Bài viết mô tả trạng thái và sự tiến hóa của cơ cấu xã hội dựa trên nghề ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 1999-2009.. Nội dung chính trình bày trong mục 5, mô tả trạng thái v
Trang 11
KHÁC BIỆT ĐÔ THỊ-NÔNG THÔN VÀ TIỂU VÙNG TRONG CƠ CẤU XÃ HỘI DỰA TRÊN NGHỀ
Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM GIAI ĐOẠN 1999-20091
Bùi Thế Cường và Vũ Mạnh Lợi2 TÓM TẮT
Dựa trên Bộ số liệu của Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1999 và 2009, bài viết mô tả trạng thái
và sự tiến hóa của cơ cấu xã hội dựa trên nghề ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 1999-2009 xét theo khác biệt đô thị - nông thôn và tiểu vùng địa lý
Từ khóa: cơ cấu xã hội, cơ cấu nghề, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
1 MỞ ĐẦU
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là khu vực phát triển kinh tế-xã hội hơn so với các vùng khác trên cả nước Trong vùng này, Đông Nam Bộ là khu vực phát triển cốt lõi Trình độ phát triển kinh tế-xã hội phản ánh trong hình dạng cơ cấu xã hội dựa trên nghề Bài viết mô tả trạng thái và sự tiến hóa của cơ cấu xã hội dựa trên nghề ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 1999-2009 Bài viết là một kết quả của Đề tài cấp Nhà nước “Chuyển dịch cơ cấu xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020” (Mã số KX 02.20/11-15) Sau mục mở đầu, bài viết giới thiệu nguồn dữ liệu, đặc điểm địa bàn nghiên cứu, và khung phân tích Nội dung chính trình bày trong mục 5, mô tả trạng thái
và sự biến đổi của cơ cấu xã hội dựa trên nghề giai đoạn 1999-2009 trên toàn vùng cũng như trong các tiểu vùng và theo đô thị-nông thôn Phụ lục gồm 6 bảng thống kê
2 NGUỒN DỮ LIỆU
Phân tích trong bài viết dựa trên Bộ số liệu của Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1999 và 2009
Bộ số liệu kiểu tương tự mới nhất là Điều tra Dân số giữa kỳ 2014, hiện chưa được tiếp cận công khai rộng rãi Do đó, cho đến nay Bộ số liệu Tổng Điều tra dân số và nhà ở 2009 vẫn được xem là cơ sở dữ liệu mới cho các phân tích học thuật Thêm nữa, số liệu điều tra dân số
có độ tin cậy và hiệu lực cao, vì nó không phải là khảo sát chọn mẫu mà là điều tra tổng thể
3 VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM
Ngày 23/2/1998, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 44/1998/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 1999-2010 Theo đó, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm 4 tỉnh: Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương và TPHCM Ngày 20-21/6/2003, trong Hội nghị các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía
1 Đã in trong: Lê Thanh Sang (Chủ biên) 2017 Quan hệ nông thôn – thành thị trong phát triển bền vững vùng Đông Nam Bộ Kỷ yếu Hội thảo Khoa học quốc gia Nxb Khoa học xã hội Trang 252-268 ISBN 978-604-944-908-6
2 Bùi Thế Cường, GS TS Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam cuongbuithe@yahoo.com Vũ Mạnh Lợi, PGS TS Viện Xã hội học Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam vumanhloi@gmail.com
Trang 22
Nam, Thủ tướng Chính phủ quyết định đưa thêm Tây Ninh, Bình Phước và Long An vào vùng Tháng 9/2005, Chính phủ quyết định bổ sung Tiền Giang Kết quả, hiện nay Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam bao gồm 8 tỉnh thành, trong đó có 6 tỉnh thành Đông Nam Bộ và 2 tỉnh Tây Nam Bộ Như vậy, cần lưu ý trong bài viết này khi nói về Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
ở thời điểm 1999, thì trên thực tế đang nói về thực thể địa lý gồm 8 tỉnh thành mà chỉ sau 2003
và 2005 mới thuộc vùng nói trên theo quy định hành chính (Bùi Thế Cường, 2016)
Mức đô thị hóa ở Đông Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cao hơn hẳn cả nước
Có thể nhận biết đặc điểm này qua tỷ lệ các đơn vị hành chính cơ sở đô thị và tỷ lệ dân số đô thị
Bảng 1 cho thấy, năm 2005, tỷ lệ các đơn vị hành chính cơ sở đô thị (phường, thị trấn) trên cả nước chiếm 16,6% so với tổng số đơn vị hành chính cơ sở Con số này ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là 33,9% và ở Đông Nam Bộ là 42,9% Năm 2014, ba con số trên lần lượt là 19,4%, 37,3% và 46,7% Tuy việc chuyển đổi tính chất đô thị - nông thôn về mặt hành chính phản ánh không hoàn toàn chính xác quá trình đô thị hóa thực, song những con số trên phần nào cho thấy mức đô thị hóa cao ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và nhất là Đông Nam
Bộ so với cả nước Tương quan giữa các tỷ lệ đơn vị hành chính cơ sở đô thị nói trên không thay đổi nhiều trong giai đoạn 2005-2014 Năm 2005, tỷ lệ đơn vị hành chính cơ sở đô thị ở Đông Nam Bộ cao gấp 2,6 lần so với cả nước (42,9% so với 16,6%) Năm 2014, con số này là 2,4 lần (46,7% so với 19,4%)
Tương tự, Bảng 2 cho thấy năm 2000, tỷ lệ dân số đô thị ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
là 46,7% còn ở Đông Nam Bộ là 55,7% Năm 2010, con số ấy là 50,0% và 57,3% Năm 2014,
tỷ lệ dân số đô thị ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là 54,5%, trong khi trên cả nước chỉ là 33,1% Tỷ trọng đô thị ở hai vùng này là một chỉ số tác động không thể bỏ qua khi xem xét các đặc điểm xã hội khác
4 KHUNG PHÂN TÍCH
Chúng tôi sử dụng thuật ngữ “cơ cấu xã hội dựa trên nghề” hoặc đơn giản là “cơ cấu nghề” để nói về tỷ lệ định lượng của các nhóm nghề trong tổng thể Thuật ngữ “cơ cấu (phân) tầng xã hội dựa trên nghề” nói đến tỷ lệ định lượng của 4 tầng xã hội dựa trên nghề Tuy nhiên, để đơn giản hóa, nhìn chung chúng tôi sử dụng thuật ngữ “cơ cấu xã hội dựa trên nghề” để nói cả về
cơ cấu nhóm nghề cũng như cơ cấu tầng xã hội dựa trên nghề
Danh mục nghề trong Bộ số liệu của Tổng Điều tra dân số và nhà ở đã được ấn định gồm 10 nhóm nghề: 1) Lực lượng vũ trang, 2) Lãnh đạo, 3) Chuyên môn bậc cao, 4) Chuyên môn bậc trung, 5) Nhân viên văn phòng, 6) Dịch vụ bán hàng, 7) Lao động kỹ năng nông nghiệp, 8) Thủ công nghiệp, 9) Vận hành máy móc, 10) Lao động giản đơn
Chúng tôi gom 10 nghề trên thành 4 tầng xã hội dựa trên nghề Đó là: Tầng trên (gồm các nhóm nghề 1, 2 và 3: Lực lượng vũ trang, Lãnh đạo, Chuyên môn bậc cao), Tầng giữa trên (gồm các nhóm nghề 4, 5, và 6: Chuyên môn bậc trung, Nhân viên văn phòng, Dịch vụ bán hàng), Tầng giữa dưới (gồm các nhóm nghề 7, 8 và 9: Lao động kỹ năng nông nghiệp, Thủ công nghiệp, Vận hành máy móc), và Tầng dưới (nhóm nghề thứ 10: Lao động giản đơn)
Người ta thường nói đến dạng kim tự tháp (pyramid) và dạng thoi của cơ cấu (phân tầng) xã hội, trong đó dạng thoi được xem là tiến bộ hơn/ đáng mong đợi hơn, vì nó thể hiện trạng thái phần đông người lao động tập trung ở các nhóm nghề có học vấn hơn, có kỹ năng hơn, điều
Trang 33
kiện lao động tốt hơn, và được trả công cao hơn Trong bài, chúng tôi nói đến hình Kim tự tháp dạng 1 khi Tầng dưới chiếm tỷ lệ 60% dân cư lao động trở lên Kim tự tháp dạng 2 nếu Tầng dưới giảm xuống dưới 60% Hình Thoi dạng 1 nếu nửa dưới (Tầng giữa dưới cộng Tầng dưới)
có tỷ lệ hơn 50% Hình Thoi dạng 2 nếu nửa dưới kém hơn 50% Như vậy, sự tiến hóa của cơ cấu xã hội theo hướng tiến bộ hơn/ đáng mong muốn hơn sẽ là trình tự đi từ Kim tự tháp 1 đến Kim tự tháp 2, rồi đến Thoi 1 và Thoi 2
Cơ sở số liệu đưa vào phân tích là toàn bộ người từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm điều tra
Ngày 13/2/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 252/QĐ-TTg Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Theo đó, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 4 tiểu vùng: TPHCM, Tiểu vùng Đông Bắc (Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu), Tiểu vùng Tây Bắc (Tây Ninh, Bình Phước), và Tiểu vùng Tây Nam (Long An, Tiền Giang) (Thủ tướng Chính phủ, 2014a)
Trong bài, chúng tôi sẽ kết hợp phân tích theo lát cắt đô thị - nông thôn và theo lát cắt 3 tiểu vùng Ba tiểu vùng là: TPHCM, Tiểu vùng 2 gồm Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu (tương đương Tiểu vùng Đông Bắc trong Quy hoạch), và Tiểu vùng 3 gồm Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang (tương đương Tiểu vùng Tây Bắc và Tây Nam trong Quy hoạch)
5 ĐỊA LÝ HỌC CỦA BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI DỰA TRÊN NGHỀ
5.1 Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Bảng 3 cho thấy vào năm 1999, tháp phân tầng xã hội dựa trên nghề ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vẫn còn mang hình kim tự tháp nhưng đã ở dạng 2, với tỷ lệ từ tầng trên đến tầng dưới lần lượt là 3,3%, 17,7% 33,9% và 45,0% Khu vực đô thị của vùng đã mang dạng thoi 1, khu vực nông thôn còn ở dạng kim tự tháp 1 nhưng đã gần chuyển sang dạng 2 vì tỷ lệ tầng dưới là 63,2% Như vậy, vẫn có tương phản rõ rệt theo đô thị-nông thôn
Đến 2009, tháp phân tầng xã hội dựa trên nghề của vùng đã biến đổi hoàn toàn Nó chuyển từ dạng kim tự tháp 2 sang dạng thoi 1 với tỷ lệ từ tầng trên đến tầng dưới là 7,2%, 26,4%, 43,3%
và 23,0% Ngay cả khu vực nông thôn cũng đã tiến hóa sang dạng thoi 1, với tỷ lệ các tầng là 2,3%, 17,5%, 46,0% và 34,3% Còn ở khu vực đô thị thì hình thoi năm 1999 đầu nhỏ hơn đáy
và nửa trên nhỏ hơn nửa dưới đã tiến hóa thành hình thoi năm 2009 đầu to hơn đáy và nửa trên xấp xỉ nửa dưới, tức từ dạng thoi 1 sang thoi 2
Như vậy, vào thời điểm nào đó trong thập niên 1990 tháp phân tầng xã hội dựa trên nghề ở đô thị Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã diễn ra bước ngoặt biến đổi từ dạng kim tự tháp sang dạng thoi Trong thập niên 2000, tháp ấy tiếp tục tiến hóa mạnh ở đô thị, còn ở nông thôn vào một thời điểm nào đó ở thập niên này đã diễn ra bước ngoặt chuyển từ dạng kim tự tháp sang dạng thoi, giống ở đô thị thập niên trước đó
Xét cơ cấu nghề, nhóm công nhân có kỹ năng (lao động nông nghiệp có kỹ năng, thợ thủ công, vận hành máy móc) xấp xỉ 1/3 trong giai đoạn 1999-2009 Nhóm chuyên môn bậc cao và bậc trung tăng đáng kể (6,4% lên 10,9%) Nhóm dịch vụ bán hàng cũng tăng mạnh (12,4% lên 19,3%) Còn nhóm lao động giản đơn giảm mạnh (từ 45,0% xuống 23,0%) Dĩ nhiên, các nhóm nghề lãnh đạo, chuyên môn, văn phòng, bán hàng vẫn tập trung ở đô thị
Trang 44
5.2 Tiểu vùng Thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 4 cho thấy cơ cấu xã hội dựa trên nghề ở TPHCM có dạng tiến hóa hơn cả so với hai tiểu vùng còn lại Ngay từ 1999, nó đã có dạng thoi 1, trong đó tỷ lệ tầng trên và tầng giữa trên khá cao (6,4% và 26,3%), còn tỷ lệ tầng dưới là 23,8% Nhưng khu vực nông thôn vẫn có dạng kim
tự tháp 2 (trong khi ở Tiểu vùng 2 Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu khu vực nông thôn đã có dạng thoi từ 1999)
Năm 2009, cấu hình xã hội dựa trên nghề ở TPHCM tiếp tục tiến hóa mạnh, nhờ mức tăng gấp đôi ở tầng trên (6,4% lên 12,8%), tăng 9,3 điểm phần trăm ở tầng giữa trên (26,3% lên 35,6%),
và giảm 2,5 lần ở tầng dưới (23,8% xuống 9,5%) Khu vực nông thôn có bước ngoặt mạnh, từ dạng kim tự tháp 2 năm 1999 sang dạng thoi 1 năm 2009 Trong đó, tầng trên tăng hơn hai lần (1,8% lên 3,8%), tầng giữa trên tăng gần gấp đôi (14,8% lên 28,2%), tầng giữa dưới tăng 18,2 điểm phần trăm, và tầng dưới giảm 3,8 lần (45,8% xuống còn 12,1%) Điều này một phần do thay đổi cơ cấu nghề, nhưng phần lớn do mức đô thị hóa, diễn ra xu hướng nhiều người ở tầng trên chuyển ra sống xa trung tâm thành phố
5.3 Tiểu vùng 2 Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu
Bảng 5 cho thấy ngay từ 1999, cơ cấu xã hội dựa trên nghề ở Tiểu vùng 2 đã mang dạng thoi
1, tỷ lệ từ tầng trên đến tầng dưới lần lượt là 2,2%, 15,2%, 50,3% và 32,4% Khu vực nông thôn của tiểu vùng cũng có dạng thoi 1 từ 1999 Năm 2009, dạng thoi tiếp tục tiến hóa, cả ba tầng phía trên tăng rõ rệt, còn tầng dưới giảm hai lần Song, vẫn ở dạng thoi 1, vì Tiểu vùng 2 tập trung các khu công nghiệp có nhiều công nhân sản xuất
Xét theo nghề cụ thể, các nghề chuyên môn và văn phòng tăng rõ rệt Nghề dịch vụ bán hàng tăng từ 10,3% lên 16,1%, phản ánh sự phát triển của thương mại Đặc biệt công nhân vận hành máy móc tăng gấp 5 lần (từ 4,6% lên 22,8%), phản ánh sự tăng trưởng của khu vực chế tác công nghiệp (manufacturing)
5.4 Tiểu vùng 3 Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang
Bảng 6 cho thấy trong giai đoạn 1999-2009 cơ cấu phân tầng xã hội Tiểu vùng 3 vẫn kẹt lại ở hình kim tự tháp, nhưng thay đổi đáng kể Năm 1999 ở Tiểu vùng 3 tỷ lệ tầng trên đến tầng dưới lần lượt là 1,2%, 11,3%, 13,6% và 73,9% Đây là dạng điển hình của một cơ cấu xã hội dựa trên nghề kém phát triển, khi tầng đáy chiếm tỷ lệ gần ¾, do đó là kim tự tháp 1 Khu vực
đô thị của tiểu vùng vào năm 1999 có dạng kim tự tháp 2
Năm 2009 Tiểu vùng 3 đã chuyển sang dạng kim tự tháp 2, với những biến đổi đáng kể Tỷ lệ tầng trên đến tầng dưới lần lượt là 2,8%, 17,7%, 31,2% và 48,3% Cả ba tầng phía trên tăng rõ rệt, trong khi tầng dưới giảm tới 25,6 điểm phần trăm Vào thời điểm nào đó trong giai đoạn 1999-2009 khu vực đô thị của tiểu vùng đã chuyển từ dạng kim tự tháp 2 sang gần đạt tới dạng thoi 2 (tỷ lệ 2 tầng dưới là 52,4%) Khu vực nông thôn đã chuyển từ dạng kim tự tháp 1 sang dạng 2, tỷ lệ tầng giữa dưới tăng gần ba lần (11,4% lên 31,0%), và tầng dưới giảm tới 26,6 điểm phần trăm
5 5 Nhận xét chung
Trang 55
Sơ đồ 1 tóm tắt sự tiến hóa trong cấu hình phân tầng xã hội dựa trên nghề ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Cơ cấu xã hội dựa trên nghề ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã tiến hóa
rõ rệt trong giai đoạn 1999-2009, xét toàn vùng cũng như xét theo lát cắt đô thị-nông thôn và tiểu vùng địa lý
Hình 1 mô tả biến đổi trong khác biệt đô thị-nông thôn và khác biệt tiểu vùng giai đoạn
1999-2009, bằng cách trình bày chênh lệch điểm phần trăm trong mỗi tầng xã hội tại hai thời điểm Nhìn chung, phần lớn dân cư thuộc ba tầng phía trên sống ở đô thị, phần lớn dân cư thuộc tầng dưới sống ở nông thôn
Hình 1a trình bày biến đổi trong khác biệt đô thị-nông thôn trên toàn Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giữa 1999 và 2009 Theo đó, chênh lệch đô thị-nông thôn trong tỷ lệ của tầng trên
đã tăng từ 5,6 điểm phần trăm lên 10,6 điểm phần trăm, một mức tăng chênh lệch đáng kể Nhưng chênh lệch đô thị-nông thôn trong tỷ lệ của tầng dưới đã giảm mạnh, từ 41,4 điểm phần trăm năm 1999 xuống còn 24,1 điểm phần trăm Tương tự, năm 1999 tỷ lệ tầng giữa dưới ở đô thị cao hơn ở nông thôn tới 17,1 điểm phần trăm, nhưng năm 2009 tỷ lệ tầng giữa dưới ở đô thị thấp hơn ở nông thôn tới 5,7 điểm phần trăm Điều này cho thấy tiến bộ ở nông thôn so với
đô thị trong cơ cấu xã hội dựa trên nghề, giảm mạnh chênh lệch tỷ lệ tầng dưới (lao động giản đơn) và tầng giữa dưới (công nhân cổ xanh: lao động có kỹ năng trong công nghiệp và nông nghiệp)
Hình 1b trình bày biến đổi trong khác biệt giữa TPHCM và Tiểu vùng 3, còn Hình 1c là giữa Tiểu vùng 2 và Tiểu vùng 3, giai đoạn 1999 và 2009 Nhìn chung, từ 1999 đến 2009, chênh lệch trong tỷ lệ tầng trên và tầng giữa trên của TPHCM và Tiểu vùng 2 so với Tiểu vùng 3 đều tăng lên, nhất là tầng trên Nhưng chênh lệch ở tầng giữa dưới và tầng dưới đã giảm ở mức nhất định, xấp xỉ 10 điểm phần trăm Đặc biệt, so sánh TPHCM với Tiểu vùng 3, chênh lệch ở tầng giữa dưới giai đoạn 1999-2009 đã giảm tới 19 điểm phần tram (29,9% xuống còn 10,9%) Như vậy, khoảng cách đô thị-nông thôn và giữa ba tiểu vùng trong giai đoạn 1999-2009 đã thu hẹp đáng kể, nhưng vẫn còn những khác biệt rõ rệt
Sơ đồ 1 Chuyển dịch cơ cấu phân tầng xã hội dựa trên nghề ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam theo đô thị-nông thôn và tiểu vùng, 1999-2009
A Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Kim tự tháp 2 >>>>>> Thoi 1
2 Nông thôn Kim tự tháp 1 >>>>>> Thoi 1
B Thành phố Hồ Chí Minh Thoi 1 >>>>>> Thoi 2
2 Nông thôn Kim tự tháp 2 >>>>>> Thoi 1
C Tiểu vùng 2 Thoi 1 >>>>>> Thoi 1
2 Nông thôn Thoi 1 >>>>>> Thoi 1
D Tiểu vùng 3 Kim tự tháp 1 >>>>>> Kim tự tháp 2
1 Đô thị Kim tự tháp 2 >>>>>> Thoi 1
2 Nông thôn Kim tự tháp 1 >>>>>> Kim tự tháp 2 Nguồn: Bùi Thế Cường, 2016
Chú thích: Kim tự tháp 1 khi tầng dưới chiếm 60% trở lên; Kim tự tháp 2 khi tầng dưới ít hơn 60% Thoi 1 khi nửa dưới (tầng giữa dưới cộng tầng dưới) hơn 50%; Thoi 2 khi nửa dưới ít hơn 50%
Trang 66
Tầng trên
Tầng giữa trên
Tầng giữa dưới
Tầng dưới
Hình 1a So sánh đô thị nông thôn, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Tầng trên
Tầng giữa trên
Tầng giữa dưới
Tầng dưới
Hình 1b So sánh TPHCM và Tiểu vùng 3
Tầng trên
Tầng giữa trên
Tầng giữa dưới
Tầng dưới
Hình 1c So sánh Tiểu vùng 2 và Tiểu vùng 3 Hình 1 Chênh lệch điểm % giữa đô thị với nông thôn và giữa các tiểu vùng trong mỗi tầng
xã hội dựa trên nghề, 1999-2009
-24.1
-5.7
19.1 10.6
-41.4
17.1 18.8 5.6
Đô thị 1999 - Nông thôn 1999 Đô thị 2009 - Nông thôn 2009
-38.8
10.9 17.9 10
-50.1
29.9 15
5.2
TPHCM 1999 - Tiểu vùng 3 1999 TPHCM 2009 - Tiểu vùng 3 2009
-33.8
26.5 5.6
1.7
-41.5
36.7 3.9
1
Tiểu vùng 2 1999 - Tiểu vùng 3 1999 Tiểu vùng 2 2009 - Tiểu vùng 3 2009
Trang 77
6 KẾT LUẬN
Phân tích số liệu Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1999 và 2009 cho thấy, chỉ trong vòng 10 năm,
cơ cấu xã hội dựa trên nghề ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã chuyển dịch mạnh, mang tính bước ngoặt, ở cấp độ toàn vùng cũng như ở cấp độ khu vực (đô thị-nông thôn) và tiểu vùng Điều này phản ánh sự phát triển kinh tế thông qua biến đổi cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa và đô thị hóa
Phân tích cũng cho thấy, xét về cơ cấu xã hội dựa trên nghề trong giai đoạn 1999-2009, tương quan đô thị-nông thôn và tiểu vùng ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã có những thay đổi
rõ theo hướng thu hẹp khoảng cách, song vẫn còn những khác biệt đáng kể, thậm chí khác biệt tăng lên ở một số khía cạnh
Nhìn lại những văn bản chính sách của Nhà nước về các vùng kinh tế trọng điểm ta thấy đều nêu rõ mục tiêu giảm khác biệt đô thị-nông thôn và giữa các tiểu vùng trong các vùng kinh tế trọng điểm Nhưng các quy hoạch vùng đều nhấn mạnh mục tiêu tăng cường xây dựng cơ sở
hạ tầng công nghiệp, tăng trưởng kinh tế, thay đổi cấu trúc kinh tế theo hướng thúc đẩy khu vực chế tác, thương mại và dịch vụ, mở rộng đô thị hóa (Thủ tướng Chính phủ, 2014a, 2014b) Những mục tiêu khác nhau như thế tác động một cách trái chiều đến khác biệt đô thị-nông thôn
và tiểu vùng
Có khả năng, trong 10 năm tới, mức phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn cũng như ở Tiểu vùng 3 của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam sẽ tiếp tục cải thiện đáng kể Tuy nhiên, khác biệt giữa trung tâm và ngoại vi của vùng này sẽ đi theo xu hướng nào, thu hẹp hay mở rộng khoảng cách? Đây còn là câu hỏi ngỏ chưa có trả lời rõ ràng, vì phụ thuộc vào những cam kết chính sách đủ mạnh và hiệu quả trong việc tăng cường xu hướng phát triển mang tính bao trùm
và cân bằng
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
Bùi Thế Cường 2016 Báo cáo tổng hợp Đề tài “Chuyển dịch cơ cấu xã hội trong phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020”, Mã số: KX.02.20/11-15 TPHCM: Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ
Thủ tướng Chính phủ 2014a Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Số 252/QĐ-TTg Hà Nội ngày 13/02/2014
Thủ tướng Chính phủ 2014b Quyết định ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận Số 27-KL/TW ngày 2 tháng 8 năm 2012 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Số 53-NQ/TW ngày 29 tháng 8 năm 2005 của Bộ Chính trị Khóa IX đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020 Số 275/QD-TTg ngày 18/2/2014
Tổng cục Thống kê 1999 Bộ số liệu Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1999 Hà Nội
Tổng cục Thống kê 2009 Bộ số liệu Tổng Điều tra dân số và nhà ở 2009 Hà Nội
Tổng cục Thống kê 2001 Niên giám thống kê 2000 Hà Nội: Nxb Thống kê
Trang 88
Tổng cục Thống kê 2006 Niên giám thống kê 2005 Hà Nội: Nxb Thống kê
Tổng cục Thống kê 2011 Niên giám thống kê 2010 Hà Nội: Nxb Thống kê
Tổng cục Thống kê 2015 Niên giám thống kê 2014 Hà Nội: Nxb Thống kê
CHÚ THÍCH
Bài viết là một kết quả của Đề tài cấp Nhà nước “Chuyển dịch cơ cấu xã hội trong phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020” (Mã số
KX 02.20/11-15) Các tác giả cảm ơn sự hỗ trợ của Bộ Khoa học và công nghệ, cơ quan tài trợ cho Đề tài, cảm ơn sự giúp đỡ của Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, cơ quan chủ trì Đề tài
Trang 99
PHỤ LỤC
Bảng 1 Đơn vị hành chính các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam 2005-2014
phố thuộc tỉnh
Hành chính cấp trên cơ sở Hành chính cấp cơ sở Quận Thị xã Huyện Phường Thị
trấn Xã
A 2005
B 2010
C 2014
Nguồn: Tổng cục Thống kê Niên giám thống kê 2005, 2010, 2014
Trang 1010
Bảng 2 Dân số theo giới và khu vực, các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, 2000-2014, ngàn người
A 2000
Đông Nam Bộ 10486,0 5129,4 5356,7 5839,8 4646,2
B 2005
Đông Nam Bộ 11747,2 5742,5 6004,8 6712,6 5034,6
C 2010
Đông Nam Bộ 14480,3 7034,0 7446,4 8298,6 6181,6
D 2014
Đông Nam Bộ 15790,3 7655,3 8135,4 9893,8 5896,5
Nguồn: Tổng cục Thống kê Niên giám thống kê 2000, 2014