Nhưng nếu muốn giải thích cho người nào hỏi con, thì con hết biết”2.Gần những thế kỷ văn minh hơn, ta biết đến thuyết thời gian đơn tính của Isaac Newton1643-1727, thời gian tương đối củ
Trang 1ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE HÀ NỘI
PHÂN KHOA TRIẾT HỌC
40 Nhà Chung, Hoàn Kiếm, Hà Nội
LUẬN BÀN VỀ CHỮ THỜI
TRONG TÁC PHẨM LUẬN NGỮ
Tiểu luận tốt nghiệp
Cha giáo hướng dẫn:
Barnaba Vũ Minh Trí, S.J.
Chủng sinh thực hiện:
Giuse Nguyễn Văn Tiềm
K.XXII - Giáo Phận Hà Nội
Hà Nội, tháng 4 năm 2019
Trang 2LUẬN BÀN VỀ CHỮ THỜI TRONG TÁC PHẨM LUẬN NGỮ
Trang 3LỜI TRI ÂN
Để có bài luận này, từ khâu lên ý tưởng và hoàn thành, con xin hết lòng cảm ơn chagiáo hướng dẫn - Cha Barnaba Vũ Minh Trí, S.J Mặc dù bận rộn nhiều công việc và xacách về mặt địa lý, cha đã luôn kiên trì đồng hành và tận tình hướng dẫn con trong suốt quátrình thực hiện tiểu luận Với khả năng sư phạm hướng đến học sinh (ứng tài thực giáo)cùng kiến thức uyên thâm, sự quan tâm khích lệ của cha đã truyền cho con tình yêu vớitriết học Đông Phương – một mạch suối tri thức ấm áp và thân thuộc
Con cũng xin cảm ơn cha chủ nhiệm Giuse,và quý cha giáo trong phân khoa triếthọc Quý cha đã bắc chiếc cầu cho con đến được những miền tri thức triết học quý báu vàhữu ích cho công cuộc đào tạo trở nên người linh mục nói riêng và trở thành con người nóichung
Tôi cũng cảm ơn 41 quý thầy cùng lớp, những người bạn dễ mến, chân thành vàđầy sáng tạo Họ đã cùng tôi san sẻ những niềm vui; ở bên tôi những khi buồn rầu, khókhăn; cùng nhau bàn luận cả trên bàn cơm và trong lúc đi dạo Đây đã và sẽ là nguồn độnglực rất lớn giúp khơi nguồn tình yêu tri thức nơi tôi
Chắc chắn bài luận không tránh khỏi những thiếu xót, kính xin quý cha giáo, và độcgiả góp ý sửa đổi, để bài luận được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2019
Chủng sinh
Giuse Nguyễn Văn Tiềm
Trang 4MỤC LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
Thời gian luôn đặt dấu chấm hỏi lớn cho các giới nghiên cứu, từ các nhà triết học,thần học hay các nhà khoa học Nó vừa kỳ bí vừa dung dị, vừa đơn nhất lại vừa phức tạp,vừa gần gũi lại không thể nắm bắt Chính vì thế triết gia Plotinus (203-270) đã nhận xétrằng “chúng ta thường nói chuyện về thời đại và thời gian như thể đã biết rõ chúng là gì,nhưng đến khi thẩm tra vấn đề mới cảm thấy mình bối rối”1 Hơn một thế kỷ sau, thánhAugustinô (354-430) cũng khẳng định lại chủ điểm ấy: “Vậy thời gian là gì? Nếu không có
ai hỏi, thì con biết Nhưng nếu muốn giải thích cho người nào hỏi con, thì con hết biết”2.Gần những thế kỷ văn minh hơn, ta biết đến thuyết thời gian đơn tính của Isaac Newton(1643-1727), thời gian tương đối của Albert Einstein (1879-1955), và không thể không kểđến Stephen Hawking (1942-2018) với lý thuyết về không-thời gian, ông đã khẳng định vềmột thời gian có hình dáng, có khởi đầu và kết thúc, mở ra một hướng nghiên cứu mới vềthời gian cho khoa học hiện đại
Vậy thời gian là gì? Thời gian bắt đầu và kết thúc như thế nào? Thời gian có hìnhdạng hay không? Thời gian tuyến tính hay chu kỳ? Mặc dù tất cả các câu trả lời cho nhữngcâu hỏi trên vẫn đang được giả thuyết và giới hạn trong phạm vi nghiên cứu nào đó màthôi Tuy nhiên, dễ dàng nhận thấy, theo xu thế thời đại, thời gian ngày càng thuộc về lãnhvực nghiên cứu của khoa học, không chỉ trên lý thuyết, mà ngay cả trong thực hành Hợpvới kỷ nguyên của khoa học hiện đại và duy năng suất, chúng ta thường nhắc đến thời giantrong cụm từ quen thuộc: quản lý thời gian Con người thời đại coi thời gian như một sởhữu cá nhân và cần thiết điều chỉnh việc sử dụng nó sao cho hợp lý Hầu hết chúng ta nghĩ
đó là một quan điểm tích cực và không có gì bàn cãi Tuy nhiên, chủ trương như vậy là đãđối tượng hoá thời gian, và bỏ qua biết bao điều kỳ diệu về thời gian
Tiểu luận không có tham vọng đạt tới sự minh triết lớn hơn các vĩ nhân, để trả lờicho những vấn nạn về thời gian, cũng không truy tìm sâu hơn bất cứ nghiên cứu nào tronglãnh vực khoa học Ở đây, tiểu luận muốn bàn đến triết lý về thời gian trong triết học TrungHoa cổ xưa, cụ thể là trong tác phẩm Luận Ngữ Qua tiểu luận, mỗi người chúng ta có thểhiểu hơn về thời gian trong tương quan với con người và vũ trụ vạn vật, trong cách chúng
ta hoà mình với thời gian để kín múc sức mạnh từ dòng trôi chảy và biến đổi không ngừngnày
1 L EOFRAN H OLFORD -S TREVENS, Lịch sử thời gian, NXB Tri Thức, 2011, tr.ix-x.
2 A UGUSTINÔ, Tự thuật, gd ĐGM Micae Nguyễn Khắc Ngữ, lưu hành nội bộ, 2009, tr.358.
Trang 7Tiểu luận LUẬN BÀN VỀ CHỮ THỜI TRONG TÁC PHẨM LUẬN NGỮ
được trình bày trong 3 chương
Trước khi đi vào tìm hiểu chi tiết thời gian theo quan niệm của triết Trung Hoa xưa,điều cần thiết là phải có được một cái nhìn tổng quát về thời gian từ góc nhìn rộng hơn Vì
thế, trong Chương I Dẫn vào triết học về thời gian, chúng ta lược qua các cách hiểu về
thời gian, từ việc tìm hiểu các loại thời gian, cho đến các cơ cấu thời gian và sau cùngnhững lý do cần thiết để tiểu luận này có ý nghĩa
Tiếp đến, như tên gọi của Chương II - Khảo cứu chữ Thời trong sách Luận Ngữ,
chúng ta sẽ khảo cứu từng chữ Thời (時 ) xuất hiện trong tác phẩm Luận Ngữ Qua ngữnghĩa về mặt chữ, cũng như văn cảnh của đoạn văn chúng ta có thể phân loại các cách hiểu
về chữ Thời của người xưa
Sau cùng là Chương III – Sống triết lý chữ Thời, đây là trung tâm điểm của tiểu
luận Trong chương này chúng ta cùng bàn luận để hiểu được triết lý về Thời đã được cácbậc vĩ nhân xưa đúc rút và thực hành Trong chương này chúng ta cũng mở rộng phạm vi
bàn luận đến các tác phẩm quan trọng khác như Trung Dung, Kinh Dịch và Mạnh Tử.
Trang 8CHƯƠNG 1 DẪN VÀO TRIẾT HỌC VỀ THỜI GIAN
Chúng ta không nghi ngờ rằng, sự tồn tại của thời gian là rất hiển nhiên và thânthuộc Có vô vàn cách nhìn về thời gian mà qua đó chúng ta có thể rút ra được những nghĩakhác nhau: “về vật lý mà thời gian dùng để nghĩ tới sự vận động; hoặc về siêu hình học màcái nhất thời được coi là đối lập với cái vĩnh cửu; hoặc về ngữ pháp mà thời gian nói lên sựphân chia các thì rõ rệt khi chia động từ”3 Hoặc thêm nữa là thời gian khách quan và chủquan; thời gian sống và thời gian tính đếm…Trong đa điện các góc nhìn ấy, chúng ta có thểtóm gọn chúng vào ba lĩnh vực: khoa học, tâm lý học và triết học
1.1 Thời gian khoa học và tâm lý
Thời gian khoa học
Thời gian khoa học là thời gian gần gũi nhất với quan niệm thường nghiệm củachúng ta Do nhu cầu sinh hoạt, canh tác mùa màng, ghi nhớ sự kiện, biên soạn sử sách…con người tìm ra độ dài thời gian của các chu kỳ chuyển động: trái đất quay quanh trục,mặt trăng quanh trái đất, hoặc trái đất quanh mặt trời Từ đó, người ta xác định độ dài thờigian của năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây Như vậy, thời gian khoa học là cách chúng tanói về thời qua con số, qua sự phân chia thời gian liên tục thành những quãng đồng đều vàđược hiển thị bằng các thiết bị đo xác định Trị số thời gian khoa học không nhằm mụcđích gì hơn là phân biệt các khoảng thời gian, đánh dấu các mốc thời gian; trong quá khứ,hiện tại và tương lai
Ở cấp độ thường nghiệm, nhận thức của chúng ta về bản chất thời gian thay đổitheo năm tháng Mãi đến đầu thế kỷ XX, người ta vẫn tin vào một thời gian tuyệt đối củavật lý cổ điển Theo đó, “thời gian của một sự kiện là giờ đọc được (vị trí của kim chỉ) củađồng hồ gần sự kiện nhất (xét về khoảng cách không gian)”4 Bằng cách này, đối với mỗi
sự kiện người ta định được một trị số thời gian tương ứng, về nguyên tắc có thể quan sátđược Tuy nhiên, với lý thuyết tương đối của khoa vật lý hiện đại, người ta buộc phải bỏ ýtưởng về một thời gian tuyệt đối duy nhất Như nhà vậy lý thời danh Stephen Hawkingnhận định: “thời gian đã trở thành một nhận thức cá nhân gắn liền với quan sát viên thựchiện phép đó”5 Bởi thế, khi nói về mũi tên thời gian –“một khái niệm để phân biệt quá khứ
3 F RANCOIS J ULLIEN, Bàn về chữ Thời, NXB Lao Động, tr 16.
4 A LBERT E INSTEIN, Thuyết tương đối hẹp và rộng, NXB Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh, 2015, tr 24.
5 A LBERT E INSTEIN, sđd., tr 207.
Trang 9với hiện tại, một khái niệm để xác định hướng của thời gian”6 - ông đã đưa ra ba loại mũitên là: nhiệt động học, tâm lý học và vũ trụ học Trong giới hạn của tiểu luận, chúng ta tiếptục tìm hiểu về khía cạnh tâm lý.
Thời gian tâm lý học
Mũi tên tâm lý học của thời gian chỉ “hướng chúng ta cảm nhận được thời gianđang chảy, theo đó chúng ta chỉ nhớ quá khứ mà không có bất cứ một lưu niệm nào củatương lai”7 “Đó là thời gian đo bằng những cảm xúc, tâm tình ấn tượng, tuỳ với mức độthâm sâu của nó mà thấy vắn dài”8 Như thế, trong thời gian tâm lý học, đã có sự tác độngcủa con người tham dự vào Bởi thế, thời gian tâm lý có thể chung cho tất cả mọi người vềmặt phương hướng (từ quá khứ, đến hiện tại, đến tương lai), hoặc có khác biệt nơi nhữngnhóm người khác nhau (tuỳ tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính…), thậm chí đó là đặc thù chủquan của mỗi cá nhân Bởi thế, khi nói về giá trị của thời gian, chúng ta không thể bỏ quanhững câu cách ngôn nổi tiếng sau:
“Nếu bạn muốn biết giá trị của bốn năm, hãy hỏi một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học Nếu bạn muốn biết giá trị của một năm, hãy hỏi một sinh viên vừa thi trượt trong kỳ thi kết thúc năm học Nếu bạn muốn biết giá trị của một tháng, hãy hỏi một bà mẹ vừa sinh hạ đứa con đầu lòng Nếu bạn muốn biết giá trị của một tuần, hãy hỏi biên tập viên tờ tuần báo Nếu bạn muốn biết giá trị của một giờ, hãy hỏi đôi bạn trẻ đang yêu háo hức đợi chờ khoảng khắc gặp lại nhau lần nữa Nếu bạn muốn biết giá trị của một phút, hãy hỏi ai đó vừa lỡ một chuyến tàu Nếu bạn muốn biết giá trị của một giây, hãy hỏi ai đó vừa sống sót sau một tại nạn Nếu bạn muốn biết giá trị của một phần nghìn giây, hãy hỏi ai đó vừa giành huy chương Vàng thế vận hội” 9
Thời gian tâm lý có vai trò quan trọng trong cuộc sống mỗi người Hiểu được tâm
lý này của người khác cũng như bản thân, ta có thể làm chủ được nhiều quyết định, hànhđộng khôn ngoan và sáng suốt hơn Tuy nhiên, ở một cấp độ ý nghĩa cao hơn khoa học vàtâm lý học, ta phải kể đến thời gian của triết học
6 A LBERT E INSTEIN, sđd., tr.209.
7 A LBERT E INSTEIN, Thuyết tương đối hẹp và rộng, NXB Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh, 2015, tr 209.
8 X K IM Đ ỊNH, Chữ Thời, NXB Hội Nhà Văn, 2017, tr 29.
9 Dòng Tên Việt Nam, Nếu bạn muốn biết , xem tại: dongten.net/2013/11/22/neu-ban-muon-biet , 02/01/2019.
Trang 111.2 Thời gian triết học
“Thời gian triết học có thể đi theo thời gian khoa học hoặc tâm lý, hay vượt hẳn lêncái bận tâm thường hằng, nghĩa là hết còn đo đếm, hết khởi đầu và hết kết thúc”10 Do đó,tuỳ vào từng nền văn minh theo vị trí địa lý và thời điểm lịch sử mà thời gian triết họcđược quan niệm khác nhau Chúng ta cùng lược qua cơ cấu nền tảng về thời gian theo quanniệm của cả Tây Phương và Đông Phương
Thời gian Tây Phương
Trở về với cội nguồn của văn hoá Tây Phương, mà hai đại diện lớn là Hy Lạp và La
Mã, thời gian được biểu thị bằng vị thần thời gian Chronos (Χρόνος) Theo truyền thống,
một tay Chronos cầm chiếc đồng hồ - thường là đồng hồ cát Căn cứ vào số cát chảy màxác định thời khắc một cách khoa học và khách quan Vì thế, thời gian Tây Phương trướctiên được biểu thị với một đường thẳng có đầu có cuối, có sinh có thành, rồi đến huỷ đếndiệt Tính cách chảy thẳng này của thời gian được biểu thị bằng một đường thẳng nằmngang (—) Tay còn lại của Chronos cầm chiếc lưỡi hái, biểu thị tính cách bất khả phụchồi, một đi không trở lại Lưỡi hái chặt xuống, cắt thời gian thành những đứt đoạn: quákhứ, hiện tại và tương lai Ba đoạn này phân biệt, không liên hệ với nhau Vì vậy, đường
thẳng thời gian ở trên lúc này trở thành ba nét đứt đoạn ( – – – ).
Như vậy, cơ cấu thời gian Tây Phương tính chất chảy thẳng và bất khả phục hồi.Đôi khi, nó cũng được biểu hiện bởi một mũi tên có hướng Vấn nạn kéo theo là chúng taphải trả lời cho câu hỏi về hai đầu mút của mũi tên Nghĩa là trả lời về khởi nguyên và tậncùng của thời gian Hai triết gia Thượng Cổ là Plato (427 TCN -347 TCN) với học thuyết thếgiới linh tượng và Aristote (384TCN-322TCN) với ý tưởng động cơ vĩnh cửu, cách nào đó đãcho thấy rằng, thời gian không có khởi đầu cũng không có kết thúc Tuy nhiên, quan niệm
về thời gian như vậy bên Tây Phương đã không tồn tại được lâu Câu trả lời có ảnh hưởngtrong một giai đoạn dài là của các triết gia Trung Cổ Đơn cử với Thánh Augustinô (354-430), ngài khẳng định rằng thời gian có khởi đầu Bởi lẽ, thời gian cũng là thụ tạo đượcThiên Chúa tạo ra trong buổi đầu của tạo dựng
Thời gian Đông Phương
Hai nền văn hoá lớn đại diện cho Đông phương phải kể đến là Ấn Độ và TrungHoa Thời gian Ấn Độ được biểu thị bằng con rắn cắn đuôi11 Nếu vẽ ra, chúng ta có mộtvòng tròn: 時 Nhiều khi con rắn không cắn đuôi, nhưng cuốn chung quanh núi Meru (tức
10 K IM Đ ỊNH, Chữ Thời, NXB Hội Nhà Văn, 2017, tr 31.
Trang 12núi Tu-di, cũng gọi là Sumeru hay Sineru, là một ngọn núi thiêng với năm đỉnh, được đềcập trong vũ trụ học của Ấn Độ giáo, Kỳ-na giáo và Phật giáo, và được xem như là trungtâm của tất cả các vũ trụ thuộc vật lý, siêu hình và tinh thần12) cao mất hút vào mây mờ,
mù mịt Nó biểu thị siêu việt thể, Thực tại tối cao Brahma – “Đại ngã toàn năng, toàn trí, lànguyên lý cấu tạo và điều khiển vũ trụ, và cũng là căn do mọi sự sống cho nên hằngsống”13 Khi đó, ta có thể biểu thị cơ cấu thời gian Ấn Độ bằng một nét dọc là đường kinhtuyến (│), ngược hẳn với đường hẳn với đường vĩ của Tây Phương Từ quan niệm thờigian này, ta thấy trong hầu hết các tôn giáo Ấn Độ, “đời sống không được xem như bắt đầuvới việc sinh và chấm dứt với sự chết, nhưng như là một sự hiện hữu tương tục trong đờisống hiện tại của cơ thể và mở rộng vượt xa hơn nữa với quá khứ và tương lai Bản chấtcủa những hành động xảy ra trong phạm vi một kiếp sống (tốt hay xấu) quyết định số phậntương lai của mỗi chúng sinh”14 Từ cơ cấu thời gian này, Ấn Độ khởi phát ra thuyết luânhồi, cùng với thuyết nghiệp báo và tái sinh Theo đó, “lý thuyết luân hồi là một quan niệmcăn cứ vào sự trở lại của chu kỳ thời gian…nghiệp báo thuộc lý nhân quả, nghiệp là cáiquả sinh ra từ cái nhân là hành động cố ý, hành động thiện sẽ sinh nghiệp thiện, hành động
ác sẽ sinh nghiệp ác…Lý thuyết nghiệp báo được kết hợp với lý thuyết luân hồi dùng đểgiải thích về sự trở lại đời sống trần gian của con người (thuyết tái sinh)”15 Như vậy, cơcấu thời gian của Ấn Độ có những giá trị không nhỏ, lý thuyết về luân hồi đã đưa ra đượcnhiều lý giải hợp lý và hữu ích Chính Phật Giáo cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm trong lãnhvực này
Cơ cấu thời gian Trung Hoa được biểu thị bằng Mã Đồ, tức là Long Mã Phụ Đồ16.Tương truyền, vào thời thượng cổ đời vua Phục Hy (2852TCN-2737TCN), trên sông Hoàng
Hà, thình lình một trận giông lớn nổi lên, nước sông dâng cao, có nổi lên một con quái đầurồng mình ngựa, đứng khơi khơi trên mặt nước, trên lưng có nhiều đốm đen trắng xếp theomột trật tự đặc biệt và có mang một cây bảo kiếm Sau khi lấy bảo kiếm, vua Phục Hy còn
vẽ lại những đốm trên lưng Long Mã, tạo thành một bức đồ, đặt tên là Hà Đồ Nhà vua
11 X K IM Đ ỊNH, Chữ Thời, NXB Hội Nhà Văn, 2017, tr 32.
12 X Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Núi Tudi, xem tại: vi.wikipedia.org/wiki/Núi_Tu-di , 27/12/2018.
13 L Ý M INH T UẤN, Đông Phương Triết học Cương yếu, NXB Hồng Đức, 2014, tr 387.
14 X Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Luân Hồi, xem tại: vi.wikipedia.org/wiki/Luân_hồi , 27/12/2018.
15 L Ý M INH T UẤN, sđd., tr 391.
16 X K IM Đ ỊNH., sđd., tr 32-33.
Trang 13quan sát các chấm này, kết hợp với sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên trong Trời Đất,nghĩ ra cách tượng trưng Âm Dương, Ngài vẽ ra được Bát Quái đồ, còn gọi là Tiên Thiên
Bát Quái đồ Cố mệnh truyện cũng ghi nhận sự hình thành của Bát Quái từ Hà Đồ: “Hà Đồ
Bát Quái, Phục Hi vương thiên hạ, long mã xuất Hà, toại tắc kỳ văn, dĩ hoạ Bát Quái, vịchi Hà Đồ”17 Truyền thống vẽ lại con Long Mã với dáng chạy sải dài, diễn đạt tính chảytrôi của thời gian như đường vĩ tuyến của Tây Phương Tuy nhiên, trên lưng Long Mã lạitrở theo cái Hà Đồ, được diễn tả bằng hình tròn Hình tròn này cũng có thể thay thế bằngđường kinh tuyến Như thế, cơ cấu thời gian của Đông Phương được biểu thị bằng mộtđường kinh tuyến và vĩ tuyến chồng lên nhau, tạo thành hình chữ thập (時)
Có thể thấy, cơ cấu thời gian của Trung Hoa là sự kết hợp của cả thời gian TâyPhương và Ấn Độ Thời gian Trung Hoa vừa trôi chảy lại vừa xoay vòng, kết hợp giữa mộthằng và một biến, giữa phân tán và hội tụ, không ngừng biến động và chuyển dịch Biểutượng trục tung và hành xếp chồng cho thấy sự trải rộng; yếu tố tròn vuông kết hợp nhưthái cực vần xoay, diễn tả cái cao sâu, dài rộng mà thời gian của Trung Hoa bao trùm cảkhông gian của vũ trụ Đến đây, ta cảm nhận được triết lý sâu sắc về thời gian theo cái nhìncủa Đông Phương Thật vậy, giữa một thời đại mà chúng ta đang chịu ảnh hưởng rất lớn từTây Phương, có lẽ lời mời gọi tìm về với triết lý thời gian Đông Phương nói chung và củaTrung Hoa nói riêng, cần được chú ý hơn bao giờ hết
1.3 Trở về với triết lý thời gian Trung Hoa
Duy thời, phi thời và hoà Thời
Mặc dù vấn nạn về khởi nguyên và tận cùng của thời gian không còn là chủ đề củatriết học tân thời nữa, nó chỉ còn một bài toán cho khoa học và một giải đáp thuộc về tôngiáo Tuy nhiên, với tính chất chảy thẳng và bất khả phục hồi, cơ cấu thời gian Tây Phươnglại ảnh hưởng mãnh mẽ trên lối sống của con người thời đại ngày nay, không chỉ bên TâyPhương nhưng còn cả bên Đông Phương chúng ta nữa Đó chính là thái độ sống duy thời:con người tận dụng và tranh thủ từng giây phút để chạy kịp với mũi tên thời gian Trongmọi hoạt động: ăn ngủ, học hành, và nhất là công việc, ta thấy mọi người đều sống nhanh,sống vội Khi thời gian bị giản lược vào giá trị vật chất, hiệu quả năng suất, doanh số kinhtế con người đã tự đối vật hoá bản thân và trở nên một cái máy
Trong cuộc chay đua khốc liệt với thời gian ấy, con người ngày càng trở nên mệtmọi và cần đến sự hỗ trợ Từ những kinh nghiệm đúc rút được, họ tìm cách dạy nhau về
17 L Ê V ĂN S ỬU, Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, NXB Văn Hoá-Thông Tin, 1998, tr 35.
Trang 14phương pháp quản trị thời gian Tích cực mà nói, đây không phải là việc làm vô ích Tuynhiên, nói cho cùng thì cố gắng này cũng chỉ là cách thế để giúp họ có thể chạy kịp vớimũi tên thời gian mà thôi Hậu quả của lối sống duy thời gây ra là không nhỏ Người chạykịp thì phải cố gắng tập trung vào phương pháp quản trị, phải tuân thủ giờ giấc, lịch hẹn.
Họ đánh mất sự sáng tạo trong mỗi thời khắc qua đi Tệ hơn nữa, người không chạy kịp thìbuông xuôi Họ bất lực trước con ngựa phi nước đại mang tên thời gian, một đi không trởlại! Họ rơi vào trạng thái tự ti và từ chối mọi nỗ lực làm lại từ đầu Họ không cần biết đếnthời gian nữa và tự loại mình ra khỏi dòng chảy thời gian Ta gọi đây là lối sống phi thời
Duy thời và phi thời đều là những lối sống chưa hoàn mỹ với tinh thần triết học.Thật vậy, với những phân tích về cơ cấu thời gian ở trên, đặc biệt với cơ cấu thời gian củaTrung Hoa, triết lý thời gian mời gọi một lối sống hoà mình cùng thời gian và vũ trụ vạnvật, không quá ưu tư lo lắng những cũng không lãnh đạm dửng dưng Chúng ta được mờigọi cần có thái độ tiêu dao du như Lão Tử và Trang Tử: sống thuận thiên thời, tiêu dao tự
do và vô vi Lối sống như thế được gọi là hoà thời “Hoà thời sẽ trở nên nòng cốt để hướngdẫn cuộc sống con người”18
Tác phẩm Luận Ngữ và chữ Thời
Lời mời gọi trở lại với triết lý thời gian của Đông Phương nói chung và của TrungHoa nói riêng, bằng nỗ lực và phạm vi của một bài tiểu luận, ở đây chúng ta sẽ chỉ đề cậpđến triết lý thời gian được rút ra từ tác phẩm Luận Ngữ Chúng ta biết rằng, Luận Ngữ chỉ
là một tác phẩm trong Tứ Thư, bên cạnh nó còn rất nhiều tác phẩm có giá trị khác như:năm cuốn trong Ngũ Kinh, Đạo Đức Kinh của Lão Tử hay Nam Hoa Kinh của Trang Tử
Vì thế, chắc chắn những gì được đưa ra ở tiểu luận này không phải là toàn bộ triết lý vềthời gian của Trung Hoa Tuy nhiên, vì là một tác phẩm quan trọng và có giá trị cao, nênLuận Ngữ hoàn toàn có thể truyền đạt những nét chính yếu về triết lý thời gian của ngườiTrung Hoa xưa Và bởi vì Khổng Tử được mệnh danh là thánh nhân chi thời, nên việc chọntác phẩm Luận Ngữ để luận bàn lại là điều hợp lý hơn cả Lẽ dĩ nhiên, trong khả năng củatiểu luận, chúng ta cũng sẽ liên hệ đến một số tác phẩm lớn để có thêm xác tín và thấyđược nét đặc thù trong triết lý thời gian mà các vĩ nhân xưa đã thực hành
Phương pháp tiểu luận sử dụng là đi từ việc khảo cứu các chữ Thời (時) xuất hiệntrong sách Luận Ngữ, chúng ta sẽ đúc rút và đưa ra các chủ đề lớn để bàn luận Vớiphương pháp này, chúng ta sẽ có được một cái nhìn vừa bao quát lại vừa cụ thể về toàn bộ
18 X K IM Đ ỊNH, Chữ Thời, NXB Hội Nhà Văn, 2017, tr 67.
Trang 15triết lý thời gian trong tác phẩm Đồng thời với việc tổng hợp sau phân tích như thế, chúng
ta cũng tránh được quan điểm chủ quan, để tôn trọng và trình bày đúng ý hướng của tácgiả
Trang 16CHƯƠNG 2 KHẢO LUẬN CHỮ THỜI TRONG SÁCH LUẬN NGỮ
Chữ thời (時) xuất hiện 11 lần, ở 9 đoạn, sách Luận Ngữ Tuy tần suất xuất hiện nhưvậy là không nhiều, nhưng chữ Thời đã được tác giả sử dụng với những ngữ nghĩa thật sựlinh hoạt và đầy đủ Ta có thể phân chia 11 chữ Thời thành ba nhóm nghĩa: mùa vụ, thờiđiểm và thời cơ
2.1 Mùa vụ
Từ cơ cấu thời gian đã trình bày ở trên, hợp với nền văn minh chủ yếu mang tínhchất nông nghiệp của Trung Hoa cổ đại, cách dùng độc đáo và nổi trội nhất của chữ thời
gặp được dễ dàng trong các tác phẩm đó là mùa: “chúng giữ nhịp các mối tương tác có lợi,
cho phép đổi mới sự sinh trưởng của thực vật và qua đó tu bổ lại sức sống”19 Chữ Thời
trong Học Nhi 520, Hương Đảng 8, Dương Hoá 18 và Vệ Linh Công 11 diễn tả nghĩa này.
Thời vụ (時時)
Hương Đảng là chương thứ 10 trong sách Luận Ngữ, kể về những nếp sống thường
ngày của đức Khổng Tử ở ngôi thứ 3 Trong đoạn 8, trình bày về các thức ăn và cách ngài
dùng bữa, có nói rằng: “bất thì bất thực”21, nghĩa là “những gì trái mùa, không ăn”22 Như
vậy, trước tiên mùa ở đây được hiểu là thời thời vụ, tức là khoảng thời gian xác định phù
hợp với một loại cây để chúng sinh trưởng và phát triển tốt Hợp thời vụ là đúng lúc, đangmùa, trúng mùa Vì thế, thời vụ cũng ám chỉ thời điểm thu hoạch của nông sản hay cây tráitrong một năm Tuỳ vào từng chủng loại mà mỗi giống cây khác nhau có mùa khác nhau,
và cũng có thể có hơn một mùa trong một năm
Bất thì bất thực muốn nói rằng, những hoa quả hay thực phẩm thu hoạch không
đúng mùa thì Khổng Tử không dùng đến Quan điểm này của ông khá khó hiểu trong thờiđại của chúng ta Bởi lẽ, với sự phát triển của khoa học hiện nay, việc có được những sảnphẩm trái mùa không những chẳng khó khăn gì, mà chất lượng sản phẩm cũng không thuakém so với sản phẩm đúng mùa Tuy nhiên, quan điểm của người Trung Hoa cổ đại thìkhông phải thế Thật vậy, sự thích nghi với mùa là nguyên lý tối thượng mà người xưa thựchành Do đó, họ tin tưởng rằng, việc cầy cấy trái thời vụ là vô ích, thậm chí là thảm hoạ,
19 F RANCOIS J ULLIEN, Bàn về chữ Thời, NXB Lao Động, tr 52.
20 Các trích dẫn trong Luận Ngữ được viết ngắn gọn gồm tên chương, số câu.
21 Dg Đoàn Trung Còn, Luận Ngữ, NXB Thuận Hoá, 2013, Hương Đảng 8, tr 152.
22 L Ý M INH T UẤN, Tứ thư bình giải, NXB Tôn Giáo, 2010, tr.239.
Trang 17còn phù hợp với mùa vụ đủ đảm bảo cho sự thịnh vượng, lại không cần phải phí sức nhiều.Chính vì thế, khái niệm về mùa vụ được các nhà tư tưởng Trung Hoa phát triển cả về mặtnghi lễ tôn giáo và chính trị Ví như vua Võ Vương và Châu công, mỗi khi sửa sang đền
thờ tổ tiên và dâng cúng, đều phải dâng lên những thức ăn theo mùa “tiến kỳ thời thực”23
Lại như lời mà Mạnh Tử khuyên vua Vương Hệ về chính sách trị dân rằng: bất vi nông
thời - “chẳng nên làm trái nghịch thời vụ của kẻ làm ruộng, đừng bắt họ làm xâu trong mùa
cầy cấy”24 Có như vậy dân mới dành thời gian chuyên tâm canh tác, lúa thóc ăn chẳng hết,
“trong nhà tám miệng ăn chẳng đến nỗi đói khổ”25
Nắm bắt như vậy, ta trở lại chữ thời trong chương đầu tiên của Luận Ngữ Đoạn 5 của sách Học Nhi, cũng bàn về chính sách chính trị, nhưng dành cho bậc quốc trưởng cai trị một nước chư hầu Điều cuối cùng trong năm điều, Khổng Tử khuyên rằng: Sử dân dĩ
thời“sai khiến dân chúng phải tuỳ thời”26 Rõ ràng, chữ thời trong câu này không đơnthuần mang nghĩa thời điểm, mà chính là nghĩa thời vụ, tức “nông thời”, “thời thực” Vìthế, mặc dù “dĩ thời” dịch sát là theo lúc hay tuỳ lúc, nhưng ta phải hiểu chữ Thời trongcâu này thuộc nghĩa thời vụ trong nhóm nghĩa mùa vụ của chữ Thời
Tứ thời (時時)
Bên cạnh ý nghĩa thời vụ của cây trái, chữ Thời còn diễn tả “thời vụ” của đất trời,
đó chính là tứ thời: xuân, hạ, thu, đông Chữ thời trong Dương Hoá đoạn 18 nói về nghĩa này: “Tứ thời hành yên, bá vật sinh yên.”27 Ta biết Dương Hoá (chương thứ 17) là mộttrong những chương về cuối, chữ Thời ở đây cũng là chữ Thời cuối cùng mà sách LuậnNgữ nhắc đến Vì vậy, có lẽ đức Khổng Tử nói câu trên vào giai đoạn cuối đời, sau khingài đã tru du nhiều nước, giáo hoá cho nhiều vua chúa và dạy dỗ cho nhiều đệ tử Giờ
đây, cho rằng mình đã nói đủ rồi, ngài không muốn nói nữa: dư dục vô ngôn Khổng Tử im
lặng là thuận theo quy luật tự nhiên: đến lúc để cho những lời ngài đã giảng dạy trước kia
23 Dg Đoàn Trung Còn, Đại Học – Trung Dung, NXB Thuận Hoá, 2013, Trung Dung 19, tr 66.
24 Dg Đoàn Trung Còn, Mạnh Tử (Tập thượng), NXB Thuận Hoá, 2013, tr 13.
25 Dg Đoàn Trung Còn, Mạnh Tử (Tập thượng), NXB Thuận Hoá, 2013, tr 37.
26 L Ý M INH T UẤN, Tứ thư bình giải, NXB Tôn Giáo, 2010, tr 16.
27 Dg Đoàn Trung Còn, Luận Ngữ, NXB Thuận Hoá, 2013, Dương Hoá 18, tr 278.
Trang 18tự sinh ích trong lòng người nghe Giống như “bốn mùa vận hành, trăm vật sinh sôi”28, màtrời đất chẳng nói một lời.
Thực ra thời vụ chỉ là một bộ phận nhỏ của tứ thời Đặc tính sinh-diệt, kết trái-tànlụi; hay luân chuyển theo năm của thời vụ đều phụ thuộc trực tiếp vào tứ thời Thật vậy, cóthể nó ý niệm về thời trong tứ thời của Trung Hoa là một khái niệm vô cùng sinh động vàbiến ảo Dẫu cho bốn mùa cụ thể như cách chúng ta vẫn gọi là xuân-hạ-thu-đông, nhưng
“mỗi mùa lại có một yếu tố ưu tiên mà lối đối nhau của Trung Hoa ưa đặt vào sự tươngphản: mưa (mùa xuân), nắng (mùa hè), gió (mùa thu) và tuyết (mùa đông)”29 Hoặc mỗimùa đều có những việc làm của nó không thể bỏ đi hay làm khác được: cày bừa ở mùaxuân, làm cỏ ở mùa hè, gặt hái ở mùa thu và bảo quản vào mùa đông Tựu chung, mỗi mùathích ứng với một kiểu hoạt động nhất định, mỗi mùa đưa vào một lối sống riêng Bởi thế,khi bốn mùa nối tiếp, chúng không ngừng biến đổi và cũng không ngừng trở lại với chínhnó
Đây chính là cách mà bốn mùa chuyển động (tứ thì hành): vừa cử động tịnh tiến lạixoay chuyển vòng tròn Chính trong ý nghĩa này, ta hiểu được tâm tư của Khổng Tử, ôngmuốn hoà mình cùng quy luật bốn mùa của đất trời Lúc ông chưa sinh ra, lời của ông chưa
có, đến khi về già ông cũng không còn muốn nói nữa Có lẽ Khổng Tử báo trước sự ra đicủa mình – có thời ông không còn hiện hữu trong trời đất nữa, mặc dù vậy, nhưng nhữnglời ông đã nói và gương sáng ông đã làm sẽ luôn vận hành cùng đất trời mà sinh hoa tráitrong lòng người Đúng như tác giả sách Trung Dung đã nói về đức Khổng Tử: “Ngài tuỳtheo thời tiết mà ăn ở…tuần tự như bốn mùa, luân phiên nhau mà vận hành, sáng suốt nhưmặt trời và mặt trăng, kế tiếp nhau mà sai sáng khắp nơi”30
Lịch pháp (時時)
Như đã khám phá ở trên, khái niệm về mùa của chữ thời được phát triển trong hầuhết các lĩnh vực của đời sống con người: từ nông nghiệp, ẩm thực; đến tôn giáo, lễtiết Lịch pháp trong chính trị cũng không nằm ngoài danh sách này Khi ông Nhan Uyênhỏi về phép trị nước, đức Khổng Tử đáp rằng: “Bậc Thiên Tử cai trị thiên hạ nên theo lịchcủa nhà Hạ”-“Hành Hạ chi thì”31 Cần thêm rằng, lịch đứng đầu danh sách bốn điều mà
28 L Ý M INH T UẤN, sđd., tr 437.
29 F RANCOIS J ULLIEN, Bàn về chữ Thời, NXB Lao Động, tr 52.
30 Dg Đoàn Trung Còn, Đại Học – Trung Dung, NXB Thuận Hoá, 2013, Trung Dung 30, tr 91.
31 Dg Đoàn Trung Còn, Luận Ngữ, NXB Thuận Hoá, 2013, Vệ Linh Công 11, tr 245.
Trang 19Khổng Tử trả lời cho Nhan Uyên: lịch, xe, mũ, nhạc Điều đó cho thấy lịch pháp bao hàmmột nền chính trị quan trọng vào bậc nhất Thực vậy, người xưa tin rằng việc trị lịch là vấn
đề có liên hệ với vận mạng con người, tới sự thịnh vượng của một quốc gia Kinh Thi đãghi lại mối bận tâm của vua Nghiêu trong lĩnh vực này, ông sai hai anh em Hi Hoà sửa lịchcho ăn khớp với tinh, sao, nhật, nguyệt, đồng thời thiết lập ra tháng nhuận để cho năm đi
sát với bốn mùa: “Mệnh Hi Hoà trị lịch tượng, trí nhuận pháp định tứ thời (Nghiêu Điển
tiết 8)”32 Có lẽ vì vậy mà Nhà Hà (2205TCN), kế cận với vua Thuấn (2255TCN) và vuaNghiêu (2256TCN), còn giữa được tinh thần truyền thống ở Kinh Thư như vậy
Thực ra, khác biệt lớn nhất về lịch pháp của các nước là ở thời điểm khởi đầu nămmới Nhà Hạ (2205TCN -1766TCN) của vua Đại Vũ lấy thời gian khởi đầu năm vào tháng Dần
(tháng Giêng Âm lịch) Tháng Dần dành cho đời sống con người (Nhân sinh ư dần) Nhà
Ân hay còn gọi là nhà Thương (1766TCN -1122TCN) của vua Thành Thang liền sau nhà Ân,khởi đầu năm vào tháng Sửu (tháng Chạp âm lịch) Nhà Chu (1121TCN -221TCN) của vuaVăn Vương, Vũ Vương, thời mà Khổng Tử đang sống, khởi đầu năm vào tháng Tý (thángMười một âm lịch) 33
Vì vậy, thi hành theo lịch nhà Hạ tức là khởi đầu mọi công việc trong một năm mùaxuân, tức tháng Giêng, tinh thần con người sẽ phấn chấn, hăng hái; nông nghiệp sẽ thịnhđạt, phát tài Quẻ Thái trong Kinh Dịch ứng với tháng Giêng cho thấy đây là thời điểm
đem lại hanh thông thái hòa (cát hanh): “Thái là hanh thông, nó là quẻ trời đất giao nhau, cho nên là thái, quẻ tháng giêng đó”34 Về cấu tạo, quẻ Thái gồm quẻ khôn trên càn dưới,diễn trời đất giao nhau mà dung hoà, muôn vật sinh thành: “Ba hào Dương của quẻ khôn ởtrên mở ra vận hội tốt đẹp cho năm mới (Tam dương khai thái) vào khoảng tiết Lập xuân,sau khi trời đất vừa trải qua một mùa đông rét mướt, khô cằn.”35 Tựu chung, Khổng Tửchọn lịch nhà Hạ vì có thời điểm đầu năm vào tháng Giêng rất thuận lợi
2.2 Thời điểm
Để chuyển tiếp đến một nghĩa quan trọng khác của chữ Thời là thời cơ, ta phải ngược trở lại với một nghĩa phổ rộng hơn của nó là thời điểm Thật vậy, thời điểm là nghĩa
tổng quát nhất của chữ thời, nó cũng được dùng nhiều nhất trong sinh hoạt hằng ngày Thời
32 K IM Đ ỊNH, Chữ Thời, NXB Hội Nhà Văn, 2017, tr 309.
33 X L Ý M INH T UẤN, Tứ thư bình giải, NXB Tôn Giáo, 2010, tr 384.
34 Dg Ngô Tất Tố, Kinh Dịch, NXB Văn Học, 2014, tr 224.
35 L Ý M INH T UẤN, sđd., tr 385.
Trang 20điểm đơn giản chỉ về thời gian cách chung chung Tiếng Việt dùng từ “lúc”, khi kết hợpvới một số từ ta có thể chỉ một mốc hay một khoảng thời gian, ở mọi thời điểm từ quá khứđến tương lai: lúc ấy, lúc này, lúc sáng, lúc chiều, một lúc, lúc nữa…Chữ Thời trong đoạn
Học Nhi 1 và Quý Thị 7 diễn tả nghĩa này.
Thời kỳ (時時)
Chữ thời trong Quý Thị 7 diễn tả rõ nhất nghĩa thời điểm của chữ thời Trong đoạnnày, Khổng Tử khuyên ba điều phàm là người quân tử thì phải tránh Ba điều ấy tương ứngvới ba thời kỳ-giai đoạn phát triển của con người: thiếu (時- trẻ tuổi), tráng (時- người đếntuổi 30) và lão (時-người già) Ở thời kỳ đầu tiên, Khổng tử khuyên rằng: “Thiếu chi thời,huyết khí vị định, giới chi tại sắc” – nghĩa là: “Trong lúc đầu xanh tuổi trẻ, khí huyếtđương bồng bột, chưa yên định, nên phòng ngừa việc nữ sắc”36 Như vậy, chữ thời trongcâu này chỉ thời điểm kéo dài của một khoảng thời gian - tuổi trẻ Thời điểm kéo dài thànhkhoảng thời gian như vậy chính là một giai đoạn hay một thời kỳ Nói cách khác, thời kỳ làmột tập hợp những thời điểm chứa trong nó được giới hạn bởi hai thời điểm đầu cuối, nhưđoạn thẳng được cấu tạo bởi các điểm ở giữa hai đầu mút vậy Như thế, “thiếu chi thì” chỉthời tuổi trẻ, tính từ lúc sinh ra cho đến tuổi 30 Trong những thời điểm này, cần tránh việcđam mê sắc dục Khí huyết chưa định, không những có ý nói về việc chưa hoàn chỉnh vềthể lý, mà còn nhắc nhở rằng tuổi trẻ với tinh thần chưa vững vàng, dễ lao vào sắc dục Vìthế, sắc dục sẽ nguy hại cho sức khỏe thể chất, khiến tinh thần mờ tối, và ý chí suy nhược
Đối với hai thời kỳ tráng và lão, tác giả dùng đại từ kỳ (時) thay thế cho chữ Thời
với ngữ nghĩa và hiệu quả tương đương: “Cập kỳ tráng giã”, Cập kỳ lão giã” Vì thế, vẫntheo văn mạnh ở trên Khổng Tử khuyên người quân tử cũng cần tránh các việc trong độtuổi tương ứng Tuổi tráng niên, khí huyết đầy đủ mạnh mẽ rồi lại phải tránh việc tranhđấu Đến tuổi lão niên, khí huyết suy giảm, nên phòng ngừa việc ky cóp
Thường nhật (時時)
Chữ Thời tiếp theo trong nhóm này nằm ngay trong câu đầu tiên sách Luận Ngữ,Không Tử viết “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” nghĩa là “kẻ học đạo lý mà thườngngày hay luyện tập cho tinh thông, nhuấn nhã, há không thấy đó làm vui sao”37 Như vậy,chữ Thời trong câu này có nghĩa là thường nhật Thường nhật chỉ một chu kỳ thời gianchứa đựng bên trong những thời điểm xảy ra cách thường xuyên và đều đặn Ở đây, Khổng
36 Dg Đoàn Trung Còn, Luận Ngữ, NXB Thuận Hoá, 2013, Quý Thị 7, 1, tr 263.
37 Dg Đoàn Trung Còn, sđd., Học Nhi 1, tr 5.
Trang 21Tử vừa chia sẻ kinh nghiệm về học tập của mình, đồng thời ông cũng muốn khuyên dạycác đệ tử biết sử dụng thời gian cho việc rèn luyện tri thức.
Người học, hay chính việc học ngắn bó với việc tập bằng chữ thời cho thấy hai quan hệ chặt chẽ giữa học với tập, và giữa học tập với thời gian Thật thế, quan hệ thứ nhất
cho thấy, học phải đi đôi với tập xét về thời điểm Nghĩa là người học cần viết ôn tập lại, vàchính lúc ôn tập lại lại là một lần học mới Quan hệ tương hỗ này khiến cho việc họckhông thể thiếu việc ôn tập Mặt khác quan hệ thứ hai chỉ ra rằng, học tập không chỉ làchuyện ngày một ngày hai, sự tương hỗ lồng xoáy vào nhau của học-tập phải được diễn ratrên suốt chiều dài của vĩ tuyến thời gian Vì vậy, học tập là việc làm đòi hỏi sự chăm chỉ,kiên trì, nhẫn nại và bền bỉ Chính trong ý nghĩa này mà ta thấy được chữ Thời ở trên với
nghĩa thường nhật Hiểu được điều này, kẻ học đạo mới thấy việc học-thời-tập làm vui thú
và khoan khoái trong lòng Như Khổng Tử từng nói: “Tri chi giả, bất như hiếu chi giả;
hiếu chi giả, bất như lạc chi giả - Biết đạo chẳng bằng ưa đạo; ưa đạo chẳng bằng vui với
đạo.”38
2.3 Thời cơ
Sau khi đã lược qua hai nhóm nghĩa của chữ Thời là mùa và thời điểm, chúng ta đến với nhóm nghĩa đặc biệt và quan trọng của chữ Thời, đó là thời cơ. Về cơ bản, cóthể định nghĩa thời cơ là một thời điểm thuận lợi có tính cơ hội, nó đến trong một thời gianngắn Thời cơ chứa đựng những điều kiện để giúp ta thực hiện một ý định có sẵn đang ấp ủnào đó, hoặc giúp chúng ta phát hiện ra những tiềm năng cho một hành động thành côngchớp nhoáng, tức thời Đến đây, ta phát hiện ra có mối tương quan giữa chủ thể thời gianvới các thời điểm cơ hội ấy: tuỳ vào thái độ, sự chủ động, sự chuẩn bị của ta mà ta có thểtạo ra thời cơ, hay nắm bắt được thời cơ không Chúng ta sẽ đi vào chi tiết các chữ thời
diễn tả nghĩa này trong các đoạn: Hương Đảng 17 (2 lần), Hiến Vấn 14, và Dương Hoá 1
(2 lần)
Tạo ra thời cơ
Chữ Thời đầu tiên trong đoạn đầu của chương Dương Hoá diễn tả sự chuyển tiếp đơn giản nhất từ thời điểm sang thời cơ: “Khổng Tử thì kỳ vô giả” – “Khổng Tử chờ lúc
người không có nhà”39 Đoạn này, nói về vụ việc Khổng Tử phải đáp lễ Dương Hoá, nhưng
vì không muốn gặp Dương Hoá, Khổng Tử chờ lúc ông ta không có nhà mà đến Ở đây, ta
38 Dg Đoàn Trung Còn, Luận Ngữ, NXB Thuận Hoá, 2013, Ung Dã 18, tr 93.
39 Dg Đoàn Trung Còn, S đd., Dương Hoá 1, tr 269.