Tạp chí VĂN HÓA & NGUỒN LỰC MỤC LỤC ISSN 2354 - 0907 Số 3 27/2021 NGUYỄN NGỌC THƠ, CAO THANH TÂM, HUỲNH HOÀNG BA - Giáo dục gia đình và cộng đồng người Hoa vùng Tây Nam Bộ TRẦN NGỌC KHÁ
Trang 1TỔNG BIÊN TẬP
PGS.TS Lâm Nhân
HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP
GS Lương Văn Hy
GS.TS Nguyễn Chí Bền
PGS.TS Nguyễn Thế Dũng
PGS.TS Phan An
PGS.TS Trần Văn Ánh
PGS.TS Đỗ Ngọc Anh
PGS.TS Nguyễn Xuân Hồng
PGS.TS Lâm Nhân
TS Nguyễn Thị Thư
TS Mai Hà Phương
TS Cao Thanh Phước
THƯ KÝ
ThS Nguyễn Thị Thanh Thúy
*
Tòa soạn
51, Quốc Hương,
phường Thảo Điền, Quận 2,
Tp.Hồ Chí Minh
Tel: 0283.898.2519
Thư từ, bài viết liên lạc:
tapchi@hcmuc.edu.vn
In tại: Công ty Thương Mại
In Nhật Nam
Giấy phép xuất bản
số 474/GP-BTTTT.
Tạp chí VĂN HÓA & NGUỒN LỰC MỤC LỤC
ISSN 2354 - 0907
Số 3 (27)/2021
NGUYỄN NGỌC THƠ, CAO THANH TÂM, HUỲNH HOÀNG BA
- Giáo dục gia đình và cộng đồng người Hoa vùng Tây Nam Bộ
TRẦN NGỌC KHÁNH
- Thuyết tương quan và văn hóa đô thị
LÊ VIỆT LIÊN
- Tạo dựng không gian công cộng tại các khu đô thị mới hiện nay trên địa bàn Hà Nội (nghiên cứu trường hợp không gian thiêng)
NGUYỄN ÁI HỌC
- Dân ca Tây Nguyên từ góc nhìn địa văn hóa
NGUYỄN ĐỨC NAM
- Phường múa rối cạn Tế Tiêu - bản sắc văn hóa trong từng trò diễn
BÙI VĂN TUẤN, TRẦN THỊ HIÊN
- Phát huy nguồn lực văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong phát triển thương hiệu “Thành phố Sáng Tạo”
VŨ NHẬT TÂN
- Ẩm thực thời khẩn hoang phục vụ du lịch tại Cà Mau
NGUYỄN THỊ TUẤN LINH, PHẠM LAN HƯƠNG
- Tính xác thực trong trưng bày bảo tàng - tiếp cận từ Museum of Innocence (Bảo tàng Thơ ngây)
TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO
- Nghệ thuật truyền thông mới cơ hội phát triển và thách thức cho Việt Nam
- Bước đầu đánh giá mô hình đào tạo theo định hướng ứng dụng tại khoa Văn hóa học Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh
VŨ TIẾN ĐỨC
- Văn hóa giao tiếp và ứng xử thích ứng trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19
TỪ MẠNH LƯƠNG
- Dự án đào tạo sở hữu trí tuệ ngành văn hóa - du lịch và định hướng xây dựng chương trình tổ chức giảng dạy văn hóa sở hữu trí tuệ trong các cơ sở giáo dục Đại học
ĐINH HỒNG HẢI
- Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc Điểm sách: Nguyễn Chí Bền (cb, 2010), Hội Gióng ở đền Phù Đổng và Đền Sóc Nxb Thế giới, Hà Nội
LÊ THỊ HỒNG QUYÊN
NGUỒN LỰC VĂN HÓA
THÔNG TIN TRAO ĐỔI
3 21 33
49 40
59 69 78 85
95
105
112 120
Trang 2NGUYEN NGOC THO, CAO THANH TAM, HUYNH HOANG BA
- Family education and Chinese community in the Southwest region
TRAN NGOC KHANH
- Correlation theory and urban culture
LE VIET LIEN
- Building public space in current new urban area in Hanoi (case study of holy space)
NGUYEN AI HOC
- Highland Folk Song – a view from Geo-Cultural perspective
NGUYEN DUC NAM
- Puppetry guld in Te Tieu cultural identity in every performance
BUI VAN TUAN, TRAN THI HIEN
- Promoting cultural resources of Thang Long – Hanoi in brand development “Creative City”
VU NHAT TAN
- Cuisine style of reclamation phase serving tourism in Ca Mau province
NGUYEN THI TUAN LINH, PHAM LAN HUONG
- Authenticity in museum exhibition access from the Museum of Innocence
TRAN THI PHUONG THAO
- New media art development opportunities and challenges to Vietnam
- Initial assessment of the application – orientated training model in the faculty
of cultural studies in Ho Chi Minh city University of Culture
VU TIEN DUC
- Communication and behavior culture adaptation in the context of the Covid-19 pandemic
TU MANH LUONG
- Project of intellectual property training in culture - tourism and orientation to build a program to teach intellectual property culture in universities
DINH HONG HAI
- Giong festival in Phu Dong and Soc temples Book review: Nguyen Chi Ben (chief editor, 2010) Giong festival in Phu Dong and Soc temples The World Publishing House, Hanoi
LE THI HONG QUYEN
CULTURE
3 21 33
49 40
59
69 78 85
95
105
112
120
EDITOR IN CHIEF
A Prof LAM NHAN, Ph.D
EDITORIAL MEMBERS
Prof LUONG VAN HY
Prof NGUYEN CHI BEN, Ph.D
A.Prof NGUYEN THE DUNG, Ph.D
A.Prof PHAN AN, Ph.D
A.Prof TRAN VAN ANH,Ph.D
A.Prof DO NGOC ANH, Ph.D
A.Prof NGUYEN XUAN HONG, Ph.D
A.Prof LAM NHAN, Ph.D
NGUYEN THI THU, Ph.D
MAI HA PHUONG, Ph.D
CAO THANH PHUOC, Ph.D
SECRETARY
NGUYEN THI THANH THUY, MA
*
EDITORIAL OFFICE
51, Quoc Huong street, District 2,
Thao Dien Ward,
Ho Chi Minh City
Tel: 0084-28-3.898.2519
EMAIL:
tapchi@hcmuc.edu.vn
CONTENTS No 3 (27)/2021
SPORTS AND TOURISM
RESOURCES
INFORMATION EXCHANGE
Trang 3GIáO DụC GIA ĐìNH Và CộNG Đồng người hoa
Vùng tây nam bộ
PGS.TS Nguy ễn Ngọc Thơ ThS Cao Thanh Tõm ThS Hu ỳnh Hoàng Ba
Túm tắt:
Giỏo d ục đạo đức, lối sống trong gia đỡnh và giỏo dục văn húa – tinh thần tộc người trong
c ộng đồng người Hoa là hai khớa cạnh quan trọng của toàn bộ đời sống lễ tục cộng đồng này, nh ất là trong bối cảnh Việt Nam ngày càng phỏt triển và hội nhập sõu rộng hơn trong
n ền kinh tế toàn cầu Xuất phỏt từ nền tảng triết lý và đạo đức Nho giỏo, giỏo dục đạo đức gia đỡnh hiện vẫn đang được người Hoa vựng Tõy Nam Bộ gỡn giữ và phỏt triển bờn cạnh
m ột số thay đổi về hỡnh thức, phương tiện cho phự hợp với thời đại Với nhiệm vụ định hướng và bồi dưỡng tinh thần và hàm dưỡng văn húa tộc người, cỏc hoạt động ở quy mụ
c ộng đồng (giỏo dục ngụn ngữ và văn húa Hoa, sinh hoạt đền miếu, lễ hội, v.v.) về cơ bản
đó phỏt huy hiệu quả, gúp phần tạo nờn diện mạo văn húa cộng đồng Cú thể núi, giỏo dục trong gia đỡnh người Hoa là một phương diện cú tớnh khộp kớn (thậm chớ bảo thủ) thỡ cỏc
ho ạt động mang tớnh giỏo dục ở cấp độ cộng đồng mang tớnh mở - yếu tố đồng thời thỳc đẩy giao lưu văn húa liờn tộc người Cả hai phương diện ấy đều đang trong quỏ trỡnh “thanh
l ọc”, “gọt giũa” cho phự hợp với những biến đổi sõu sắc của đời sống xó hội Việt Nam hiện nay Đối với nhiều nhúm người Hoa trong vựng, họ gần như hũa đồng vào người Việt về cỏc phương diện ngụn ngữ, đời sống vật chất – kinh tế và đa phần cỏc khớa cạnh của đời sống
xó h ội, song chớnh tớnh khộp kớn của giỏo dục gia đỡnh và ý thức giỏo dục văn húa ở cấp độ
c ộng đồng (chủ yếu là yếu tố lễ - nghi lễ) đó tiếp tục gỡn giữ nhiều sắc thỏi quan trọng của văn húa tộc người 1
Từ khúa: Cộng đồng người Hoa, Tõy Nam Bộ, gia đỡnh, giỏo dục
1 Đặt vấn đề
Giỏo dục đạo đức gia đỡnh và cộng đồng
là một trong cỏc bỡnh diện thể hiện cụ thể của
hoạt động lễ tục truyền thống người Hoa Với
đặc điểm xó hội là thành phần tộc người thiểu
số cú nguồn gốc di dõn, người Hoa mang tõm
thức gắn kết và vun đắp cho gia đỡnh trở thành
một “thành trỡ văn húa” của từng hộ gia đỡnh,
nơi cỏc thành viờn gia đỡnh được nuụi nấng,
che chở và giỏo dục trong khụng gian tương
đối khộp kớn và tương đối nghiờm khắc Với nền tảng đạo đức, thỏi độ và hành vi được gia đỡnh giỏo dục từ tấm bộ, mỗi cỏ nhõn trẻ trong gia đỡnh người Hoa bước ra xó hội sẽ được tiếp cận hai mụi trường giỏo dục mới, đú là giỏo dục nhà trường và giỏo dục trong cộng đồng bản tộc Nếu như giỏo dục trong nhà trường cung cấp kiến thức và kỹ năng sõu, rộng, mang tớnh phổ quỏt để giỳp từng cỏ nhõn hũa nhập vào xó hội và tiến thõn lập nghiệp thỡ giỏo dục trong mụi trường bản tộc giỳp định hỡnh sắc
tạP CHí CủA ĐạI HọC VĂN Hóa tp Hồ Chí Minh
Trang 4thái văn hóa tộc người Hoa cho từng cá thể So
với người Việt chủ thể, giáo dục gia đình và
cộng đồng bản tộc người Hoa được cho là chặt
chẽ hơn và nghiêm túc hơn, điều này phản ánh
quy luật chung phổ quát trên toàn thế giới rằng
các cộng đồng di dân và dân tộc thiểu số
thường có xu hướng thắt chặt mối quan hệ và
giáo dục gia đình và cộng đồng cùng tộc người với nhau Khi được hỏi “đơn vị nào sau đây thể hiện vai trò giáo dục lễ nghĩa, đức hạnh cho học sinh cao nhất (1 là cao nhất, 5 là thấp nhất)?”, kết quả khảo sát online 100 người ngẫu nhiên như sau:
(Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Tuấn Nghĩa thực hiện, 2020-2021) Theo kết quả này, đứng đầu là giáo
dục gia đình (82% cho là quan trọng nhất), thứ
hai là giáo dục nhà trường (58%), thứ ba là
giáo dục thông qua các hoạt động đoàn thể
(44%), và hội, nhóm, câu lạc bộ (38%) Đối với một cá nhân người Hoa, môi trường giáo dục chủ yếu bao gồm các thành tố thể hiện trong sơ đồ sau:
Như vậy, cộng đồng người Hoa vùng
Tây Nam Bộ đã và đang vận dụng những
phương pháp và phương thức nào để tiến hành
các hoạt động giáo dục nghi lễ, đạo đức, hành
vi và xa hơn là giáo dục văn hóa đối với con
em và thành viên cộng đồng mình? Giữa giáo
dục gia đình và giáo dục cộng đồng liệu có hay
không một “cấu trúc” phân tầng nhiệm vụ
được lãnh đạo cộng đồng kiến tạo và thúc đẩy
thực hiện? Bài viết này vận dụng chủ yếu
phương pháp kết hợp giữa điều tra bảng hỏi –
phỏng vấn sâu và phân tích tài liệu thành văn
để mô tả và phân tích đặc điểm giáo dục lễ tục trong cộng đồng người Hoa vùng Tây Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu bước đầu cho thấy cộng đồng này tiến hành xây dựng
quan điểm nhị nguyên trong giáo dục gia đình
và cộng đồng; theo đó, giáo dục gia đình là trụ
cột chính, đóng vai trò lực hướng tâm để xây
dựng tính cách văn hóa cá nhân trong khi giáo
dục cộng đồng (song song với giáo dục trường
t¹P CHÝ CñA §¹I HäC V¡N Hãa tp Hå ChÝ Minh
Trang 5lớp chính quy) đặt mục tiêu chính ở định
hướng bản sắc tộc người Trong thời điểm của
nhiều biến đổi kinh tế - xã hội như hiện nay,
giáo dục cộng động đã giảm dần quy mô và
hiệu quả, trong khi giáo dục gia đình vẫn đang
tiếp tục làm “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình
hàm dưỡng nhân cách văn hóa từng cá nhân
Nghiên cứu giáo dục trong gia đình và
trong cộng đồng người Hoa vùng Tây Nam Bộ
hiện vẫn còn là vấn đề mới mẻ, hầu như chưa
có một nghiên cứu nào trập trung đúng vấn đề
Hiện có một số công trình thảo luận có liên
quan đến giáo dục trong cộng đồng người Hoa
như (1) Tổng quan biến đổi văn hóa, giáo dục
người Hoa Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam của tác
giả Trương Thế Hào (2008, NXB Tp Hồ Chí
Minh), (2) phần “Giáo dục” trong cuốn Hoa
Ki ều Chí: Việt Nam của Ban biên tập Hoa
Kiều Chí Đài Loan xuất bản năm 1958, (3)
phần Chương 6 của cuốn The Chinese
diaspora in Southeast Asia – the overseas
Chinese in Indo-China (Mạng lưới di dân
người Hoa ở Đông Nam Á – Hoa kiều ở Đông
Dương) của Tracy Barrett (2012, NXB I.B
Tauris), (4) bài viết “The Hoa of Phu Quoc in
Vietnam: local institutions, education, and
studying Mandarin” công bố trên Journal of
Chinese Overseas (số 6/2010, tr.311-332),
v.v Hầu hết các công trình này trình bày chủ
yếu thực trạng hoạt động của hệ thống các
trường Hoa ngữ do cộng đồng người Hoa Việt
Nam sở hữu xuyên suốt từ thời Pháp thuộc cho
đến sau Giải phóng, thế nhưng lại chưa đi vào
hai bình diện cơ bản nhất của vấn đề chúng tôi
đặt ra, đó là giáo dục đạo đức – lối sống trong
gia đình và giáo dục văn hóa – bản sắc tộc
người trong cộng đồng
Công trình này chủ yếu sử dụng tài liệu
điền dã thực địa thực hiện tại tất cả các địa bàn
có đông đảo người Hoa cư trú ở Tây Nam Bộ,
thực hiện tổng cộng 62 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc, bao gồm 12 cuộc thực hiện vào các năm 2015, 2016 và 2017 và 50 cuộc thực hiện tập trung vào cuối năm 2019 – đầu năm 2020 Đối tượng phỏng vấn đa phần là nam giới, có
độ tuổi từ 35 đến 75 tuổi, thuộc nhiều thành phần: giáo viên, nông dân, người buôn bán, thành viên ban trị sự đền miếu, cán bộ công chức nhà nước ở địa phương Nội dung phỏng vấn trải đều các khía cạnh của đề tài Lễ tục xã
h ội người Hoa vùng Tây Nam Bộ: truyền
th ống và biến đổi (đề tài B-ĐHQG-HCM),
song trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ mới vận dụng các phần nội dung liên quan đến giáo dục Để làm nền tảng cho các lập luận, phân tích, chúng tôi vận dụng quan điểm cấu trúc - chức năng xã hội của Radcliffe-Brown và một số lý luận có liên quan đến lễ tục gia đình và xã hội
2 Giáo d ục trong gia đình
Các gia đình người Hoa giáo dục con
em mình qua hệ thống gia phong, gia quy (gia pháp) và hệ thống các nghi thức – biểu tượng
có liên quan Vận dụng quan điểm của Seligman và Weller (2012), tập thể gia đình biết gieo cấy, cung cấp và tạo điều kiện để từng cá nhân tiếp cận với hệ thống các ý nghĩa mang tính định hướng giáo dục đạo đức cá nhân và xã hội được biểu trưng hóa và quy cách hóa bằng truyền thống gia đình - “gia phong”, “gia pháp” và hệ thống các biểu tượng (chuyện kể, quan niệm, gương hiếu thảo, các biểu tượng gắn với giáo dục đạo đức và lối sống, v.v.), biết vận dụng hợp lý các nghi thức, nghi lễ gia đình (“gia lễ”) để cụ thể hóa và chuyển hóa chúng thành nguồn tri thức và kỹ năng cho từng cá thể, mục tiệu giáo dục gia đình và cộng đồng sẽ trở nên hiện hữu Quá trình ấy có thể tóm tắt như sau:
“Gia phong”
“Gia pháp”, “gia quy” “gia lễ đạo đức, thái độ, lối sống, phong cách văn hóa
Hệ thống các biểu tượng
và nghi thức
t¹P CHÝ CñA §¹I HäC V¡N Hãa tp Hå ChÝ Minh
Trang 6Theo kết quả khảo sát ý kiến 100 người
ngẫu nhiên (online), 82,2% cho rằng vai trò
giáo dục gia đình đối với lễ nghĩa, đức hạnh cá
nhân, 17,8% cho là quan trọng, và không có ý
kiến khác Còn khi được hỏi cụ thể hơn về so
sánh vai trò gia đình và nhà trường trong giáo
dục lễ nghĩa, đức hạnh cá nhân, 22% cho rằng
gia đình có trách nhiệm lớn nhất, 43% cho
rằng cả gia đình và nhà trường có trách nhiệm
như nhau, 26% chọn cả ba yếu tố gia đình, nhà
trường và xã hội, 3% cho rằng nhiệm vụ nhà
trường là lớn nhất, còn lại là các ý kiến khác
Đặc biệt có ý kiến nêu cụ thể rằng “gia đình
góp phần quan trọng hình thành một con
người có trí tuệ có đạo đức, trường học là nơi
ta học tập và phát huy chúng” (khảo sát
online, 2020) Kết quả phỏng vấn sâu (62
cuộc) rải đều ở tất cả các địa phương Tây Nam
Bộ cho thấy hầu hết đều cho rằng giáo dục đức
hạnh lễ nghĩa là nhiệm vụ hàng đầu của gia
đình, trong khi nhà trường được cho là giữ
nhiệm vụ trọng tâm giáo dục tri thức, kỹ năng
Trong khi đó, ở phạm vi cộng đồng, khu dân
cư nói chung (người Việt đa số), mức đánh giá
hiệu quả lễ nghĩa, đức hạnh các cá nhân như
sau: rất tốt: 7,3%; tốt: 40%; trung bình: 49,1%;
dưới trung bình: 3,6% (kết quả khảo sát online,
năm 2020) So sánh hai dữ liệu nói trên ta có
thể thấy mức độ hài lòng của giáo dục trong
phạm vi gia đình trong cộng đồng người Hoa
cao hơn so với thực trạng chung của xã hội
Có thể thấy rằng các gia đình người Hoa
được đánh giá là hạt nhân của giáo dục đức
hạnh, lễ nghĩa con em mình Khi được hỏi
“truyền thống chữ Hiếu gia đình được giáo
dục chủ yếu qua các phương tiện gì?”, câu trả
lời như sau: phong tục 70%; lễ tết: 9%;
chuyện kể dân gian: 9%; còn lại là các ý kiến
khác, chẳng hạn con cháu noi theo hành động
cha mẹ ông bà làm, làm theo lời dạy của thầy
cô ở trường lớp v.v.: 12% (kết quả khảo sát
online, năm 2020)
Trong quan hệ gia đình, dòng tộc người
Hoa ở địa phương, đạo đức và truyền thống gia
đình được giáo dục và gìn giữ thông qua gia
quy, gia phả (22%), thiết chế từ đường (16%), tục cúng Thanh minh (25%), các sinh hoạt khác (7%) (kết quả khảo sát online, năm 2020) Người Hoa xưa (và cả ngày nay) đặc biệt coi trọng con trai, nhất là con trai trưởng, được ví là người nối dõi tông đường chính thống của gia đình Đối với người phụ nữ, hễ sinh được con trai thì rất được nhà chồng yêu quý vì “mẫu quý do tử (mẹ được quý trọng nhờ con trai)” Mặc dù con gái không có vị trí cao quý như con trai, song khi gả chồng cho con, các gia đình cũng hết sức chú trọng chọn
rể, họ thích lựa chọn nhà sui gia có cùng phong cách văn hóa (cùng phương ngữ càng tốt) để có thể mở rộng “quang tông diệu tổ” Rất nhiều gia đình người Hoa giữ lệ tra gia phả
để biết cách đặt tên lót cho các con nhằm đảm bảo quy tắc tôn ti giữa các thế hệ Mặc dù người Hoa coi trọng hệ thống thân tộc và chế
độ tông pháp (phân biệt trưởng - thứ), song trong quan hệ thân tộc của họ vẫn có một điểm khác biệt, mang tính linh hoạt hơn truyền thống người Việt Nếu như người Việt “bé bằng củ khoai, cứ theo vai mà gọi” thì người Hoa cùng một thế hệ “hễ ai thấy mặt trời trước thì làm anh chị, sau làm em; không phân vai vế con chú hay con bác” Họ đặc biệt coi trọng cách xưng hô, khi “xưng hô thì cố gắng dùng tiếng Hoa” (anh TQH, nam, 1970, Hà Tiên) bởi vì “còn xưng hô được là vẫn còn giữ được phong tục người Hoa” (ông DA, nam, 1944, Cái Răng) Vùng đất phía nam sông Hậu dấu
ấn cách xưng hô lịch sử của người Hoa Triều Châu phần nào đó có ảnh hưởng đến văn hóa người Việt khi ngoài đường (hoặc trong chợ) người ta gọi người đàn ông có tuổi là “chệt” (chú), gọi người phụ nữ có tuổi là “ý” (dì), gọi anh thanh niên là “hia” (anh), gọi một phụ
nữ trẻ là “chế” (chị), v.v
Trong giáo dục gia đình người Hoa, đứng đầu là truyền thống chữ hiếu và tôn ti - trật tự gia đình Đại đa số người được khảo sát cho rằng người Hoa “chú trọng” và “rất chú trọng” các giá trị này, trong khi rất ít người chọn mức “bình thường” (kết quả phân
Trang 7tích các biên bản phỏng vấn sâu) Vợ chồng
ông HB (nam, 1943, Cần Thơ) khẳng định
“người Hoa người ta kính trọng ông bà cha mẹ
lắm”, và “làm cha mẹ thì cũng phải cũng phải
gương mẫu” (phỏng vấn 2019) Ông LTN
(Nam, 1961, Cần Thơ) khẳng định rằng người
Hoa giáo dục chữ Hiếu thông qua một số quy
tắc đạo đức cụ thể (ông gọi là “gia quy”),
chẳng hạn câu “phụ mẫu tại, bất viễn du” (cha
mẹ còn, không được đi xa) Tự bản thân ông
không cho phép mình nói tục, chửi thề, không
“lươn lẹo”, “dối trá” để các con ông lấy đó làm
gương Ông DHM, gốc Hẹ, (1940, Long
Xuyên) và ông ĐTT, gốc Triều Châu, (1944,
Châu Đốc) cũng khẳng định rằng bản thân và
gia đình luôn ý thức dùng nề nếp, gia quy để
giáo dục con cháu
Một nguyên tắc nữa trong giáo dục gia
đình là phương pháp thân giáo (tự lấy thân
mình làm gương) Ông NPH (1964, Cần Thơ)
cho biết bản thân ông cứ mỗi tết đến là tự làm
và hướng dẫn con cháu chuẩn bị tươm tất bàn
thờ gia tiên, mâm cúng lễ, thay liễn xuân, câu
đối xuân Tết Thanh minh cũng vậy, tự ông bà
làm và đích thân chỉ dạy con cháu nấu món ăn,
chuẩn bị mâm cúng, bộ tam sên, hình thức
cúng kiếng, v.v Ông DA (1944, Cái Răng)
cũng cho biết gia đình ông cũng có truyền
thống ông bà cha mẹ làm gương, con cháu noi
theo như thế Trong các cuộc phỏng vấn sâu
của chúng tôi (95% người được hỏi là gốc
Hoa), đa số các trường hợp đều cho rằng họ
hài lòng (hoặc rất hài lòng) với lối giáo dục
đạo đức gia đình họ, chỉ một số ít tạm hài lòng
hoặc chưa hài lòng
Cùng với sự phát triển của đô thị hóa
và kinh tế thị trường, giáo dục lễ nghĩa gia
đình người Hoa cũng chịu ảnh hưởng nhất
định, mặc dù mức độ ảnh hưởng thấp hơn các
gia đình người Việt 63,5% người Hoa được
hỏi, họ đặc biệt chú trọng sum họp mặt ngày
tết, 16,8% chọn ngày Thanh minh và ngày giỗ
ông bà, còn lại là các ý kiến khác (kết quả
khảo sát online 100 người ngẫu nhiên, năm
2020) Vùng phía nam sông Hậu có truyền
thống cúng Thanh minh quy mô lớn hơn (phong cách Hoa Triều Châu), nhiều học sinh người Hoa đi học xa rất tranh thủ xin phép về quê nhà cùng gia đình đi cúng mộ tổ tiên Bàn
về những thay đổi trong lối sống và giáo dục gia đình hiện nay, bà LNH (1957, Bình Minh, Vĩnh Long) khẳng định rằng bà “không ép buộc gì tụi nhỏ lắm” và “không bắt buộc tụi
nó phải có cái lòng hiếu thảo”, hãy “để tụi nó sống với bản thân thoải mái” Tuy nhiên, khi được hỏi bà có ra điều kiện gì khi để con cái sống thoải mái hay không, bà không ngần ngại mà thổ lộ rằng “chỉ cần tụi nó kính trên nhường dưới, con trai thờ phượng ông bà, lo Thanh minh mồ mả” Như vậy, giáo dục gia đình người Hoa từ rất sớm đã “thấm” vào phong tục, vào “gia quy” chứ không đơn thuần chỉ là những lời răn dạy thường nhật, đến mức mà bà LNH đã mặc nhiên coi các đạo đức ấy là điều đương nhiên, ‘không ảnh hưởng’ tới sự thoải mái trong cách sống của các con bà Bà cho biết thêm con trai bà yêu
cô gái theo đạo Thiên Chúa, bà không cự tuyệt mà chỉ khuyên nhủ nhẹ nhàng “Rất may con trai cô nghe theo cô, đi tìm hiểu mối khác” (phỏng vấn 11/2019) Bàn về việc quy định con trai trưởng hay thứ sau khi lập gia đình sẽ ở nhà cùng bố mẹ, ông HQC (1947, Rạch Sỏi, Kiên Giang) cho biết ông lo cho các con học tới nơi tới chốn, ai biết lo cho gia đình mới cho ở lại nhà, còn lại đều cho ra riêng hết Dù vậy, những thay đổi trong lối sống thường nhật là rất hiện hữu Ông TKQ (1953, Ô Môn, Cần Thơ) khẳng định “ngày xưa tới giờ cơm thì gia đình phải tề tựu đầy
đủ mới ăn cơm, còn bây giờ mạnh ai nấy ăn,
ai đói bụng thì cứ ăn” Qua kết quả phỏng vấn sâu, khảo sát online và qua tìm hiểu của chúng tôi, giáo dục đạo đức gia đình người Hoa Tây Nam Bộ hiện nay nhìn chung có những thay đổi về mặt hình thức thể hiện của lối giáo dục và một số phương diện đời sống (việc học, việc làm, chọn nơi sinh sống, chọn bạn đời, v.v.) song những ‘hằng số’ đạo đức gia đình (như chữ hiếu, tôn ti trật tự gia đình, truyền bá – tiếp nhận phong tục – tập quán
Trang 8người Hoa, v.v.) vẫn tiếp tục được gìn giữ
thông qua các hoạt động lễ tục gắn với gia
đình Giữa hai không gian nông thôn và đô thị
thì các vùng nông thôn (đặc biệt nơi người
Hoa tập trung cư trú với số lượng đông đúc)
được cho là giữ giáo dục gia đình và phong
tục gia đình tốt hơn đô thị Ông TAT (1948,
Rạch Giá, Kiên Giang) cho biết mặc dù Tắc
Cậu chỉ là một thị tứ nhỏ gần vùng U Minh
Thượng, song ở đó người Hoa Triều Châu tập
trung đông đúc, họ “giữ gìn phong tục tốt hơn
người Hoa ở Rạch Giá” (phỏng vấn 2020)
Giáo dục đạo đức, lễ nghĩa gia đình
người Hoa Tây Nam Bộ tồn tại một số phương
diện (giá trị) cần được xem xét Các quan niệm
nam tôn nữ ti, phân biệt trưởng – thứ (tàn dư
của chế độ tông pháp xưa), tư tưởng quyền
huynh thế phụ, và trong chừng mực là sự hà
khắc trong giáo dục và quy định cuộc sống con
cái đã ít nhiều ảnh hưởng đến các thành viên
gia đình Robert Weller (1987, tr 25) từng
khẳng định ở người Hoa, đoàn kết gia đình và
chữ hiếu theo dòng phụ hệ tuyệt đối đã định
hình hết thảy các hình thức thờ cúng và nghi lễ
gia đình, được thể hiện một cách hữu thức và
rõ nét Bất kỳ vị khách nào tới thăm gia đình
người Hoa đều ít nhiều có thể đoán định được
truyền thống giáo dục gia đình họ thông qua
quan sát bàn thờ tổ tiên, cách bày trí gian thờ
và phòng khách Mặc dù khẳng định “quan niệm trọng nam khinh nữ nhưng không khắc nghiệt như xưa”, nhưng ông LNT (1961, Long Xuyên) thổ lộ ông “có hai đứa con gái cũng thương dữ lắm, có điều thì mình vẫn thương con trai hơn” Ông NPH (1964, Cần Thơ) cũng tương tự cho rằng “nói chung thì trai gái ai cũng cưng” nhưng “nếu mà sinh con trai thì cưng hơn” Khi cúng kiếng ông bà, các con trai ông lần lượt cúng trước, sau đó mới đến con gái Các con ông đều đã lập gia đình, con trai trưởng đứng ra tổ chức chính, các em mang đồ tới cúng chung hoặc hùn tiền gởi gia đình anh trai theo nguyên tắc tự nguyện Quy tắc ‘cha truyền con nối’ còn được phản ảnh qua bích họa thanh sư – bạch tượng phổ biến hai bên mặt ngoài chính điện các miếu thờ (đa phần là miếu Thiên Hậu)
ở vùng bán đảo Cà Mau Với mô típ một cặp sư
tử (hoặc voi) lớn và con non, nhiều người Việt lầm tưởng rằng bích họa diễn ý tình mẫu tử thiêng liêng, song đa số người Hoa địa phương đều diễn giải đó là hình ảnh phụ tử phản ánh tinh thần ‘cha truyền con nối’ của họ Rõ ràng, quan niệm nối dõi tông đường vẫn là một đạo đức cố hữu trong gia đình, chi phối toàn bộ các quan niệm khác cho dù những ảnh hưởng của tiến bộ xã hội có mạnh mẽ tới đâu
Tranh đắp tượng Thanh sư (Thiên Hậu Cung Cái Keo – Cà Mau) và Bạch tượng (Thiên Hậu Cung Tp Cà Mau) (Ảnh Nguyễn Ngọc Thơ, 2016)
Truyền thống giáo dục ‘dĩ thượng hướng
hạ’ trong các gia đình người Hoa ở chừng mực
nhất định chế ngự nguyện vọng, sở thích và
quyền lựa chọn nghề nghiệp, lối sống của các con, đặc biệt là con trai trưởng – người nối nghiệp gia đình Anh ta được hưởng quyền
Trang 9huynh thế phụ song phải ‘trả giá’ không rẻ cho
quyền uy ấy Bàn về quan niệm ‘quyền huynh
thế phụ’, ông TT (1942, Tắc Cậu, Kiên Giang)
khẳng định rằng không hề lỗi thời ngay cả
trong thời đại hôm nay bởi lẽ nó giúp anh em
nó hòa thuận, kính trọng nhau, nên vẫn phải
gìn giữ Quan niệm này cũng có cái hay là
luôn nhắc nhở anh con trưởng luôn phải làm
gương cho các em Khác với người Việt Nam
Bộ có quan niệm con trai út thừa kế gia sản
cuối cùng của ba mẹ, người con trai trưởng
trong các gia đình người Hoa mang nhiều
trọng trách hơn là chuyện thừa kế, bởi anh ta
phải đóng vai trò của “người bố thứ hai” trong
gia đình đối với các em, đồng thời phải chịu
đánh mất nhiều nuyện vọng, sở thích cá nhân
(học hành, nghề nghiệp, thậm chí là lựa chọn
hôn nhân) Ông LNT (1961, Long Xuyên)
đánh giá rằng các gia đình người Hoa thuộc
nhóm trung lưu trở lên đều rất coi trọng
chuyện ‘con nối nghiệp cha’ Anh TVĐ (45
tuổi, Cà Mau) là một thí dụ, anh phải bỏ cơ hội
học đại học để về tiếp nhận công việc kinh
doanh của gia đình Trong quá trình phỏng vấn
sâu đối với các hộ gia đình người Hoa làm
nghề buôn bán hay mở các tiệm thuốc bắc ở
các địa phương, chúng tôi nhận thấy rằng tất
cả các gia đình ấy đều có điều kiện kinh tế
nhưng các con trai trưởng giữ quyền ‘nối
nghiệp gia đình’ đều không được đi học đại
học, thường là học hết cấp ba là phải nghỉ để
tiếp nhận sự nghiệp gia đình Thậm chí có gia
đình ở Cần Thơ, con trai thay cha bán thuốc
bắc, chỉ học từ cha tên và công dụng các loại
được phẩm mà chưa qua trường lớp chuyên
môn nào Nói về điều này, cô QNL (1957, Cần
Thơ) nhận định “quan niệm không cần học cao
vẫn còn tồn tại trong một bộ phận người Hoa
hiện nay” (phỏng vấn 2019)
Tóm lại, giáo dục gia đình đối với người
Hoa sinh sống vùng Tây Nam Bộ là thành trì
tiêu biểu của giáo dục đức hạnh, lễ nghĩa nói
chung, rất được cộng đồng này chú trọng Sinh
sống xen kẽ giữa cộng đồng người Việt đông
đảo hơn hay giữa cộng đồng người Khmer
mang đậm nét văn hóa Phật giáo cộng đồng, người Hoa lựa chọn giáo dục gia đình và truyền thống gia đình làm điểm tựa để tiến hành song song ba nhiệm vụ cơ bản: (1) giáo dục đức hạnh, lễ nghĩa cá nhân, (2) giáo dục và lưu truyền truyền thống gia đình; và (3) tạo nền tảng để định hướng giáo dục bản sắc văn hóa tộc người Ở người Hoa Tây Nam Bộ, song hành với giáo dục gia đình còn có giáo dục cộng đồng, chủ yếu thông qua hệ thống các trường học Hoa ngữ và thông qua các hoạt động lễ tục cộng đồng (nghi lễ đền miếu, lễ hội dân gian, các hoạt động văn-thể-mỹ do các hội đoàn đồng hương tổ chức) Trong tương quan
so sánh các thành phần gia đình người Hoa, các gia đình bình dân có thu nhập thấp có xu hướng ít chú trọng giáo dục gia đình hơn, thay vào đó họ trông chờ vào giáo dục nhà trường
và giáo dục cộng đồng Tương tự, các gia đình người Hoa thuần nông (sống xen kẽ với người Việt ở nông thôn) cũng ít chú trọng giáo dục gia đình hơn các gia đình người Hoa buôn bán
ở các đô thị hay thị trấn, thị tứ có số gia đình người Hoa cùng sinh sống Nói cách khác, ở các gia đình thiếu điều kiện vật chất hơn, giáo dục gia đình đa phần chỉ dừng lại ở nhiệm vụ
cơ bản thứ nhất trong số ba nhiệm vụ nói trên
3 Giáo d ục trong cộng đồng
Tổng thể chiều dài lịch sử giáo dục trong quy mô cộng đồng người Hoa vùng Tây Nam Bộ có thể phân thành 3 giai đoạn: giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển độc lập với hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, và giai đoạn hòa nhập giáo dục quốc dân Giai đoạn 1 ứng với thời Pháp thuộc; giai đoạn 2 kéo từ cuối thời Pháp thuộc đến cuối thập niên 1950-đầu thập niên 1960, và giai đoạn 3 gắn với thời gian sau đó
Giáo dục trong cộng đồng gắn liền với các mục tiêu phong hóa cộng đồng, lưu truyền
và phát triển văn hóa – văn minh Trung Hoa đã sớm hình thành từ trước ở Nam Bộ, gắn liền với hai trong ba nhóm người Hoa đầu tiên được các chúa Nguyễn cho phép định cư trong
t¹P CHÝ CñA §¹I HäC V¡N Hãa tp Hå ChÝ Minh
Trang 10vùng, đó là nhóm Mạc Cửu ở Hà Tiên và
Nhóm Trần Thượng Xuyên ở Đồng Nai Cuốn
Poetic Transformations: Eighteenth-Century
Cultural Projects on the Mekong Plains
(Chuyển hóa thơ ca: các công trình văn hóa thế
kỷ 18 ở Đồng bằng sông Cửu Long) của
Claudine Ang (2019) có thể nói là một chuyên
tác thảo luận về vấn đề này giai đoạn tiền
thuộc địa
Mạc Cửu, và con Mạc Thiên Tứ/Tích, là
người mang phong cách văn hóa Trung Hoa cổ
điển, đặc biệt là phong cách Quảng Đông2
Ông được chúa Nguyễn phong chức Tổng trấn
Hà Tiên, phục vụ như là một xứ tiền tiêu của
Đàng Trong ở phía nam3 Với vị trí ấy, ông có
thẩm quyền và nguồn lực ở chấn hưng giáo
dục văn hóa, nghi lễ Trung Hoa ở Hà Tiên, cụ
thể nhất là việc Mạc Thiên Tứ lập Văn đàn
Chiêu Anh Các4 và chiêu mộ văn nhân Bắc,
Trung, Nam và từ Trung Hoa sang Thay vì
gắn Hà Tiên với nhà Thanh Trung Quốc, Mạc
Thiên Tứ dùng thơ văn để xây dựng hình ảnh
Hà Tiên thành xứ sở “thiên đường” xa cách
với Trung Quốc, nơi thi nhân mặc khách và
những người “phản Thanh phục Minh” có thể
lựa chọn làm bến đỗ5 Nếu như Mạc Cửu có
công xây thành quách, đài các, thương cảng,
phố thị, thôn xóm thì con Mạc Thiên Tích đã
dùng văn hóa như là một guồng máy tinh thần
để giáo dục nghi lễ, phong tục, lối sống cho
người dân trong bổn xứ Hà Tiên xưa có xây
miếu thờ Khổng Tử và lập nhiều trường học
miễn phí cho trẻ em, góp phần vào sự nghiệp
phong hóa cư dân Hà Tiên – Phú Quốc và lan
rộng ra vùng đất phía nam sông Hậu về sau6
Ở vùng đất Đồng Nai – Gia Định từ đầu
thế kỷ 18 đã hình thành một Cù lao Phố sầm
uất và phong nhã, nơi giáo dục nghi lễ và tri
thức Nho học được sớm hình thành và phát
triển ở cả hai cộng đồng người Việt và người
Hoa Đến cuối thế kỷ 18, khi Cù lao Phố bị tàn
phá, trung tâm kinh tế - giáo dục mới của
người Hoa hình thành ở vùng Chợ Lớn, nơi
phong hóa người Minh Hương được ca ngợi
trong câu ca dao bản xứ:
“Gỏi nào ngon bằng gỏi tôm càng,
Đố ai lịch sự bằng làng Minh Hương” (ca dao Sài Gòn – Gia Định xưa)
So với Chiêu Anh Các ở Hà Tiên thì vùng này nổi lên nhóm Bình Dương thị xã, do Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, với nhiều nhân sĩ đến đây để ngâm thơ, xướng họa vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ
19 Nhóm này thường tề tựu về Đình Minh hương Gia Thạnh để xướng họa, luận đàm và
đề xuất nhiều sinh hoạt văn hóa nâng cao phong hóa địa phương Nhiều văn nhân người Hoa trong vùng trở thành các bậc danh sư hay văn nhân có tiếng, một số đã từng làm quan cho triều đình nhà Nguyễn như Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Trương Minh Giảng, Phan Thanh Giản, v.v Một số văn nhân khác cũng có đóng góp công sức trên nhiều mặt trận xã hội Chẳng hạn, ông Diệp Văn Cương, một trí thức lớn người Hoa,
năm 1868 từng làm chủ biên tờ Phan Yên bá 7
tại Sài Gòn8 Tất cả những văn nhân này đã đóng góp nhiều công sức to lớn cho việc hình thành và phát triển học phong Nam Bộ và chấn hưng phong tục - nghi lễ địa phương
Sang thời Pháp thuộc, điểm nổi bật nhất trong chính sách người Hoa của chính quyền thực dân chính là (1) chia để trị; và (2) tận dụng người Hoa như là nhóm thương mại quốc tế làm giàu cho ngân sách chính quyền Với chủ trương ấy, các bang hội người Hoa được đăng
ký hoạt động hợp pháp, miễn là họ hoàn thành các nghĩa vụ quan trọng đối với chính quyền Năm 1900, Trung Hoa Hội Quán thành lập ở Chợ Lớn thực thi các chức năng thúc đẩy giáo dục Hoa ngữ, chuẩn hóa nghi lễ và “nâng cao kiến thức và thực hành đúng đắn của người Hoa để không còn người dốt nát hoặc ở
vị trí thấp kém trong cộng đồng”9 Dưới sự bảo trợ của các bang hội, các trường Hoa ngữ được thành lập ở Sài Gòn – Chợ Lớn và khắp Nam Bộ Vùng Sài Gòn – Chợ Lớn
có hơn 120 trường học các loại với hơn 25.200
t¹P CHÝ CñA §¹I HäC V¡N Hãa tp Hå ChÝ Minh