Nh ững nghiên cứu ấy đã đem lại nhiều tri thức và cách nhìn mới mẻ về ảnh hưởng của dân số đến phát triển kinh tế, đặc biệt là phát hiện về vai trò thực s ự của chính sách trong việc hi
Trang 1K Ỷ NGUYÊN DÂN SỐ VÀNG
_
Bùi Thế Cường2
Bài vi ết xuất bản lần đầu năm 2004 trong Tạp chí Hoạt động Khoa học (Bộ
Khoa h ọc và Công nghệ), Số 9(544) Vài năm trước đó, trên thế giới xuất hiện
nhi ều công trình lý thuyết và thực nghiệm về cơ hội dân số (hoặc còn gọi là lợi
t ức dân số, cửa sổ dân số), nhằm tìm hiểu tương tác giữa dân số và kinh tế
Nh ững nghiên cứu ấy đã đem lại nhiều tri thức và cách nhìn mới mẻ về ảnh hưởng của dân số đến phát triển kinh tế, đặc biệt là phát hiện về vai trò thực
s ự của chính sách trong việc hiện thực hóa cơ hội dân số Dựa trên những gợi
ý v ề lý thuyết và phương pháp của trào lưu nghiên cứu nói trên, bài viết phân
tích quá độ dân số ở Việt Nam, chỉ ra rằng giai đoạn đầu của cơ hội dân số đã đến với Việt Nam từ khoảng thập niên 1980 Sau 2005, cơ hội dân số sẽ bước vào giai đoạn hai: Việt Nam tiến vào kỷ nguyên dân số vàng của mình, kéo dài
kho ảng 30 năm Từ đó, bài viết đề xuất những hàm ý chính sách để Việt Nam
có th ể nắm bắt và khai thác hiệu quả cơ hội lịch sử này
Từ lâu, dân số học nỗ lực tìm hiểu tác động qua lại giữa dân số và kinh tế
Những năm gần đây, nhiều nhà dân số học quan tâm đến hiện tượng mà họ gọi
bằng nhiều thuật ngữ: cửa sổ dân số, cơ hội dân số, lợi tức dân số Bài viết
xem xét chủ đề này dựa trên việc tham khảo một số bước tiến mới trong việc
nghiên cứu tác động tích cực tiềm tàng của dân số đối với tăng trưởng kinh tế
và thử áp dụng vào Việt Nam
1
Bài vi ết dựa trên kết quả nghiên cứu của Đề tài KX.02.10 "Các vấn đề xã hội và môi trường của quá trình công nghiệp hóa & hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa" (2001-2004) Tác gi ả cảm ơn TS Vũ Mạnh Lợi về những góp ý cho bài viết, cảm ơn Cô Đặng Việt Phương về sự giúp đỡ kỹ thuật tính toán Bài viết in lần đầu trong: Bùi Thế
Cường 2004 Cơ hội dân số và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Tạp chí Hoạt đông Khoa
h ọc (Bộ Khoa học và Công nghệ) Số 9(544)/2004 Được in lại trong: Mai Quỳnh Nam (Chủ biên) 2006 Những vấn đề xã hội học trong công cuộc Đổi Mới Hà Nội: Nxb Chính
tr ị Quốc gia Trang 317-322
2
Hi ện tại (2015) là Giáo sư Nghiên cứu viên cao cấp Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ; Giáo sư thỉnh giảng Viện Nghiên cứu châu Á Universiti Brunei Darussalam Khi viết bài này vào năm 2004, là Phó Giáo sư Nghiên cứu viên cao cấp Viện Xã hội học (Hà Nội)
Trang 21 TÌNH HÌNH NGHIÊN C ỨU, NGUỒN SỐ LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ
1.1 Ba luận điểm về mối liên hệ dân số và tăng trưởng kinh tế
Lịch sử dân số học đã trải qua ba quan điểm lý luận về quan hệ dân số và tăng trưởng kinh tế Mầm mống từ thời Thomas Malthus và nổi lên từ cuối thập
niên 1940, "lý thuyết dân số học bi quan" cho rằng dân số ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế Nổi bật từ đầu thập niên 1980, "lý thuyết dân số học lạc quan", ngược lại, cho dân số là cơ sở hỗ trợ phát triển kinh tế Một số nhà dân số học
thận trọng hơn với ảnh hưởng tích cực đương nhiên của yếu tố dân số Họ đại
diện cho cái được gọi là "lý thuyết dân số học trung tính" trong thập niên
1990: dân số không tự động có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến kinh tế,
mà có một loạt yếu tố can thiệp khác quyết định xu hướng ảnh hưởng này
(Bloom, 2001b và 2003)
Những nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy biến đổi dân số không nhất
thiết hoặc ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến kinh tế, mà phụ thuộc vào
khuôn mẫu biến đổi cơ cấu tuổi dân số cũng như một số nhân tố khác Phân bố
cơ cấu tuổi là một cơ chế tiềm tàng tác động đến thành công kinh tế Nhưng điều này sẽ chỉ xảy ra khi một quốc gia có những thể chế xã hội, kinh tế và
chính trị cũng như những chính sách thích hợp, cho phép hiện thực hóa tiềm năng tích cực của quá trình dân số Điều này đã xảy ra ở một số nước Đông Á
và Đông Nam Á khi tận dụng được cơ hội dân số cho phát triển kinh tế kể từ
thập niên 1960 đến nay
1.2 Tình hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Từ những năm 1990 lại đây, một loạt nhà dân số học đặt lại vấn đề mối quan
hệ dân số và kinh tế từ góc độ xem xét hiện tượng lợi tức dân số nảy sinh từ
quá độ dân số T Kuroda nói đến "kỷ nguyên dân số vàng" khi bàn về vấn đề
già hóa dân cư ở Hội nghị dân số khu vực châu Á-Thái Bình Dương (Kuroda,
1991) ADB chú trọng đến vấn đề này trên toàn châu Á trong công trình năm
1997 "Châu Á đang nổi lên" (ADB, 1997) Nhóm nghiên cứu do D.E Bloom
dẫn đầu đưa ra tổng quan rộng lớn bao quát một loạt nước về hiện tượng lợi
tức dân số đối với kinh tế Các tác giả nhấn mạnh một sự thực là bản thân lợi
tức dân số không tự động dẫn đến ích lợi kinh tế, mà chỉ được hiện thực hóa
bởi môi trường chính sách (D.E Bloom, 1997, 2001a, 2001b, 2003) Đã có
một số hội thảo quốc tế bàn đến vấn đề này, gần đây hơn cả là hội nghị ở Bắc
Kinh ngày 10-11 tháng 5 năm 2004 với tiêu đề "Cửa sổ dân số và sự già hóa
lành mạnh: Những thách thức và cơ hội về kinh tế xã hội" Nhóm nghiên cứu
K Wongboonsin, P Guest và V Prachuabmoh phân tích cơ hội dân số của
Trang 3Thái Lan, một nước chỉ mới đi trước Việt Nam ít nhiều trong quá độ dân số
(K Wongboonsin et al., 2004)
Bài viết sử dụng số liệu và phân tích của các tài liệu nói trên, sử dụng dự báo
dân số thế giới và khu vực của Liên Hợp Quốc, cũng như số liệu ước tính từ
Tổng điều tra dân số Việt Nam của Tổng cục thống kê
1.3 Khái niệm "lợi tức dân số"
Để diễn tả thực tế nêu trên, các nhà dân số học thế giới sử dụng thuật ngữ "lợi
tức dân số" (demographic dividend) Lợi tức dân số được định nghĩa đơn giản
là những ích lợi kinh tế có được từ biến đổi dân số Những ích lợi này có thể
tích tụ ở cấp độ cá nhân cũng như xã hội Chẳng hạn, nó dẫn đến việc nâng cao
mức sống, cá nhân có thể kiếm được thu nhập cao hơn để tiêu dùng, tiết kiệm
và đầu tư Nó tạo khả năng cho xã hội có nguồn nhân lực năng suất hơn dẫn đến tăng trưởng kinh tế Lợi tức dân số chỉ xuất hiện trong một giai đoạn nhất định của quá độ dân số, và thường chỉ diễn ra trong vài thập niên Như vậy,
quá độ dân số là quá trình bên trong chi phối lợi tức dân số
Cơ hội cho một quốc gia tận dụng được lợi tức dân số phụ thuộc vào 4 điều
kiện có liên hệ qua lại với nhau Thứ nhất, các điều kiện dân số: một sự kết
hợp của việc giảm mức chết, mức sinh và tỷ suất phụ thuộc Thứ hai, cách
thức diễn tiến của quá độ dân số Lợi tức dân số chỉ xuất hiện vào khoảng giai đoạn giữa của quá độ dân số Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực Thứ tư, môi trường chính sách có tính hỗ trợ cho lực lượng lao động, bao gồm chính sách
kinh tế (thị trường mở, năng động), chính sách lao động tạo ra thị trường lao động linh hoạt, chính sách phát triển nguồn nhân lực (hệ thống giáo dục và y tế
có chất lượng cao), chính sách tài chính hỗ trợ cho đầu tư và tiết kiệm
Quá độ dân số cung cấp một khả năng có lợi tức dân số do tăng tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động Lợi tức dân số, trong khi là hệ quả của quá độ dân số,
chỉ có thể trở thành hiện thực thông qua những nhân tố khác, trước hết là năng
suất lao động của nguồn lao động, trình độ nguồn nhân lực (thông qua giáo
dục cao hơn hoặc tốt hơn) Để hiện thực hóa lợi tức dân số, các nhà chiến lược
phải cải thiện năng suất lao động và nguồn nhân lực thông qua nâng cao giáo
dục và đào tạo, tạo ra một môi trường chính sách hỗ trợ cho đầu tư và tiết
kiệm
Bài viết này sử dụng thuật ngữ "cơ hội dân số" để nói đến "lợi tức dân số" đối
với tăng trưởng kinh tế liên quan đến mức giảm tổng tỷ suất phụ thuộc, bao
gồm hai giai đoạn Giai đoạn thứ nhất, khi tổng tỷ suất phụ thuộc giảm, bắt đầu bước vào thời kỳ dân số học gọi là "cửa sổ cơ hội" Giai đoạn hai, khi chỉ
Trang 4số này xuống dưới ngưỡng 50%, tôi gọi là "kỷ nguyên vàng" Kỷ nguyên vàng
sẽ kết thúc khi tổng tỷ suất phụ thuộc bắt đầu tăng trở lại và vượt ngưỡng 50%
Tổng tỷ suất phụ thuộc là đại lượng của số người trong độ tuổi 0-14 cộng với
số người trong độ tuổi 65 trở lên (65+) chia cho số người trong độ tuổi 15-64
Nó nói lên tương quan giữa số người không ở trong độ tuổi lao động (dưới 15
tuổi và 65 trở lên) so với số người trong độ tuổi lao động (15-64) trong một
quần thể dân cư nhất định Cần lưu ý khái niệm dân số trong độ tuổi lao động
là khác nhau giữa các nước Có nước vẫn còn tính độ tuổi lao động trong
khoảng 15-59, với cách tính này người ta sẽ có những đánh giá khác về "lợi
tức dân số" (K Wongboonsin et al., 2004)
2 L ỢI TỨC DÂN SỐ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1 Các nước trong khu vực
Ở châu Á, khu vực Đông Á tiến sớm nhất đến thời kỳ "lợi tức dân số" Đây là trường hợp của Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore Có tính toán cho rằng cơ
hội dân số đã đóng góp 1/3 mức tăng trưởng kinh tế của ba nước trên trong
thời kỳ tăng trưởng nhanh 1960-1990 (Bloom, 1997 và 2001a)
Bảng 1 cho thấy tổng tỷ suất phụ thuộc của Nhật, Singapore, Hàn Quốc đã
giảm trong thời kỳ nền kinh tế của họ tăng trưởng nhanh Tổng tỷ suất phụ
thuộc ở Trung Quốc bắt đầu giảm dần từ thập niên 1970, giảm nhanh trong
thập niên 1980 Sau giai đoạn khởi đầu cải cách (1978-1992), Trung Quốc bước vào thời kỳ cải cách theo chiều sâu ở thập niên 1990 đúng vào lúc mà ngưỡng tỷ suất phụ thuộc bắt đầu giảm xuống dưới 50 Giống Singapore,
Trung Quốc sẽ có một kỷ nguyên vàng dài tới 40 năm Những nước nói trên
thể hiện mối liên hệ đáng chý ý giữa việc các điều kiện chín muồi cho phát
triển kinh tế đã diễn ra gặp sự hỗ trợ thuận lợi của biến đổi cấu trúc tuổi dân số theo hướng một nguồn lực lao động lớn được cung ứng đúng vào lúc mà nền
kinh tế có yêu cầu Sự gặp gỡ của hai yếu tố này đã có tác động thúc đẩy thêm
thành công kinh tế
Các nước Đông Nam Á đang tiếp bước Theo tính toán của ADB (ADB,
1997), lợi tức dân số ở Đông Nam Á hiện đóng góp khoảng 0,7 điểm phần trăm vào mức tăng thu nhập đầu người hàng năm Vào khoảng 2015, con số
này dự đoán sẽ tăng gấp đôi Lợi tức dân số của khu vực Đông Nam Á đang
diễn ra sẽ không mạnh bằng khu vực Đông Á thời kỳ 1960-1990
Trang 52.2 Cơ hội dân số ở Việt Nam
Theo Liên hợp quốc ước tính (Bảng 1), tổng tỷ suất phụ thuộc của dân số Việt
Nam bắt đầu giảm sau 1975, giảm nhanh từ giữa thập niên 1980 Chỉ số này
giảm xuống dưới 50 vào khoảng trước 2010 Theo dự báo dựa trên Tổng Điều
tra dân số 1999, với phương án mức sinh giảm, Việt Nam có tổng tỷ suất phụ
thuộc là 61 vào năm 2000, 50 vào năm 2005 và 43 vào năm 2010 (Tổng cục
thống kê/Dự án VIE/97/P14 2001) Trong thời kỳ 2000-2005 tổng tỷ suất phụ
thuộc giảm 11 điểm phần trăm; trong vòng 10 năm 2000-2010 giảm tới 18 điểm phần trăm, một tốc độ giống Trung Quốc thời kỳ 1975-1990 và Hàn
Quốc thời kỳ 1970-1990 Như vậy, giai đoạn đầu của cơ hội dân số đã đến với
Việt Nam từ khoảng thập niên 1980 Sau 2005, cơ hội dân số sẽ bước vào giai đoạn hai: Việt Nam tiến vào kỷ nguyên dân số vàng của mình, kéo dài khoảng
30 năm
2.3 Điều kiện hiện thực hoá cơ hội dân số
Kết quả các nghiên cứu chỉ ra rằng "cơ hội dân số" không tự động, không
t ất yếu đem lại tác động tích cực, nó phải được giành lấy Trong khi một
s ố nước đã hiện thực hoá được tiềm năng tích cực do cơ hội dân số mang
l ại, thì nhiều nước khác đã bỏ lỡ cơ hội này Có hàng loạt điều kiện cần để
hiện thực hoá cơ hội dân số, mà đôi khi vượt quá tầm chủ động của một quốc
gia, một Chính phủ (chẳng hạn chiến tranh, bất ổn của môi trường quốc tế, )
Tuy nhiên, xét về mặt chủ quan quốc gia, thì tầm quan trọng hàng đầu thuộc
về môi trường chính sách trong nước Không có môi trường chinh sỏch phù
hợp, trong trường hợp tốt nhất đất nước sẽ bỏ lỡ cơ hội tăng trưởng cao dài
hạn khi cơ hội dân số bắt đầu Trong trường hợp tồi tệ sẽ là kinh tế trì trệ, bất
ổn chính trị-xã hội do quá tải dân số dẫn đến thất nghiệp cao
Nếu cơ hội dân số và đặc biệt là giai đoạn dân số vàng diễn ra trùng với thời
kỳ kinh tế ổn định và cất cánh, đồng thời hệ thống giáo dục thực hiện tốt chức năng chuẩn bị học vấn và nghề nghiệp cho lao động, thì nguồn nhân lực lao động tăng sẽ trở thành động lực mạnh của kinh tế (tăng việc làm, thu nhập, tiết
kiệm, tiêu dùng) Ngược lại, nếu hệ thống kinh tế và giáo dục yếu kém không đáp ứng được với sự bùng nổ nhân lực này, xã hội sẽ chứng kiến tình trạng
thất nghiệp tràn lan trong giới trẻ, thiếu chỗ làm, thiếu nhân lực được đào tạo,
dẫn đến mất ổn định xã hội Cơ hội dân số đòi hỏi nhà vạch chính sách phải có
những lựa chọn đúng để nắm bắt được nó
Trang 63 NH ỮNG HÀM Ý CHO VIỆT NAM
Đối với Việt Nam, tận dụng cơ hội dân số đòi hỏi chý ý đến ba chủ đề: nâng
cao nhận thức, quán triệt yếu tố "cơ hội dân số" vào các khu vực chính sách cơ
bản, đẩy mạnh ngay một số nghiên cứu có liên quan
3.1 Về mặt nhận thức
Cơ hội dân số đang diễn ra, kỷ nguyên vàng của dân số Việt Nam đang đến,
điều này cần đặt vào đúng vị trí của nó trong mọi tính toán chiến lược hiện nay Thừa nhận đúng mức tầm quan trọng đó sẽ khiến cho nhiều yếu tố khác
phải được nhìn dưới một ánh sáng mới Chẳng hạn, nếu thực sự thừa nhận
"yếu tố dân số" thì chiến lược kinh tế không thể không đi theo hướng ưu tiên
tạo nhiều việc làm (labour-based), còn giáo dục trở nên một yếu tố có tầm
chiến lược đặc biệt và lâu dài, phải được nhấn mạnh theo hướng phổ cập, dạy
nghề, đại chúng, tiên tiến Ngược lại, những mục tiêu kinh tế hoặc xã hội nào
đó, cho dù rất hấp dẫn hoặc đầy thuyết phục, nhưng nếu tỏ ra không tận dụng được cơ hội dân số hoặc có khả năng khiến cơ hội này trở thành nguy cơ, thì
cần kiên quyết không đưa vào lựa chọn chính sách hoặc ít nhất cũng phải tính đến những hậu quả của chúng
3.2 Về mặt chính sách
Cơ hội dân số tác động đến kinh tế thông qua 3 cơ chế: cung cấp lao động, tiết
kiệm, và vốn con người Những cơ chế nói trên có phát huy tác động tiềm tàng
của chúng hay không, điều này phụ thuộc vào môi trường chính sách Một lượng lớn người trong độ tuổi lao động sẽ chỉ có khả năng tham gia sản xuất
với năng suất và hiệu quả nếu thị trường lao động đủ năng động và linh hoạt
cho phép toàn dụng lao động, nếu chính sách kinh tế vĩ mô khuyến khích đầu
tư, nếu nguồn lao động này được trang bị đủ kỹ năng thích hợp với yêu cầu
của nền kinh tế Người ta chỉ tiết kiệm khi dễ dàng tiếp cận được những cơ chế
tiết kiệm thích hợp, tin vào sự chắc chắn và ổn định của thị trường tài chính trong nước Như vậy, cơ hội dân số chỉ tạo ra điều kiện, còn môi trường chính
sách mới là yếu tố quyết định cho phép tận dụng được cơ hội dân số Trong
một loạt chính sách tác động trực tiếp và gián tiếp, có 4 vùng chính sách đóng vai trò quan tr ọng nhất trong việc hiện thực hoá cơ hội dân số, đó là chính
sách kinh tế, giáo dục, sức khoẻ, bảo trợ xã hội
Một số nghiên cứu (Bloom, 1997, 2001b Navaneetham, 2002) gợi ý rằng các nước thành công trong việc tận dụng cơ hội dân số ở thập niên 1960-1980 là
những nước theo đuổi chính sách kinh tế mở cửa, khuyến khích tính linh hoạt
của thị trường lao động và tín dụng, khuyến khích đầu tư và tiết kiệm Tuy
Trang 7nhiên, bản thân những chính sách này cũng không tự động thành công, chúng
phải được điều hành đúng đắn và khéo léo
Điều lo ngại là trong khi cơ hội dân số ở Việt Nam đã diễn ra, kỷ nguyên dân
số vàng (giai đoạn hứa hẹn nhất của cơ hội dân số) đang sắp bắt đầu, thì
nh ững chính sách đóng vai trò trực tiếp trong việc hiện thực hoá cơ hội này (chính sách kinh tế, giáo dục, sức khoẻ, và bảo trợ xã hội) lại đang chứa đựng hàng loạt vấn đề bức xúc, chưa có đủ những giải pháp căn bản và đột
phá
3.3 Về mặt nghiên cứu
Nhìn chung ở Việt Nam, các nhà kinh tế học và các nhà lập kế hoạch hoặc
hoạch định chính sách kinh tế dường như ít chú ý đến yếu tố dân số, còn các
nhà dân số học và các nhà vạch chính sách dân số lại thường tập trung nhiều
vào giảm mức sinh, sức khoẻ sinh sản và tình dục, tuy đã có nhiều quan tâm đến di dân và gần đây có những bước tiến đáng chú ý về nghiên cứu vị thành
niên Hệ quả là một khoảng trống: mối liên hệ dân số và kinh tế chưa được
nghiên cứu và chú trọng đầy đủ Đây có lẽ cũng là biểu hiện của tình trạng
thiếu nghiên cứu đa ngành và liên ngành nói chung ở Việt Nam Điều này rất tương phản với nhiều nước khác
Cần sớm tiến hành những nghiên cứu để hiểu đầy đủ hơn biến đổi cấu trúc tuổi
của dân số Việt Nam trong thời gian qua và sắp tới, tìm hiểu và dự báo được
tác động qua lại giữa biến đổi cấu trúc tuổi và kinh tế Phải chăng, về mặt
chính sách, cơ hội dân số Việt Nam phần nào đã bị bỏ lỡ trong thập niên 1980; nhưng về mặt thực tế, cơ hội dân số đã là một yếu tố giảm nhẹ tác động của
khủng hoảng kinh tế ở thời kỳ này? Phải chăng cơ hội dân số đã có đóng góp
vào thành công kinh tế Việt Nam từ thập niên 1990 cho đến nay? Nếu có, mức đóng góp là bao nhiêu?
Quan trọng hơn là câu hỏi nghiên cứu hướng vào tương lai: làm thế nào tận
dụng được kỷ nguyên dân số vàng, giai đoạn hai của cơ hội dân số, đang sắp
bắt đầu Trong chủ đề nghiên cứu này cần phân tích biến đổi cơ cấu tuổi của
khối dân cư trong độ tuổi lao động, có lưu ý đến xu hướng già hoá dân cư sẽ
bắt đầu nhanh sau 2010 (Bùi Thế Cường, 2001) Chú trọng những nghiên cứu
nhằm tạo ra đột phá về nhận thức và chính sách trong việc lựa chọn mô hình đầu tư và tăng trưởng; cải thiện môi trường chính sách kinh tế; đổi mới sâu
rộng thị trường lao động; cải cách giáo dục, y tế và bảo trợ xã hội
Trang 8TÀI LI ỆU THAM KHẢO
Asian Development Bank 1997 Emerging Asia: Changes and Challenges
Manila: ADB
Bloom, David E and Jeffrey G Williamson 1997 Demographic Transitions
and Economic Miracles in Emerging Asia Working Paper 6268 Cambridge,
M.A NBER http://www.nber.org/papers/w6268 Cũng in trong: World Bank
Economic Review 1998 No 12 419-456
Bloom, David E., David Canning, and Jaypee Sevilla 2001a The Effect of
Health on Economic Growth: Theory and Evidence Working Paper
8587.Cambridge, MA NBER Working Paper Series http://www.nber.org/papers/w8587
Bloom, David E., David Canning, and Jaypee Sevilla 2001b Economic
Growth and the Demographic Transition Working Paper 8685 Cambridge,
MA NBER Working Paper Series http://www.nber.org/papers/w8685
Bloom, David E., David Canning, A.K nandakumar, Jaypee Sevilla, Kinga
Huzarski, David Levy, and Manjiri Bhawalkar 2001c Demographic
Transition and Economic Opportunity: The Case of Jordan Bethesda,
Maryland: The Partners for Health Reformplus Project, Abt Associates Inc
Order No TE011
Bloom, David E., David Canning, and Jaypee Sevilla 2003 The Demographic
Dividend A New Perspective on the Economic Consequence of Population Change Santa Monica: Rand
Bựi Thế Cường 2001 Già hoá dân số Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối
v ới chính sách người cao tuổi Tạp chí Xã hội học Số 1.2001
Engardio, Pete 2002 The Chance of a Lifetime: Poor Nations Get a
"Demographic Dividend" Business Week Online: International Asian Cover
Story http://icpd.eastwestcenter.org/news_mar_02.asp
Kuroda, Toshio 1991 Structural Change of Age Composition in the Future
and Its Socio-Economic Implications Trong: ESCAP/ JOICFP 1991 Population Ageing in Asia New York: United Nations Trang 89-95
Trang 9Navaneetham, K 2002 Age Structural Transition and Economic Growth:
Evidence from South and Southeast Asia Working Paper of CDS (Centre for
Development Studies) WP 337 http://www.cds.edu
Tổng cục thống kê/Dự án VIE/97/P14 2001 Kết quả Dự báo dân số cho cả
nước, các vùng địa lý-kinh tế và 61 tỉnh/thành phố Việt Nam, 1999-2024 Hà
Nội: Nhà xuất bản Thống kê
United Nations 2003 World Population Prospects The 2002 Revision New
York: United Nations
Wongboonsin, Kua 2004 The demographic dividend and M-curve
labour-force participation in Thailand Applied Population and Policy 1(2), 115-122
Wongboonsin, Kua, Philip Guest, and Vipan Prachuabmoh 2004
Demographic Change and the Demographic Dividend in Thailand Paper at
the International Conference on the Demographic Window and Healthy Aging: Socioeconomic Challenges and Opportunities Beijing, May 10-11,
2004
Trang 10PH Ụ LỤC
B ảng 1 Tổng tỷ suất phụ thuộc của 9 nước trong khu vực (1950-2050), %
Nh ật Singapore Hàn
Qu ốc Trung Qu ốc Thái Lan
Vi ệt Nam
Indonesia Malaysia Philippines
1950 68 75 81 61 83 56 76 85 89
1955 64 77 76 72 84 65 74 88 93
1960 56 83 83 78 90 78 76 95 96
1965 47 86 87 80 94 93 80 98 97
1970 45 73 83 79 92 96 83 92 93
1975 47 59 71 78 85 92 81 85 90
1980 48 47 61 67 75 88 78 75 86
1985 47 42 52 55 64 82 72 74 83
1990 44 37 45 50 56 78 66 67 79
1995 44 40 41 48 50 72 60 66 74
2000 47 41 39 46 47 63 56 61 70
2005 51 39 39 42 45 53 52 59 64
2010 56 34 38 40 44 46 49 53 58
2015 64 35 38 40 43 45 46 50 53
2020 68 42 40 44 44 45 45 49 51
2025 70 54 46 46 45 45 44 50 49
2030 73 68 54 50 48 45 44 51 48
2035 79 77 61 56 52 46 46 50 47
2040 89 79 69 61 56 48 48 50 46
2045 95 77 75 63 59 52 51 50 47
2050 98 76 79 64 62 56 54 52 49
Ngu ồn: tính toán dựa trên số liệu của United Nations 2003
B ảng 2 Năm bắt đầu và độ dài của "kỷ nguyên dân số vàng" 9 nước trong khu vực
Nước Năm bắt đầu Năm kết thúc Độ dài ước tính (năm)
Ngu ồn: tính toán dựa trên số liệu của United Nations 2003