQI

n

i

w q



Trong đó: WQI NSF : Chỉ số chất lượng nước

- Bước 3: Kết luận chất lượng nước dựa vào kết quả WQI trên cơ sở so sánh với bảng

màu (bảng 2.4)

Bảng 2.4 Phân loại chất lượng nước theo NSF – WQI

Loại WQI Đánh giá Mục đích sử dụng nước

I 91 – 100 Excellent (Rất tốt) Sử dụng cho tất cả các mục đích sử dụng nước mà không cần xử lý

II 71 – 90 Good (Tốt)

Nuôi trồng thủy hải sản, nông nghiệp, mục đích giải trí, giao thông thủy

III 51 – 70 Medium Giải trí ngoại trừ các môn thể thao tiếp xúc

Trang 4

Hình 3.1 Chỉ số chất lượng nước NSF-WQI theo thời gian

Hình 3.2 Chỉ số chất lượng nước NSF-WQI qua các tháng

(Trung bình) trực tiếp, phù hợp với một số loại cá

IV 26 – 50 (Ô nhiễm) Bad

Chỉ phù hợp với sự giải trí tiếp xúc gián tiếp với nước, giao thông thủy

V 0 – 25 Very Bad (Rất

ô nhiễm ) Chỉ sử dụng với giao thông thủy

Phương pháp lập bản đồ phân vùng chất lượng nước dựa vào chỉ số chất lượng

nước và công nghệ GIS

Chuẩn bị: GPS, bản đồ nền dạng số xã Phú Mỹ với hệ tọa độ VN-2000, phép chiếu

WQS 1984 UTM Zone 48N, phần mềm ArcGis 9.3

Tiến hành: Sau khi đã có các kết quả nghiên cứu về chỉ số chất lượng nước NSF-WQI,

sử dụng phần mềm quản lý dữ liệu ArcCatalog để quản lý các thông tin thuộc tính dưới dạng các shapefile (*.shp) Sau đó, đưa dữ liệu dưới dạng shapfile và các bản đồ nền vào phần mềm ArcMap để tiến hành các thao tác phân tích không gian Trong ArcMap sử dụng chức năng nội suy “IDW (Inverse Distance Weighted)” để phân vùng chất lượng nước, sử dụng chức năng Measure để tính chiều dài, diện tích các phân vùng Cuối cùng, sử dụng tính năng

“Export Map” để xuất các bản đồ chất lượng nước của đầm Sam Chuồn thuộc xã Phú Mỹ [3]

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đánh giá chất lượng nước thông qua chỉ số chất lượng nước NSF-WQI

3.1.1 Chỉ số chất lượng nước theo thời gian

Diễn biến chất

lượng nước theo mùa

thông qua WQI được

biểu diễn qua hình 3.1

Qua hình 3.1 cho

chúng ta thấy chỉ số chất

lượng nước đầm phá xã

Phú Mỹ có sự thay đổi

lớn theo mùa

Mùa khô có chỉ số

chất lượng nước cao hơn

mùa mưa với WQImùa khô

= 78,59 và WQImùa mưa =

67,66 Như vậy, chất

lượng nước mùa khô đạt

loại II, loại tốt, thích hợp

cho việc lấy nước để nuôi trồng thủy sản Trái lại, chất lượng nước vào mùa mưa chỉ đạt loại III, loại trung bình, không

thích hợp để phát triển

hoạt động nuôi trồng thủy

sản, cần có các biện pháp

tác động làm tăng chất

lượng nước trước khi lấy

nước vào ao nuôi

Biến động chỉ số

chất lượng WQI qua các

tháng được thể hiện qua

hình 3.2

Kết quả nghiên cứu

cho thấy chỉ số chất lượng

nước WQI các tháng mùa

khô (tháng 6,7,8) biến

Trang 5

Hình 3.3 Chỉ số chất lượng nước NSF-WQI theo không gian

Hình 3.4 Chỉ số chất lượng nước NSF-WQI qua các điểm

động từ 76,11 ÷ 79,36, đều đạt loại II (loại tốt), thích hợp cho nuôi trồng thủy sản Ngược lại, các tháng 10, 11, 12 chất lượng nước chỉ đạt loại III, loại trung bình, không thích hợp cho nuôi trồng thủy sản WQI các tháng này biến động từ 67,12 ÷ 69,21

3.1.2 Chỉ số chất lượng nước theo không gian

Diễn biến chất lượng nước theo không gian (gần bờ và xa bờ) thông qua WQI được biểu diễn qua hình 3.3

Từ hình 3.3 cho

chúng ta thấy chỉ số chất

lượng nước đầm phá xã

Phú Mỹ có sự thay đổi

theo không gian Khu

vực gần bờ có chỉ số

chất lượng nước thấp

hơn khu vực xa bờ với

vậy chất lượng nước ở

khu vực xa bờ

(PHUMY2,3,4,7,8) đạt

loại II, loại tốt, thích

hợp cho việc lấy nước để nuôi trồng thủy sản Trái lại chất lượng nước khu vực gần bờ (PHUMY1,5,6,9) chỉ đạt loại III, loại trung bình, không thích hợp để phát triển hoạt động nuôi trồng thủy sản, cần có các biện pháp tác động làm tăng chất lượng nước trước khi lấy nước vào ao nuôi

Diễn biến chất lượng nước qua các điểm theo chỉ số chất lượng nước NSF-WQI được thể hiện hình 3.4 dưới

Qua hình 3.4 chúng

ta dễ dàng nhận thấy chất

lượng nước ở các điểm

PHUMY1,5,6,9 đều đạt

loại III, loại trung bình

Biến động WQI ở các

điểm PHUMY1,5,6,9 rất

ít từ 69,24 ÷ 69,87

Ngược lại, các điểm

PHUMY2,3,4,7,8 có chỉ

số chất lượng nước WQI

từ 75,60 ÷ 76,35 và chất

lượng nước đều đạt loại

II, loại tốt, thích hợp để

lấy nước nuôi trồng thủy

sản

3.2 Ứng dụng GIS và WQI để lập bản đồ phân vùng chất lượng nước ở đầm phá

xã Phú Mỹ

Từ số liệu đo đạc và tính toán kết quả WQI ở trên, ứng dụng GIS để lập bản đồ phân vùng

chất lượng nước ở đầm phá xã Phú Mỹ

Trang 6

Bản đồ 3.3 Phân vùng chất lượng nước

theo NSF-WQI tháng 6 năm 2013

Bản đồ 3.4 Phân vùng chất lượng nước theo NSF-WQI tháng 7 năm 2013

3.2.1 Phân vùng chất lượng nước theo mùa

Qua công cụ tính diện tích Measure trong ArcMap 9.3, diện tích mặt nước đầm phá xã Phú

Mỹ khoảng 160ha

Chất lượng nước mùa khô ở đầm phá xã Phú Mỹ 100% diện tích đạt loại II, loại tốt ở tất cả các điểm từ PHUMY1 đến PHUMY9 NSF-WQI biến động qua các điểm từ 75 ÷ 81 (bản đồ 3.1) Từ bản đồ 3.2, cho thấy chất lượng nước mùa mưa ở đầm phá xã Phú Mỹ đạt 2 loại II và III (NSF-WQI = 64 ÷ 72) Loại II (loại tốt) có diện tích khoảng 53,409ha chiếm 33,38% chủ yếu quanh các điểm PHUMY2,3,4,8 và khoảng 66,62% diện tích mặt nước đạt loại trung bình (loại III) chủ yếu quanh các điểm PHUMY1,5,6,9

3.2.2 Phân vùng chất lượng nước theo tháng

Qua các bản đồ 3.3, 3.4 và 3.5 chúng ta thấy, trong giai đoạn tháng 6,7 và 8, 100% diện tích mặt nước đầm phá xã Phú Mỹ đều đạt loại tốt (loại II), trong đó chỉ số chất lượng nước ở tất cả các điểm PHUMY1 đến PHUMY9 biến động từ 77 ÷ 83 (tháng 6), 73 ÷ 83 (tháng 7), 72÷ 80 (tháng 8)

Tháng 10 tỷ lệ diện tích có chất lượng tốt giảm xuống còn 71,47%, còn lại (chủ yếu là tập trung vào các vùng ven bờ, giới hạn từ 0 – 350m tính từ bờ) là khu vực có chất lượng trung bình (hình 3.6)

Bản đồ 3.1 Phân vùng chất lượng nước

theo NSF-WQI mùa khô năm 2013

Bản đồ 3.2 Phân vùng chất lượng nước

theo NSF-WQI mùa mưa năm 2013

Trang 7

Bản đồ 3.7 Bản đồ chỉ số chất lượng

nước NSF-WQI tháng 11 năm 2013

Bản đồ 3.8 Bản đồ chỉ số chất lượng nước NSF-WQI tháng 12 năm 2013

Bản đồ 3.5 Bản đồ chỉ số chất lượng nước

NSF-WQI tháng 8 năm 2013

Bản đồ 3.6 Bản đồ chỉ số chất lượng nước NSF-WQI tháng 10 năm 2013

Vào tháng 11, tỷ lệ diện tích mặt nước chất lượng tốt giảm chỉ còn 59,375% Phần còn lại (tập trung ở vùng ven bờ) (hình 3.7) đạt chất lượng trung bình Vào tháng 12, hoàn toàn không còn diện tích có chất lượng tốt, mà ngược lại 100% diện tích chỉ đạt chất lượng trung bình (hình 3.8)

Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng nước vào mùa khô và ở các điểm khu vực xa bờ đạt loại II, loại tốt, phù hợp để lấy nước nuôi trồng thủy sản Trái lại vào mùa mưa

và các điểm khu vực gần bờ có chất lượng nước chỉ đạt loại III, loại trung bình, chưa phù hợp cho việc lấy nước nuôi thủy sản Điều này được giải thích do vào mùa mưa (các tháng 10,11,12), lượng mưa nhiều nên có sự rửa trôi chất hữu cơ từ bờ, nước từ các kênh rạch nuôi trồng thủy sản, kênh nước thải sinh hoạt đổ vào môi trường đầm phá lớn, làm tăng hàm lượng chất hữu cơ và vi sinh Hiện tượng này dẫn đến hàm lượng các yếu tố như BOD, độ đục, TS, nitrat, photphat, Fecal Coliform tăng lên ở khu vực gần bờ vào mùa mưa (1)

Khi lượng chất hữu cơ tăng lên thì quá trình phân hủy hiếu khí xảy ra mạnh, do đó nhu cầu oxy cho các VSV phân hủy chất hữu cơ, cho các phản ứng oxy hóa cao, làm giảm lượng oxy hòa tan, đồng thời làm tăng nồng độ khí CO2 trong nước, CO2 kết hợp với nước tạo thành

H2CO3 là một loại axít yếu nên dễ dàng phân ly làm tăng nồng độ ion H+ Đây là nguyên nhân làm pH giảm Bên cạnh đó, các cơn mưa giông axít vào mùa mưa cũng làm giảm pH (2)

Trang 8

Chính lý do (1) và (2) đã tác động làm cho chỉ số chất lượng nước gần bờ vào mùa mưa thấp hơn khu vực xa bờ vào mùa khô

Bên cạnh đó, trong các tháng mùa mưa (10,11,12), thì càng về cuối năm, lượng chất thải hữu cơ tích tụ tăng dần Trong khi đó quá trình trao đổi vật chất qua cửa biển Thuận An lại hạn chế, do xa cửa biển (cách cửa biển khoảng 9km) Điều này dẫn đến chỉ số chất lượng nước tháng 12 thấp hơn so với tháng 10 và 11

4 KẾT LUẬN

Chỉ số chất lượng nước đầm phá xã Phú Mỹ có sự thay đổi lớn theo mùa, mùa khô tốt hơn mùa mưa Khu vực gần bờ có chỉ số chất lượng nước thấp hơn khu vực xa bờ Như vậy chất lượng nước ở khu vực xa bờ (PHUMY2,3,4,7,8) đạt loại II, loại tốt, thích hợp cho việc lấy nước để nuôi trồng thủy sản

Việc thể hiện chất lượng nước lên các bản đồ chuyên đề là một hướng nghiên cứu mới Kỹ thuật xử lý không gian cho kết quả rõ ràng và chính xác, qua đó thể hiện tính ưu việt của công cụ GIS Ứng dụng phép nội suy IDW để đánh giá chất lượng nước cho kết quả có độ chính xác cao Qua đó thông tin rõ ràng đến cho người dân và cơ quan quản lý, chính quyền trong việc quản lý mặt nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 APHA, AWWA, WEF (1999), Standard methods for the examination of water and wastewater 20th edition,

Washington DC, USA

2 CZMC/RIKZ, VNICZM (2003), Monitoring of water quality and biodiversity in Thua Thien Hue coastal

zone, Thua Thien Hue

3 Trương Văn Đàn (2012), Ứng dụng GIS và viễn thám trong quản lý môi trường và nguồn lợi thủy sản, Trường

Đại học Nông Lâm Huế

4 Hop N V., et al (2005), Water quality of Tam Giang − Cau Hai lagoon: present state, concern and control

solution, National Workshop in the Lagoon of Thua Thien Hue Province

5 Hop N V., Khoa N X., Nghi T V., Viet P H., Yasaka Y., Tanaka M (2003), Surface water quality in Thua

Thien Hue province, The 4th General Seminar of the Core University Program: Environmental

Science and Technology for Sustainable Development, Osaka University, Japan, pp 79-88

6 Thua Thien Hue – Vietnam, Nord Pas de Calais – France (2003), Knowledge of sustainable

development (Part of Vietnamese - French cooperation project “Research on the sustainable development of Thua Thien Hue Lagoon”), Hue

7 J.M Ishaku, A.S Ahmed, M.A Abubakar (2012), Assessment of groundwater quality using water quality

index and GIS in Jada, northeastern Nigeria, International Research Journal of Geology and Mining

(IRJGM) (2276 - 6618) Vol 2 (3) pp 54-61

8 Mouna Ketata - Rokbani, Moncef Gueddari, Rachida Bouhlila (2011), Use of Geographical Information

System and Water Quality Index to Assess Groundwater Quality in El Khairat Deep Aquifer (Enfidha, Tunisian Sahel), Iranica Journal of Energy & Environment 2: 133-144

9 UBND xã Phú Mỹ, 20/7/2013

http://phuvang.hue.gov.vn/Portal/?GiaoDien=7&ChucNang=252&HtID=11&SubCap1ID=23

APPLYING GEOGRAPHIC INFORMATION SYSTEM (GIS) AND WATER QUALITY INDEX (WQI) TO WATER QUALITY ZONING FOR AQUACULTURE ACTIVITIES IN PHU MY LAGOON, PHU

VANG DISTRICT, THUA THIEN HUE PROVINCE

Truong Van Dan 1 , Le Van Dan 1 , Vo Thi Phuong Anh 2

SUMMARY

Applying GIS and WQI for water quality evaluation is a new trend The research was carried out in Tam Giang – Cau Hai lagoon, located in Phu My commune in 2013 The research used water quality index of the U.S national sanitation foundation to assessment and zoning of water quality for aquaculture activities

Phu My lagoon showed strong temporal and spatial variation in water quality index with WQI dry season = 78,59; WQI rainy season = 67,66; WQI near shore = 69,33; WQI offshore = 75,79 During dry season, 100% of area was

1 Faculty of Fisheries – Hue university of Agriculture and Forestry

2 Department of Agriculture and Rural Development in Thua Thien Hue

Trang 9

classified as water quality level II (good) During rainy season, 33,38% (53,409 ha), mainly in the area around stations PHUMY2,3,4,8, was classified as level II while 66,62% area was of the III level (average-grade), mainly in the area around stations PHUMY1,5,6,9 Classification of water quality by month showed that during June, July and August, the whole area was classified as level II while in October area of level II droped down to 71,47% (28,53% droped downs to level III) In November there was 59,375% area reached level II while the remainer was classified as level III In December the whole area was ranked as level III

Ngày đăng: 31/07/2022, 00:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w