Dựa trên vi ệc phân tích bộ số liệu của ba cuộc khảo sát định lượng nói trên, bài viết mô tả cơ vùng nói trên thu ộc Nam Bộ.. Trong những năm 1960-1980 ở miền Bắc, các tài liệu liên qu
Trang 1CƠ CẤU GIAI TẦNG XÃ HỘI, THU NHẬP VÀ
XU HƯỚNG CẢI THIỆN ĐỜI SỐNG Ở NAM BỘ
SOCIAL STRATIFICATION, INCOME AND TRENDS OF LIVING CHANGE
IN THE SOUTHERN REGION OF VIETNAM -
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và Đại học Quốc gia Hà Nội 2013 Việt Nam
125-137.1
Bùi Thế Cường2
TÓM TẮT
Trong th ời gian 2008-2010, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ đã thực hiện ba cuộc
2008 cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long có cỡ mẫu 900 hộ gia đình sinh sống tại 30 xã phường Khảo sát thứ hai tiến hành năm 2010 cho khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có
năm 2010 cho vùng Đông Nam Bộ có cỡ mẫu 1.080 hộ gia đình sinh sống tại 30 xã phường Như vậy, ba cuộc khảo sát đã tạo nên bộ số liệu gồm 3.060 hộ gia đình sinh
đại diện cho ba tiểu vùng của Nam Bộ Bảng hỏi bao gồm hơn 40 câu hỏi tổng hợp Dựa
trên vi ệc phân tích bộ số liệu của ba cuộc khảo sát định lượng nói trên, bài viết mô tả cơ
vùng nói trên thu ộc Nam Bộ
During the period 2008-2010, the Southern Institute of Social Sciences conducted three social surveys in the Southern Region (Nam Bo) The first survey was conducted in 2008
in the Mekong Delta It consists of 900 households living in 30 communes or wards The second survey was conducted in 2010 in Ho Chi Minh City It consists of 1.080 households living in 30 communes or wards The third survey was conducted in 2010 in the South-Eastern Region It consists of 1.080 households living in 30 communes or wards Totally, three surveys include 3.060 households living in 90 communes or wards There are approximately more than 40 questions in the questionnaires Based on the analysis of the data sets of these surveys this paper draws the structure of the social strata in the Southern Region (Nam Bo), their income and trends of the living betterment
Trang 21 MỞ ĐẦU
Từ lâu, nhiều nhà chính trị và nghiên cứu ở Việt Nam đã quan tâm đến cơ cấu giai tầng
xã hội Truyền thống mác xít ở Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về cơ cấu và giai tầng xã
hội với những công trình của Nguyễn Ái Quốc (Bản án chế độ thực dân Pháp công bố năm 1925), của Qua Ninh và Vân Đình (Vấn đề dân cày xuất bản năm 1938)
Trong những năm 1960-1980 ở miền Bắc, các tài liệu liên quan đến cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội chủ yếu dựa trên khung phân tích mang tính xô viết chính thống hoặc mao ít (hai giai cấp và một tầng lớp chủ yếu, bên cạnh đó là một số nhóm xã hội)
Bước sang thời kỳ Đổi Mới, nghiên cứu về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội ở Việt Nam
có diện mạo mới Nhiều đề tài nhà nước do một số cơ quan khoa học xã hội quốc gia chủ trì đã tập trung vào chủ đề này (Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị-hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận trung ương) Phần lớn các đề tài này đều
có nội dung nghiên cứu lý luận và điều tra thực nghiệm Bên cạnh những đề tài lớn cấp
quốc gia và cấp trung mô, cũng xuất hiện những bài viết của hàng loạt nhà triết học và xã
hội học, những luận văn luận án sau đại học trong triết học, kinh tế học và xã hội học về
cơ cấu và giai tầng xã hội Về mặt điều tra thực nghiệm, phần lớn các đề tài đều chỉ tiến hành những khảo sát định lượng cỡ mẫu nhỏ (Trịnh Duy Luân 1992 Tương Lai 1995 Lê Văn Toàn 2011)
Những cuộc Khảo sát định lượng mức sống dân cư (VLSS) bắt đầu từ 1993 và định kỳ cho đến nay (phối hợp giữa Ngân hàng thế giới và Tổng cục thống kê) là một ngoại lệ
Bộ số liệu của các cuộc khảo sát này có chất lượng cao, thủ tục chọn mẫu đại diện quốc gia Một số nhà nghiên cứu đã sử dụng chúng để phân tích về phân tầng xã hội (Đỗ Thiên Kính 2002 và 2011 Bùi Thế Cường 2010c Lê Văn Toàn 2011) Song, tiềm năng của các
bộ số liệu này chưa được khai thác đầy đủ
Trong kế hoạch nghiên cứu 10 năm 2006-2015, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ chú trọng tiến hành quan trắc về động thái cơ cấu giai tầng xã hội ở vùng Nam Bộ Bài viết trình bày một số kết quả nghiên cứu định lượng của Viện về chủ đề này
2 NGUỒN DỮ LIỆU
Từ năm 2008 đến 2010, Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ đã tiến hành ba cuộc
khảo sát quy mô lớn về giai tầng xã hội, phúc lợi và văn hóa trên ba khu vực của Nam
Bộ: Đông Nam Bộ, TPHCM và Đồng bằng sông Cửu Long Tổng cộng, ba cuộc khảo sát
đã cử điều tra viên trực tiếp đến tận nhà phỏng vấn đại diện của 3.060 hộ gia đình tại 90
xã phường Số xã phường này được chọn theo thủ tục xác suất ngẫu nhiên, vì thế có độ phân tán cao và mang tính đại diện cho vùng Nam Bộ (Trần Đan Tâm 2010) Bảng hỏi bao gồm hơn 40 câu hỏi tổng hợp (khoảng 400 câu hỏi chi tiết) Bộ số liệu của ba cuộc
khảo sát này có tiềm năng lớn về thông tin, tri thức và tư vấn chính sách
Trang 3Bên cạnh ba cuộc khảo sát này, năm 2010 Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ còn
tiến hành một cuộc khảo sát tương tự riêng cho tỉnh Vĩnh Long Thủ tục chọn mẫu xác
suất riêng cho Vĩnh Long dẫn đến tạo ra một bộ số liệu gồm 1.050 hộ gia đình tại 30 xã phường của Vĩnh Long (Bùi Thế Cường 2011b)
Dựa trên các bộ số liệu nói trên, bài viết này nêu lên một vài kết quả về cơ cấu giai tầng
xã hội ở ba khu vực của Nam Bộ Trong bài viết, tác giả sử dụng địa danh Tây Nam Bộ
và Đồng bằng sông Cửu Long thay thế nhau để chỉ cùng một vùng sinh thái đã được Nhà nước quy định chính thức Tuy nhiên, địa danh Đông Nam Bộ ở đây không bao gồm TPHCM như quy định chính thức, do trong các cuộc khảo sát của chúng tôi đã tách TPHCM riêng để nghiên cứu Nói cách khác, trong hệ thống khảo sát định lượng và định tính ở Nam Bộ của Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ, chúng tôi phân chia thành ba vùng: Đông Nam Bộ, TPHCM và Tây Nam Bộ (hay còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long)
Cần lưu ý khảo sát ở Đông Nam Bộ, TPHCM và Vĩnh Long diễn ra cùng năm 2010, nhưng cuộc khảo sát ở Tây Nam Bộ diễn ra năm 2008 Do đó, khi so sánh cần tính đến sự khác nhau về thời gian Thêm nữa, cần chú ý rằng cuộc khảo sát diễn ra trong những năm 2008-2010 Đây là thời gian mà cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới chưa thực sự ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế Việt Nam do độ trễ trong sự lan tỏa của khủng hoảng Kết
quả tự đánh giá của các hộ gia đình chắc sẽ khác nhiều nếu cuộc khảo sát được tiến hành trong năm nay, 2012
Ngoài ra, cần lưu ý đến một hạn chế nữa của bộ số liệu Đó là, trong khi thủ tục chọn
mẫu đạt độ tin cậy cao (reliable), thì do kinh phí có hạn nên quy mô mẫu không thực sự
đủ lớn, ảnh hưởng đến tính hiệu lực (valid)
3 CƠ CẤU GIAI TẦNG XÃ HỘI Ở NAM BỘ
3.1 CƠ CẤU GIAI TẦNG Ở VIỆT NAM
Gần đây, ở Việt Nam có hai công trình đáng chú ý về phân tầng xã hội của Lê Văn Toàn (2011) và Đỗ Thiên Kính (2012) Hai công trình này phân tích khá toàn diện về những khía cạnh khác nhau của cơ cấu giai tầng xã hội ở Việt Nam Dựa trên các bộ số liệu các
cuộc điều tra mức sống dân cư do Tổng cục Thống kê tiến hành, Đỗ Thiên Kính và Lê Văn Toàn tính toán tỷ lệ của 9 tầng lớp trong xã hội Việt Nam hiện nay Đó là các tầng
lớp: 1 lãnh đạo, quản lý; 2 doanh nhân; 3 chuyên môn bậc cao; 4 nhân viên; 5 buôn bán, dịch vụ; 6 công nhân, lao động kỹ thuật; 7 tiểu thủ công nghiệp; 8 lao động giản đơn; 9 nông dân
Biểu đồ 1 trình bày hình dạng cơ cấu giai tầng xã hội ở Việt Nam theo phân tích của Lê Văn Toàn Khác biệt giữa hai tác giả có thể là do cấp độ phân tích của Đỗ Thiên Kính là
Trang 4giai tầng của Việt Nam có hình kim tự tháp: tầng trên chiếm 4,7% dân số, tầng giữa chiếm 27,6%, tầng dưới chiếm 63,3% Đây là biểu hiện của một cơ cấu kinh tế-xã hội
một nước đang phát triển
Tầng trên (1+2+3) Tầng giữa (4+5+6+7) Tầng dưới (8+9)
Biểu đồ 1 Cơ cấu giai tầng ở Việt Nam, VHLSS 2008, %
Nguồn: Lê Văn Toàn 2011, trang 129
Chú thích: 3 tầng bao gồm 9 tầng lớp (đánh số từ 1 đến 9) nêu ở trên
3.2 KHUNG PHÂN LOẠI CƠ CẤU GIAI TẦNG XÃ HỘI
Dựa trên Hệ thống danh mục nghề nghiệp của Việt Nam, các cuộc khảo sát của chúng tôi
đã đưa ra một khung gồm 10 nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp sau đây (Bùi Thế Cường và
Lê Thanh Sang 2010; Lê Thanh Sang và Nguyễn Thị Minh Châu 2012):
1 Nhóm “Lãnh đạo đảng, chính quyền, đoàn thể, cơ quan sự nghiệp” bao gồm những người có chức vụ quản lý ở cấp cơ sở trở lên
2 Nhóm “Quản lý công ty” bao gồm những người có chức danh trưởng phó phòng trở lên
3 Nhóm “Chuyên viên kỹ thuật bậc trung, cao”
4 Nhóm “Chủ tư nhân” bao gồm những người chủ các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ
5 Nhóm “Nông dân lớp trên”, bao gồm những người có nhiều ruộng đất, là lao động có
kỹ thuật trong nông lâm ngư nghiệp, có ruộng đất bình quân nhân khẩu hộ 5.000m2
trở lên
6 Nhóm “Công nhân, thợ thủ công lành nghề” bao gồm thợ thủ công có kỹ thuật, thợ có
kỹ thuật lắp ráp và vận hành máy, thiết bị
7 Nhóm “Nhân viên thương mại dịch vụ” gồm những người làm việc ăn lương trong các cơ sở thương mại, dịch vụ
Trang 58 Nhóm “Nông dân lớp giữa”, bao gồm những người có mức ruộng đất trung bình, là lao động có kỹ thuật trong nông lâm ngư nghiệp, có ruộng đất bình quân nhân khẩu
hộ 1.000-5.000 m2
9 Nhóm “Nông dân lớp dưới”, bao gồm những người ít hoặc không có đất, là lao động
có kỹ thuật trong nông lâm ngư nghiệp, có ruộng đất bình quân nhân khẩu hộ dưới 1.000 m2
10.Nhóm “Lao động giản đơn” gồm nông dân làm thuê ở nông thôn và lao động làm thuê
Các nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp nói trên được tập hợp vào ba giai tầng, trong đó tầng trên gồm các nhóm 1 đến 5, tầng giữa gồm các nhóm 6 đến 8, tầng dưới gồm nhóm 9 và
10 (Xem Bảng 2 Phụ Lục)
3.3 HÌNH DẠNG CƠ CẤU GIAI TẦNG XÃ HỘI Ở NAM BỘ
Với cách phân loại nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp và giai tầng như trên, cơ cấu giai tầng
xã hội ở Nam Bộ có hình dạng như thế nào? Bảng 3 và Bảng 4 (Phụ Lục) mô tả hình
dạng cơ cấu nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp và giai tầng của ba khu vực ở Nam Bộ Nhìn vào khu vực Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long), ta thấy cơ cấu giai tầng có hình con quay thuận (phình ở giữa, đầu trên nhỏ hơn đầu dưới): các hộ gia đình phân bố vào
tầng trên là 17%, tầng giữa 51%, tầng dưới gần 32% Đông Nam Bộ cũng có cơ cấu xã
hội theo hình dạng này Nhưng TPHCM tương phản với hai vùng nói trên Cơ cấu xã hội TPHCM có hình dạng một con quay ngược (phình ở giữa, nhưng đầu trên lớn hơn đầu dưới): tầng trên 32,2%, tầng giữa 53,4%, tầng dưới 14,4% Cần lưu ý là hình dạng cơ cấu
ba tầng ở Nam Bộ có sự khác biệt lớn với cơ cấu ba tầng mà Lê Văn Toàn (2011) và Đỗ Thiên Kính (2012) đã phác họa là do cách sắp xếp khác nhau giữa chúng tôi và hai tác giả này đối với các nhóm vị thế xã hội nghề nghiệp vào các giai tầng
Ở Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, nhóm chuyên viên kỹ thuật, chủ tư nhân và quản lý công ty chiếm rất ít trong cơ cấu: các nhóm này tổng cộng là 6,7% và 6,5% lần lượt ở hai khu vực Nhưng tỷ lệ này ở TPHCM lên tới 26,2%, gấp 4 lần Đây là những nhóm đại diện cho khu vực kinh doanh và công nghệ, những động lực quan trọng của phát triển và
biến đổi cơ cấu xã hội
Nông dân là lực lượng đa số trong cơ cấu xã hội ở Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ: khoảng 48-49% Trong đó nông dân lớp giữa (đóng góp vào giai tầng giữa) và nông dân
lớp dưới (tham gia vào giai tầng dưới) ở hai khu vực này chiếm xấp xỉ 40% Ở TPHCM, nông dân chiếm khoảng 4% dân cư, chủ yếu là nông dân lớp dưới
Tỷ lệ nhóm công nhân + thợ thủ công và nhân viên thương mại + dịch vụ có sự khác nhau đáng kể giữa ba khu vực Tỷ lệ này là 21,1% ở Tây Nam Bộ tăng lên là 33,7% ở Đông Nam Bộ và 53,4% ở TPHCM
Trang 6Về mặt phương pháp phân tích, dựa trên khung 10 nhóm vị thế xã hội-nghề nghiệp và ba giai tầng nói trên, ta có thể đưa mọi biến số đã được thu thập trong ba cuộc khảo sát nói trên vào phân tích để tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt trong những đặc trưng xã hội khác nhau giữa các nhóm và giai tầng Do khuôn khổ bài viết, dưới đây sẽ chỉ đề cập đến
vấn đề thu nhập và sự thay đổi cuộc sống của các hộ gia đình trong thập niên 2000 2010)
(2000-Biểu đồ 2 Cơ cấu giai tầng ở Đông Nam Bộ, TPHCM và Tây Nam Bộ, %
Nguồn: Lê Thanh Sang và Nguyễn Thị Minh Châu 2012
3.4 THU NHẬP VÀ PHÂN PHỐI THU NHẬP
Bảng 5 và Bảng 6 (Phụ Lục) cung cấp bức tranh thu nhập và sự khác biệt thu nhập giữa các nhóm nghề nghiệp, giai tầng và nhóm ngũ vị phân thu nhập trên ba khu vực của Nam
Bộ Thu nhập bình quân nhân khẩu trong một năm của hộ gia đình ở Tây Nam Bộ là 11,6 triệu đồng, trong khi đó của Đông Nam Bộ là 17,2 và của TPHCM là 28 triệu đồng Như vậy, so với Tây Nam Bộ, thu nhập của hộ gia đình ở Đông Nam Bộ gấp 1,48 lần và ở TPHCM gấp 2,4 lần
Bảng 1 dưới đây trình bày ba chỉ số phản ánh khác biệt thu nhập (trích từ Bảng 3 và Bảng
6 Phụ Lục) Chỉ số thứ nhất chỉ ra sự chênh lệch thu nhập giữa nhóm có thu nhập cao nhất so với nhóm có thu nhập thấp nhất (nhóm lao động giản đơn) Ở Đông Nam Bộ, nhóm có thu nhập cao nhất là nông dân lớp trên, và chênh lệch thu nhập của nhóm này so
với nhóm lao động giản đơn là 3,5 lần Ở TPHCM, nhóm có thu nhập cao nhất là quản lý công ty và chỉ số này là 5,2 lần Ở Tây Nam Bộ, nhóm có thu nhập cao nhất là chủ tư nhân, và chỉ số này là 4,9 lần
Chỉ số thứ hai nói về chênh lệch thu nhập giữa ba giai tầng Ở Đông Nam Bộ, tầng trên chiếm 19,7% dân số nhưng chiếm hữu 60,8% cái bánh thu nhập, tầng giữa gồm 44,6%
Trang 7dân số chiếm hữu 27,7% cái bánh thu nhập, tầng dưới chiếm 35,7% dân số hưởng 11,5% cái bánh thu nhập Ở TPHCM, tầng trên chiếm 32,2% dân số nhưng chiếm hữu 71,8% cái bánh thu nhập, tầng giữa gồm 53,4% dân số chiếm hữu 17,0% cái bánh thu nhập, tầng dưới chiếm 14,4% dân số hưởng 11,2% cái bánh thu nhập tầng trên chiếm 17% dân số nhưng chiếm hữu tới 61,6% cái bánh thu nhập, tầng giữa gồm 51% dân số chiếm hữu 28,9% cái bánh thu nhập, tầng dưới chiếm 32% dân số hưởng 9,6% cái bánh thu nhập Ở Tây Nam Bộ, tầng trên chiếm 17,1% dân số nhưng chiếm hữu 61,6% cái bánh thu nhập,
tầng giữa gồm 51,0% dân số chiếm hữu 28,9% cái bánh thu nhập, tầng dưới chiếm 31,9% dân số hưởng 9,6% cái bánh thu nhập
Chỉ số thứ ba mô tả tương quan chiếm hữu chiếc bánh thu nhập giữa nhóm 20% dân số giàu và nhóm 40% cận nghèo và nghèo Ở Đông Nam Bộ, nhóm 20% chiếm hữu hơn một
nửa cái bánh thu nhập (51%), trong khi nhóm 40% nghèo hưởng 13,8% cái bánh thu
nhập Tỷ số này ở TPHCM là 60,3% và 12,0%, ở Tây Nam Bộ là 52,1% và 14,2% Số
liệu này cho thấy mức bất bình đẳng thu nhập ở Nam Bộ là cao Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, trong một xã hội, khi 40% dân cư bên dưới hưởng 17% chiếc bánh thu
nhập thì xã hội ấy được xem là có mức bất bình đẳng xã hội trung bình Khi 40% dân cư bên dưới chỉ còn hưởng 12% chiếc bánh, xã hội đó đã đạt tới trạng thái bất bình đẳng cao
Bảng 1 Một vài chỉ số khác biệt thu nhập ở ba khu vực thuộc Nam Bộ
Bộ 2010 TPHCM 2010
Tây Nam Bộ
2008
A Khác biệt thu nhập của nhóm có thu nhập cao
nhất so với nhóm lao động giản đơn (lần) 3,5 5,2 4,9
B Phân chia cái bánh thu nhập theo giai tầng (tỷ
lệ % trong dân cư / tỷ lệ % cái bánh thu nhập
chiếm hữu được)
1 Tầng trên (1+2+3+4+5) 19,7 / 60,8 32,2 / 71,8 17,1 / 61,6
2 Tầng giữa (6+7+8) 44,6 / 27,7 53,4 / 17,0 51,0 / 28,9
3 Tầng dưới (9+10) 35,7 / 11,5 14,4 / 11,2 31,9 / 09,6
C Phân chia cái bánh thu nhập theo nhóm ngũ vị
phân thu nhập (% cái bánh thu nhập)
2 40% dân cư bên dưới (bao gồm nhóm 20%
3 Hệ số chênh lệch phần bánh thu nhập của
Nguồn: Trích từ Bảng 3 và Bảng 6 Phụ Lục
Trang 83.5 XU HƯỚNG THAY ĐỔI CUỘC SỐNG TRONG GIAI ĐOẠN 2000-2010
Cuộc khảo sát ở Đông Nam Bộ và TPHCM đưa ra tám hình thái thay đổi cuộc sống gia đình trong giai đoạn 2000-2010, yêu cầu đại diện hộ gia đình chọn hình thái phù hợp nhất
với gia đình mình Tám hình thái thay đổi đó là: không thay đổi; lên xuống lên; luôn tốt
dần; xuống rồi lên; luôn xuống dần; lên rồi xuống; không thay đổi sau đó đi xuống rồi giữ
ở mức thấp; không thay đổi sau đó đi lên và giữ ở mức cao (Xem Hình 1)
Để có cái nhìn khái quát hơn, có thể nhóm lại thành ba hình thái chính: không thay đổi,
xu hướng nhìn chung thay đổi tốt lên, xu hướng nhìn chung thay đổi kém đi Đáng tiếc là
cuộc khảo sát ở Tây Nam Bộ năm 2008 không đưa vấn đề này vào thu thập thông tin, nên
ở đây chỉ có số liệu của tỉnh Vĩnh Long năm 2010
Hình 1 Tám hình dạng thay đổi cuộc sống của gia đình trong 10 năm qua (2000-2010) Chú thích: 1 Không thay đổi; 2 Lên xuống lên; 3 Luôn tốt dần; 4 Xuống rồi lên; 5 Luôn xuống dần; 6 Lên rồi xuống; 7 Không thay đổi sau đó đi xuống rồi giữ ở mức
thấp; 8 Không thay đổi sau đó đi lên và giữ ở mức cao
Bảng 7 cho thấy một bức tranh với gam màu sáng đối với Đông Nam Bộ, TPHCM và
Vĩnh Long Nhìn chung, trên 50% đến trên 60% hộ gia đình ở Nam Bộ trong giai đoạn 2000-2010 có sự thay đổi đi lên, khoảng dưới 1/3 không thay đổi, và dưới 15% có sự thay đổi đi xuống Đáng chú ý là Đông Nam Bộ có kết quả tích cực hơn TPHCM và Vĩnh Long Ở khu vực này, tỷ lệ thay đổi theo xu hướng tốt lên cao hơn tới 10 điểm phần trăm
Trang 9so với hai khu vực kia (62,5% so với 53,0% ở TPHCM và 51,2% ở Vĩnh Long) Tỷ lệ
“Không thay đổi” và “Thay đổi theo hướng kém đi” đều thấp hơn so với TPHCM và
Vĩnh Long
Biểu đồ 3 Hình dạng thay đổi cuộc sống của gia đình trong 10 năm qua (2000-2010) ở Đông Nam Bộ, TPHCM, Vĩnh Long, 2010
Nguồn: Bảng 7 Phụ Lục
Nhưng xu thế chung như trên ở cả ba khu vực đều được cơ cấu hóa rõ rệt theo giai tầng
và nhóm ngũ vị phân (Bảng 8 và Bảng 9) Nhìn chung ở cả ba khu vực, hình dạng thay đổi tích cực tăng từ khoảng 44-47% trong các hộ gia đình tầng thấp, lên 53-66% ở tầng
giữa, và 62-65% ở tầng cao, thậm chí lên đến 87% ở tầng cao của Đông Nam Bộ Bức tranh tương phản đặc biệt rõ nếu phân tích sự khác biệt của năm nhóm ngũ vị phân thu
nhập Tỷ lệ hình dạng cuộc sống không thay đổi trong 10 năm 2000-2010 tăng đều từ nhóm giàu tới nhóm nghèo Tỷ lệ có hình dạng thay đổi tích cực giảm từ nhóm giàu tới nhóm nghèo Tin tốt lành là ngay trong giai tầng thấp cũng có tới 45-50% có sự thay đổi tích cực, trong nhóm nghèo cũng có từ 1/3 đến gần một nửa có sự thay đổi tích cực trong
cuộc sống của mình
4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Là khu vực phát triển kinh tế mạnh nhất của Việt Nam, Nam Bộ có một cơ cấu giai tầng
xã hội mang tính trung lưu rõ rệt, đặc biệt rõ là TPHCM Đồng thời, xét về mặt thu nhập,
cơ cấu này cũng bao hàm tình trạng bất bình đẳng khá cao Trong thập niên 2000, nhìn
tổng thể, đa số hộ gia đình ở Nam Bộ đã có sự thay đổi cuộc sống theo hướng tích cực Nhưng sự cải thiện cuộc sống cũng được cơ cấu hóa rõ rệt theo giai tầng và mức thu nhập
Trang 10kinh tế Các hộ gia đình thuộc tầng trên và thuộc nhóm có thu nhập cao hơn có nhiều khả năng hơn trong việc cải thiện đời sống của mình
Cho đến nay, hiểu biết về cơ cấu giai tầng xã hội ở Việt Nam dựa trên dữ liệu thực nghiệm còn rất nghèo nàn Điều này ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của các chính sách kinh tế-xã hội liên quan đến cấu trúc xã hội, đến các giai tầng và nhóm xã hội Rõ ràng là Việt Nam cần có những cuộc điều tra khảo sát quy mô mới cũng như cần phân tích triệt để hơn những bộ dữ liệu đã có để có tri thức sâu hơn và bổ ích hơn cho việc
hoạch định chính sách về cơ cấu giai tầng xã hội
LỜI GHI NHẬN VÀ TRI ÂN
Với tư cách tác giả bài viết và người thiết kế và chỉ đạo chung các cuộc khảo sát xã hội định lượng được sử dụng trong bài viết, tôi bày tỏ sự cảm ơn đến PGS.TS Lê Thanh Sang, ThS Nguyễn Thị Minh Châu và ThS Đào Quang Bình đã giúp đỡ tác giả xử lý số
liệu sử dụng trong bài viết này Đặc biệt cảm ơn PGS.TS Lê Thanh Sang là người đóng vai trò then chốt trong việc triển khai về mặt lý thuyết, phương pháp luận và kỹ thuật cho
ý tưởng nghiên cứu của tôi Cảm ơn ThS Trần Đan Tâm đã có đóng góp lớn trong vai trò
chỉ huy nghiên cứu thực địa tại Đông Nam Bộ, TPHCM, Tây Nam Bộ; cám ơn ThS Nguyễn Thị Minh Châu trong vai trò chỉ huy nghiên cứu thực địa tại tỉnh Vĩnh Long Chân thành cảm ơn hàng chục điều tra viên và nhân viên dữ liệu trong và ngoài Viện, cùng hàng trăm cán bộ và hàng ngàn người dân ở địa phương và cơ sở đã nhiệt tâm tạo
dựng nên bộ số liệu to lớn này Trân trọng cảm ơn Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Sở Khoa học và công nghệ TPHCM và Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Vĩnh Long đã vui lòng tài trợ cho ý tưởng nghiên cứu của tôi