1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục gia đình và giáo dục cộng đồng người hoa vùng tây nam bộ family education and community education of the ethnic chinese in the mekong river delta

20 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 818,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí VĂN HÓA & NGUỒN LỰC MỤC LỤC ISSN 2354 - 0907 Số 3 27/2021 NGUYỄN NGỌC THƠ, CAO THANH TÂM, HUỲNH HOÀNG BA - Giáo dục gia đình và cộng đồng người Hoa vùng Tây Nam Bộ TRẦN NGỌC KHÁ

Trang 1

TỔNG BIÊN TẬP

PGS.TS Lâm Nhân

HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP

GS Lương Văn Hy

GS.TS Nguyễn Chí Bền

PGS.TS Nguyễn Thế Dũng

PGS.TS Phan An

PGS.TS Trần Văn Ánh

PGS.TS Đỗ Ngọc Anh

PGS.TS Nguyễn Xuân Hồng

PGS.TS Lâm Nhân

TS Nguyễn Thị Thư

TS Mai Hà Phương

TS Cao Thanh Phước

THƯ KÝ

ThS Nguyễn Thị Thanh Thúy

*

Tòa soạn

51, Quốc Hương,

phường Thảo Điền, Quận 2,

Tp.Hồ Chí Minh

Tel: 0283.898.2519

Thư từ, bài viết liên lạc:

tapchi@hcmuc.edu.vn

In tại: Công ty Thương Mại

In Nhật Nam

Giấy phép xuất bản

số 474/GP-BTTTT.

Tạp chí VĂN HÓA & NGUỒN LỰC MỤC LỤC

ISSN 2354 - 0907

Số 3 (27)/2021

NGUYỄN NGỌC THƠ, CAO THANH TÂM, HUỲNH HOÀNG BA

- Giáo dục gia đình và cộng đồng người Hoa vùng Tây Nam Bộ

TRẦN NGỌC KHÁNH

- Thuyết tương quan và văn hóa đô thị

LÊ VIỆT LIÊN

- Tạo dựng không gian công cộng tại các khu đô thị mới hiện nay trên địa bàn Hà Nội (nghiên cứu trường hợp không gian thiêng)

NGUYỄN ÁI HỌC

- Dân ca Tây Nguyên từ góc nhìn địa văn hóa

NGUYỄN ĐỨC NAM

- Phường múa rối cạn Tế Tiêu - bản sắc văn hóa trong từng trò diễn

BÙI VĂN TUẤN, TRẦN THỊ HIÊN

- Phát huy nguồn lực văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong phát triển thương hiệu “Thành phố Sáng Tạo”

VŨ NHẬT TÂN

- Ẩm thực thời khẩn hoang phục vụ du lịch tại Cà Mau

NGUYỄN THỊ TUẤN LINH, PHẠM LAN HƯƠNG

- Tính xác thực trong trưng bày bảo tàng - tiếp cận từ Museum of Innocence (Bảo tàng Thơ ngây)

TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO

- Nghệ thuật truyền thông mới cơ hội phát triển và thách thức cho Việt Nam

- Bước đầu đánh giá mô hình đào tạo theo định hướng ứng dụng tại khoa Văn hóa học Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh

VŨ TIẾN ĐỨC

- Văn hóa giao tiếp và ứng xử thích ứng trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19

TỪ MẠNH LƯƠNG

- Dự án đào tạo sở hữu trí tuệ ngành văn hóa - du lịch và định hướng xây dựng chương trình tổ chức giảng dạy văn hóa sở hữu trí tuệ trong các cơ sở giáo dục Đại học

ĐINH HỒNG HẢI

- Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc Điểm sách: Nguyễn Chí Bền (cb, 2010), Hội Gióng ở đền Phù Đổng và Đền Sóc Nxb Thế giới, Hà Nội

LÊ THỊ HỒNG QUYÊN

NGUỒN LỰC VĂN HÓA

THÔNG TIN TRAO ĐỔI

3 21 33

49 40

59 69 78 85

95

105

112 120

Trang 2

NGUYEN NGOC THO, CAO THANH TAM, HUYNH HOANG BA

- Family education and Chinese community in the Southwest region

TRAN NGOC KHANH

- Correlation theory and urban culture

LE VIET LIEN

- Building public space in current new urban area in Hanoi (case study of holy space)

NGUYEN AI HOC

- Highland Folk Song – a view from Geo-Cultural perspective

NGUYEN DUC NAM

- Puppetry guld in Te Tieu cultural identity in every performance

BUI VAN TUAN, TRAN THI HIEN

- Promoting cultural resources of Thang Long – Hanoi in brand development “Creative City”

VU NHAT TAN

- Cuisine style of reclamation phase serving tourism in Ca Mau province

NGUYEN THI TUAN LINH, PHAM LAN HUONG

- Authenticity in museum exhibition access from the Museum of Innocence

TRAN THI PHUONG THAO

- New media art development opportunities and challenges to Vietnam

- Initial assessment of the application – orientated training model in the faculty

of cultural studies in Ho Chi Minh city University of Culture

VU TIEN DUC

- Communication and behavior culture adaptation in the context of the Covid-19 pandemic

TU MANH LUONG

- Project of intellectual property training in culture - tourism and orientation to build a program to teach intellectual property culture in universities

DINH HONG HAI

- Giong festival in Phu Dong and Soc temples Book review: Nguyen Chi Ben (chief editor, 2010) Giong festival in Phu Dong and Soc temples The World Publishing House, Hanoi

LE THI HONG QUYEN

CULTURE

3 21 33

49 40

59

69 78 85

95

105

112

120

EDITOR IN CHIEF

A Prof LAM NHAN, Ph.D

EDITORIAL MEMBERS

Prof LUONG VAN HY

Prof NGUYEN CHI BEN, Ph.D

A.Prof NGUYEN THE DUNG, Ph.D

A.Prof PHAN AN, Ph.D

A.Prof TRAN VAN ANH,Ph.D

A.Prof DO NGOC ANH, Ph.D

A.Prof NGUYEN XUAN HONG, Ph.D

A.Prof LAM NHAN, Ph.D

NGUYEN THI THU, Ph.D

MAI HA PHUONG, Ph.D

CAO THANH PHUOC, Ph.D

SECRETARY

NGUYEN THI THANH THUY, MA

*

EDITORIAL OFFICE

51, Quoc Huong street, District 2,

Thao Dien Ward,

Ho Chi Minh City

Tel: 0084-28-3.898.2519

EMAIL:

tapchi@hcmuc.edu.vn

CONTENTS No 3 (27)/2021

SPORTS AND TOURISM

RESOURCES

INFORMATION EXCHANGE

Trang 3

GIáO DụC GIA ĐìNH Và CộNG Đồng người hoa

Vùng tây nam bộ

PGS.TS Nguy ễn Ngọc Thơ ThS Cao Thanh Tõm ThS Hu ỳnh Hoàng Ba

Túm tắt:

Giỏo d ục đạo đức, lối sống trong gia đỡnh và giỏo dục văn húa – tinh thần tộc người trong

c ộng đồng người Hoa là hai khớa cạnh quan trọng của toàn bộ đời sống lễ tục cộng đồng này, nh ất là trong bối cảnh Việt Nam ngày càng phỏt triển và hội nhập sõu rộng hơn trong

n ền kinh tế toàn cầu Xuất phỏt từ nền tảng triết lý và đạo đức Nho giỏo, giỏo dục đạo đức gia đỡnh hiện vẫn đang được người Hoa vựng Tõy Nam Bộ gỡn giữ và phỏt triển bờn cạnh

m ột số thay đổi về hỡnh thức, phương tiện cho phự hợp với thời đại Với nhiệm vụ định hướng và bồi dưỡng tinh thần và hàm dưỡng văn húa tộc người, cỏc hoạt động ở quy mụ

c ộng đồng (giỏo dục ngụn ngữ và văn húa Hoa, sinh hoạt đền miếu, lễ hội, v.v.) về cơ bản

đó phỏt huy hiệu quả, gúp phần tạo nờn diện mạo văn húa cộng đồng Cú thể núi, giỏo dục trong gia đỡnh người Hoa là một phương diện cú tớnh khộp kớn (thậm chớ bảo thủ) thỡ cỏc

ho ạt động mang tớnh giỏo dục ở cấp độ cộng đồng mang tớnh mở - yếu tố đồng thời thỳc đẩy giao lưu văn húa liờn tộc người Cả hai phương diện ấy đều đang trong quỏ trỡnh “thanh

l ọc”, “gọt giũa” cho phự hợp với những biến đổi sõu sắc của đời sống xó hội Việt Nam hiện nay Đối với nhiều nhúm người Hoa trong vựng, họ gần như hũa đồng vào người Việt về cỏc phương diện ngụn ngữ, đời sống vật chất – kinh tế và đa phần cỏc khớa cạnh của đời sống

xó h ội, song chớnh tớnh khộp kớn của giỏo dục gia đỡnh và ý thức giỏo dục văn húa ở cấp độ

c ộng đồng (chủ yếu là yếu tố lễ - nghi lễ) đó tiếp tục gỡn giữ nhiều sắc thỏi quan trọng của văn húa tộc người 1

Từ khúa: Cộng đồng người Hoa, Tõy Nam Bộ, gia đỡnh, giỏo dục

1 Đặt vấn đề

Giỏo dục đạo đức gia đỡnh và cộng đồng

là một trong cỏc bỡnh diện thể hiện cụ thể của

hoạt động lễ tục truyền thống người Hoa Với

đặc điểm xó hội là thành phần tộc người thiểu

số cú nguồn gốc di dõn, người Hoa mang tõm

thức gắn kết và vun đắp cho gia đỡnh trở thành

một “thành trỡ văn húa” của từng hộ gia đỡnh,

nơi cỏc thành viờn gia đỡnh được nuụi nấng,

che chở và giỏo dục trong khụng gian tương

đối khộp kớn và tương đối nghiờm khắc Với nền tảng đạo đức, thỏi độ và hành vi được gia đỡnh giỏo dục từ tấm bộ, mỗi cỏ nhõn trẻ trong gia đỡnh người Hoa bước ra xó hội sẽ được tiếp cận hai mụi trường giỏo dục mới, đú là giỏo dục nhà trường và giỏo dục trong cộng đồng bản tộc Nếu như giỏo dục trong nhà trường cung cấp kiến thức và kỹ năng sõu, rộng, mang tớnh phổ quỏt để giỳp từng cỏ nhõn hũa nhập vào xó hội và tiến thõn lập nghiệp thỡ giỏo dục trong mụi trường bản tộc giỳp định hỡnh sắc

tạP CHí CủA ĐạI HọC VĂN Hóa tp Hồ Chí Minh

Trang 4

thái văn hóa tộc người Hoa cho từng cá thể So

với người Việt chủ thể, giáo dục gia đình và

cộng đồng bản tộc người Hoa được cho là chặt

chẽ hơn và nghiêm túc hơn, điều này phản ánh

quy luật chung phổ quát trên toàn thế giới rằng

các cộng đồng di dân và dân tộc thiểu số

thường có xu hướng thắt chặt mối quan hệ và

giáo dục gia đình và cộng đồng cùng tộc người với nhau Khi được hỏi “đơn vị nào sau đây thể hiện vai trò giáo dục lễ nghĩa, đức hạnh cho học sinh cao nhất (1 là cao nhất, 5 là thấp nhất)?”, kết quả khảo sát online 100 người ngẫu nhiên như sau:

(Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Tuấn Nghĩa thực hiện, 2020-2021) Theo kết quả này, đứng đầu là giáo

dục gia đình (82% cho là quan trọng nhất), thứ

hai là giáo dục nhà trường (58%), thứ ba là

giáo dục thông qua các hoạt động đoàn thể

(44%), và hội, nhóm, câu lạc bộ (38%) Đối với một cá nhân người Hoa, môi trường giáo dục chủ yếu bao gồm các thành tố thể hiện trong sơ đồ sau:

Như vậy, cộng đồng người Hoa vùng

Tây Nam Bộ đã và đang vận dụng những

phương pháp và phương thức nào để tiến hành

các hoạt động giáo dục nghi lễ, đạo đức, hành

vi và xa hơn là giáo dục văn hóa đối với con

em và thành viên cộng đồng mình? Giữa giáo

dục gia đình và giáo dục cộng đồng liệu có hay

không một “cấu trúc” phân tầng nhiệm vụ

được lãnh đạo cộng đồng kiến tạo và thúc đẩy

thực hiện? Bài viết này vận dụng chủ yếu

phương pháp kết hợp giữa điều tra bảng hỏi –

phỏng vấn sâu và phân tích tài liệu thành văn

để mô tả và phân tích đặc điểm giáo dục lễ tục trong cộng đồng người Hoa vùng Tây Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu bước đầu cho thấy cộng đồng này tiến hành xây dựng

quan điểm nhị nguyên trong giáo dục gia đình

và cộng đồng; theo đó, giáo dục gia đình là trụ

cột chính, đóng vai trò lực hướng tâm để xây

dựng tính cách văn hóa cá nhân trong khi giáo

dục cộng đồng (song song với giáo dục trường

t¹P CHÝ CñA §¹I HäC V¡N Hãa tp Hå ChÝ Minh

Trang 5

lớp chính quy) đặt mục tiêu chính ở định

hướng bản sắc tộc người Trong thời điểm của

nhiều biến đổi kinh tế - xã hội như hiện nay,

giáo dục cộng động đã giảm dần quy mô và

hiệu quả, trong khi giáo dục gia đình vẫn đang

tiếp tục làm “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình

hàm dưỡng nhân cách văn hóa từng cá nhân

Nghiên cứu giáo dục trong gia đình và

trong cộng đồng người Hoa vùng Tây Nam Bộ

hiện vẫn còn là vấn đề mới mẻ, hầu như chưa

có một nghiên cứu nào trập trung đúng vấn đề

Hiện có một số công trình thảo luận có liên

quan đến giáo dục trong cộng đồng người Hoa

như (1) Tổng quan biến đổi văn hóa, giáo dục

người Hoa Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam của tác

giả Trương Thế Hào (2008, NXB Tp Hồ Chí

Minh), (2) phần “Giáo dục” trong cuốn Hoa

Ki ều Chí: Việt Nam của Ban biên tập Hoa

Kiều Chí Đài Loan xuất bản năm 1958, (3)

phần Chương 6 của cuốn The Chinese

diaspora in Southeast Asia – the overseas

Chinese in Indo-China (Mạng lưới di dân

người Hoa ở Đông Nam Á – Hoa kiều ở Đông

Dương) của Tracy Barrett (2012, NXB I.B

Tauris), (4) bài viết “The Hoa of Phu Quoc in

Vietnam: local institutions, education, and

studying Mandarin” công bố trên Journal of

Chinese Overseas (số 6/2010, tr.311-332),

v.v Hầu hết các công trình này trình bày chủ

yếu thực trạng hoạt động của hệ thống các

trường Hoa ngữ do cộng đồng người Hoa Việt

Nam sở hữu xuyên suốt từ thời Pháp thuộc cho

đến sau Giải phóng, thế nhưng lại chưa đi vào

hai bình diện cơ bản nhất của vấn đề chúng tôi

đặt ra, đó là giáo dục đạo đức – lối sống trong

gia đình và giáo dục văn hóa – bản sắc tộc

người trong cộng đồng

Công trình này chủ yếu sử dụng tài liệu

điền dã thực địa thực hiện tại tất cả các địa bàn

có đông đảo người Hoa cư trú ở Tây Nam Bộ,

thực hiện tổng cộng 62 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc, bao gồm 12 cuộc thực hiện vào các năm 2015, 2016 và 2017 và 50 cuộc thực hiện tập trung vào cuối năm 2019 – đầu năm 2020 Đối tượng phỏng vấn đa phần là nam giới, có

độ tuổi từ 35 đến 75 tuổi, thuộc nhiều thành phần: giáo viên, nông dân, người buôn bán, thành viên ban trị sự đền miếu, cán bộ công chức nhà nước ở địa phương Nội dung phỏng vấn trải đều các khía cạnh của đề tài Lễ tục xã

h ội người Hoa vùng Tây Nam Bộ: truyền

th ống và biến đổi (đề tài B-ĐHQG-HCM),

song trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ mới vận dụng các phần nội dung liên quan đến giáo dục Để làm nền tảng cho các lập luận, phân tích, chúng tôi vận dụng quan điểm cấu trúc - chức năng xã hội của Radcliffe-Brown và một số lý luận có liên quan đến lễ tục gia đình và xã hội

2 Giáo d ục trong gia đình

Các gia đình người Hoa giáo dục con

em mình qua hệ thống gia phong, gia quy (gia pháp) và hệ thống các nghi thức – biểu tượng

có liên quan Vận dụng quan điểm của Seligman và Weller (2012), tập thể gia đình biết gieo cấy, cung cấp và tạo điều kiện để từng cá nhân tiếp cận với hệ thống các ý nghĩa mang tính định hướng giáo dục đạo đức cá nhân và xã hội được biểu trưng hóa và quy cách hóa bằng truyền thống gia đình - “gia phong”, “gia pháp” và hệ thống các biểu tượng (chuyện kể, quan niệm, gương hiếu thảo, các biểu tượng gắn với giáo dục đạo đức và lối sống, v.v.), biết vận dụng hợp lý các nghi thức, nghi lễ gia đình (“gia lễ”) để cụ thể hóa và chuyển hóa chúng thành nguồn tri thức và kỹ năng cho từng cá thể, mục tiệu giáo dục gia đình và cộng đồng sẽ trở nên hiện hữu Quá trình ấy có thể tóm tắt như sau:

“Gia phong”

“Gia pháp”, “gia quy” “gia lễ đạo đức, thái độ, lối sống, phong cách văn hóa

Hệ thống các biểu tượng

và nghi thức

t¹P CHÝ CñA §¹I HäC V¡N Hãa tp Hå ChÝ Minh

Trang 6

Theo kết quả khảo sát ý kiến 100 người

ngẫu nhiên (online), 82,2% cho rằng vai trò

giáo dục gia đình đối với lễ nghĩa, đức hạnh cá

nhân, 17,8% cho là quan trọng, và không có ý

kiến khác Còn khi được hỏi cụ thể hơn về so

sánh vai trò gia đình và nhà trường trong giáo

dục lễ nghĩa, đức hạnh cá nhân, 22% cho rằng

gia đình có trách nhiệm lớn nhất, 43% cho

rằng cả gia đình và nhà trường có trách nhiệm

như nhau, 26% chọn cả ba yếu tố gia đình, nhà

trường và xã hội, 3% cho rằng nhiệm vụ nhà

trường là lớn nhất, còn lại là các ý kiến khác

Đặc biệt có ý kiến nêu cụ thể rằng “gia đình

góp phần quan trọng hình thành một con

người có trí tuệ có đạo đức, trường học là nơi

ta học tập và phát huy chúng” (khảo sát

online, 2020) Kết quả phỏng vấn sâu (62

cuộc) rải đều ở tất cả các địa phương Tây Nam

Bộ cho thấy hầu hết đều cho rằng giáo dục đức

hạnh lễ nghĩa là nhiệm vụ hàng đầu của gia

đình, trong khi nhà trường được cho là giữ

nhiệm vụ trọng tâm giáo dục tri thức, kỹ năng

Trong khi đó, ở phạm vi cộng đồng, khu dân

cư nói chung (người Việt đa số), mức đánh giá

hiệu quả lễ nghĩa, đức hạnh các cá nhân như

sau: rất tốt: 7,3%; tốt: 40%; trung bình: 49,1%;

dưới trung bình: 3,6% (kết quả khảo sát online,

năm 2020) So sánh hai dữ liệu nói trên ta có

thể thấy mức độ hài lòng của giáo dục trong

phạm vi gia đình trong cộng đồng người Hoa

cao hơn so với thực trạng chung của xã hội

Có thể thấy rằng các gia đình người Hoa

được đánh giá là hạt nhân của giáo dục đức

hạnh, lễ nghĩa con em mình Khi được hỏi

“truyền thống chữ Hiếu gia đình được giáo

dục chủ yếu qua các phương tiện gì?”, câu trả

lời như sau: phong tục 70%; lễ tết: 9%;

chuyện kể dân gian: 9%; còn lại là các ý kiến

khác, chẳng hạn con cháu noi theo hành động

cha mẹ ông bà làm, làm theo lời dạy của thầy

cô ở trường lớp v.v.: 12% (kết quả khảo sát

online, năm 2020)

Trong quan hệ gia đình, dòng tộc người

Hoa ở địa phương, đạo đức và truyền thống gia

đình được giáo dục và gìn giữ thông qua gia

quy, gia phả (22%), thiết chế từ đường (16%), tục cúng Thanh minh (25%), các sinh hoạt khác (7%) (kết quả khảo sát online, năm 2020) Người Hoa xưa (và cả ngày nay) đặc biệt coi trọng con trai, nhất là con trai trưởng, được ví là người nối dõi tông đường chính thống của gia đình Đối với người phụ nữ, hễ sinh được con trai thì rất được nhà chồng yêu quý vì “mẫu quý do tử (mẹ được quý trọng nhờ con trai)” Mặc dù con gái không có vị trí cao quý như con trai, song khi gả chồng cho con, các gia đình cũng hết sức chú trọng chọn

rể, họ thích lựa chọn nhà sui gia có cùng phong cách văn hóa (cùng phương ngữ càng tốt) để có thể mở rộng “quang tông diệu tổ” Rất nhiều gia đình người Hoa giữ lệ tra gia phả

để biết cách đặt tên lót cho các con nhằm đảm bảo quy tắc tôn ti giữa các thế hệ Mặc dù người Hoa coi trọng hệ thống thân tộc và chế

độ tông pháp (phân biệt trưởng - thứ), song trong quan hệ thân tộc của họ vẫn có một điểm khác biệt, mang tính linh hoạt hơn truyền thống người Việt Nếu như người Việt “bé bằng củ khoai, cứ theo vai mà gọi” thì người Hoa cùng một thế hệ “hễ ai thấy mặt trời trước thì làm anh chị, sau làm em; không phân vai vế con chú hay con bác” Họ đặc biệt coi trọng cách xưng hô, khi “xưng hô thì cố gắng dùng tiếng Hoa” (anh TQH, nam, 1970, Hà Tiên) bởi vì “còn xưng hô được là vẫn còn giữ được phong tục người Hoa” (ông DA, nam, 1944, Cái Răng) Vùng đất phía nam sông Hậu dấu

ấn cách xưng hô lịch sử của người Hoa Triều Châu phần nào đó có ảnh hưởng đến văn hóa người Việt khi ngoài đường (hoặc trong chợ) người ta gọi người đàn ông có tuổi là “chệt” (chú), gọi người phụ nữ có tuổi là “ý” (dì), gọi anh thanh niên là “hia” (anh), gọi một phụ

nữ trẻ là “chế” (chị), v.v

Trong giáo dục gia đình người Hoa, đứng đầu là truyền thống chữ hiếu và tôn ti - trật tự gia đình Đại đa số người được khảo sát cho rằng người Hoa “chú trọng” và “rất chú trọng” các giá trị này, trong khi rất ít người chọn mức “bình thường” (kết quả phân

Trang 7

tích các biên bản phỏng vấn sâu) Vợ chồng

ông HB (nam, 1943, Cần Thơ) khẳng định

“người Hoa người ta kính trọng ông bà cha mẹ

lắm”, và “làm cha mẹ thì cũng phải cũng phải

gương mẫu” (phỏng vấn 2019) Ông LTN

(Nam, 1961, Cần Thơ) khẳng định rằng người

Hoa giáo dục chữ Hiếu thông qua một số quy

tắc đạo đức cụ thể (ông gọi là “gia quy”),

chẳng hạn câu “phụ mẫu tại, bất viễn du” (cha

mẹ còn, không được đi xa) Tự bản thân ông

không cho phép mình nói tục, chửi thề, không

“lươn lẹo”, “dối trá” để các con ông lấy đó làm

gương Ông DHM, gốc Hẹ, (1940, Long

Xuyên) và ông ĐTT, gốc Triều Châu, (1944,

Châu Đốc) cũng khẳng định rằng bản thân và

gia đình luôn ý thức dùng nề nếp, gia quy để

giáo dục con cháu

Một nguyên tắc nữa trong giáo dục gia

đình là phương pháp thân giáo (tự lấy thân

mình làm gương) Ông NPH (1964, Cần Thơ)

cho biết bản thân ông cứ mỗi tết đến là tự làm

và hướng dẫn con cháu chuẩn bị tươm tất bàn

thờ gia tiên, mâm cúng lễ, thay liễn xuân, câu

đối xuân Tết Thanh minh cũng vậy, tự ông bà

làm và đích thân chỉ dạy con cháu nấu món ăn,

chuẩn bị mâm cúng, bộ tam sên, hình thức

cúng kiếng, v.v Ông DA (1944, Cái Răng)

cũng cho biết gia đình ông cũng có truyền

thống ông bà cha mẹ làm gương, con cháu noi

theo như thế Trong các cuộc phỏng vấn sâu

của chúng tôi (95% người được hỏi là gốc

Hoa), đa số các trường hợp đều cho rằng họ

hài lòng (hoặc rất hài lòng) với lối giáo dục

đạo đức gia đình họ, chỉ một số ít tạm hài lòng

hoặc chưa hài lòng

Cùng với sự phát triển của đô thị hóa

và kinh tế thị trường, giáo dục lễ nghĩa gia

đình người Hoa cũng chịu ảnh hưởng nhất

định, mặc dù mức độ ảnh hưởng thấp hơn các

gia đình người Việt 63,5% người Hoa được

hỏi, họ đặc biệt chú trọng sum họp mặt ngày

tết, 16,8% chọn ngày Thanh minh và ngày giỗ

ông bà, còn lại là các ý kiến khác (kết quả

khảo sát online 100 người ngẫu nhiên, năm

2020) Vùng phía nam sông Hậu có truyền

thống cúng Thanh minh quy mô lớn hơn (phong cách Hoa Triều Châu), nhiều học sinh người Hoa đi học xa rất tranh thủ xin phép về quê nhà cùng gia đình đi cúng mộ tổ tiên Bàn

về những thay đổi trong lối sống và giáo dục gia đình hiện nay, bà LNH (1957, Bình Minh, Vĩnh Long) khẳng định rằng bà “không ép buộc gì tụi nhỏ lắm” và “không bắt buộc tụi

nó phải có cái lòng hiếu thảo”, hãy “để tụi nó sống với bản thân thoải mái” Tuy nhiên, khi được hỏi bà có ra điều kiện gì khi để con cái sống thoải mái hay không, bà không ngần ngại mà thổ lộ rằng “chỉ cần tụi nó kính trên nhường dưới, con trai thờ phượng ông bà, lo Thanh minh mồ mả” Như vậy, giáo dục gia đình người Hoa từ rất sớm đã “thấm” vào phong tục, vào “gia quy” chứ không đơn thuần chỉ là những lời răn dạy thường nhật, đến mức mà bà LNH đã mặc nhiên coi các đạo đức ấy là điều đương nhiên, ‘không ảnh hưởng’ tới sự thoải mái trong cách sống của các con bà Bà cho biết thêm con trai bà yêu

cô gái theo đạo Thiên Chúa, bà không cự tuyệt mà chỉ khuyên nhủ nhẹ nhàng “Rất may con trai cô nghe theo cô, đi tìm hiểu mối khác” (phỏng vấn 11/2019) Bàn về việc quy định con trai trưởng hay thứ sau khi lập gia đình sẽ ở nhà cùng bố mẹ, ông HQC (1947, Rạch Sỏi, Kiên Giang) cho biết ông lo cho các con học tới nơi tới chốn, ai biết lo cho gia đình mới cho ở lại nhà, còn lại đều cho ra riêng hết Dù vậy, những thay đổi trong lối sống thường nhật là rất hiện hữu Ông TKQ (1953, Ô Môn, Cần Thơ) khẳng định “ngày xưa tới giờ cơm thì gia đình phải tề tựu đầy

đủ mới ăn cơm, còn bây giờ mạnh ai nấy ăn,

ai đói bụng thì cứ ăn” Qua kết quả phỏng vấn sâu, khảo sát online và qua tìm hiểu của chúng tôi, giáo dục đạo đức gia đình người Hoa Tây Nam Bộ hiện nay nhìn chung có những thay đổi về mặt hình thức thể hiện của lối giáo dục và một số phương diện đời sống (việc học, việc làm, chọn nơi sinh sống, chọn bạn đời, v.v.) song những ‘hằng số’ đạo đức gia đình (như chữ hiếu, tôn ti trật tự gia đình, truyền bá – tiếp nhận phong tục – tập quán

Trang 8

người Hoa, v.v.) vẫn tiếp tục được gìn giữ

thông qua các hoạt động lễ tục gắn với gia

đình Giữa hai không gian nông thôn và đô thị

thì các vùng nông thôn (đặc biệt nơi người

Hoa tập trung cư trú với số lượng đông đúc)

được cho là giữ giáo dục gia đình và phong

tục gia đình tốt hơn đô thị Ông TAT (1948,

Rạch Giá, Kiên Giang) cho biết mặc dù Tắc

Cậu chỉ là một thị tứ nhỏ gần vùng U Minh

Thượng, song ở đó người Hoa Triều Châu tập

trung đông đúc, họ “giữ gìn phong tục tốt hơn

người Hoa ở Rạch Giá” (phỏng vấn 2020)

Giáo dục đạo đức, lễ nghĩa gia đình

người Hoa Tây Nam Bộ tồn tại một số phương

diện (giá trị) cần được xem xét Các quan niệm

nam tôn nữ ti, phân biệt trưởng – thứ (tàn dư

của chế độ tông pháp xưa), tư tưởng quyền

huynh thế phụ, và trong chừng mực là sự hà

khắc trong giáo dục và quy định cuộc sống con

cái đã ít nhiều ảnh hưởng đến các thành viên

gia đình Robert Weller (1987, tr 25) từng

khẳng định ở người Hoa, đoàn kết gia đình và

chữ hiếu theo dòng phụ hệ tuyệt đối đã định

hình hết thảy các hình thức thờ cúng và nghi lễ

gia đình, được thể hiện một cách hữu thức và

rõ nét Bất kỳ vị khách nào tới thăm gia đình

người Hoa đều ít nhiều có thể đoán định được

truyền thống giáo dục gia đình họ thông qua

quan sát bàn thờ tổ tiên, cách bày trí gian thờ

và phòng khách Mặc dù khẳng định “quan niệm trọng nam khinh nữ nhưng không khắc nghiệt như xưa”, nhưng ông LNT (1961, Long Xuyên) thổ lộ ông “có hai đứa con gái cũng thương dữ lắm, có điều thì mình vẫn thương con trai hơn” Ông NPH (1964, Cần Thơ) cũng tương tự cho rằng “nói chung thì trai gái ai cũng cưng” nhưng “nếu mà sinh con trai thì cưng hơn” Khi cúng kiếng ông bà, các con trai ông lần lượt cúng trước, sau đó mới đến con gái Các con ông đều đã lập gia đình, con trai trưởng đứng ra tổ chức chính, các em mang đồ tới cúng chung hoặc hùn tiền gởi gia đình anh trai theo nguyên tắc tự nguyện Quy tắc ‘cha truyền con nối’ còn được phản ảnh qua bích họa thanh sư – bạch tượng phổ biến hai bên mặt ngoài chính điện các miếu thờ (đa phần là miếu Thiên Hậu)

ở vùng bán đảo Cà Mau Với mô típ một cặp sư

tử (hoặc voi) lớn và con non, nhiều người Việt lầm tưởng rằng bích họa diễn ý tình mẫu tử thiêng liêng, song đa số người Hoa địa phương đều diễn giải đó là hình ảnh phụ tử phản ánh tinh thần ‘cha truyền con nối’ của họ Rõ ràng, quan niệm nối dõi tông đường vẫn là một đạo đức cố hữu trong gia đình, chi phối toàn bộ các quan niệm khác cho dù những ảnh hưởng của tiến bộ xã hội có mạnh mẽ tới đâu

Tranh đắp tượng Thanh sư (Thiên Hậu Cung Cái Keo – Cà Mau) và Bạch tượng (Thiên Hậu Cung Tp Cà Mau) (Ảnh Nguyễn Ngọc Thơ, 2016)

Truyền thống giáo dục ‘dĩ thượng hướng

hạ’ trong các gia đình người Hoa ở chừng mực

nhất định chế ngự nguyện vọng, sở thích và

quyền lựa chọn nghề nghiệp, lối sống của các con, đặc biệt là con trai trưởng – người nối nghiệp gia đình Anh ta được hưởng quyền

Trang 9

huynh thế phụ song phải ‘trả giá’ không rẻ cho

quyền uy ấy Bàn về quan niệm ‘quyền huynh

thế phụ’, ông TT (1942, Tắc Cậu, Kiên Giang)

khẳng định rằng không hề lỗi thời ngay cả

trong thời đại hôm nay bởi lẽ nó giúp anh em

nó hòa thuận, kính trọng nhau, nên vẫn phải

gìn giữ Quan niệm này cũng có cái hay là

luôn nhắc nhở anh con trưởng luôn phải làm

gương cho các em Khác với người Việt Nam

Bộ có quan niệm con trai út thừa kế gia sản

cuối cùng của ba mẹ, người con trai trưởng

trong các gia đình người Hoa mang nhiều

trọng trách hơn là chuyện thừa kế, bởi anh ta

phải đóng vai trò của “người bố thứ hai” trong

gia đình đối với các em, đồng thời phải chịu

đánh mất nhiều nuyện vọng, sở thích cá nhân

(học hành, nghề nghiệp, thậm chí là lựa chọn

hôn nhân) Ông LNT (1961, Long Xuyên)

đánh giá rằng các gia đình người Hoa thuộc

nhóm trung lưu trở lên đều rất coi trọng

chuyện ‘con nối nghiệp cha’ Anh TVĐ (45

tuổi, Cà Mau) là một thí dụ, anh phải bỏ cơ hội

học đại học để về tiếp nhận công việc kinh

doanh của gia đình Trong quá trình phỏng vấn

sâu đối với các hộ gia đình người Hoa làm

nghề buôn bán hay mở các tiệm thuốc bắc ở

các địa phương, chúng tôi nhận thấy rằng tất

cả các gia đình ấy đều có điều kiện kinh tế

nhưng các con trai trưởng giữ quyền ‘nối

nghiệp gia đình’ đều không được đi học đại

học, thường là học hết cấp ba là phải nghỉ để

tiếp nhận sự nghiệp gia đình Thậm chí có gia

đình ở Cần Thơ, con trai thay cha bán thuốc

bắc, chỉ học từ cha tên và công dụng các loại

được phẩm mà chưa qua trường lớp chuyên

môn nào Nói về điều này, cô QNL (1957, Cần

Thơ) nhận định “quan niệm không cần học cao

vẫn còn tồn tại trong một bộ phận người Hoa

hiện nay” (phỏng vấn 2019)

Tóm lại, giáo dục gia đình đối với người

Hoa sinh sống vùng Tây Nam Bộ là thành trì

tiêu biểu của giáo dục đức hạnh, lễ nghĩa nói

chung, rất được cộng đồng này chú trọng Sinh

sống xen kẽ giữa cộng đồng người Việt đông

đảo hơn hay giữa cộng đồng người Khmer

mang đậm nét văn hóa Phật giáo cộng đồng, người Hoa lựa chọn giáo dục gia đình và truyền thống gia đình làm điểm tựa để tiến hành song song ba nhiệm vụ cơ bản: (1) giáo dục đức hạnh, lễ nghĩa cá nhân, (2) giáo dục và lưu truyền truyền thống gia đình; và (3) tạo nền tảng để định hướng giáo dục bản sắc văn hóa tộc người Ở người Hoa Tây Nam Bộ, song hành với giáo dục gia đình còn có giáo dục cộng đồng, chủ yếu thông qua hệ thống các trường học Hoa ngữ và thông qua các hoạt động lễ tục cộng đồng (nghi lễ đền miếu, lễ hội dân gian, các hoạt động văn-thể-mỹ do các hội đoàn đồng hương tổ chức) Trong tương quan

so sánh các thành phần gia đình người Hoa, các gia đình bình dân có thu nhập thấp có xu hướng ít chú trọng giáo dục gia đình hơn, thay vào đó họ trông chờ vào giáo dục nhà trường

và giáo dục cộng đồng Tương tự, các gia đình người Hoa thuần nông (sống xen kẽ với người Việt ở nông thôn) cũng ít chú trọng giáo dục gia đình hơn các gia đình người Hoa buôn bán

ở các đô thị hay thị trấn, thị tứ có số gia đình người Hoa cùng sinh sống Nói cách khác, ở các gia đình thiếu điều kiện vật chất hơn, giáo dục gia đình đa phần chỉ dừng lại ở nhiệm vụ

cơ bản thứ nhất trong số ba nhiệm vụ nói trên

3 Giáo d ục trong cộng đồng

Tổng thể chiều dài lịch sử giáo dục trong quy mô cộng đồng người Hoa vùng Tây Nam Bộ có thể phân thành 3 giai đoạn: giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển độc lập với hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, và giai đoạn hòa nhập giáo dục quốc dân Giai đoạn 1 ứng với thời Pháp thuộc; giai đoạn 2 kéo từ cuối thời Pháp thuộc đến cuối thập niên 1950-đầu thập niên 1960, và giai đoạn 3 gắn với thời gian sau đó

Giáo dục trong cộng đồng gắn liền với các mục tiêu phong hóa cộng đồng, lưu truyền

và phát triển văn hóa – văn minh Trung Hoa đã sớm hình thành từ trước ở Nam Bộ, gắn liền với hai trong ba nhóm người Hoa đầu tiên được các chúa Nguyễn cho phép định cư trong

t¹P CHÝ CñA §¹I HäC V¡N Hãa tp Hå ChÝ Minh

Trang 10

vùng, đó là nhóm Mạc Cửu ở Hà Tiên và

Nhóm Trần Thượng Xuyên ở Đồng Nai Cuốn

Poetic Transformations: Eighteenth-Century

Cultural Projects on the Mekong Plains

(Chuyển hóa thơ ca: các công trình văn hóa thế

kỷ 18 ở Đồng bằng sông Cửu Long) của

Claudine Ang (2019) có thể nói là một chuyên

tác thảo luận về vấn đề này giai đoạn tiền

thuộc địa

Mạc Cửu, và con Mạc Thiên Tứ/Tích, là

người mang phong cách văn hóa Trung Hoa cổ

điển, đặc biệt là phong cách Quảng Đông2

Ông được chúa Nguyễn phong chức Tổng trấn

Hà Tiên, phục vụ như là một xứ tiền tiêu của

Đàng Trong ở phía nam3 Với vị trí ấy, ông có

thẩm quyền và nguồn lực ở chấn hưng giáo

dục văn hóa, nghi lễ Trung Hoa ở Hà Tiên, cụ

thể nhất là việc Mạc Thiên Tứ lập Văn đàn

Chiêu Anh Các4 và chiêu mộ văn nhân Bắc,

Trung, Nam và từ Trung Hoa sang Thay vì

gắn Hà Tiên với nhà Thanh Trung Quốc, Mạc

Thiên Tứ dùng thơ văn để xây dựng hình ảnh

Hà Tiên thành xứ sở “thiên đường” xa cách

với Trung Quốc, nơi thi nhân mặc khách và

những người “phản Thanh phục Minh” có thể

lựa chọn làm bến đỗ5 Nếu như Mạc Cửu có

công xây thành quách, đài các, thương cảng,

phố thị, thôn xóm thì con Mạc Thiên Tích đã

dùng văn hóa như là một guồng máy tinh thần

để giáo dục nghi lễ, phong tục, lối sống cho

người dân trong bổn xứ Hà Tiên xưa có xây

miếu thờ Khổng Tử và lập nhiều trường học

miễn phí cho trẻ em, góp phần vào sự nghiệp

phong hóa cư dân Hà Tiên – Phú Quốc và lan

rộng ra vùng đất phía nam sông Hậu về sau6

Ở vùng đất Đồng Nai – Gia Định từ đầu

thế kỷ 18 đã hình thành một Cù lao Phố sầm

uất và phong nhã, nơi giáo dục nghi lễ và tri

thức Nho học được sớm hình thành và phát

triển ở cả hai cộng đồng người Việt và người

Hoa Đến cuối thế kỷ 18, khi Cù lao Phố bị tàn

phá, trung tâm kinh tế - giáo dục mới của

người Hoa hình thành ở vùng Chợ Lớn, nơi

phong hóa người Minh Hương được ca ngợi

trong câu ca dao bản xứ:

“Gỏi nào ngon bằng gỏi tôm càng,

Đố ai lịch sự bằng làng Minh Hương” (ca dao Sài Gòn – Gia Định xưa)

So với Chiêu Anh Các ở Hà Tiên thì vùng này nổi lên nhóm Bình Dương thị xã, do Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, với nhiều nhân sĩ đến đây để ngâm thơ, xướng họa vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ

19 Nhóm này thường tề tựu về Đình Minh hương Gia Thạnh để xướng họa, luận đàm và

đề xuất nhiều sinh hoạt văn hóa nâng cao phong hóa địa phương Nhiều văn nhân người Hoa trong vùng trở thành các bậc danh sư hay văn nhân có tiếng, một số đã từng làm quan cho triều đình nhà Nguyễn như Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Trương Minh Giảng, Phan Thanh Giản, v.v Một số văn nhân khác cũng có đóng góp công sức trên nhiều mặt trận xã hội Chẳng hạn, ông Diệp Văn Cương, một trí thức lớn người Hoa,

năm 1868 từng làm chủ biên tờ Phan Yên bá 7

tại Sài Gòn8 Tất cả những văn nhân này đã đóng góp nhiều công sức to lớn cho việc hình thành và phát triển học phong Nam Bộ và chấn hưng phong tục - nghi lễ địa phương

Sang thời Pháp thuộc, điểm nổi bật nhất trong chính sách người Hoa của chính quyền thực dân chính là (1) chia để trị; và (2) tận dụng người Hoa như là nhóm thương mại quốc tế làm giàu cho ngân sách chính quyền Với chủ trương ấy, các bang hội người Hoa được đăng

ký hoạt động hợp pháp, miễn là họ hoàn thành các nghĩa vụ quan trọng đối với chính quyền Năm 1900, Trung Hoa Hội Quán thành lập ở Chợ Lớn thực thi các chức năng thúc đẩy giáo dục Hoa ngữ, chuẩn hóa nghi lễ và “nâng cao kiến thức và thực hành đúng đắn của người Hoa để không còn người dốt nát hoặc ở

vị trí thấp kém trong cộng đồng”9 Dưới sự bảo trợ của các bang hội, các trường Hoa ngữ được thành lập ở Sài Gòn – Chợ Lớn và khắp Nam Bộ Vùng Sài Gòn – Chợ Lớn

có hơn 120 trường học các loại với hơn 25.200

t¹P CHÝ CñA §¹I HäC V¡N Hãa tp Hå ChÝ Minh

Ngày đăng: 31/07/2022, 00:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Amer, Ramses (1991), The ethnic Chinese in Vietnam and Sino-Vietnamese relations, Kuala Lumpur: Forum Sách, tạp chí
Tiêu đề: The ethnic Chinese in Vietnam and Sino-Vietnamese relations
Tác giả: Ramses Amer
Nhà XB: Forum
Năm: 1991
2. Amer, Ramses (1996), “Vietnam’s policies and the ethnic Chinese since 1975”, Journal of Social Issues in Southeast Asia, Vol. 11(1): 76-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam’s policies and the ethnic Chinese since 1975
Tác giả: Ramses Amer
Nhà XB: Journal of Social Issues in Southeast Asia
Năm: 1996
3. Ang, Claudine (2019), Poetic Transformations: Eighteenth-Century Cultural Projects on the Mekong Plains, Cambridge, Massachusetts: Harvard University Asia Center Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poetic Transformations: Eighteenth-Century Cultural Projects on the Mekong Plains
Tác giả: Ang, Claudine
Năm: 2019
4. Barrett, Tracy (2012), The Chinese diaspora in Southeast Asia – the overseas Chinese in Indo- China , New York: Nxb. I.B. Tauris Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Chinese diaspora in Southeast Asia – the overseas Chinese in Indo- China
Tác giả: Tracy Barrett
Nhà XB: New York
Năm: 2012
5. Châu Thắng Hao (1961), Giáo d ụ c Hoa ki ề u ở Vi ệ t Nam, Đài Bắc: Nxb Hoa Kiều ( 周勝皋(1961), 《越南華僑教育》,台北:華僑出版社 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Hoa kiều ở Việt Nam
Tác giả: Châu Thắng Hao (1961), Giáo d ụ c Hoa ki ề u ở Vi ệ t Nam, Đài Bắc: Nxb Hoa Kiều ( 周勝皋
Nhà XB: Nxb Hoa Kiều (周勝皋(1961)
Năm: 1961
6. Chen Ching Ho (2008), “Mac Thien Tu and Phrayataksin: a survey on their political stand, conflict and background”, in The Chinese diaspora in the Pacific 1500-1900, ed. Anthony Reid, Ashgate, Variorum Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mac Thien Tu and Phrayataksin: a survey on their political stand, conflict and background”, in "The Chinese diaspora in the Pacific 1500-1900
Tác giả: Chen Ching Ho
Năm: 2008
7. Coughlin, J. Richard (1960), Double identity: the Chinese in modern Thailand, New York: Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Double identity: the Chinese in modern Thailand
Tác giả: Coughlin, J. Richard
Năm: 1960
8. Đào Trinh Nhất (1924/2016), Th ế l ự c Khách trú và v ấn đề di dân ở Nam K ỳ , Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế lực Khách trú và vấn đề di dân ở Nam Kỳ
Tác giả: Đào Trinh Nhất
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn
9. Evans, Grant & Rowley, Kelvin (1984/1990), Red Brotherhood at War: Vietnam, Cambodia and Laos since 1975, London & New York: VERSO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Red Brotherhood at War: Vietnam, Cambodia and Laos since 1975
10. Fall, B. Bernard (1958), “Viet-Nam’s Chinese problem”, Far Eastern Survey 27(5): 65-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viet-Nam’s Chinese problem”, "Far Eastern Survey
Tác giả: Fall, B. Bernard
Năm: 1958
11. Hoa Kiều Chí Đài Loan (1958), Hoa Ki ề u Chí: Vi ệ t Nam The Chinese diaspora, Đài Bắc, Đài Loan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa Kiều Chí: Việt Nam The Chinese diaspora
Tác giả: Hoa Kiều Chí Đài Loan
Năm: 1958
12. Hoàng Tiểu Kiên (1989), “Biến đổi hình thái kinh tế người Hoa Việt Nam”, in trong The last half century of Chinese overseas, Elizabeth Sinn ed., Hong Kong University Pres ( 黃小堅 (1998),[ 越南華人經濟形態的轉變 ] , The last half century of Chinese overseas, Elizabeth Sinn ed., Hong Kong University Press) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi hình thái kinh tế người Hoa Việt Nam”, in trong "The last half century of Chinese overseas, "Elizabeth Sinn ed., Hong Kong University Pres (黃小堅(1998),[越南華人經濟形態的轉變],"The last half century of Chinese overseas
Tác giả: Hoàng Tiểu Kiên (1989), “Biến đổi hình thái kinh tế người Hoa Việt Nam”, in trong The last half century of Chinese overseas, Elizabeth Sinn ed., Hong Kong University Pres ( 黃小堅
Năm: 1998
13. Lay, Grace Chew Chye (2010), “The Hoa of Phu Quoc in Vietnam: local institutions, education, and studying Mandarin”, Journal of Chinese Overseas Vol. 6(2010): 311-332 14. Mạc Đường (1994), Xã h ội ngườ i Hoa ở Thành ph ố H ồ Chí Minh sau 1975, Hà Nội: Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Hoa of Phu Quoc in Vietnam: local institutions, education, and studying Mandarin”, "Journal of Chinese Overseas" Vol. 6(2010): 311-332 14. Mạc Đường (1994), "Xã hội người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh sau 1975
Tác giả: Lay, Grace Chew Chye (2010), “The Hoa of Phu Quoc in Vietnam: local institutions, education, and studying Mandarin”, Journal of Chinese Overseas Vol. 6(2010): 311-332 14. Mạc Đường
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1994
15. McKeown, Adam (2017), “Conceptualizing Chinese dispora 1842-1949”, The Chinese diaspora in the Pacific, ed. Anthony Reid, pp. 306-337, Ashgate: Variorum Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Chinese diaspora in the Pacific
Tác giả: Adam McKeown
Nhà XB: Ashgate: Variorum
Năm: 2017
16. Ngô Văn Lệ, Nguyễn Duy Bính (2005), Người Hoa ở Nam Bộ, Nxb ĐHQG-Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Hoa ở Nam Bộ
Tác giả: Ngô Văn Lệ, Nguyễn Duy Bính
Nhà XB: Nxb ĐHQG-Hồ Chí Minh
Năm: 2005
17. Nguyễn Đức Hiệp, “Về lịch sử người Minh Hương và người Hoa ở Nam Bộ”, vanhoahoc.edu.vn. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về lịch sử người Minh Hương và người Hoa ở Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Đức Hiệp
18. Segliman, B. Adam & Weller, P. Robert (2012), Rethinking pluralism – ritual, experience, and ambiguity, Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rethinking pluralism – ritual, experience, and ambiguity
Tác giả: Segliman, B. Adam, Weller, P. Robert
Nhà XB: Oxford University Press
Năm: 2012
19. Spiro, Melford E. (1955), 'The Acculturation of American Ethnic Groups.' American Antbropologist, 57(6), part 1 (December): 1240-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Antbropologist
Tác giả: Spiro, Melford E
Năm: 1955
20. Supang, Chantaranich (1997), “From Siamese-Chinese to Chinese-Thai: Political Conditions and Identity Shifts among the Chinese in Thailand”, Ethnic Chinese As Southeast Asians, ed.Leo Suryadmata, pp. 232-59, Singapore: Institute of Southeast Asian Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: From Siamese-Chinese to Chinese-Thai: Political Conditions and Identity Shifts among the Chinese in Thailand”, "Ethnic Chinese As Southeast Asians
Tác giả: Supang, Chantaranich
Năm: 1997
21. Tan, Chee-Beng (2004), Chinese overseas comparative cultural studies, Hong Kong University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinese overseas comparative cultural studies
Tác giả: Tan, Chee-Beng
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w