Như vậy, nhà nước là tổ chức quyền lực công, tổ chức nhân danh xã hội thực hiện việc quản lí xã hội, nhà nước không thể tồn tại nếu chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tí
Những vấn đề cơ bản về nhà nước
1.1.1 Các học thuyết phi Mác-xít về nguồn gốc của nhà nước
Thuyết thần quyền cho rằng thượng đế là người sắp đặt trật tự xã hội, thượng đế đã sáng tạo ra nhà nước để bảo vệ trật tự chung và duy trì trật tự thiêng liêng của xã hội; theo quan điểm này, nhà nước được xem như một sản phẩm của thượng đế, được ban cho quyền lực để quản lý và bảo vệ trật tự cho cộng đồng.
Thuyết gia trưởng cho rằng nhà nước xuất hiện như kết quả phát triển của gia đình và quyền gia trưởng; thực chất, nhà nước là mô hình của một gia tộc mở rộng, trong đó quyền lực nhà nước được nâng từ quyền gia trưởng lên thành hình thức tổ chức tự nhiên của xã hội loài người.
Thuyết bạo lực cho rằng nhà nước hình thành trực tiếp từ các cuộc chiến tranh xâm lược nhằm chiếm đất đai, trong đó sự bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác dẫn tới chiến thắng và thiết lập một hệ thống cơ quan đặc biệt để nô dịch kẻ bị xâm lược; quan điểm này nhấn mạnh vai trò của chiến thắng và áp chế sau chiến tranh như nguồn gốc của quyền lực nhà nước, vốn được dùng để duy trì trật tự và quản lý vùng lãnh thổ vừa chiếm được.
Theo thuyết tâm lý, nhà nước hình thành từ nhu cầu tâm lý của con người nguyên thủy, những người luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh và giáo sĩ để được bảo vệ và có sự hướng dẫn Khi xã hội phát triển, nhu cầu ấy được chuyển hóa thành hệ thống quyền lực và tổ chức xã hội, nơi nhà nước đảm nhận vai trò bảo vệ, duy trì trật tự và điều phối các quan hệ xã hội Do đó, nguồn gốc của nhà nước được giải thích như một hiện tượng tâm lý tập thể: đáp ứng mong muốn được tin cậy, được bảo vệ và được lãnh đạo bởi những người có quyền lực.
Thuyết khế ước xã hội cho rằng nhà nước ra đời từ một khế ước xã hội được ký kết giữa những người sống ở trạng thái tự nhiên chưa có chính quyền Quyền tối cao thuộc về nhân dân; khi nhà nước không thực hiện đúng vai trò bảo vệ các quyền tự nhiên và quản lý xã hội, khế ước sẽ mất hiệu lực và nhân dân có quyền lật đổ nhà nước để ký kết khế ước mới Nhờ đó, quyền lực của nhà nước được xem là hợp pháp chỉ khi xuất phát từ sự ủy thác của nhân dân và có trách nhiệm giải trình trước công chúng, đảm bảo trật tự xã hội và sự đồng thuận chung.
1.1.2 Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về nguồn gốc của nhà nước
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh cửu mà chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn nhất định; nó luôn vận động, phát triển và sẽ tiêu vong khi các điều kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển bị mất đi; sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự xuất hiện của nhà nước là kết quả của sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, tạo tiền đề cho thay đổi phương thức sản xuất, dẫn đến sự phân công lao động và sự hình thành các giai cấp đối lập sau ba lần phân công lao động xã hội, khiến xã hội nảy sinh mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt; để kiểm soát các xung đột và duy trì trật tự, xã hội cần một tổ chức có sức mạnh vượt lên các giai cấp, và tổ chức đó chính là nhà nước; nhà nước xuất hiện một cách khách quan như sản phẩm của một xã hội đã đạt đến một giai đoạn phát triển nhất định, nó phân chia dân cư theo lãnh thổ và thiết lập quyền lực công cộng, và so với tổ chức thị tộc trước đây thì có hai đặc trưng cơ bản khác biệt.
Nhà nước tổ chức dân cư theo lãnh thổ và xuất hiện dựa trên sự phân chia lãnh thổ làm điểm xuất phát Cách tổ chức công dân theo lãnh thổ là đặc điểm chung của tất cả các nhà nước, còn các thị tộc hình thành và tồn tại trên cơ sở huyết thống.
Trong chế độ Cộng sản nguyên thủy, nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt để thay thế quyền lực xã hội Sau khi hình thành, quyền lực này thuộc về giai cấp thống trị và được dùng để phục vụ lợi ích của giai cấp đó.
1.2 Bản chất của nhà nước
Nhà nước là một hiện tượng xã hội được hình thành từ hai nhu cầu căn bản: tổ chức quản lý xã hội và bảo vệ lợi ích kinh tế của giai cấp thống trị Vì vậy, khi tìm hiểu bản chất nhà nước, cần tập trung vào hai phương diện: xã hội và giai cấp Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có mục đích bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị, đồng thời quản lý và duy trì trật tự xã hội để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của toàn xã hội Do đó, việc xác định và đánh giá bản chất nhà nước phải bắt nguồn từ phân tích cơ sở kinh tế và xã hội của nó; ở mỗi thời kỳ phát triển khác nhau, nội dung bản chất của nhà nước biến đổi theo sự thay đổi của cơ sở kinh tế và xã hội.
* Tính xã hội của nhà nước
Theo Engels, các hoạt động xã hội là nền tảng của sự thống trị chính trị, và sự thống trị tồn tại được chỉ khi nhà nước tiếp tục thực hiện các hoạt động xã hội của nó Vì vậy, những hoạt động xã hội của nhà nước không mang tính chất thuần túy xã hội như của các tổ chức thị tộc hay bộ lạc, mà luôn phản ánh lợi ích của giai cấp thống trị và bị chi phối bởi ý chí của họ ở mức độ nào đó Như vậy, nhà nước là một tổ chức quyền lực công, được nhân danh xã hội để quản lý xã hội; nó không thể tồn tại chỉ để phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích và nguyện vọng của các giai cấp và các lực lượng khác trong xã hội.
Mặc dù được sinh ra và tồn tại trong lòng xã hội, nhà nước có vị trí đặc biệt, như đứng trên xã hội và đại diện cho cả xã hội để giải quyết các công việc mang tính xã hội Tính xã hội của nhà nước là một thuộc tính khách quan Tuy nhiên, mức độ và phạm vi thể hiện tính xã hội của nhà nước không đồng nhất giữa các kiểu nhà nước, mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố, điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Qua trình phát triển lịch sử, các nhà nước chủ nô ở phương Đông phải thực hiện nhiều hoạt động kinh tế - xã hội để duy trì tồn tại và sự phát triển của xã hội; phong kiến vừa giải quyết các nhiệm vụ đặt ra bởi xã hội phong kiến vừa đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và ý chí của người cầm quyền Với sự phát triển của xã hội, sự ra đời của nhà nước tư sản đã làm nổi bật tính xã hội và che giấu kín đáo tính giai cấp trong bản chất nhà nước; nhà nước tư sản tiến bộ hơn trước và can thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho xã hội phát triển văn minh Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, giai cấp bóc lột bị xóa bỏ, chỉ còn lại công nhân, nông dân, trí thức và các người lao động khác có lợi ích và địa vị xã hội tương đối thống nhất, nên quan hệ sản xuất được thiết lập và củng cố dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; đó là mô hình quan hệ sản xuất thể hiện sự hợp tác, tương trợ giữa người lao động Cơ sở kinh tế - xã hội đó làm cho mục đích ra đời, tồn tại và bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa khác hẳn so với các nhà nước trước đây; nếu các nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản ra đời nhằm bảo vệ quan hệ sản xuất dựa trên tư hữu về tư liệu sản xuất và duy trì sự thống trị của giai cấp bóc lột, thì nhà nước xã hội chủ nghĩa tìm cách xóa bỏ dần chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu tư liệu sản xuất Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của nhân dân, được sự ủng hộ và giúp đỡ của toàn xã hội; mục tiêu cuối cùng là cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn ở mọi mặt.
* Tính giai cấp của nhà nước Ở phương diện này nhà nước là công cụ bảo vệ lợi ích cho các giai tầng trong xã hội, mà chủ yếu là của giai cấp thống trị, thực hiện các mục đích mà giai cấp thống trị đề ra
Nhà nước bị giai cấp chiếm địa vị chủ yếu trong hệ thống sản xuất xã hội nắm giữ và lợi dụng Theo các nhà kinh điển thì, nhà nước theo nghĩa chung nhất chỉ là sự thể hiện (dưới hình thức tập trung nhất) những nhu cầu kinh tế của giai cấp thống trị trong sản xuất Những điều kiện kinh tế bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội có giai cấp và những mâu thuẫn không thể điều hoà đƣợc do chúng tạo ra giữa các giai cấp đối kháng đã sinh ra sự cần thiết khách quan buộc giai cấp thống trị trong những quan hệ kinh tế đó phải tập trung sức mạnh của mình vào nhà nước Nói cách khác, giai cấp thống trị về kinh tế của xã hội trong điều kiện tồn tại mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp đòi hỏi phải trở thành giai cấp thống trị về chính trị và thực hiện sự thống trị về chính trị thông qua nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội khác Sự thống trị về chính trị của giai cấp còn gọi là chuyên chính giai cấp Giai cấp có kinh tế sử dụng nhà nước để chống lại các giai cấp khác, bảo vệ lợi ích cho giai cấp mình
Để thực hiện quyền lực chính trị, giai cấp thống trị ngoài việc dựa vào nhà nước còn vận dụng các tổ chức chính trị - xã hội khác, tuy nhiên nhà nước là công cụ quan trọng nhất để duy trì sự thống trị một cách hiệu quả Thông qua nhà nước, giai cấp thống trị xây dựng hệ tư tưởng của mình thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội và bắt các giai cấp, tầng lớp khác phải tuân theo, phải làm theo những gì giai cấp thống trị mong muốn. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Khám phá các API văn bản miễn phí của Pollinations.AI giúp nội dung của bạn luôn nhất quán và tuân thủ SEO! [Ủng hộ sứ mệnh của chúng tôi](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để AI luôn dễ tiếp cận.
Một số vấn đề cơ bản về Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 10 Chuyên đề HỆ THỐNG PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1 Bản chất của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Vào năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất và Nhà nước Việt Nam đổi tên thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bắt đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc Đây là một mô hình nhà nước kiểu mới được hình thành và phát triển dựa trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa kế thừa các yếu tố của một nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung vừa mang những đặc trưng riêng phù hợp với điều kiện đất nước và con người Việt Nam Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay được thể hiện qua những nội dung cơ bản phản ánh mục tiêu xây dựng đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc và công bằng xã hội.
Thứ nhất, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, được xây dựng để bảo đảm quyền lợi và lợi ích của toàn dân.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và vận hành trên nguyên tắc đề cao chủ quyền của nhân dân, nơi các vấn đề quan trọng của đất nước do nhân dân quyết định Nhà nước coi con người là giá trị cao nhất và kiên trì phấn đấu vì hạnh phúc của con người theo phương châm "tất cả cho con người, tất cả vì con người", đồng thời khẳng định quyền lực nhà nước thống nhất nhưng được phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; thừa nhận vị trí tối thượng của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội Nhà nước tổ chức và quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nhà nước và công dân, bảo đảm và tôn trọng các quyền con người và quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, độc lập, tự do và hạnh phúc là mục tiêu vừa là động lực để Nhà nước và xã hội phấn đấu, và Nhà nước cam kết thực hiện nghiêm túc cũng như có thiện chí các cam kết quốc tế.
Ở Việt Nam, nhà nước là của dân, nhận quyền lực từ nhân dân; nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước, theo Điều 6 Hiến pháp năm 2013.
Nhà nước là của nhân dân Việt Nam, được hình thành từ công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức và các người lao động khác; nhân dân trực tiếp bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, các đại biểu này đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân để phục vụ lợi ích của họ; đồng thời, nhân dân không chỉ thiết lập các cơ quan nhà nước mà còn trực tiếp tham gia làm việc trong các cơ quan đó để nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước.
Nhà nước vì dân khẳng định mọi chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân Vì dân, các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức và viên chức phải luôn tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ và liên hệ chặt chẽ với nhân dân để lắng nghe ý kiến, tiếp nhận nguyện vọng và chịu sự giám sát của nhân dân Sự tôn trọng nhân dân, phục vụ tận tâm và minh bạch trong quá trình hoạt động công quyền là nền tảng để tăng cường niềm tin và hiệu quả quản lý Nhân dân có quyền tham gia, giám sát và phản ánh ý kiến nhằm xây dựng chính sách và pháp luật phù hợp với thực tiễn và lợi ích của cộng đồng.
Thứ hai, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trực tiếp tổ chức và quản lý hầu hết các mặt quan trọng của đời sống xã hội Điều này cho thấy vai trò lãnh đạo và điều phối của nhà nước đối với các lĩnh vực thiết yếu, từ quản lý xã hội đến đảm bảo trật tự và phát triển kinh tế - xã hội Nhờ đó hệ thống quản lý công được củng cố, nhằm phục vụ người dân và duy trì ổn định xã hội.
Sinh thời, Hồ Chí Minh cho rằng nếu dân đói thì Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt thì Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm thì Đảng và Chính phủ có lỗi và nếu dân rét thì Đảng, Chính phủ cũng có lỗi; từ đó Nhà nước Việt Nam được xem là tổ chức chính trị đồng thời là tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội trực tiếp tổ chức và thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân, sự nghiệp giáo dục và y tế, thể dục, thể thao, du lịch nhằm bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và phát triển toàn diện; trên thực tế, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội, phấn đấu nhằm xoá bỏ mọi sự áp bức, bóc lột và bất công.
Ở Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước dân chủ và đồng thời là công cụ để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội Nói cách khác, nhà nước vừa thể hiện ý chí của nhân dân vừa vận dụng các cơ chế, quyền lực và khuôn khổ pháp lý để thực thi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hiện thực hóa mục tiêu “điều kiện tự do của mỗi người là điều kiện tự do cho tất cả mọi người”, nhằm mang lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho người dân cùng điều kiện phát triển toàn diện Bộ máy nhà nước Việt Nam được tổ chức và vận hành theo nguyên tắc dân chủ, tôn trọng bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc, tiến tới nền dân chủ thực sự với tinh thần dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng Đảng và Nhà nước tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ, tôn trọng nhân dân và tận tụy phục vụ nhân dân Đẩy mạnh thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, để dân chủ được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình ra quyết định liên quan đến lợi ích và cuộc sống của họ Cùng với phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỉ luật, kỉ cương và đẩy mạnh đạo đức xã hội.
Việt Nam là nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, được khẳng định tại Điều 5 Hiến pháp năm 2013: nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đoàn kết và bình đẳng giữa các dân tộc Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị của nhân dân, tập trung đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, bình đẳng về mọi mặt, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Chính sách phát triển toàn diện được thực hiện nhằm tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số phát huy nội lực và cùng đất nước tiến bộ Trong giai đoạn hiện nay, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân là cần thiết để tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới Mục tiêu xây dựng Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thể, dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh làm điểm tựa cho sự phát triển bền vững.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và đồng thời là lực lượng nòng cốt của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam Sự lãnh đạo này định hình đường lối phát triển đất nước theo chủ nghĩa xã hội, bảo đảm quyền lợi và vai trò của giai cấp công nhân, của người lao động và của cộng đồng các dân tộc trên khắp mọi miền tổ quốc.
Hiến pháp Việt Nam hiện hành khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, và chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đều bị Nhà nước nghiêm trị theo pháp luật Hiến pháp bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng dân chủ đối với nhân dân, đồng thời luôn kiên quyết chuyên chính với kẻ thù của nhân dân, bởi chỉ có như vậy mới bảo vệ được tự do và dân chủ của nhân dân.
Thứ sáu, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Việt Nam đang ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thời kỳ vừa có chủ nghĩa xã hội vừa chưa có, khi cái cũ đang mất đi nhưng chưa bị xóa bỏ, cái mới đã hình thành nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh Vì vậy, Nhà nước ở giai đoạn này vẫn là Nhà nước của thời kỳ quá độ, và những ưu việt của một nhà nước xã hội chủ nghĩa chưa được bộc lộ đầy đủ Để khắc phục, cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế và quản lý xã hội, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân và với thị trường; nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ cương, kỷ luật; Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người dân Đồng thời đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra và giám sát quyền lực nhà nước.
Ngay từ khi ra đời, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trải qua vô vàn thử thách và khó khăn, đồng thời không ngừng phát triển và hoàn thiện để từng bước hiện thực hóa những lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam.
2.2 Chức năng của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam